Nếu như trong hai tiểu thuyết đầu tiên tác giả “thách thức” người đọc với một lối viết khá mù mờ, nhân vật của anh chẳng bao giờ có danh tính, không gian thời gian đều rất mơ hồ, thì đến
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ QUỲNH NHƯ
CẢM THỨC HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN DANH LAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng, Năm 2013
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ QUỲNH NHƯ
CẢM THỨC HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN DANH LAM
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS LÊ THỊ HƯỜNG
Đà Nẵng, Năm 2013
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Thị Hường
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Quỳnh Như
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Những đóng góp của luận văn 8
6 Cấu trúc của luận văn 9
CHƯƠNG 1 TIỂU THUYẾT NGUYỄN DANH LAMTRONG KHUYNH HƯỚNG VĂN HỌC HIỆN SINH THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỈ XXI Ở VIỆT NAM 10
1.1 CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ VĂN HỌC 10
1.1.1 Vài nét về chủ nghĩa hiện sinh 10
1.1.2 Chủ nghĩa hiện sinh từ triết học đến văn học 14
1.2 KHUYNH HƯỚNG VĂN HỌC HIỆN SINH Ở VIỆT NAM THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỈ XXI 18
1.2.1 Cơ sở hình thành khuynh hướng văn học hiện sinh thập niên đầu thế kỉ XXI 18
1.2.2 Vài nét về tiểu thuyết hiện sinh thập niên đầu thế kỉ XXI 21
1.3 TIỂU THUYẾT NGUYỄN DANH LAM TRONG “DÒNG CHUNG” 26
1.3.1 Quan niệm nghệ thuật 26
1.3.2 Cảm hứng sáng tác 29
CHƯƠNG 2 CẢM THỨC HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN DANH LAM - TỪ CÁC KIỂU NHÂN VẬT 33
2.1 KIỂU NHÂN VẬT HIỆN TỒN TRỐNG RỖNG 34
2.1.1 Con người bị bỏ rơi 34
2.1.2 Con người xa lạ với bản thể hiện tồn 39
2.2 KIỂU NHÂN VẬT DẤN THÂN - MỘT CÁCH LỰA CHỌN HIỆN SINH 47
Trang 52.3 KIỂU NHÂN VẬT NỔI LOẠN – MỘT SỰ LỰA CHỌN HIỆN SINH 54
2.3.1 Nổi loạn tính dục 54
2.3.2 Con người tha hóa 56
CHƯƠNG 3 CẢM THỨC HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN DANH LAM – TỪ NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN 61
3.1 KẾT CẤU 61
3.1.1 Kết cấu phân mảnh, dán ghép những yếu tố ngẫu nhiên 61
3.1.2 Kết cấu xâu chuỗi và kết thúc mở 64
3.2 KHÔNG GIAN – THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 67
3.2.1 Không gian biểu hiện cảm thức hiện sinh 67
3.2.2 Thời gian biểu hiện cảm thức hiện sinh 76
3.3 NGÔN NGỮ 80
3.3.1 Ngôn ngữ người kể chuyện 80
3.3.2 Ngôn ngữ nhân vật 82
3.4 GIỌNG ĐIỆU 86
3.4.1 Giọng điệu triết lý 86
3.4.2 Giọng điệu lạnh lùng, vô âm sắc 88
3.4.3 Giọng điệu hoài nghi 90
3.5 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG BIỂU TƯỢNG 92
3.5.1 Đêm 92
3.5.2 Dòng sông 94
3.5.3 Đám đông 96
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 6mà còn cả ở văn hóa và lối sống của một thế hệ Nếu như nhiều học thuyết khác ra đời cùng thời đã dần lùi vào quá khứ cùng với hoàn cảnh lịch sử - xã hội cụ thể của nó, thì chủ nghĩa hiện sinh vẫn tiếp tục đồng hành với văn học,
sự ảnh hưởng tuy có lúc đậm nhạt nhưng chưa bao giờ ngưng hẳn
1.2 Ở Việt Nam, sau những bước thăng trầm, chủ nghĩa hiện sinh trong văn học đã có một sự trở lại đầy ấn tượng Sự trở lại này như một điều tất yếu bởi quá trình sáng tác văn học đầu thế kỷ XXI gặp gỡ quan điểm của triết học hiện sinh ở nhiều khía cạnh Điểm giao nhau giữa học thuyết triết học hiện sinh và tư duy văn học mới đã tạo nên một khuynh hướng văn học, với sự xuất hiện nhiều phong cách sáng tạo, góp phần vào sự đa dạng thẩm mỹ của văn học Việt Nam thập niên đầu thế kỉ XXI
Chủ nghĩa hiện sinh từ khi du nhập vào nước ta đã tác động không nhỏ đến lớp nhà văn mới - những người khá cởi mở trong việc tiếp nhận những luồng tư tưởng từ phương Tây Tiểu thuyết đầu thế kỉ XXI đã đánh dấu một bước chuyển mình của văn học nước nhà trong quá trình đổi mới, thể hiện tâm thức hiện sinh của con người trong xã hội hiện đại Hàng loạt các tác giả
Trang 7như: Đỗ Phấn, Nguyễn Việt Hà, Đoàn Minh Phượng, Linda Lê, Nguyễn Bình Phương, Thuận, Hồ Anh Thái, Nguyễn Danh Lam đã mang đến cho văn học nước nhà một làn gió mới bởi một lối viết hiện đại mang dấu ấn hiện sinh khá
rõ nét Với những nỗ lực đó, văn học Việt Nam đang từng bước cách tân, mở rộng hơn biên độ khám phá, để sáng tạo với tất cả những bản chất thẩm mỹ đặc trưng của nghệ thuật
1.3 Xuất hiện những năm đầu thế kỉ XXI, Nguyễn Danh Lam gây ấn tượng trên văn đàn Việt Nam bởi những tiểu thuyết khá độc đáo Tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam chưa nhiều, nhưng từ tác phẩm đầu tay, anh đã khẳng định được một hướng đi riêng, mới mẻ Anh là một trong số ít những cây bút
trẻ“tự làm khó mình” bằng lối viết đậm cảm thức hiện sinh Chính Nguyễn
Danh Lam cũng đã thừa nhận những tác phẩm của A Camus, F.Kafka, E
Hemingway, H Murakami là “số sách kẹp nách lên chùa” [20, tr.27] của anh Nghiên cứu đề tài Cảm thức hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam là cách để khám phá những vấn đề thời đại và sự đổi mới tư duy nghệ
thuật tiểu thuyết qua một nhà văn trẻ trên hành trình tự khẳng định cá tính của chủ thể sáng tạo Qua đó, luận văn khẳng định sự đóng góp của một khuynh hướng văn học trong thành tựu đa dạng của văn học Việt Nam sau 1986 nói chung và thập niên đầu thế kỉ XXI nói riêng
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Những bài viết gián tiếp liên quan đến đề tài
Phương Lựu trong công trình Lý luận phê bình văn học phương Tây thế
kỷ XX (2001) đã dành một chương với tiêu đề Chủ nghĩa hiện sinh để đi từ
gốc rễ sâu xa của chủ nghĩa hiện sinh là Hiện tượng luận đến quá trình vận dụng nó vào mỹ học và lý luận văn nghệ, rút ra những đặc điểm cơ bản của học thuyết này Tác giả cho rằng vấn đề cốt yếu nhất của hiện sinh đó là “con người” và đó cũng là bản thể của nghệ thuật Điểm giao nhau này giữa hiện
Trang 8sinh chủ nghĩa và văn học nghệ thuật đem lại mối quan hệ qua lại: văn học là phương tiện để chuyển tải các quan niệm của chủ nghĩa hiện sinh về con người, hiện sinh lại đem đến một quan niệm rất mới về con người trong các tác phẩm văn học
Trong bài viết Chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam 1954-1975 (trên bình diện lý thuyết) in trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 9/2008,
Huỳnh Như Phương đã có một cái nhìn khá khái quát về ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh đến văn học và đời sống của tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ ở miền Nam thời bấy giờ Hàng loạt các tác giả, những người quan tâm và nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh được nhắc đến, những cái tên như Trần
Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Nguyễn Văn Trung đã phần nào tái hiện lại một
thời kỳ “hoàng kim” của khuynh hướng văn học hiện sinh ở miền Nam Việt
Nam Theo Huỳnh Như Phương: “Chưa và sẽ không có một giai đoạn nào ở nước ta mà chủ nghĩa hiện sinh được nghiên cứu sâu rộng và dưới nhiều góc
độ như vậy Chủ nghĩa hiện sinh đã đem đến cho văn học miền Nam một diện mạo rất mới mẻ, khác biệt với sự thay đổi quan niệm về con người, sự thay đổi trong bút pháp nghệ thuật” [26]
Thái Phan Vàng Anh trên Tạp chí Nghiên cứu văn học số tháng 8/2012
có bài viết Con người hiện sinh trong tiểu thuyết Việt Nam mười năm đầu thế
kỷ XXI Người viết đã khai thác những biểu hiện hiện sinh thông qua hàng loạt
tiểu thuyết của các tác giả như Đoàn Minh Phượng, Nguyễn Bình Phương, Vũ Đình Giang, Đỗ Phấn Theo tác giả bài báo, tiểu thuyết ở nước ta trong thập niên đầu của thế kỷ XXI đặc biệt chú ý đến đời sống hiện sinh của con người Trong đó, con người cô đơn, khắc khoải đi tìm phần bản thể của chính mình,
họ mang trong mình những “sang chấn tinh thần”, nổi loạn như một biểu hiện
trên hành trình tìm kiếm tự do và xem tính dục như cách để thể hiện sự hiện tồn của thân xác Tiểu thuyết Việt Nam, vì vậy đã phản ánh được đời sống
Trang 9tinh thần đầy rẫy những mâu thuẫn, phức tạp của con người trong cuộc sống hiện đại Kết thúc bài viết, tác giả nhấn mạnh rằng, cho đến ngày nay quan niệm của những nhà văn - triết gia hiện sinh nổi tiếng như J P Sartre, A
Camus hay S D Beauvoir về con người - một “hữu thể hiện sinh” vẫn còn phù hợp khi mà: “Sự tương đồng trong tâm thức thời đại”, “Tính tất yếu của các phương diện liên quan đến con người khiến văn học không ngừng tiếp tục trăn trở về đời sống hiện sinh của con người” [2]
Ám ảnh hiện sinh trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là bài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thành Thi đăng trên trang web phongdiep.net, nguồn
từ Văn học – thế giới mở của nhà xuất bản Trẻ năm 2010 Tác giả cho rằng,
sức hấp dẫn của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp chính là từ cách nêu và trả
lời câu hỏi của chủ nghĩa hiện sinh “con người, anh là ai?”; Cách viết vừa
lạnh lùng vừa nồng ấm với chất triết lý suy tưởng lấp lánh trong từng trang văn; nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp là những con người bơ
vơ trong cõi hiện sinh khi mà “Thượng đế đã chết”- con người bị kết án tự do không nơi bấu víu Tác giả qua đó còn nhấn mạnh rằng chủ nghĩa hiện sinh sau một thời kỳ gián đoạn, đứt gãy, trong thời kỳ mới đã lại tiếp tục phát huy ảnh hưởng của nó đối với văn học của một nước Việt Nam thống nhất trên đường hội nhập, đặc biệt là trên bình diện sáng tác
2.2 Những bài viết trực tiếp liên quan đến đề tài
2.2.1 Về tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam nói chung
Đỗ Ngọc Thạch trong bài Vài đặc điểm văn xuôi Việt Nam hiện đại (đăng trên trang bichkhe.org) khẳng định văn học Việt Nam sau 1986 đã có
những đổi mới mạnh mẽ, đặc biệt là trong phương pháp xây dựng nhân vật và cấu trúc tác phẩm Tác giả bài báo đã có một cái nhìn tương đối cụ thể về hiện trạng văn học nước nhà qua một số tác giả và tác phẩm, trong đó có nhà văn Nguyễn Danh Lam Thay lời nhận định, bài báo trích dẫn những phát biểu của
Trang 10nhà văn: “Tất cả các nhân vật trong tiểu thuyết cũng như truyện ngắn của tôi
từ trước đến nay đều vô danh, hoặc nếu “hữu danh” thì cũng chỉ là một “cái
gì đó” để gọi vậy, chứ không phải tên! Ngoài tên, họ còn không có cả lai lịch
và nhiều thứ thuộc về cá nhân khác nữa Cái này không do tôi quyết định, mà
là do tôi nhìn thấy họ ở trong cuộc đời này và tôi phản ảnh họ vào tác phẩm như vậy” [50]
Tác giả Hoài Nam, trong một bài viết (đăng trên trang nguoidaibieunhandan.vn ngày 6/9/2012) với tiêu đề Viết văn, việc không chỉ của nhà văn đã nhấn
mạnh khả năng viết của những họa sĩ - nhà văn trong đó có Nguyễn Danh Lam Tác giả khái quát lại hành trình tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam từ
Bến vô thường đến Giữa vòng vây trần gian và gần đây nhất là Giữa dòng chảy lạc Hoài Nam đã nhấn mạnh sự chuyển biến rất “khác” của Nguyễn
Danh Lam từ hai tiểu thuyết đầu đến tiểu thuyết thứ ba Nếu như trong hai tiểu thuyết đầu tiên tác giả “thách thức” người đọc với một lối viết khá mù
mờ, nhân vật của anh chẳng bao giờ có danh tính, không gian thời gian đều
rất mơ hồ, thì đến tiểu thuyết Giữa dòng chảy lạc, Nguyễn Danh Lam dường
như đơn giản hóa hơn khi lấy bối cảnh và nhân vật từ cuộc sống đời thường
nhưng chính điều đó lại tạo nên hiệu quả khá tốt: “Với cuốn tiểu thuyết Giữa dòng chảy lạc, Nguyễn Danh Lam đã trả người đọc lại với đời thường, bằng những chất liệu của đời thường, những câu chuyện của đời thường, những cách kể chuyện đời thường Dễ tiếp nhận hơn, song không vì thế mà giảm đi sức nặng của những ý tưởng mà tác giả muốn gởi gắm” [47]
Đoàn Minh Tâm trong bài viết Nghệ thuật như là thủ pháp (đăng trên trang web phongdiep.net) nhìn tiểu thuyết Giữa dòng chảy lạc của Nguyễn
Danh Lam dưới góc nhìn của phân tâm học Vô danh hóa, nhân vật tự ý thức, nguyên lý mặt nạ, nhân vật con rối là những thủ pháp, mà theo Đoàn Minh Tâm, đã được Nguyễn Danh Lam sử dụng một cách hiệu quả trong tác phẩm
Trang 11Giữa dòng chảy lạc Anh, ông họa sĩ già, cô gái bán bảo hiểm là những cá
nhân riêng biệt nhưng lại mang tâm thức của con người trong xã hội hiện đại Nhân vật trong tác phẩm vì vậy mà trở nên cô đơn đến tột cùng, họ bơ vơ, chới với trước hiện thực cuộc sống, họ làm một cuộc tìm kiếm bản thể đầy giằng xé, họ vừa phải đấu tranh với chính bản thân mình vừa phải chống chọi với cuộc sống bên ngoài
2.2.2 Về vấn đề hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam
Trong bài “Lạc thể” Nguyễn Danh Lam in trên báo Văn nghệ số 11/2012, Đoàn Ánh Dương cho rằng tiểu thuyết Giữa dòng chảy lạc là một
dấu ấn đáng kể của Nguyễn Danh Lam Tác giả khẳng định các nhân vật trong
tiểu thuyết này đều là những “lạc thể”- những con người dường như quá bơ
vơ trước hiện thực cuộc sống hỗn loạn Nguyễn Danh Lam đã phát giác ra những tầng vỉa sâu xa nhất của tâm thức đại chúng khi mà con người bị xô đi giữa dòng chảy hiện tại Qua đó, tác giả bài viết đã nhấn mạnh rằng chính
Nguyễn Danh Lam cũng là một “lạc thể” của văn học đương đại bởi anh đã tìm cho mình một con đường, một hướng đi rất riêng, đó là: “Tạo dựng cho mình một quan niệm nhân-bản-khác-nào-đó, phi nhân bản trong suốt, gắn chặt với từng trạng huống sống, rất cụ thể và không xa lạ” [12]
Cùng viết về tiểu thuyết Giữa dòng chảy lạc, Bùi Công Thuấn với bài viết Giữa dòng chảy lạc - giữa dòng hiện sinh (đăng trên trang web bichkhe.org tháng 10/2010) đã có một cái nhìn khá chi tiết về tác phẩm
Người viết đi từ những câu chuyện tình lãng mạn nhưng đầy vị đắng đến cái nhìn rất sâu vào bản thể của Nguyễn Danh Lam Cuộc sống, con người trong tiểu thuyết không thể thoát khỏi sự chi phối từ cảm thức hiện sinh của nhà
văn, bởi như Nguyễn Danh Lam đã phát biểu:“Tôi viết về những con người không kịp chuẩn bị kĩ năng sống, giữa dòng chảy cuồn cuộn và hối hả của thế giới hôm nay Chân phải bước lên “đoàn tàu mới”, nhưng chân trái bị kẹt lại
Trang 12“sân ga cũ” Thành thử bị xé làm đôi!” [53]
Trang web Tạp chí điện tử Văn nghệ Quân đội ngày 20/7/2006 đăng những chia sẻ của Hoài Nam qua bài viết Giữa vòng vây trần gian dệt bằng biểu tượng và huyền thoại Trong đó, Hoài Nam đã tiếp cận tiểu thuyết Giữa vòng vây trần gian của Nguyễn Danh Lam bằng một hệ thống các biểu tượng,
đó là biểu tượng dòng sông, biểu tượng ngôi làng, huyền thoại sáng thế Hoài Nam kết luận rằng tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam không phải là sự phản chiếu đời sống mà là sự phản chiếu cách nghĩ của tác giả về đời sống, nó được đan dệt bằng những biểu tượng, mang một sức gợi lớn lao và tạo ra sự ám ảnh cho người đọc
Như vậy có thể thấy rằng, nghiên cứu về tác giả Nguyễn Danh Lam với các tiểu thuyết của anh, đây đó, đã có những bài viết đăng trên một số tạp chí
và các trang web nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về tác giả này, đặc biệt là về yếu tố hiện sinh trong tác phẩm của anh
Vì vậy, chúng tôi tiếp cận đề tài cảm thức hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam cả về nội dung và nghệ thuật biểu hiện với hy vọng đóng góp thêm một cái nhìn mới trong việc đánh giá các tác phẩm văn học mới trên văn đàn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Danh Lam, cụ thể là các tác phẩm sau đây:
- Bến vô thường (Nxb Hội nhà văn, 2005)
- Giữa vòng vây trần gian (Nxb Hội nhà văn, 2005)
- Giữa dòng chảy lạc (Nxb Văn nghệ TP.HCM, 2010)
Luận văn khảo sát thêm một số tiểu thuyết của các tác giả khác để làm nền tảng so sánh
Trang 133.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là cảm thức hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam từ các kiểu nhân vật đặc thù thể hiện cảm thức hiện sinh đến nghệ thuật biểu hiện
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên việc vận dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
4.1 Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Đây là phương pháp trọng yếu nhằm chỉ rõ những phương diện cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh được thể hiện trong tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam
4.2 Phương pháp so sánh: Đây là phương pháp được sử dụng để chỉ ra những điểm chung và những điểm khác biệt giữa các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Danh Lam với tác phẩm của các nhà văn cùng thời Từ đó góp phần nhận diện phong cách nhà văn Nguyễn Danh Lam và vị thế của tác giả trong văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XXI
4.3 Phương pháp thống kê: Sử dụng phương pháp này để thống kê, phân loại các kiểu nhân vật và những phương diện nghệ thuật biểu hiện cảm thức hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, luận văn còn sử dụng các thao tác cần thiết của nghiên cứu văn học như phân tích, tổng hợp; đồng thời vận dụng
lý thuyết thi pháp học, lý thuyết của chủ nghĩa hiện sinh để làm rõ luận điểm
5 Những đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần khẳng định tầm quan trọng của việc vận dụng lý thuyết của chủ nghĩa hiện sinh vào sáng tác và phê bình văn học nước nhà sau
1986, đặc biệt là thập niên đầu thế kỉ XXI
- Luận văn tạo lập một cái nhìn hệ thống về những yếu tố hiện sinh trong tiểu thuyết của một nhà văn trẻ có quan niệm nghệ thuật khá độc đáo và mới
Trang 14mẻ Qua đó khẳng định những đóng góp của lớp nhà văn trẻ vào nền văn học nước nhà trong quá trình hội nhập văn học thế giới
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam trong khuynh hướng văn học hiện sinh thập niên đầu thế kỷ XXI ở Việt Nam
Chương 2: Cảm thức hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam - từ các kiểu nhân vật
Chương 3: Cảm thức hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam - từ nghệ thuật biểu hiện
Trang 15CHƯƠNG 1
TIỂU THUYẾT NGUYỄN DANH LAM TRONG KHUYNH HƯỚNG VĂN HỌC HIỆN SINH THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỈ XXI Ở VIỆT NAM
1.1 CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ VĂN HỌC
1.1.1 Vài nét về chủ nghĩa hiện sinh
Chủ nghĩa hiện sinh ra đời ở Đức vào những thập niên đầu tiên của thế
kỷ XX với những tư tưởng nền móng của M Heidegger (1889 - 1976), K Jaspers (1883 - 1969), sau đó phát triển rực rỡ ở Pháp với những nhà văn tên tuổi như J P Sartre (1905 - 1980), A Camus (1913 - 1960)…hình thành nên một học thuyết có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống của con người trong rất nhiều thập niên sau Phải nói rằng chủ nghĩa hiện sinh đã chi phối sâu sắc đời sống tinh thần của một thế hệ
Ra đời từ sau thế chiến lần thứ hai, tư tưởng hiện sinh là hệ quả của cả một quá trình lâu dài, khi mà đời sống của con người ngày càng được nâng cao về mặt vật chất dẫn đến sự suy đồi trong cách nhìn nhận giá trị nhân vị Cuộc cách mạng công nghiệp, cách mạng khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt kinh tế của các nước phương Tây Không thể phủ nhận rằng, sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật đã trở thành một thứ ánh sáng mới mẻ, xua tan màn đêm kéo dài hàng thế kỷ bao trùm lên các nước phương Tây Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích về mặt vật chất thì càng ngày người ta càng nhận thấy những mặt trái mà một xã hội kim tiền đem đến cho đời sống tinh thần Con người dường như bị máy móc “nuốt chửng”, sự tự động hóa, máy móc hóa, vật hóa đã biến con người trở thành những “cỗ máy” phục vụ lại chính nền công nghiệp mà họ đã tạo ra Một nền kinh tế sản xuất hàng hóa
“hàng loạt” đã sản sinh ra những con người cũng mang tính “hàng loạt” Con người đã dần đánh mất bản thể, để rồi bất khả tri mọi vấn đề Trong tiểu
Trang 16thuyết Kẻ xa lạ của A.Camus, nhân vật Meursault trở thành người phi lý bằng
xương bằng thịt, thoát khỏi huyền thoại Meursault bắt đầu câu chuyện của
mình bằng câu: "Hôm nay mẹ chết Hay có thể là hôm qua Tôi không biết"
[10, tr.1] Trong suốt hành trình tiểu thuyết, Meursault luôn luôn lặp đi lặp lại
lời nói: “Tôi không biết”, “Không có gì hết”, “Sao cũng được”, “Thì cũng thế
hủy hoại con người, nền văn minh phương Tây cũng không nằm ngoài quy luật đó Bởi sự phát triển khi đã đưa con người đi vào cuộc sống vật chất thì
sẽ càng rời xa các giá trị nhân văn Đây cũng chính là mảnh đất để chủ nghĩa hiện sinh ươm mầm và phát triển Sự ra đời của học thuyết này như một hệ quả tất yếu chống lại những học thuyết duy lý muốn chiếm lĩnh những tầm cao tri thức mà bỏ quên mất nhân tố quan trọng nhất tạo nên nó đó chính là con người
Chủ nghĩa hiện sinh là triết học về con người, hướng đến con người Quan điểm của các nhà hiện sinh có những điểm chưa thống nhất nhau, nhưng cái đích cuối cùng mà họ muốn hướng đến vẫn là vấn đề nhân vị Nếu như trước đây, triết học duy lý đã bỏ quên vấn đề cá nhân, xã hội hóa tất cả, đề cao tập thể, đề cao tính cộng đồng thì đến lúc này chủ nghĩa hiện sinh đã tạo
lập một cái nhìn hết sức mới mẻ về vấn đề con người đó là đề cao nhân vị
Hiện sinh là triết học về thân phận con người, hiện sinh chỉ xuất hiện khi con người ý thức được bản thể, ý thức được mình là một chủ thể Sartre –
một trong những nhà hiện sinh nổi tiếng đã khẳng định rằng Hiện sinh có trước bản chất: “Trước tiên con người tồn tại, hiện diện, ra mắt, tiếp theo mới
thuyết minh cho bản thân…ban đầu con người không có gì hết, chỉ về sau con người mới cần biến thành cái gì đó, thế là con người dựa theo ý chí của mình
mà sáng tạo ra bản thân mình” [24, tr.400], có nghĩa là, trước hết, con người phải hiện hữu đã, phải có đó, tồn tại đó rồi mới được xác định, được gọi tên
Trang 17Sự hiện tồn của con người là điều kiện tiên quyết cho mọi hành động về sau, rồi từ những hành động đó mới hình thành nên tính cách, chọn người mà mình muốn trở thành, tạo lập nên bản chất từng người khác nhau Chủ nghĩa hiện sinh đặt ra câu hỏi “Tôi là ai?” chứ không phải là câu hỏi “Nhân loại là gì?”, có nghĩa mỗi một con người là một thế giới riêng biệt, nhấn mạnh sự kỳ
bí, độc đáo, không lặp lại của mỗi cá nhân chứ không phải là những con người có thể định nghĩa được, những cá nhân lặp lại nhau trong một tập thể Đến với những học thuyết của Camus, Sartre người ta chợt giật mình nhận ra
rằng bấy lâu nay đã bỏ quên chính bản thân mình, đánh mất phần nhân vị làm
nên cái riêng biệt của mỗi người Trong quan niệm của chủ nghĩa hiện sinh,
mỗi người còn là một dự phóng Quan niệm “Thượng đế đã chết” đánh thức
mọi ý thức về tính chủ thể của con người Con người không thể dựa dẫm niềm tin vào bất kỳ điều gì nữa mà phải tự tìm con đường đi cho mình Con người phải tự nỗ lực vượt thoát, phải hành động, dấn thân Chính sự vận động, vượt thoát đó hình thành nên một tư duy tích cực đó là luôn cố vượt lên chính bản thân mình, không tự bó hẹp, giới hạn mà luôn tìm cách để mình của giây phút này không trùng khít với mình của giây phút trước Kierkegaard đã từng la to lên: “Hiện sinh, là bước ra khỏi phòng tối, là không chấp nhận cái kín cổng cao tường, là chối từ cái im lìm, cái bất động của cái gì đã đạt, đã xong, đã rồi, đã đủ…Không Sống là còn đòi hỏi thêm…thêm…Thế vẫn chưa vừa
Hôm nay phải khác hôm qua Ngày sau không thể lặp y như bữa trước” [43]
Con người phải trở thành chủ thể của cuộc đời họ, “tồn tại cho nó” chứ không phải là “tồn tại tự nó”, có nghĩa là con người sẽ tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về những hành động của mình chứ không phải là tồn tại một cách ngẫu nhiên, không mục đích
Bản chất cuộc đời phi lý là một trong những quan điểm quan trọng của
tư tưởng hiện sinh Cuộc khủng hoảng nhiều mặt của thế kỷ XX đã hình thành
Trang 18nên một hiện thực vô nghĩa, phi logic, phi lý tính, trái với năng lực nhận thức của con người Sự đảo lộn về trật tự trong mọi mặt đời sống con người đã tạo nên những sự vật, hiện tượng trái với sự phát triển của tư duy thông thường, hoặc đúng hơn là trái với logic nhân văn tiến bộ của loài người A.Camus là
người đầu tiên dùng từ “phi lý” trong tác phẩm văn học – triết học Huyền thoại Sisyphe để nói về cuộc sống nhân loại Trong đó sự tồn tại, suy nghĩ,
hành động của con người trong cuộc đời có muôn vàn những sự kiện và áp đặt phi lý là một minh chứng cho tính chất mê cung, trừu tượng của giá trị cõi sống Phản ứng tất yếu trước hiện thực phi lý đó con người cảm thấy “buồn nôn” “Buồn nôn” chính là biểu hiện của nhân vị, khi mà con người không chấp nhận hiện thực cuộc sống vô nghĩa, cam chịu như cây cỏ Một khi con người còn cảm thấy “buồn nôn” có nghĩa là con người còn ý thức được về phần nhân vị của bản thân mình, không chấp nhận cuộc sống vô nghĩa, chống lại sự phi lý của cuộc sống Trong hoàn cảnh đó con người thể hiện nhân vị bằng hành động, bằng sự lựa chọn để chống lại sự phi lý Con người trong chủ nghĩa hiện sinh chỉ đạt đến sự tự do thực sự khi chọn lựa, chính khoảnh khắc phải chọn lựa đó là lúc họ có được sự tự do đích thực
Nhìn thấy sự phi lý của cuộc sống, con người trong triết học hiện sinh không tỏ ra bất lực, họ luôn tìm cách vượt thoát, tìm kiếm sự tự do cho bản thân mình Cùng với việc đề cao tính chủ thể thuyết hiện sinh còn nhấn mạnh đến khát vọng tự do của con người trong những trạng huống hiện sinh Thế nhưng khác với tự do chính trị, tự do xã hội, tự do trong chủ nghĩa hiện sinh
có nghĩa là tự do lựa chọn nhân vị cho chính bản thân mình Có thể hành động của họ đi ngược lại với đạo lý thông thường, họ mất đi tự do trong cuộc sống hiện thực nhưng nếu đó là hành động xuất phát từ một lựa chọn thể hiện đúng phần bản chất của mình thì họ đã có được sự tự do thực sự “Tự do, chính là khắc khoải lựa chọn” - J.P.Sartre đã từng khẳng định như vậy Con người hiện
Trang 19sinh tự do lựa chọn, tự do dấn thân nhưng cũng đầy lo âu, sợ hãi William Faulkner đã nói rằng: “Bi kịch của chúng ta ngày nay chính là nỗi sợ hãi mang tính phổ biến và bao trùm liên quan đến thể xác, nỗi sợ hãi mà chúng ta phải chịu đựng quá lâu Không còn vấn đề tâm linh gì nữa Câu hỏi duy nhất còn lại là: Khi nào tôi bị nổ tung đây? Nhưng càng lo âu con người càng phải dấn thân vì đó là con đường duy nhất để con người có thể tìm thấy sự tự do,
để thực sự là một nhân vị giữa cõi đời rộng lớn này” [7, tr.4]
Chủ nghĩa hiện sinh như một chủ nghĩa nhân bản (Sartre), chừng nào con người còn bị cuốn theo vòng xoáy của cuộc sống sinh tồn thì học thuyết hiện sinh sẽ còn gắn liền với họ Con người càng chạy theo những giá trị vật chất thì đời sống tinh thần của họ sẽ ngày càng xuất hiện nhiều lổ hổng, những khoảng trống hãi hùng mà không một điều gì có thể khỏa lấp và chủ nghĩa hiện sinh sẽ làm phần việc của nó Thành công của những nhà hiện sinh
là họ đã không bị chìm ngập trong mớ lý thuyết về nỗi cô đơn, về cuộc sống phi lý, về nỗi sợ hãi từ trong bản thể…mà họ đã luôn cố gắng nỗ lực tìm kiếm một con đường đi để thoát khỏi hiện thực cuộc sống và nội tâm đầy bi kịch
đó, tìm kiếm sự tự do tuyệt đối cho bản thể của mỗi con người Albert Camus
và Simone de Beauvoir là hai nhánh lạc quan của hiện sinh, tin rằng con người có thể có hạnh phúc trong cuộc đời phi lý (Thuỵ Khuê)
1.1.2 Chủ nghĩa hiện sinh từ triết học đến văn học
Có thể nói rằng trong lịch sử triết học phương Tây hiện đại không một học thuyết nào có mối quan hệ mật thiết với văn học như chủ nghĩa hiện sinh Những nhà hiện sinh nổi tiếng đồng thời cũng là những nhà văn gạo cội với những tác phẩm văn học để đời có giá trị về triết học lẫn văn chương Nhắc
đến triết học của Kierkegaard không thể không nhắc đến các tác phẩm Không thế này thì thế kia, Kinh hãi và run sợ, Nhật ký chàng dụ dỗ gái…, nhắc đến
tư tưởng hiện sinh của J.P.Sartre không thể bỏ qua Buồn nôn, Bức tường,
Trang 20Những nẻo đường tự do, Tuổi trưởng thành…hay A Camus với Kẻ xa lạ, Dịch hạch Nói như vậy để thấy rằng để có thể tìm hiểu một cách cặn kẽ về
triết học hiện sinh thì không thể bỏ qua địa hạt văn chương, nơi mà những nhà hiện sinh đã gởi gắm tư tưởng của họ bằng rất nhiều những hình tượng văn học độc đáo và mới lạ
Trong lịch sử, hiện tượng triết học trong văn học không phải là điều hiếm thấy Những tác phẩm văn - sử - triết bất phân là một hiện tượng mà lịch
sử văn học đã chứng minh và tồn tại qua rất nhiều thời đại Điều này cũng thật
dễ hiểu bởi bất kỳ một nhà triết học nào cũng muốn tư tưởng của mình được truyền bá một cách rộng rãi và sâu sắc trong quần chúng Thế nhưng không phải bất cứ ai cũng có thể hiểu và nhận thức được triết lý của họ qua những thứ lý thuyết khô khan Vì vậy, những nhà triết học chọn văn học là người bạn đường thân thiết giúp truyền tải tư tưởng của họ Văn học là mảnh đất lành có thể ươm mầm và nuôi dưỡng cây triết học, cho ra những thứ quả ngọt lành nhất để người đọc có thể thưởng thức và cảm nhận nó Chủ nghĩa hiện sinh cũng không nằm ngoài mối quan hệ mật thiết đó giữa triết học và văn học Hơn thế nữa, những nhà phát ngôn của chủ nghĩa hiện sinh như A Camus, J
P Sartre còn được biết đến trên địa hạt văn chương như những cây đại thụ bởi những hình tượng nghệ thuật đặc sắc và có chiều sâu mà họ tạo dựng trong tác phẩm của mình
Thế nhưng thành công của những tác phẩm văn học – triết học đó trên cả hai địa hạt còn vì một lý do khác Chủ nghĩa hiện sinh chống lại chủ nghĩa duy lý của phương Tây nơi mà con người được cho là có thể nhìn nhận, đánh giá dưới mọi góc độ Chủ nghĩa duy lý không chấp nhận bất kỳ một cá nhân nào, con người luôn được đặt trong tập thể, giữa lòng xã hội Con người, do
đó, cũng mất đi tính chủ thể, họ chỉ là những cá nhân mờ nhạt, không có bản chất riêng biệt Đả phá lại điều đó, chủ nghĩa hiện sinh luôn đề cao vấn đề
Trang 21nhân vị Con người phải là đối tượng trung tâm, là cốt lõi của mọi hoạt động
xã hội Mỗi một người là một thế giới riêng biệt, ẩn chứa nhiều bí mật Không một điều gì, không ai có thể thấu hiểu được nội tâm sâu kín của họ kể cả chính bản thân họ D.H.Lawrence lên tiếng:
Ôi tính có thể hoàn thiện của con người…Tính có thể hoàn thiện con người nào? Tôi là nhiều người Anh dự tính hoàn thiện con người nào trong số ấy? Tôi đâu phải là sản phẩm máy móc Tâm hồn con người kỳ lạ lắm Nó là cái toàn vẹn của anh ta Điều
đó có nghĩa là nó vừa là cái có thể hiểu được vừa là cái không thể hiểu được Tâm hồn con người là một khu rừng thẳm tăm tối, bao giờ cũng có một đời sống hoang dại trong ấy [7, tr.4]
Với Sartre chủ nghĩa hiện sinh là một loại chủ nghĩa nhân đạo, ông cho rằng nhiệm vụ của văn học chính là sáng tác về con người: “Đề tài chủ yếu
là của nhà văn là con người” [24, tr.407], “Tiểu thuyết là tấm gương của con người”[24, tr.407]…Dĩ nhiên con người ở đây được quan niệm theo chủ nghĩa hiện sinh, có nghĩa là con người cảm thấy và muốn khẳng định sự hiện tồn của bản thân mình
Con đường mà văn học đang đi cũng không nằm ngoài hành trình tìm kiếm, giải mã những điều bí ẩn của con người Đó chính là độ giao thoa giữa triết học hiện sinh và văn học, cả hai lãnh địa đó đều có cùng một đối tượng hướng đến đó chính là con người Chừng nào con người còn những trăn trở,
âu lo trong cuộc sống thực tại, còn đấu tranh để khai phá những tầng vỉa sâu thẳm trong tâm hồn thì chủ nghĩa hiện sinh và văn học sẽ còn thực hiện nhiệm
vụ của mình
Có một điều rất đặc biệt dẫn đến mối quan hệ giữa chủ nghĩa hiện sinh
và văn học ngày càng trở nên mật thiết đó chính là sự bí ẩn, nghịch lý của hiện sinh khi lý giải về cuộc sống, về con người lại hoàn toàn phù hợp với
Trang 22cách thức diễn đạt của văn học Từ đó, văn chương trở thành phương tiện chuyển tải những tư tưởng hiện sinh một cách hiệu quả Những nhà triết học hiện sinh, qua các hình tượng trong tác phẩm văn học đã thể hiện lý thuyết của họ theo cách mềm mại, giúp người đọc có thể thấu triệt nó bằng cảm nhận của từng người Từ xưa đến nay văn chương luôn làm tốt nhiệm vụ của mình trong việc “cứu rỗi” con người Văn học hiện sinh dường như đã làm tốt hơn những gì mà những nhà triết học hiện sinh mong đợi Triết lý hiện sinh khi xâm nhập vào văn học đã tạo lập một hệ thống tư tưởng thông qua các hình tượng văn học, kết tụ nên những tư tưởng về giá trị nhân sinh, từ đó hình thành khuynh hướng văn học hiện sinh nổi tiếng một thời Theo Trần Thiện Đạo thì: “Tư tưởng hiện sinh tự nó đã hàm chứa một bản chất đặc biệt, dễ bề phát biểu qua lối diễn đạt bằng nghệ thuật, bằng tác phẩm văn nghệ, bằng kịch bản” [13, tr.71]
Thêm vào đó các nhà hiện sinh coi việc sáng tác văn học là một hoạt động thể hiện tinh thần hiện sinh rõ rệt Nhà văn, một khi dấn thân vào các tác phẩm văn học, được “phóng túng” theo những nhân vật của họ cũng là lúc họ thể hiện nhân vị, thể hiện sự tự do dấn thân vào những vùng sâu thẳm trong tâm hồn con người:
Mỗi người có lý do riêng của mình: với người này, nghệ thuật là một cuộc chạy trốn; với người kia, một phương cách chinh phục Nhưng người ta có thể trốn vào một nơi cô tịch, vào đam mê, vào cái chết; người ta có thể chinh phục bằng vũ khí Tại sao phải đích thị là
viết, làm những cuộc trốn chạy của mình bằng viết? Ấy là vì, đằng sau
những ý đồ khác nhau của các tác giả, có một chọn lựa sâu xa hơn và trực tiếp hơn, chung cho mọi người Chúng ta sẽ cố làm sáng tỏ lựa chọn đó và sẽ thấy có phải nhân danh chính sự lựa chọn phương cách viết đó của họ mà ta cần đòi hỏi nhà văn phải dấn thân [31, tr.45]
Trang 23Mỗi một lần dấn thân như vậy là một lần họ thực hiện nghiệm sinh, dẫu
là sự nghiệm sinh qua tác phẩm, qua số phận của những con người do anh ta tạo nên nhưng đó cũng đã là một sự nỗ lực vượt thoát, để được là mình khác
đi, đã sống nhiều hơn một cuộc đời sau khi hoàn thành tác phẩm Theo Sartre, những nhà hiện sinh khi thực hiện công việc viết lách của mình không chỉ vận dụng những lý thuyết hiện sinh vào tác phẩm của mình mà viết đã là một phương cách để hiện thực hóa những phạm trù hiện sinh mà họ đề cập đến:
“Dù anh là người viết tiểu luận, viết đả kích, châm biếm hay tiểu thuyết, dù anh chỉ nói về những niềm say mê cá nhân hay anh công kích cả chế độ xã hội, nhà văn, là con người tự do nói với những con người tự do, chỉ có một đề tài: tự do” [31, tr.47]
Như vậy, có thể thấy rằng giữa văn học và thuyết hiện sinh có một mối liên hệ hết sức mật thiết với nhau Giữa chúng có cùng một mục đích, một đối tượng hướng đến đó là vấn đề con người Sự đan cài của chủ nghĩa hiện sinh vào văn học để văn học trở thành con đường đắc lợi giúp chuyển tải tư tưởng hiện sinh một cách hiệu quả, ngược lại, những phạm trù hiện sinh khi được lồng ghép trong các tác phẩm văn học lại phát huy tác dụng một cách không ngờ, qua đó đã hình thành nên một trào lưu văn học hiện sinh đầy ám ảnh người đọc Không thể phủ nhận rằng văn học hiện sinh đã đem đến cho cuộc sống những giá trị nhân bản, đánh thức nhân loại biết suy tư về bản thân, không để rơi vào quên lãng
1.2 KHUYNH HƯỚNG VĂN HỌC HIỆN SINH Ở VIỆT NAM THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỈ XXI
1.2.1 Cơ sở hình thành khuynh hướng văn học hiện sinh thập niên đầu thế kỉ XXI
Chủ nghĩa hiện sinh du nhập vào nước ta những năm 60 - 70 của thế kỷ
XX với ảnh hưởng nhanh chóng và mạnh mẽ mà trước tiên là ở miền Nam
Trang 24Việt Nam Có thể nói đây là một trong số ít các học thuyết có sự tác động rõ rệt đến mọi hoạt động trong đời sống của cả một thế hệ trẻ Việt Nam mà đặc biệt là giới trẻ Sài thành lúc bấy giờ Ảnh hưởng đó thể hiện ở chỗ trào lưu, tuy có lúc đậm lúc nhạt nhưng gần như đã thể hiện một cách đầy đủ một giai đoạn lịch sử với những biến động lớn lao về tình hình chính trị - xã hội Việt Nam sau 1986 đã thực sự có những biến đổi rất cơ bản về mọi mặt Đất nước thoát khỏi chiến tranh, bắt tay vào xây dựng và đổi mới đã đem đến cho bộ mặt xã hội những nét mới mẻ, chưa từng thấy Một thế kỷ XX khép lại với những đau thương và oanh liệt nhưng đã là một bước tiến để đất nước sẵn sàng bước vào thế kỷ XXI nhiều hứa hẹn Thập niên đầu thế kỷ XXI là lúc Việt Nam đẩy mạnh hội nhập toàn cầu trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Không thể phủ nhận rằng quá trình hội nhập đó đã đem đến một diện mạo mới cho đất nước Công nghiệp, thương mại, công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ để bắt kịp với xu hướng của thế giới Đặc biệt
sự giao lưu về văn hóa được mở rộng không chỉ trong khu vực mà còn trên toàn cầu Đời sống con người từ đó mà cũng được nâng cao rõ rệt
Như đã trình bày ở trên, sự phát triển về mặt kinh tế xã hội sẽ kéo theo
sự biến đổi trong nhận thức của mọi người về vấn đề nhân vị Dù rằng sự phát triển của đất nước ta không thể sánh kịp với sự lớn mạnh như vũ bão của xã hội phương Tây nhưng từ một đất nước có chiến tranh tiến đến một nền kinh
tế thị trường thì sự biến đổi trong nhận thức của con người là điều không thể tránh khỏi Nó như một hệ quả tất yếu mà bất kỳ một xã hội nào khi hội nhập phải chấp nhận Những luồng văn hóa phương Tây theo rất nhiều con đường
“ồ ạt” đổ vào nước ta, ban đầu người ta còn ngỡ ngàng và có chút ngạc nhiên,
e dè trước nó, nhưng rồi ngay sau đó người ta lại nhanh chóng thấy rằng
“người bạn mới” này có rất nhiều điều để khám phá, dĩ nhiên có cả những điều phù hợp và những điều không phù hợp với văn hóa phương Đông Giữa
Trang 25tiếp thu và tiếp biến là cả một khoảng cách mà bất kỳ một quốc gia nào khi giao lưu văn hóa cũng phải nỗ lực thu hẹp Càng ngày những mặt trái của sự công nghiệp hóa, toàn cầu hóa, thị trường hóa càng bộc lộ một cách rõ rệt Xã hội không thể kìm hãm được sức mạnh của đồng tiền bởi đó là điều kiện cho
sự phát triển mặc dù càng ngày nó càng biểu hiện rõ những tác động xấu lên đời sống tinh thần của con người Mối quan hệ giữa con người với con người chốc lát đã bị phá vỡ, tình yêu thương, sự san sẻ, nương tựa vào nhau đã biến dạng, tất cả đều được thị trường hóa Để có thể thích nghi với đời sống đó, con người mỗi ngày cũng tự thay đổi mình, họ chạy theo đời sống vật chất, lao mình vào công việc, họ bị vòng xoáy của cuộc đời cuốn theo lúc nào không hay Chính họ cũng trở thành một guồng máy mà nếu chỉ dừng lại trong một giây phút nào thôi họ sẽ bị bị bỏ rơi, bị tụt lùi về phía sau Càng lao theo guồng quay xã hội, con người đến một lúc nào đó sẽ rơi vào trạng thái
mơ hồ, hoài nghi, không biết mình là ai, không biết xung quanh mình là những gì Những lựa chọn liên hoàn, vội vã, đầy toan tính đã đẩy con người đến lúc phải đối mặt với biết bao hệ lụy tội ác, nghèo hèn, dục vọng…Khoảng cách giữa người và người ngày càng rộng bởi kênh giao tiếp duy nhất là ngôn ngữ ngày càng bị hạn chế Con người dần đánh mất khả năng diễn đạt ngay cả khi diễn đạt ý kiến của chính mình, đó là mặt trái của sự phát triển công nghệ thông tin khi mà máy móc đã làm luôn phần việc đó Mỗi ngày con người được chứng kiến những biến đổi, những bi kịch trái khoáy, những sự thật đau lòng…Những lằn ranh giữa cái đạo đức – phi đạo đức, nhân bản – phi nhân bản…dường như ngày càng mất hút khiến con người cảm thấy bơ vơ, hụt hẫng, chới với vì mất đi điểm tựa, vì nền tảng niềm tin vào chân lý bị lung lay
Chủ nghĩa hiện sinh đi vào văn học nước ta như một cánh cửa giải thoát những khuất tất trong tâm hồn của nhà văn nước ta bấy lâu Dường như trong
Trang 26một thời gian dài, văn chương nước nhà cứ loay hoay tìm kiếm một con đường đi để có thể minh giải những hiện tượng trong cuộc sống, nhất là vấn
đề con người trong xã hội hiện đại Tất nhiên không phải lúc này vấn đề con người mới được chú ý đến, nhưng chưa bao giờ đề tài đời tư thế sự lại được văn chương đem ra mổ xẻ kỹ càng đến như vậy Đó là khi cuộc sống ngày một chuyển biến mạnh mẽ, con người ngày càng thay đổi, cuộc chiến đấu vì quyền sống chính đáng của con người ngày một sôi nổi Chừng nào văn học còn phát triển thì nhiệm vụ tìm kiếm những tầng vỉa sâu kín nhất của tâm hồn con người sẽ còn tiếp diễn
Tuy nhiên phải nhìn thấy một điều, nếu như hiện sinh ở Pháp ra đời và được công nhận là một chủ nghĩa có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống, thậm chí có hẳn một dòng văn học hiện sinh thì ở Việt Nam mới chỉ dừng lại
là những cảm thức, là một vài khía cạnh khác nhau của tư tưởng hiện sinh Bởi chủ nghĩa hiện sinh từ khi ra đời, du nhập vào Việt Nam cho đến mười năm đầu của thế kỷ XXI đã biến đổi rất nhiều để phù hợp với từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể Do đó, khi đi vào nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Việt, chúng ta cần có một cái nhìn đúng đắn, thích hợp bởi hiện sinh, lúc này,
đã biến đổi để phù hợp với hoàn cảnh cụ thể mà nó hình thành và phát triển Như vậy có thể thấy rằng có rất nhiều cơ sở cho sự lên ngôi của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học nước ta vào thập niên đầu của thế kỷ XXI Từ
sự biến đổi của xã hội đến sự biến đổi trong tâm thức con người đã trở thành những điều kiện thuận lợi cho hiện sinh bắt rễ và phát triển Sự kết hợp giữa chủ nghĩa hiện sinh và văn học đã đem đến một làn gió mới mẻ cho nền văn học nước nhà, cảm hứng hiện sinh qua đó đã đem lại thêm một giá trị nhân bản cho văn học Việt Nam
1.2.2 Vài nét về tiểu thuyết hiện sinh thập niên đầu thế kỉ XXI
Thế kỷ XX ở Việt Nam khép lại với những đổi mới trong tư duy đã mở
Trang 27ra những hy vọng mới cho đất nước trong thế kỷ XXI Quá trình hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa mọi mặt đời sống đã giúp cho xã hội ngày một tiến bộ
Bộ mặt của văn hóa nói chung và văn chương nói riêng có những bước phát triển đầy phấn khởi Sự mở đường trong tư duy nghệ thuật, chính sách đổi mới ngày một phóng khoáng của nhà nước ta đã giúp cho giới nhà văn mạnh dạn hơn trong việc sáng tác, văn học đã đạt được nhiều thành tựu đáng ngưỡng mộ Nhiều văn nghệ sĩ đã lao động một cách thực thụ với một tinh thần nhiệt thành vì nền văn học nước nhà
Có thể nói mười năm đầu thế kỷ XXI là một khoảng thời gian đánh dấu
sự phát triển vượt bậc của văn học Việt Nam trong việc đổi mới tư duy nghệ thuật Rất nhiều cây bút trẻ đã xuất hiện, sáng tác với một lối văn chương rất mới, rất khác lạ Ban đầu độc giả còn khá ngỡ ngàng trước những thay đổi đó,
họ không thể hiểu được tác giả đang đề cập đến vấn đề gì trong tác phẩm bởi
đó là những câu chuyện không có cốt chuyện, là những thứ tủn mủn, vụn vặt trong đời sống của một cá nhân Nhưng dần dà, người ta mới nhận ra rằng, đây là những điều họ bắt gặp ngay trong cuộc sống thường nhật, hay đôi khi
là bắt gặp ngay chính bản thân mình qua mỗi trang viết đó Tư duy nghệ thuật mới đã thay thế cho cách sáng tác theo một lối mòn như trước kia Người ta đã: “Từ bỏ niềm tin về tuyến tính nhân quả, về tính tất định của cuộc đời và ngộ ra ở đời còn có vô số chân lý cùng tồn tại, chẳng cái nào đúng hơn cái nào, chẳng cái nào là trung tâm, là tuyệt đối, là tối thượng” [18, tr.78] Sự giao lưu, tiếp biến nhiều luồng văn hóa đã đem đến cho văn học những làn gió mới, tạo đà phát triển ngày càng mạnh mẽ cho sự ra đời của rất nhiều tác phẩm mang tư tưởng mới lạ, độc đáo Du nhập vào nước ta từ những năm 60-
70 của thế kỷ trước, nhưng phải cho đến thế kỷ XXI, chủ nghĩa hiện sinh mới thật sự bước vào vào văn đàn với sứ mệnh của người mở đường cho lối sáng tác văn học mới Dù ít dù nhiều, trong cảm quan nghệ thuật của những nhà
Trang 28văn trẻ Việt Nam đều chịu sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh
Tiểu thuyết mười năm đầu thế kỷ XXI đặc biệt chú ý đến đời sống hiện sinh của con người Trong một xã hội hỗn độn, phi lý, vấn đề con người trong thế giới hiện đại trở thành một trong những vấn đề cấp thiết, cần được lý giải Nhà văn cần đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi: Con người là ai? Đâu là những giá trị đích thực mà con người cần tìm kiếm trong cuộc đời hỗn mang này? Cho dù là viết về đề tài gì, về cuộc sống đương đại hay những câu chuyện lịch sử, về hiện thực đời thường hay những giấc mơ ảo mộng…tác phẩm rốt cuộc bao giờ cũng trở về với những ngẫm suy khắc khoải về nhân
vị Con người trong cuộc sống hiện đại hiện lên là những phức hợp khó lý giải, đa nhân cách, sự ngổn ngang, phi lý, hỗn độn và cả đổ vỡ trong mỗi cá thể là thứ chất xúc tác mạnh mẽ để những nhà văn cố công trên hành trình tìm kiếm và minh giải những điều đó Mỗi người có một cách thức khác nhau nhưng cho đến cùng điều mà người ta muốn đạt đến đó là khẳng định nhân vị
của con người Hàng loạt những tác phẩm ra đời như: Cơ hội của chúa, Khải huyền muộn (Nguyễn Việt Hà), Thoạt kỳ thủy, Ngồi (Nguyễn Bình Phương),
Và khi tro bụi, Mưa ở kiếp sau (Đoàn Minh Phượng), Đi tìm nhân vật (Tạ Duy Anh), Vắng mặt, Rừng người (Đỗ Phấn), Song song, Bờ xám (Vũ Đình Giang), Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái), T mất tích, Vân Vy (Thuận), Giữa vòng vây trần gian, Giữa dòng chảy lạc (Nguyễn Danh
Lam)…là những nỗ lực không ngừng của lớp nhà văn thế hệ mới trong việc khai thác hành trình nhọc nhằn tìm kiếm bản thể của con người hiện đại Những đề tài mà trước đây văn học khước từ, thì giờ lại trở thành vấn đề nóng được quan tâm Một khi quyền tự do cá nhân được nâng cao thì những cái thuộc về phần thầm kín nhất của con người cũng được đem ra mổ xẻ Một thế
hệ nhà văn với tư tưởng hiện đại đã không ngần ngại đưa vào tác phẩm của mình những đề tài như đồng tính, sex…như một tiếng nói góp phần khẳng
Trang 29định quyền tự do thể hiện nhân vị Thật không dễ dàng cho những cái mới bởi những gì thuộc về truyền thống bấy lâu luôn được tôn thờ Thế nhưng một khi cái mới đạt đến một độ chín nào đó sẽ tự hòa giải với cái truyền thống Văn học mang hơi thở của chủ nghĩa hiện sinh cũng chịu những tác động tương tự như thế
Cuộc sống hiện lên qua các tác phẩm mang dấu ấn chủ nghĩa hiện sinh thật ngổn ngang, phi lý, con người trong đó bị mất phương hướng, mất thăng bằng, do mất hết niềm tin vào những giá trị truyền thống đã trở thành chuẩn mực bấy lâu Nhân vật trong các tác phẩm văn học Việt Nam mười năm đầu thế kỷ XXI sống theo guồng quay không ngừng của xã hội hiện đại Họ sống, lao động, yêu đương theo những nhịp điệu gấp gáp, đôi lúc quên lãng những giá trị của cuộc sống Càng nhọc nhằn trong việc tìm kiếm bản thân, con người càng đối diện với những hiện thực nghiệt ngã, bởi vì: “Ngoài sức mạnh công lý, luôn tồn tại những mãnh lực của bóng tối Chính những mãnh lực đó
ấn bẹp con người xuống, dồn đuổi họ tới chân tường trước khi hủy diệt họ Dường như mỗi số phận đôi khi giống như một con rối nối với một sợi dây, được điều khiển bởi những cỗ máy giấu trong bóng tối” [1, tr.50]
Nghệ thuật biểu hiện trong tiểu thuyết hiện sinh Việt Nam mười năm đầu thế kỳ XXI cũng có rất nhiều sự thay đổi Nhà văn không còn đi theo những kết cấu sáo mòn, những môtip nhân vật, cốt truyện theo kiểu cũ Mỗi tác phẩm là một “món ăn lạ” mà người đọc phải ngồi xuống, thưởng thức và chiêm nghiệm thì mới có thể nắm bắt được ý đồ của tác giả Các tác phẩm thường đi vào cuộc sống nội tâm của một con người nhất định Tác giả không
kể lể về cuộc đời, về số phận của người đó, không quan tâm đến quá khứ và tương lai của nhân vật mà chỉ tập trung khai thác nội tâm, suy nghĩ, trạng thái tâm lý cảm xúc của nhân vật trong thời hiện tại Con người lúc này hiện lên không theo một kiểu mẫu phổ quát nào, mỗi con người là một cá nhân riêng
Trang 30biệt với những suy nghĩ, cảm xúc rất riêng đôi khi chính họ cũng không tri nhận được hết bản thân mình Bởi mỗi người, trong mỗi hoàn cảnh lại có một
“vai diễn” hoàn toàn khác nhau “Chỗ này tôi là món chính Chỗ khác tôi là gia vị Chỗ khác nữa tôi chỉ còn là cốc nước súc miệng hoặc tệ hơn nữa là một mẫu thịt dắt răng” [1, tr.215 ] Trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI, sự thay đổi trong kết cấu tổ chức cốt truyện, sự dung hợp của nhiều không gian,
sự đứt gãy, vô nghĩa của thời gian…đã trở thành những phương tiện thể hiện khá sinh động tâm thức đặc thù của con người thời đại Cá nhân xuất hiện như những ký hiệu, không tên tuổi, không lai lịch, gốc gác Chẳng hạn như những nhân vật của Thuận, Đoàn Minh Phượng…, để viết về cuộc đời của mình họ chỉ có những dòng ngắn ngủi: “Mười năm rồi tôi đã qua bao nhiêu ngoại ô của Paris Những toa tàu chỉ mình tôi ngủ gật Những sân ga mù mịt Những phòng bán vé chưa buồn mở cửa Những cột cây số vẹo vọ Những cánh đồng
cỏ mọc chen cỏ Đen thẩm và chạy dài đến vô tận Đằng sau đường chân trời
có thể là đất nước của tôi Hình chữ S” [41, tr.102], “Tôi là một đứa trẻ mồ côi” [28, tr.37] và “Tôi đến từ một đất nước có chiến tranh” [28, tr.37] Họ chỉ
là những phiến đoạn đứt rời được mô tả dưới lớp ngôn ngữ gãy gọn, những kết cấu vỡ vụn…Để hiểu được cuộc đời nhân vật, người đọc phải lượm lặt, gom nhặt những mảnh vỡ Xuất hiện như một xu hướng, văn học mang cảm thức hiện sinh đã trở thành mảnh đất để tái hiện và dung chứa nhiều phiến đoạn của đời sống, với cái nhìn cởi mở và bao dung về thân phận con người Như vậy, có thể thấy rằng tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI mang một diện mạo khá mới mẻ và phong phú Sự đổi mới trong đề tài, trong tư duy tiểu thuyết đã đem đến cho văn học nước nhà những thành tựu đáng lưu tâm Các nhà văn trẻ của nước ta từng ngày cho ra những sản phẩm tinh thần có giá trị, bắt kịp với nhịp độ phát triển của nền văn chương thế giới
Dù rằng sẽ là khập khiễng khi đem so sánh một xã hội phương Tây kỹ nghệ
Trang 31với trình độ phát triển vượt bật với một đất nước Việt Nam đang trên đường hòa nhập với thế giới, nhưng không thể phủ nhận rằng tiểu thuyết Việt Nam mười năm đầu thế kỷ mới đã mang hơi hướng của nền văn học của một xã hội hiện đại, sẵn sàng để bắt kịp và đáp ứng nhu cầu của con người trong đời sống ngày nay Và một trong số những nhà văn khá thành công với mảng văn học này đó là Nguyễn Danh Lam – một cây bút trẻ, tài năng, được khá nhiều giải thưởng uy tín và được dư luận công nhận
1.3 TIỂU THUYẾT NGUYỄN DANH LAM TRONG “DÒNG CHUNG” 1.3.1 Quan niệm nghệ thuật
Nguyễn Danh Lam bắt đầu sự nghiệp sáng tác của mình với một tập thơ
lấy tựa là Tìm xuất bản năm 1994, một tập truyện ngắn Mưa tháng mười một
(2008), còn lại thành quả lao động nghệ thuật trong mười năm của anh là ba
tiểu thuyết với các tên gọi: Bến vô thường (2004), Giữa vòng vây trần gian (2005) và Giữa dòng chảy lạc (2010)
Với Nguyễn Danh Lam việc làm thơ, viết văn là công việc sáng tạo một cách nghiêm túc, anh không sáng tác để phục vụ nhu cầu giải trí đơn thuần, để
“đánh đu” với hiện thực sáng tác ngày càng rầm rộ của rất nhiều người Càng ngày anh viết càng chậm nhưng cũng nhờ đó tác phẩm sau lại được đánh giá cao hơn tác phẩm trước Nguyễn Danh Lam chỉ mong tiểu thuyết của mình có những trang “viết được chút gì để nghĩ” vì vậy mà các tác phẩm của anh khá kén người đọc Với Nguyễn Danh Lam, anh luôn đề cao con người, lấy đó làm trung tâm cho sáng tác của mình, anh coi trọng phần cảm tính trong tác phẩm văn học hơn là những gì thuộc về lý tính Để làm được điều đó, nhà văn phải lao động một cách có ý thức, họ phải là những chủ thể sáng tạo có trách nhiệm, có một con đường đi riêng và một tinh thần luôn tôn trọng người đọc Theo quan niệm của Nguyễn Danh Lam, trong văn chương nhất định phải ẩn chứa một triết lý nào đó để khám phá, để suy ngẫm Trong một lần trả
Trang 32lời phỏng vấn, Nguyễn Danh Lam đã nói rằng: “Trong văn có triết, chứ không phải “lẫn” triết Hoặc nhân tình thế thái cũng vậy Tất cả phải nằm êm dưới lớp văn Thậm chí gần đây, tôi nghĩ, chỉ cần kể một câu chuyện thật giản đơn Nhưng khi tác giả đã suy tư, thì cái suy tư kia tự nó đã ở trong từng câu chữ Phần bóc tách, tôi mong độc giả hợp tác với tôi!” [51] Anh đã từng thú nhận, một trong những nguyên nhân khiến anh không làm thơ nữa đó là vì anh đã:
“Nhét vào trong thơ quá nhiều…triết lý” [54] Người sáng tác không làm nên những tác phẩm dễ dãi để độc giả “đọc chơi” mà nhất định đằng sau câu chữ phải là một điều gì đó sâu sắc hơn, phải là những thành quả “văn học có suy tư” Tất cả những tư tưởng đều được tác giả đưa vào trong tiểu thuyết của
mình một cách chủ động, có chủ đích rõ ràng Trong chương đầu của Giữa dòng chảy lạc, khi cô bán bảo hiểm đang huyên thuyên về sản phẩm của mình
với khách hàng bỗng tòa cao ốc rất hiện đại, tiện nghi nơi họ ngồi bốc cháy
Và trong hoàn cảnh ấy, chính cô ta lo chạy trước cả vị khách mà mình đang thuyết trình Hình ảnh ấy là một chủ ý của tác giả rằng không có một thứ bảo hiểm nào có thể đảm bảo an toàn cho con người trong cuộc sống hiện đại này
Trong Giữa dòng chảy lạc nhà văn còn gửi gắm nhiều ẩn dụ như vậy
Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Danh Lam về con người có thể tựu trung trong câu nói của Pascal: “Người là cây sậy biết suy tư” Suy tư chưa hẳn đồng nghĩa với mỏi mệt, thậm chí chừng nào con người không còn biết suy tư nữa mới là “mệt” Con người trong tác phẩm của anh dường như lúc nào họ cũng bị tụt lùi, bị bỏ rơi lại phía sau Họ luôn khao khát, tìm kiếm cái bản ngã của chính mình, nhưng càng đi họ lại càng cảm thấy bế tắc, quẩn quanh, mất phương hướng Nhà văn lý giải điều này trong một lần trả lời báo chí, anh nói rằng thời kỳ anh bắt đầu biết nhận thức là thời kỳ đất nước ta mới bước ra khỏi giai đoạn bao cấp, tất cả đang chuyển mình để đi lên một xã hội mới cùng với nhiều “giá trị sống mới” Chính vì vậy nhân vật trong tiểu
Trang 33thuyết của anh được xây dựng dựa trên cảm thức của nhà văn về một giai
đoạn lịch sử nhiều biến động Nguyễn Danh Lam khẳng định: “Tất cả các
nhân vật trong tiểu thuyết cũng như truyện ngắn của tôi từ trước đến nay đều
vô danh, hoặc nếu “hữu danh” thì cũng chỉ là một “cái gì đó” để gọi vậy, chứ không phải tên! Ngoài tên, họ còn không có cả lai lịch và nhiều thứ thuộc về
cá nhân khác nữa Cái này không do tôi quyết định, mà là do tôi nhìn thấy họ
ở trong cuộc đời này và tôi phản ảnh họ vào tác phẩm như vậy” [44] Nguyễn Danh Lam thừa nhận rằng tiểu thuyết của anh chịu một sự ảnh hưởng rất mạnh mẽ từ những nhà văn hiện sinh như A Camus, F Kafka, E Hemingway, F S Fitzgerald, R Carver và gần đây là H Murakami
Với Nguyễn Danh Lam, người nghệ sĩ một khi đã dấn thân vào con đường sáng tạo nghệ thuật thì điều quan trọng là phải có trách nhiệm với những đứa con tinh thần của mình, sống thật với bản thân, không ngừng trau dồi nhận thức, nâng cao cảm quan nghệ thuật Tư duy nghệ thuật, tư duy sáng tạo trong những thời điểm nhất định sẽ phát triển cùng với sự tiến lên trong nhận thức của người nghệ sĩ chứ không thể gò ép, bó buộc theo những khuôn khổ, càng không thể gắng gượng để “chạy theo” xu hướng Đã có lần anh trả lời báo giới về câu hỏi với đại ý là anh có hướng sáng tác của mình theo
Tôi không nghĩ mình cần tập thể hình, hoặc nhịn ăn… để mặc vừa một cái áo nào đó Nếu nói cụ thể, ví dụ “cái áo” Hậu hiện đại chẳng hạn, đó là một lý thuyết rất… co giãn…Và tôi yên tâm một điều, mình cứ viết như chính mình, đó là Hậu hiện đại Hậu hiện đại
là giải trung tâm, vì vậy không thể biến nó thành trung tâm để nhất quyết quay quanh nó…Cứ sống, đọc, viết… Thời gian thay đổi, suy
tư thay đổi, tình cảm thay đổi, kinh nghiệm thay đổi… hẳn trang viết cũng theo đó mà thay đổi Và còn một cách thay đổi nữa, rất
Trang 34nghiêm túc, đó là… không viết gì nữa cả! [48]
Như vậy có thể thấy rằng, Nguyễn Danh Lam là nhà văn có một quan niệm nghệ thuật khá rõ ràng và mới mẻ Thành công của anh trong thể loại tiểu thuyết là thành quả của một nghệ sĩ với lòng nhiệt thành và nghiêm túc trong lao động nghệ thuật Con người, cuộc đời trong tác phẩm của anh dù rằng có lúc bế tắc nhưng không phải vì vậy mà buông xuôi Tác giả qua đó luôn muốn gởi gắm một niềm tin vào sức mạnh tiềm tàng của con người sẽ là động lực để anh viết nên những trang văn ngời sáng tính triết luận
1.3.2 Cảm hứng sáng tác
Nguyễn Danh Lam bắt đầu sáng tác vào những năm đầu tiên của thế kỷ XXI Anh là người được may mắn được sống ở cả hai thế kỷ, một giai đoạn nhiều biến động vào cuối thế kỷ XX, và một xã hội với nhiều giá trị sống mới vào thập niên đầu thế kỷ XXI, sự trải nghiệm cùng tâm hồn nhạy cảm của người nghệ sĩ đủ để anh có thể nắm bắt và đưa vào tác phẩm của mình tất cả những biến chuyển của thời đại mà trong đó con người đóng vai trò là trung tâm Con người của thời đại mới trở thành nguồn cảm hứng cho nhà văn chắp bút Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Danh Lam quan tâm đến thân phận con người đặc biệt là thế hệ trẻ bởi trong xã hội ngày càng hiện đại, con người dường như dễ bị bỏ rơi, bị quên lãng Một thế hệ gồm những người trẻ tuổi,
có tài năng, nhiệt huyết nhưng hiện thực cuộc sống đã cuốn họ đi lúc nào không hay biết Guồng quay của cuộc đời quá khắc nghiệt, con người không lúc nào được ngơi nghỉ, được ngồi xuống để ngẫm ngợi, nhìn nhận lại chính bản thân mình Thêm vào đó, những đòi hỏi, yêu cầu cuộc sống ngày càng nâng cao, đồng tiền đạt được những quyền lực tối thượng Giá trị của con người theo đó ngày càng bị hạ thấp Nhận thấy tất cả những điều đó, Nguyễn Danh Lam đã đưa vào tác phẩm của mình những hiện thực cuộc sống, bao nhiêu số phận, bao nhiêu cảnh đời, mỗi con người là một bi kịch, một mảnh vỡ
Trang 35của cuộc sống cứ tan ra và trôi dạt đi Nguyễn Danh Lam bắt gặp chủ nghĩa hiện sinh như một người bạn đồng hành đầy tin cậy Anh nhìn thấy mình, thấy cuộc đời ở trong đó Anh níu giữ nó trong từng trang viết, nắn nót và nâng niu
để qua đó bao nhiêu tư tưởng, bao nhiêu trăn trở của anh được gởi đến bạn đọc Tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “Tôi là ai?”, đó cũng là đích đến của chủ nghĩa hiện sinh và văn học Sự gặp gỡ đầy duyên nợ
đó đã trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của nhà văn
Bến vô thường là tiểu thuyết đầu tiên của Nguyễn Danh Lam Nội dung
tiểu thuyết được tạo thành bởi sự lắp ghép của rất nhiều những câu chuyện nhỏ, đứt đoạn Cuộc đời của những con người trong tiểu thuyết không được
kể một cách liền mạch, mà bị ngắt quãng, phân chia ở nhiều chương đoạn khác nhau Những nhân vật như tôi, hắn, gã, y, lão…chen chúc nhau trong một xóm ga nhỏ bé hay một xóm ngoại ô chật chội Chuyện là sự minh giải cho tội lỗi, cho sự tha hóa của con người Sức mạnh của đồng tiền, của miếng cơm manh áo đã dần đẩy con người đến bờ vực của sự vô cảm, chai lỳ, xơ cứng trước nỗi đau của đồng loại Những đứa trẻ ngay từ khi còn nhỏ đã phải sống trong một môi trường tha hóa, với những người cha người mẹ thô lỗ, cộc cằn thì liệu rằng tương lai của chúng có tốt đẹp được hay không Con người nghèo đói, nặng nợ cơm áo thì lấy đâu ra thời gian và công sức để quan tâm
đến những khổ đau của đồng loại Nguyễn Danh Lam qua Bến vô thường với
kết cấu dán ghép từ rất nhiều những câu chuyện chính là ẩn dụ cho những số phận đứt rời, dạt trôi, vô nghĩa giữa dòng đời Tác giả xây dựng hình tượng những con người tha hóa trong tác phẩm không phải là để lên án mà chủ yếu xuất phát từ cảm hứng nhân đạo, từ sự cảm thông, thấu hiểu những nỗi khổ đau của con người giữa cuộc đời khắc nghiệt, đầy rẫy những phi lý
Nối tiếp nguồn cảm hứng đó, sự ra đời của tiểu thuyết Giữa vòng vây trần gian là thành quả của sự cố gắng, nỗ lực không ngừng của Nguyễn Danh
Trang 36Lam trong lao động nghệ thuật Giữa vòng vây trần gian là cuốn tiểu thuyết
kể về cuộc hành trình mệt mỏi, gian lao, khắc nghiệt và đầy phi lý của nhân vật chính tên là Thữc Trở về sau một đêm lang thang, anh vô tình trở thành nạn nhân của cuộc rượt đuổi không rõ nguyên nhân và kể từ đó anh rơi vào một thế giới thực ảo trộn hòa Thế giới đó là tập hợp của những bất công, phi
lý của cuộc đời Anh hoang mang, bất định và sợ hãi Dù rằng ý thức muốn được thoát khỏi những điều phi lý luôn thường trực nhưng anh không cách nào thực hiện được Tác giả để cho nhân vật và người đọc mệt mỏi trong hành trình nhọc nhằn để rồi nếu ta đủ kiên nhẫn để đi đến tận cùng câu chuyện, độc giả sẽ hiểu ra rằng đó chính là hành trình của con người giữa cuộc đời Tác giả dường như thấu suốt những nỗi khổ đau, những cuộc chiến đấu, chống chọi giữa con người với những thế lực vô hình khi sinh ra là một sinh linh giữa cõi trần gian Hành trình cuộc sống chính là hành trình tìm kiếm, minh giải những khổ đau của cuộc đời, là khát vọng được giác ngộ chân lý đời sống nhưng dường như càng khát khao, càng chiến đấu thì lại càng rơi vào bế tắc
Bế tắc cũng chính là trạng thái tâm lý thường trực và chủ đạo của nhân
vật anh trong Giữa dòng chảy lạc – tiểu thuyết thứ ba của Nguyễn Danh Lam
Anh thông minh, học giỏi, gia đình thương yêu anh thế nhưng sự khác biệt trong suy nghĩ, tư duy khiến anh ngày càng trở nên lạc lối giữa cuộc sống Anh nhạy cảm trước những biến đổi của cuộc đời để rồi càng ngày càng cảm thấy cô đơn, chênh chao Anh tìm đến tình yêu những mong cứu rỗi tâm hồn của mình nhưng cuối cùng vẫn thất bại Những người bạn bên cạnh anh dần ra đi: đầu tiên là cái chết của con mèo sống cùng anh trong căn nhà trống đã mấy năm trời, tiếp đến là biến cố của người bạn phải sống đời sống thực vật và cuối cùng là sự ra đi không rõ nguyên nhân của ông họa sĩ – người bạn tâm giao của anh Trước những biến cố đó anh đã phải đối mặt với một nỗi cô đơn, với những cơn điên hiện sinh lúc mơ lúc tỉnh Kết thúc tiểu thuyết là
Trang 37hình ảnh của anh về một tuổi già đơn chiếc, lạnh lẽo đang đón đợi ở phía trước
Như vậy, có thể thấy rằng, những sáng tác của Nguyễn Danh Lam nhìn chung, nằm trong mạch cảm hứng về con người trong xã hội hiện đại, tác giả
đi vào khai thác một cách sâu sắc những hậu quả nặng nề về mặt tâm lý cũng như phản ứng của nhân sinh trước những cơn bão của thời đại Đọc Nguyễn Danh Lam, độc giả sẽ phải đối diện với những mảnh hiện thực khá nghiệt ngã, phi lý, nhưng ẩn chứa trong đó còn là sự đấu tranh không ngừng nghỉ của các nhân vật, là khát vọng muốn được vượt thoát khỏi hiện thực, lấy lại sự cân bằng cho cuộc sống, làm chủ cuộc đời mình, bằng nội lực của chính mình
Trang 38CHƯƠNG 2
CẢM THỨC HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT
NGUYỄN DANH LAM – TỪ CÁC KIỂU NHÂN VẬT
Con người trong chủ nghĩa hiện sinh hay nhân vật trong một tác phẩm văn học đều đóng vai trò trung tâm, là cái đích cuối cùng được hướng đến Bất kỳ một nhà văn nào trong tác phẩm của mình đều phải dụng công cho việc xây dựng hình tượng nhân vật Sự kỳ công, có chủ đích trong thao tác này sẽ góp phần không nhỏ đem lại thành công cho cả tác phẩm Mỗi một nhà văn sẽ có quan niệm khác nhau về con người, một xuất phát điểm khác nhau trong tư tưởng để hình thành nên hệ thống nhân vật Nguyễn Danh Lam với tư duy của một người trẻ đã chọn hiện sinh làm người bạn đồng hành trong suốt quá trình lao động nghệ thuật của mình như một cách lột tả toàn vẹn quan niệm về con người, về cuộc đời trong dòng chảy hiện đại
J.P.Sartre đã từng nói rằng: “Thật phi lý chúng ta sinh ra, thật phi lý chúng ta chết đi” Sự ra đời, tồn tại và cả chết đi của con người trong quan niệm của chủ nghĩa hiện sinh là nối tiếp của những điều phi lý Con người trong giới hạn của bản thân không thể tự mình lý giải được tất cả mọi việc diễn ra trong cuộc đời, chính vì vậy không lúc nào họ hết cảm thấy chênh chao, hoài nghi, trăn trở Văn học hiện sinh đặt ra câu hỏi "Tôi là ai?" J.Sartre
đã từng khắc khoải: “Con người, anh là ai?” Dẫu đề cập nhiều vấn đề của đời sống, nhưng về cơ bản tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam nhằm đi tìm câu trả lời cho câu hỏi về điều bí ẩn của con người Nguyễn Danh Lam đã nỗ lực tìm kiếm, minh giải những điều đó khi đặt nhân vật của mình trong bộn bề hiện thực, con người trong cuộc sống hiện đại phải tự đấu tranh, để rồi có thể thích nghi hay bị “đánh bật” ra khỏi dòng chảy đó là cả một quá trình Cũng để trả lời cho câu hỏi "Tôi là ai?", “Con người, anh là ai?” Nguyễn Danh Lam đã xây dựng một thế giới nhân vật phong phú, với những kiểu nhân vật đặc thù
Trang 39thể hiện rõ cảm thức hiện sinh của nhà văn
2.1 KIỂU NHÂN VẬT HIỆN TỒN TRỐNG RỖNG
2.1.1 Con người bị bỏ rơi
Nhân vật của Nguyễn Danh Lam đa phần không có tên, đó là những ông, anh, cô, gã, y, hắn…hay ông họa sĩ, cô bán bảo hiểm, cô năm giờ, cô sáu giờ…Tác giả không đặt cho họ một cái tên cụ thể nào cả, hay nói đúng hơn họ không là ai hoặc là tất cả con người trong xã hội này, vậy thì biết gọi họ bằng gì? Không là ai khi mà cuộc đời cuốn họ đi trong dòng chảy hối hả của nó, họ không là gì, nhạt nhòa, nhỏ bé giữa dòng chảy hiện sinh, nhưng khi nhìn vào
họ chúng ta dường như bắt gặp chính bản thân mình ở trong đó Vậy chẳng phải họ là tất cả chúng ta hay sao? Càng như vậy con người trong tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam càng trở nên mù mờ trong tâm trí người đọc Nguyên một
tiểu thuyết Bến vô thường, chúng ta không thể nào bắt gặp một cái tên mặc dù
có đến hàng chục nhân vật trong tác phẩm Hay tiểu thuyết Giữa vòng vây trần gian với một cái tên không bình thường, Thữc Thật khó để có thể đánh
vần một cái tên như vậy, nó không tồn tại trong cuộc đời này Anh tên Thức, nhưng tác giả lại đặt một dấu ngã đè lên đó trở thành Thữc Sự tỉnh thức của anh do đó vẫn còn xa vời lắm, anh sẽ còn loay hoay rất lâu trong chốn trần ai
để vượt thoát khỏi cái tự ngã của bản thân mình Con người trong tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam càng cố gắng tìm kiếm bản thân mình bao nhiêu, cố gắng
để là những chủ thể bao nhiêu thì họ lại càng lạc lối bấy nhiêu Đó là một hắn
trong Bến vô thường với một cuộc đời chứa đầy những nỗi sợ hãi, hắn lớn lên
với những đòn roi của người cha thô bạo, hắn mang theo bên mình những căn bệnh kỳ quái: “Thuở bé hắn có tật hay tiết nước bọt, mồm lúc nào cũng mằn mặn, tanh tanh…Nước trong cơ thể hắn thay vì đái ra thì hắn phun theo đường nước bọt” [19, tr.8], hắn có thể thoát khỏi lưỡi hái của tử thần dù mắc phải bạo bệnh vô phương cứu chữa, “hắn có uống rượu đến vữa người ra thì
Trang 40cũng chẳng bao giờ đổ bệnh, và cho dù có ngâm mình dưới nước rồi đem phơi nắng chang chang đến hằng tháng, hằng năm, hắn cũng tuyệt chẳng biết nhức đầu, sổ mũi là gì” [19, tr.292] Dường như hắn là hội tụ của tất cả những điều kỳ quái, dị biệt và cũng vì vậy mà hắn là một kẻ cô đơn, bị bỏ rơi giữa trần thế Đã từ lâu: “ Hắn không còn biết suy tư về lẽ sinh tử nữa Tất cả chỉ còn lại một bản năng co giật, dạt trôi, hoàn toàn vô nghĩa” [19, tr.294] Thế nhưng cho đến cuối cùng, khi hắn đang trốn chạy vì lỡ tay giết chết đứa con của mụ chủ nhà, khi đang rơi vào con đường bế tắc, hắn bỗng nhiên tri nhận
về cuộc đời của mình Cuộc đời hắn, nếu thoát ra khỏi cái xóm ngoại ô đó thì:
“Mọi sự sẽ ra sao? Hắn sẽ tiếp tục đi về đâu? Tuyệt chẳng có câu trả lời” [19, tr.294] Một kẻ bất chấp tất cả như hắn cho đến cuối cùng trong đầu vẫn hiện lên một câu hỏi hiện sinh, muốn tìm kiếm một câu trả lời cho những điều thắc mắc về thân phận mình nhưng bế tắc Hắn vẫn là một kẻ vô danh, không thể chết theo đúng nghĩa của một con người bình thường, hắn sẽ tiếp tục trôi như con kênh đen đặc kia để mãi: “Tanh tưởi ngày ngày theo nhịp dềnh lên dềnh xuống, chẳng bao giờ trôi được đến đâu” [19, tr.293], sẽ cứ chồng chềnh một chỗ, tao tác một chỗ, đen kịt và hôi thối, sẽ chẳng bao giờ tìm được ra biển
Đó là một chị rỗ với khuôn mặt “rỗ nhằng rỗ nhịt” [19, tr.115], một người đàn
bà được tạo ra bởi sai lầm của tạo hóa, trong một phút giây lơ đễnh người đã quên đi rằng với một người đàn bà nhan sắc quan trọng đến như thế nào Công việc của chị cũng thật đặc biệt Cuộc đời chị gắn liền với cái trạm barie:
“Xung quanh là bãi hoang, mọc toàn cỏ gà, xấu hổ, sim mua…Vào mùa đông gió tốc hu hu qua cánh đồng, mưa phùn đan lạnh cắt da” [19, tr.115] Đó là nơi chị mòn mỏi đợi những chuyền tàu về với một công việc duy nhất là hạ thanh chắn xuống dù rằng vào những lúc ấy chẳng còn ai qua, nơi những con tàu đêm đêm vụt qua mang đến chút ánh sáng le lói nơi tâm hồn lạnh lẽo của chị: “Giúp nguôi đi phần nào nỗi cô đơn, sợ hãi đến mụ mị tâm trí suốt những