1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân vật trong tiểu thuyết nguyễn đình tú

90 615 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 689,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối mặt với thế giới nhân vật của Nguyễn Đình Tú, người đọc như được đối mặt với mặt sau của cuộc sống hiện thực, đối mặt với chính mình, với câu hỏi: “Mình đã làm được những gì” hay cả

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Từ sau 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới kéo theo nhiều

đổi thay trong đời sống con người Đó cũng là lúc người ta “không tìm được

sự tĩnh lặng của cuộc sống và tâm hồn trong mỗi âm thanh tích tắc của chiếc đồng hồ thời đại” [28; 61] Trước sự thay đổi ấy, văn học cũng phải tìm cho

mình khúc ngoặt mới để có thể bắt nhịp, chuyển tải được cái phức tạp đó Không ít nhà văn đã lựa chọn tiểu thuyết làm phương tiện “thám hiểm cuộc

sống” Điều này không phải ngẫu nhiên, bởi tiểu thuyết, bản thân nó đã là

“hiện thân của cái phức tạp, cái đa dạng và phong phú” [45; 103]

Tiểu thuyết Việt Nam đương đại được đánh dấu bằng một loạt các tên tuổi như: Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Dương Hướng, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh,… Với các tác phẩm xuất sắc của mình, họ đã làm nên những bước chuyển mạnh mẽ trong đời sống tiểu thuyết Việt Nam Tiếp bước thế hệ đi trước, các cây bút tiểu thuyết hàng ngày vẫn không ngừng thể nghiệm, khám phá, tìm tòi để tìm ra những hướng

đi mới cho tiểu thuyết Và người yêu văn học không khỏi băn khoăn: sau thế

hệ “vàng” ấy là sự hiện diện của những tiểu thuyết gia nào? Sự xuất hiện của

họ sẽ đưa tiểu thuyết đương đại Việt Nam đi tới đâu?

Năm 2000, văn đàn Việt Nam chứng kiến sự ra mắt của cây bút trẻ

Nguyễn Đình Tú với tiểu thuyết đầu tay Hồ sơ một tử tù gây được không ít

tiếng vang Lúc đó Nguyễn Đình Tú 26 tuổi Nhưng đó mới chỉ là sự mở đầu cho một cuộc thể nghiệm toàn diện của anh Những tiểu thuyết tiếp theo, đặc biệt là qua ba cuốn tiểu thuyết được trình làng liên tiếp trong ba năm:

“Nháp” (2008), “Phiên bản” (2009) và “Kín” (2010), người đọc mới thực sự

Trang 2

thấy được khả năng sáng tác của Nguyễn Đình Tú Nhà văn trẻ dường như đang cố gắng viết tên tuổi của mình vào làng tiểu thuyết Việt Nam đương đại Sau ba tiểu thuyết, với những tiếng vang không nhỏ, tác giả đã từng bước khẳng định được chỗ đứng của mình Ma Văn Kháng – “nhà tiểu thuyết lực lưỡng” không kiệm lời khi nói rằng: “… cây bút Nguyễn Đình Tú, một triển vọng đầy hứa hẹn của văn xuôi hiện nay”

Ba năm cho ra đời liên tiếp ba cuốn tiểu thuyết không phải là đơn

giản Tuy nhiên “Đánh giá một nhà văn phải tính cả chất lượng lẫn số lượng

sáng tác của ông ta Nghĩa là nhà văn vừa viết hay, vừa viết nhiều” [26; 3]

Về số lượng, Nguyễn Đình Tú đã chứng tỏ được năng lực sáng tác của mình với năm tiểu thuyết khi mới 36 tuổi

Một thực tế của tiểu thuyết đương đại Việt Nam là nó “chứa đựng

nhiều tiếng nói mâu thuẫn nhau, đối đáp nhau, đối lập với nhau, xung đột nhau; nó không độc thoại, không đồng chất, không khép kín, không kết thúc,

nó mở, nó luôn luôn biến đổi…” Bởi vậy, khi đánh giá chất lượng mỗi tác

phẩm luôn tồn tại nhiều ý kiến trái chiều Tác phẩm của Nguyễn Đình Tú không nằm ngoài quy luật ấy Đời sống đương đại vốn rất phức tạp Vấn đề

cốt lõi là nhà văn nói lên được điều gì trong “đống hỗn lộn” ấy của cuộc

sống Không phải ngẫu nhiên mà tiểu thuyết hôm nay luôn khiến cho người

ta phải suy tư, và rất nhiều khi nó trở thành “người bạn đồng hành chung

thủy của con người, bảo vệ con người bằng việc thường xuyên nhắc nhở, thức tỉnh, tôn vinh những giá trị nhân văn” [45; 100]

Trong cuộc trả lời phỏng vấn trên Evan.vnexpress.net, Nguyễn Đình

Tú chia sẻ: “Văn học nói về cái mất mát để giữ gìn, nói về nước mắt để hạnh

phúc, nói về khiếm khuyết để hoàn thiện” Người đọc có thể nhận thấy hàng

loạt những hiện tượng xã hội dị biệt và độc đáo trong tác phẩm của anh như: lên đồng, chầu văn, thuốc lắc, quần hôn, đồng tính, giết chóc… Đó là những

Trang 3

ngổn ngang của hiện thực cuộc sống hiện nay – những ngổn ngang không thể chối từ với nhà văn thế hệ 7X này

1.2 Như chúng ta đã biết, nhân vật là yếu tố hàng đầu của tác phẩm văn học, thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người Thông qua thế giới nhân vật người đọc nhận thấy tư tưởng, tình cảm, khát vọng mà nhà văn muốn truyền tải Qua các tiểu thuyết “Nháp”, “Phiên bản”, “Kín”, Nguyễn Đình Tú lần lượt đưa người đọc vào từng phiến đoạn của đời sống

Đó là thế giới của tội phạm, của bụi đời, thế giới của những người trẻ tuổi

“vừa tự đập tan nát mình vỡ vụn, vừa ráng chịu đau đớn, tự tay “khâu vá”

lại những mảnh vụn nát ấy cho lành lặn?” [35] Hầu hết các nhân vật của

anh đang mang trong mình “bi kịch cơ bản hiện nay của tầng lớp thanh niên

đô thị đương đại Việt Nam” Đối mặt với thế giới nhân vật của Nguyễn Đình

Tú, người đọc như được đối mặt với mặt sau của cuộc sống hiện thực, đối

mặt với chính mình, với câu hỏi: “Mình đã làm được những gì” hay cảm giác: “ Chỉ tiếc là chúng ta đã không làm được gì để ngăn chặn chính chúng

ta”…

Xây dựng thế giới nhân vật ấy, Nguyễn Đình Tú đã truyền tải những vấn đề “nóng hổi” của thời đại, những vấn đề không thể dửng dưng của xã hội đầu thế kỷ 21 Có thể nói nhân vật là một trong những yếu tố góp phần làm nên thành công cho tiểu thuyết của tác giả

Với những lý do trên, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu “Nhân vật

trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất đáng

kể Qua việc nghiên cứu này, người viết một phần nào đó tìm ra những nét độc đáo trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú, góp phần vào việc đánh giá đúng đắn đóng góp của nhà văn trong đời sống tiểu thuyết Việt Nam đương đại, đồng thời cũng có điều kiện thu lượm những kiến thức cơ bản nhằm bổ

Trang 4

khuyết cho sự hiểu biết của bản thân về các chiều hướng phát triển của nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nguyễn Đình Tú là một nhà văn quân đội bén duyên với văn chương bằng những sáng tác truyện ngắn gây được ít nhiều tiếng vang Nhiều nhà

nghiên cứu nhận xét truyện ngắn của anh “đầy ắp hơi thở của tiểu thuyết,

thấp thoáng sức nén của trường thiên” Như là duyên nghiệp, Nguyễn Đình

Tú đã nhanh chóng lấn sân sang lĩnh vực tiểu thuyết và nhanh chóng gặt hái

thành công Đặc biệt là qua “Nháp” (2008), “Phiên bản” (2009), “Kín”

(2010), Nguyễn Đình Tú được biết đến như một “hiện tượng” của văn học đương đại

Nguyễn Đình Tú là nhà văn mới xuất hiện trên văn đàn Tư liệu nghiên cứu về anh, do thế cũng chưa thật dày dặn, chủ yếu là những lời giới thiệu tác phẩm, một số bài viết trên các tạp chí, website văn học Đánh giá tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú, giới nghiên cứu, phê bình, báo chí chủ yếu quan tâm đến thế giới nhân vật cùng với những vấn đề của thời đại mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm Bên cạnh đó là một số nhận xét về những cách tân nghệ thuật trong ngòi bút của nhà văn

Về tiểu thuyết “Nháp”, nhà văn Chu Lai nhận xét: “Đó là quả đấm

của nhịp điệu nhanh, mạnh, hiện đại, cuồng nộ, nhịp điệu của giới trẻ toàn cầu mà trong đó ta thấy cả bóng dáng của hiphop, của blog, của thủ thuật cắt dán tinh xảo, ẩn chìm, của nối mạng và án mạng, của các pha tình dục thẳng căng, của những cảnh đời dưới đáy thô rám đến nhợn người, của các tính cách nổi hằn, nổi mụn nhưng sau đó, cái kết tủa, điều lắng lại là tình yêu, tình bạn, tình đời thao thiết nhiều khi đến yếu đuối, bịn rịn”

Trong bài viết “Phiên bản, một mệnh đề mang tính tường luận lý thú”,

nhà văn Ma Văn Kháng viết: “Thế giới tội phạm, một lát cắt của đời sống

Trang 5

hiện thực! Của đời sống hiện thực! Xa lạ chăng chỉ là, ở nơi đây không có cái thường quy, cái phổ biến Thống trị ở nơi đây là cái hỗn mang chi sơ, là những bản năng kinh thiên động địa, là cái ác độc, là thói tàn bạo thâm căn Thế giới tội phạm! Một bước lùi của lịch sử nhân loại!” Tiểu thuyết còn là

sự sáng tạo trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả: “Cuốn sách có

31 khúc kể được sử dụng với ba ngôi kể khác nhau, giống như một bản nhạc nhiều bè, khai mở nhiều lối đi vào chiều sâu tâm lý nhân vật”

Nhà văn Nguyễn Bình Phương, trong lời giới thiệu cuốn tiểu thuyết

thứ ba của Nguyễn Đình Tú mang tên “Kín” thì cho rằng, cuốn tiểu thuyết

này “phần nào đó mang hơi hướng của một ma trận bởi cả những gì nó đề

cập tới, chính xác hơn, là sự chộn lẫn linh dị, thiêng liêng và phàm tục, bát nháo Giữa bầu không khí chờn vờn này, con người bỗng dưng trở nên hết sức khó hiểu, nó trôi giữa ham muốn và chán nản, giữa lưu manh và lương thiện, giữ tin đến mù quáng và ráo hoảnh không tin gì nữa cả Gấp cuốn sách lại, nhận thấy chỉ có tình thương là không bị chối từ bởi tình thương vốn rất hiếm hoi trong thời này”

Những lời nhận xét, đánh giá chân thực của người trong nghề sẽ là những gợi ý tin cậy để tác giả khỏa luận có thêm cơ sở khi tìm hiểu về thế giới nhân vật và những yếu tố nghệ thuật tham gia vào việc xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú

Bên cạnh đó là những bài viết của các nhà nghiên cứu, phê bình tìm hiểu về nhiều khía cạnh khác nhau xung quanh tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú

Đó là các bài: “Điểm nhìn nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Đình Tú”

của Trần Tố Loan; “Phản biện sex trong Nháp” của Lê Nhật Tăng; “Lối viết

nước đôi hay là tận dụng “phép lợi thế” trong tiểu thuyết “Phiên bản” của Nguyễn Đình Tú” của Bùi Việt Thắng; “Phiên bản hay hồ sơ một thanh tẩy”

Trang 6

của Đoàn Ánh Dương; “Kín” – một dòng tiểu thuyết miên man” của Nguyễn

Thị Minh Thái…

Mỗi bài viết, ở một mức độ nhất định đã nêu ra những nét độc đáo ở các phương diện như: bản năng tự nhiên, tâm linh, điểm nhìn trần thuật… trong từng tiểu thuyết cụ thể Đây là nguồn tư liệu tham khảo có ý nghĩa quý giá để tác giả khóa luận triển khai đề tài nghiên cứu của mình

Ngoài ra, tác giả khóa luận còn tham khảo một số bài phỏng vấn, giới thiệu về nhà văn Nguyễn Đình Tú được đăng tải trên các trang web như:

“Nháp không chỉ có sex và giết người” [eVan.com]

“Tác phẩm của tôi không chỉ có bạo lực + sex” [eVan.com]

“Bạn đọc sẽ không chết chìm trong Kín” [eVan.com]

“Nguyễn Đình Tú: Văn học lặn vào trong ồn ã” [An ninh thế giới]

Thông qua những bài phỏng vấn, Nguyễn Đình Tú đã bộc lộ trực tiếp những vấn đề liên quan đến tác phẩm, quan niệm, tư tưởng của nhà văn về cuộc đời, con người và văn học Những quan niệm này sẽ chi phối tới sáng tác của tác giả Và đây cũng là cơ sở không thể bỏ sót đối với tác giả khóa luận khi tiến hành nghiên cứu

Những bài viết trên đều có xu hướng đi tới khẳng định nét độc đáo và mới mẻ trong nghệ thuật xây dựng tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú Một số bài viết đã đưa ra những nhận xét mang tính gợi mở về thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú Tuy nhiên trên thực tế chưa có bài viết nào thực sự đi sâu vào tìm hiểu vấn đề nhân vật trong tiểu thuyết của nhà văn này Vì vậy, đề tài mà chúng tôi thực hiện không trùng lặp với kết quả nghiên cứu nào trước đó

Trên cơ sở tiếp thu những ý kiến, kết quả của các tác giả đi trước cùng với sự đánh giá, kiến giải của riêng mình, tác giả khóa luận triển khai đề tài

“Nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú”

Trang 7

3 Giới hạn của đề tài

3.1 Về nội dung

Với đề tài đã chọn, tác giả khóa luận sẽ tiến hành tìm hiểu thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú qua một nhóm tiểu thuyết tiêu biểu

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống

4.2 Phương pháp phân tích tác phẩm và phân tích nhân vật

4.3 Phương pháp hệ thống lịch sử – chức năng

4.4 Phương pháp so sánh, đối chiếu

4.5 Phương pháp thống kê

5 Mục tiêu, nhiệm vụ của khóa luận

5.1 Mục tiêu của khóa luận

Khóa luận hướng tới tìm những điểm độc đáo, nổi bật trong quan niệm nghệ thuật về con người, những dạng nhân vật cơ bản và những yếu tố nghệ thuật chủ đạo trong xây dựng nhân vật tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú

5.2 Nhiệm vụ của khóa luận

5.2.1 Học tập và nắm vững lí luận về nhân vật văn học nói chung, nhân vật tiểu thuyết nói riêng, chỉ ra những nét nổi bật về nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Trang 8

5.2.2 Chỉ ra những điểm mới trong việc tiếp cận, khai thác nhân vật, nắm được những dạng nhân vật cơ bản và phân tích nét độc đáo của những yếu tố nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú

6 Đóng góp của khóa luận

6.1 Khái quát lý thuyết về nhân vật văn học, vận dụng để tìm hiểu nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú Nêu ra được những điểm cơ bản

về nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

6.2 Chỉ ra và phân tích những khía cạnh mới trong quan niệm nghệ thuật về con người, tìm hiểu những dạng nhân vật cơ bản trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú, phân tích được những yếu tố nổi trội, độc đáo trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả Qua đó góp thêm một tiếng nói khẳng định những đóng góp của Nguyễn Đình Tú vào quá trình đổi mới tiểu thuyết Việt Nam đương đại

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về nhân vật văn học và nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Chương 2: Quan niệm nghệ thuật về con người và các loại nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú

Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú

Trang 9

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

1.1 Khái niệm về nhân vật văn học

1.1.1 Thuật ngữ “nhân vật” xuất hiện từ rất sớm (tiếng Hy Lạp:

persona, tiếng Anh: personage, tiếng Nga: personaj) Ban đầu, nó vốn mang

ý nghĩa là “cái mặt nạ” – một dụng cụ biểu diễn của diễn viên trên sân khấu

Theo thời gian, nó trở thành thuật ngữ để chỉ nhân vật văn học

Ở một khía cạnh nào đó thuật ngữ “nhân vật” có điểm gặp gỡ với thuật ngữ “vai” và “tính cách” Trong nhiều trường hợp người ta sử dụng hai thuật ngữ này thay cho nhân vật văn học Thuật ngữ “vai” nhấn mạnh đến tính chất hành động của cá nhân, phù hợp với loại “nhân vật hành động” Còn thuật ngữ “tính cách” lại chỉ những nhân vật có tính cách Tuy nhiên

không phải nhân vật nào cũng hành động, và cũng không phải nhân vật nào

cũng mang tính cách rõ nét Như vậy, thuật ngữ “vai” và “tính cách” có nội hàm hẹp hơn “nhân vật”, chúng không bao quát được hết những biểu hiện khác nhau của các loại nhân vật trong sáng tác văn học Bởi vậy, “nhân vật”

chính là thuật ngữ đúng đắn và đầy đủ nhất

1.1.2 Nhân vật là khái niệm được dùng trong nhiều lĩnh vực nhưng chủ yếu nhất vẫn là văn chương nghệ thuật Về khái niệm nhân vật văn học, giới nghiên cứu, phê bình đã đưa ra khá nhiều quan điểm xung quanh vấn đề này

Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, tác giả Lại Nguyên Ân quan

niệm:

Trang 10

“Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong cách Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người Một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn

từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi là các con vật, các loài cây,

các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống con người”

[2; 241]

Với khái niệm này, tác giả đã xem xét nhân vật trong mối tương quan với cá tính sáng tạo, phong cách nhà văn, khuynh hướng, trường phái văn học

Các tác giả trong Từ điển văn học lại nhìn nhận nhân vật ở khía cạnh

vai trò, chức năng của nó đối với nội dung và hình thức của tác phẩm:

“Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng chủ đề và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc họa Nhân vật do đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng – nghệ thuật của tác phẩm văn học” [29; 86]

Trong giáo trình Lý luận văn học, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử viết:

“Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Đó là những nhân vật có tên như Tấm, Cám, Thạch Sanh, Thúy Kiều,… Đó là những nhân vật không tên như thằng bán tơ, một mụ nào trong “Truyện Kiều”, những kẻ đưa tin, lính hầu, chạy hiệu thường thấy trong kịch Đó là những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại, bao gồm cả quoái vật lẫn thần linh, ma quỷ, những con vật mang nội dung và ý nghĩa con người Nhân vật có thể được thể hiện bằng những hình thức khác nhau nhất Đó có thể là những con người được miêu tả đầy đặn cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính cách, tiểu sử như thường thấy trong tác phẩm tự sự, kịch Đó có thể là những người thiếu hẳn những

Trang 11

nét đó, nhưng lại có tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn như nhân vật người trần thuật, hoặc chỉ có cảm xúc, nỗi niềm, ý nghĩ, cảm nhận như nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình.[…] Khái niệm nhân vật có khi được sử dụng một cách ẩn

dụ, không chỉ một con người cụ thể nào mà chỉ một hiện tượng nổi bật trong tác phẩm.[…] Nhưng chủ yếu vẫn là con người trong tác phẩm.[…] Nhân vật văn học là một hiện tượng ước lệ, có những dấu hiệu để ta nhận ra” [25; 277

Trên đây là một số quan niệm về nhân vật văn học của các nhà nghiên cứu, phê bình trong nước Những quan niệm này nhìn nhận nhân vật ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng nhìn chung vẫn có sự gặp gỡ nhau ở một số điểm nhất định như: nhân vật là đối tượng mà văn học miêu tả, được xây dựng bằng những phương tiện nghệ thuật nhằm phản ánh đời sống hiện thực; là yếu tố cơ bản nhất của tác phẩm, mang tính ước lệ và thể hiện sự sáng tạo của nhà văn Với vị trí quan trọng ấy nhân vật trở thành đối tượng không thể

bỏ qua khi tìm hiểu, nghiên cứu về một nhà văn nào đó

Trang 12

1.2 Vai trò của nhân vật văn học

Nhân vật là thành tố quan trọng của tác phẩm văn học, là “tín hiệu

thẩm mĩ lớn nhất của Truyện” [16; 43] Nhân vật là yếu tố vừa thuộc về nội

dung vừa thuộc về hình thức của tác phẩm, có vai trò hết sức quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại của tác phẩm Có thể khái quát một số

vai trò cơ bản của nhân vật như sau:

Về vai trò của nhân vật đối với nội dung tác phẩm:

Thứ nhất, nhân vật là phương tiện quan trọng để nhà văn khái quát hiện thực đời sống Hiện thực đời sống được tái hiện thông qua thế giới nghệ thuật người nghệ sĩ miêu tả trong tác phẩm mà nhân vật lại là yếu tố không thể thiếu trong thế giới nghệ thuật ấy

Thứ hai, nhân vật là phương tiện khái quát các tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng

Thứ ba, nhân vật là người dẫn dắt ta vào một thế giới đời sống Nói khác đi, nó là công cụ, là chìa khóa để mở rộng các mảng đề tài mới, rộng lớn và sâu sắc

Thứ tư, nhân vật thể hiện tư tưởng, quan niệm nghệ thuật cũng như lý

tưởng thẩm mỹ của tác giả về cuộc đời, con người: “Nhân vật văn học được

sáng tạo ra, hư cấu để khái quát và biểu hiện tư tưởng, thái độ đối với cuộc sống Ca ngợi nhân vật là ca ngợi đời, lên án nhân vật là lên án đời, xót xa cho nhân vật là xót xa cho đời Do vậy tìm hiểu nhân vật là tìm hiểu cách hiểu về cuộc đời của tác giả đối với con người”

Về vai trò của nhân vật đối với hình thức tác phẩm: nhân vật đóng vai trò quyết định tạo nên mối liên kết giữa các yếu tố thuộc hình thức Nói như

G N Pospelov thì: “Nhân vật là phương diện có tính thứ nhất trong hình

thức tác phẩm Nó quyết định phần lớn vừa cốt truyện, vừa lựa chọn chi tiết, vừa ngôn ngữ, vừa kết cấu” [32; 157]

Trang 13

Có thể nói, những quan niệm và vai trò của nhân vật là tiền đề lý thuyết không thể thiếu khi nghiên cứu về nhân vật văn học nói chung và nhân vật trong tác phẩm của một nhà văn nói riêng

1.3 Nhân vật tiểu thuyết và nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam

đương đại

1.3.1 Nhân vật tiểu thuyết

Tiểu thuyết được xem là thể loại văn học gần gũi nhất với cuộc sống

“Tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử nhiều cuộc đời, những bức tranh

phong tục, đạo đức, xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện simh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [25; 387] Với khả năng bao chứa hiện

thực rộng lớn như thế, tiểu thuyết đã nhanh chóng trở thành thể loại chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống thể loại văn học thời hiện đại

Trên thế giới không ít công trình nghiên cứu tập trung quanh thể loại này Người ta có thể kể tới M Bakhtin – nhà lý luận tiểu thuyết lớn nhất thế

kỉ XX với công trình “Lý luận và thi pháp tiểu thuyết” Cuốn sách này chứa đựng nhiều nhận định giá trị về thể loại tiểu thuyết Đó là tiền đề cho sự kế thừa của nhiều nhà nghiên cứu sau này như: Milan Kundera, Alain Robbe Grillet, Nathalie Sarraute…

Như đã nói tới ở trên, nhân vật là yếu tố trung tâm, là linh hồn của tác phẩm Bởi vậy khi nghiên cứu về tiểu thuyết, các nhà lý luận đã dành nhiều công sức để tìm hiểu về khía cạnh này Về cơ bản, có thể xác định nhân vật tiểu thuyết ở những đặc trưng sau:

Nếu nhân vật sử thi, nhân vật kịch, nhân vật truyện trung cổ xuất hiện

là những nhân cách đã được hình thành rõ ràng thì nhân vật tiểu thuyết là

“con người nếm trải”, phải chịu nhiều thăng trầm, đau khổ dằn vặt của đời

Nó không ngừng trưởng thành, biến đổi và chịu mọi tác động của đời sống

Trang 14

Nhân vật sử thi, nhân vật kịch, nhân vật truyện trung cổ được khắc họa tương đối đơn giản, phù hợp với quan niệm của thời đại về nhân vật đó Nhân vật tiểu thuyết thì khác, vì luôn chịu tác động của hoàn cảnh nên nhân vật tiểu thuyết “không tương hợp với số phận và vị thế của nó” Nghĩa là tính cách của nhân vật tiểu thuyết phức tạp hơn nhiều so với lược đồ đơn giản về

vị thế, giai cấp, giới tính của chính họ Nhân vật tiểu thuyết không thuần nhất

mà luôn tồn tại “con người bên trong con người” Điều này làm cho nhân vật tiểu thuyết có sự phát triển tự thân như trong cuộc đời thật

Điểm thứ ba làm cho nhân vật tiểu thuyết khác nhân vật sử thi, kịch và truyện trung cổ là nhân vật tiểu thuyết thiên về tư duy còn các nhân vật kia thường là con người thiên về hành động Cho nên, khám phá nhân vật tiểu thuyết là khám phá từ chiều sâu tâm lý Nói như vậy không có nghĩa chỉ riêng tiểu thuyết mới chú trọng tới miêu tả thế giới nội tâm, phân tích tâm lý nhân vật mà những thể loại cũng không bỏ qua khía cạnh này Tuy nhiên, với đặc trưng thể loại thì đặc điểm này ở tiểu thuyết rõ nét hơn cả, thậm chí trở thành phương thức quan trọng bậc nhất khi khám phá nhân vật Trước sự tác động của hoàn cảnh, nhân vật tiểu thuyết không chỉ nếm trải mà còn tư duy

Nó xuất hiện với đời sống nội tâm đầy phức tạp, chứa đựng những “ẩn mật

bản ngã” Đây chính là cốt lõi trong việc xây dựng nhân vật tiểu thuyết: “Tất

cả mọi tiểu thuyết của mọi thời đại đều chăm chú vào bí ẩn của cái tôi” [45;

108]

Đặt trong sự tương quan đối sánh với nhân vật của các thể loại văn học khác (sử thi, kịch, truyện trung cổ), trên cơ sở thực tiễn sáng tác tiểu thuyết và những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết từ trước tới nay, người viết đã trình bày một số đặc trưng cơ bản của nhân vật tiểu thuyết và việc xây dựng nhân vật tiểu thuyết Đây là những tiền đề ban đầu giúp chúng tôi hiểu sâu hơn về nhân vật tiểu thuyết đương đại

Trang 15

1.3.2 Một số đặc điểm của nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam

đương đại

Tiểu thuyết miêu tả cuộc sống đang diễn ra, không ngừng biến đổi và sinh thành Bản chất ấy sẽ đem lại cho tiểu thuyết mỗi thời đại một cảm quan riêng Sau hiện đại, thế giới nhanh chóng bước vào thời kì hậu hiện đại Đây

là thời kì biến mất của những sự thật vĩnh hằng để thay vào đó là những hiện tượng không bản chất, là sự sụp đổ niềm tin của con người vào những giá trị tồn tại trước đó Con người trở nên bơ vơ, lạc lõng và luôn mang trong mình

điều mà Tony Tanner cho là: “một niềm kinh hãi rằng có ai đó đang vẽ kiểu

cho cuộc sống của mình, rằng có đủ thứ mưu đồ vô hình chuẩn bị cướp đi sự độc lập về tư tưởng và hành động của mình, rằng trạng huống đó có ở khắp mọi nơi”… Tinh thần ấy lên lỏi, bao trùm lên tiểu thuyết hậu hiện đại Song

hành cùng với sự khủng hoảng của con người ngoài xã hội là sự khủng hoảng của con người trong văn học Giờ đây thay vì tiểu thuyết truyền thống

người ta thường nhắc tới những khái niệm như “tiểu thuyết Mới”, “tiểu

thuyết siêu Mới” Nếu tiểu thuyết truyền thống chú trọng tới việc xây dựng

nhân vật với tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình thì tiểu thuyết hậu hiện đại khước từ điều đó Cùng với sự biến mất của sự thật, sự sụp đổ niềm tin là sự biến mất của nhân vật trong văn học Trong tiểu thuyết hậu hiện đại người ta không còn thấy bóng dáng của nhân vật điển hình mang tầm khái quát cho mọi tính cách lớn lao ở đời Nhân vật đã tự đánh mất đi cái

ý nghĩa đích thực của nó Nhân vật hầu như bị bóp méo, chỉ là những mảnh

vỡ manh mún, thậm chí “là một cá thể không xác định, không nắm bắt và

không nhìn thấy được, một “cái tôi vô danh”, xung quanh nhân vật chính hư

vô này là những nhân vật khác mà nó chỉ là những giấc mơ, nỗi ám ảnh, điều hoang tưởng” [4; 68] Tính chất ấy làm cho nhân vật trở nên phân tán,

không xác định “nhân vật chỉ còn là những đại từ mơ hồ” Hoàn cảnh điển

Trang 16

hình, tính cách điển hình trở nên vô nghĩa Điều mà các tiểu thuyết gia hậu hiện đại quan tâm khám phá là thế giới nội tâm của những diễn biến tâm lý phức tạp với sự chồng chéo của giấc mơ, nỗi ám ảnh, điều hoang tưởng

Chính “tính hư hư, ảo ảo, mờ mờ đã làm cho nhân vật trở thành miếng đất

màu mỡ của vô số cách đánh giá và giải thích khác nhau” [4; 68] Và như

một điều tất yếu cách thức xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết truyền thống

sẽ trở nên nghèo nàn Các nhà văn hậu hiện đại buộc phải bứt khỏi sự nghèo nàn đó để tìm thêm những cách thức mới làm giàu cho việc kiếm tìm vùng thẳm sâu của con người hậu hiện đại Thủ pháp đồng hiện, nghịch dị, giễu nhại, kĩ thuật dòng ý thức… đã thể hiện sự đổi mới ấy

Hậu hiện đại là lối sáng tác nổi bật của văn học thế giới những năm

70, 80 của thế kỉ XX Không phải ngay từ khi xuất hiện lối viết này đã ảnh hưởng tới Việt Nam mà phải tới những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI yếu tố hậu hiện đại mới để lại dấu ấn trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam

Sự ảnh hưởng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: sự thay đổi của đời sống văn hóa, xã hội tác động tới cảm quan của con người; sự phát triển như

vũ bão của công nghệ thông tin góp phần đẩy nhanh quá trình tiếp thu các luồng văn hóa mới trên thế giới và còn do “sự trương nở của nhiều yếu tố nghệ thuật truyền thống, của các thể loại truyền thống – những thứ xưa kia chưa được khai thác triệt để hoặc bị xem nhẹ, nay lại trở thành diện mạo chính, thành yếu tính của văn chương” [38]

Những tiền đề khách quan đó nhanh chóng được cảm quan nhạy bén của người nghệ sĩ thu nạp Và để khẳng định được mình, như một nhu cầu,

họ đã tự đổi mới để hòa nhập với tiến trình văn học thế giới Quan trọng hơn

là ghi chép sự thay đổi cảm quan của thời đại Cuộc viễn du mới mẻ này đã

in đậm không ít dấu chân của các tiểu thuyết gia Đó là: Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà,… Bằng sự cố

Trang 17

gắng tìm tòi, trải nghiệm họ đã đem tới một “món nộm suồng sã” cho tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Sự cách tân được thể hiện trên nhiều phương diện, trong đó có yếu tố nhân vật Thời đại lịch sử – xã hội thay đổi kéo theo sự thay đổi trong cách nhìn nhận, đánh giá con người của nhà văn Tiểu thuyết sau 1975 là sự dung nạp của thể tài thế sự, đời tư Bởi vậy, con người trong tiểu thuyết lúc này không phải là những công dân đơn phiến mà là những con người đời thường mang trong mình những bi kịch cũng rất “đời thường” Cùng với sự xáo trộn của đời sống con người cũng trở nên phức tạp Con người là sự tổng hòa của ánh sáng và bóng tối, của cái cao cả và thấp hèn, của thiện và ác,… Họ không phải là những chuẩn mực sẵn có của xã hội, thời đại, cũng không phải

là những tính cách tiêu biểu mà là những con người bình thường, thậm chí là

vô danh trong đời sống hàng ngày Tiểu thuyết phải là cả rừng nhân vật “cây

lớn, cây bé, cây cao, cây thấp, cây la đà, cây vươn ngồng, cây hùng dũng, cây ăn hại, cây đái nát, cây tiều tụy, cây gầy còm, cây xa hoa, cây cần kiệm, cây khiêm nhường, cây ăn bám” (Phạm Thị Hoài)

Trước sự xói mòn của niềm tin, nhân vật tiểu thuyết đương đại hiện lên là con người không có số phận tròn trịa mà bị phân tán thành “chủ thể phi trung tâm”, những mảnh, những mẩu, những hòn đảo nhỏ trong thế giới Đôi khi, nó chỉ là những mảnh nhỏ của tâm trạng, là những hình bóng không xác định Dù xuất hiện ở những trạng huống nào, họ vẫn là hiện thân cho những

cá thể đời thường, mang trong mình “đầy những vết dập xóa trên thân thể và

trong tâm hồn” Đó là Giang Minh Sài trong “Thời xa vắng” (Lê Lựu), là

Kiên trong “Nỗi buồn chiến tranh” (Bảo Ninh), nhân vật bào thai trong

“Thiên thần sám hối” (Tạ Duy Anh)…

Nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng phải có những cách tân để

“chuyên chở” sự thay đổi cảm quan về con người của nghệ sĩ Bằng sự táo

Trang 18

bạo, các tiểu thuyết gia đương đại Việt Nam đã tạo nên những thủ pháp nghệ thuật mới mẻ trên cơ sở tiếp thu những ảnh hưởng của văn học hiện đại và hậu hiện đại thế giới Tuy nhiên, cách tân không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn truyền thống Với những ưu thế nhất định, một số thủ pháp nghệ thuật truyền thống đã được hồi sinh trong văn chương hậu hiện đại như: thủ pháp huyền ảo, phân mảnh đối tượng… Sự kết hợp giữa cái cũ và cái mới đó tạo điều kiện cho người nghệ sĩ đi sâu vào lật xới từng ngõ ngách của đời sống, từng “vỉa tâm thức của con người”

Đổi mới xu hướng tiếp cận và xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam những năm gần đây là đòi hỏi tất yếu của lịch sử - xã hội nói chung và bản thân văn học nói riêng Tìm hiểu những biểu hiện mới của nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, tác giả khóa luận sẽ có thêm

cơ sở thực tiễn để nghiên cứu nhân vật tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú

Trang 19

CHƯƠNG 2

QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI

VÀ CÁC LOẠI NHÂN VẬT CƠ BẢN TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN ĐÌNH TÚ

2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết

Nguyễn Đình Tú

2.1.1 Khái quát về “quan niệm nghệ thuật về con người”

2.1.1.1 Đối tượng thẩm mỹ của văn học là con người Do vậy tất cả những gì liên quan đến con người, thuộc về con người đều nằm trong phạm

vi biểu hiện của văn học Đó là cơ sở cho quan niệm đa dạng về con người trong văn học Mặt khác, thực tiễn sáng tác cho thấy người ta không thể miêu

tả con người nếu như không hiểu biết và có các phương tiện, biện pháp biểu hiện nhất định Mặt thứ hai này tạo thành chiều sâu, tính độc đáo của hình tượng con người trong văn học Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người trở thành một tiêu điểm của nghiên cứu văn học Xô Viết từ những năm 1970 trở đi Trên thực tế, khái niệm này được nghiên cứu ở nhiều phương diện với những cách hiểu phong phú Về cơ bản có thể xác định:

“Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy

con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó” [33; 55]

Như vậy, quan niệm nghệ thuật về con người là sự tổng hợp những phát hiện triết lý, tư tưởng riêng của nhà văn về cuộc sống và con người với khả năng và trình độ nắm bắt, sáng tạo, sử dụng các phương thức, phương tiện, chất liệu nghệ thuật của người nghệ sĩ đảm bảo cho nó có khả năng thể hiện đời sống ở một chiều sâu nào đó

Trang 20

Quan niệm nghệ thuật về con người tồn tại trong thế giới quan của mỗi người nghệ sĩ, gắn liền với cá tính sáng tạo của anh ta Nói như Nguyễn

Đăng Mạnh thì: “Tâm hồn mỗi nhà văn có một “chất dính” riêng Dù ông ta

có quan sát thực tế đời sống ở nhiều lĩnh vực khác nhau, “chất dính” ấy vẫn chỉ có thể bắt lấy được những gì thích hợp với nó mà thôi Những “cái gì”

đó tạo nên ở mỗi cây bút một đối tượng thẩm mỹ riêng, nơi cung cấp những nguồn chất liệu phù hợp để nhà văn dựng nên thế giới nghệ thuật riêng của mình” [26; 14] Quan niệm nghệ thuật về con người là tiêu chuẩn quan trọng

để đánh giá giá trị nhân văn vốn có của một hiện tượng văn học Người nghệ

sĩ đích thực là người luôn suy nghĩ về con người, vì con người, nêu ra những

tư tưởng mới để hiểu con người Về điều này, Nguyễn Minh Châu – một trong những cây bút tiêu biểu nhất của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam đã

khái quát: “Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm của

nó là con người Người viết nào cũng có thể có tính xấu nhưng tôi không thể nào tưởng tượng nổi một nhà văn mà lại không mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người Tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là một niềm hân hoan say mê, vừa là một nỗi đau đớn, khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những người xung quanh mình Cần giữ cái tình yêu lớn ấy trong mình, nhà văn mới có khả năng cảm thông sâu sắc với những nỗi đau khổ, bất hạnh của người đời, giúp họ có thể vượt qua những khủng hoảng tinh thần và đứng vững được trước cuộc sống” Khám phá quan niệm nghệ thuật về con người

là đi sâu vào thực chất sáng tạo của người nghệ sĩ để đánh giá đúng về họ

Không chỉ đơn thuần là tiêu chuẩn đánh giá tài năng của mỗi nghệ sĩ, quan niệm nghệ thuật về con người còn là thước đo quan trọng bậc nhất của

trình độ của nghệ thuật một dân tộc, một thời đại, bởi: “một nền nghệ thuật

mới bao giờ cũng ra đời cùng với con người mới” [33; 59]

Trang 21

2.1.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người có sự thay đổi qua mỗi thời kỳ văn học Trước năm 1975, khi đất nước còn chìm trong bom đạn,

chiến tranh thì con người được nhìn theo lối sử thi hóa Ở thời kỳ “ra ngõ

gặp anh hùng”, con người luôn được đặt trong mối quan hệ với cộng đồng,

với dân tộc Bất kỳ suy nghĩ, hành động cá nhân nào cũng bị cộng đồng “soi xét” Sống có ý nghĩa là sống vì người khác, vì mọi người, vì dân tộc Hoàn

cảnh ấy ảnh hưởng không nhỏ tới người nghệ sĩ “Giọng cao” là giọng chủ

đạo của người nghệ sĩ bấy giờ Bởi thế cái nhìn giản đơn, phiến diện một chiều về con người là không tránh khỏi

Sau năm 1975, đặc biệt là sau 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới

thì văn học cũng “đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật” Quan niệm nghệ

thuật về con người đã có sự chuyển hướng Lúc này con người được nhìn

nhận như “một cá thể bình thường trong những môi trường sống bình

thường” [24; 231] Nếu như giai đoạn trước mọi phẩm chất tự nhiên của con

người đều bị rũ bỏ thì đến nay lại trở thành “mảnh đất phì nhiêu cho những

cây bút thỏa sức khai phá” Sự hỗn tạp trong tâm hồn, bản năng tự nhiên, đời

sống tâm linh là những miền sáng tác bất tận của người nghệ sĩ Sự soi chiếu

con người từ nhiều chiều kích, góc độ như thế nhằm “tìm ra con người bên

trong con người”, đem lại cái nhìn toàn diện về con người cho văn học

2.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết

Nguyễn Đình Tú

2.1.2.1 Con người hỗn tạp

“Hỗn tạp” nghĩa là “không thuần nhất, gồm có nhiều thứ rất khác

nhau lẫn lộn vào với nhau” [31; 574]

Có thể hiểu một cách giản dị, con người hỗn tạp là con người mang trong mình nhiều tính cách, trạng huống tâm lý khác nhau, không đồng nhất

Trang 22

thậm chí nhiều khi là đối lập nhau Chính điều này làm cho con người trở nên phức tạp, khó hiểu

Trên thực tế không có con người thuần nhất mà con người là sự tổng hòa nhiều phương diện khác nhau như thiện – ác, cao cả - thấp hèn, sự bao dung – lòng đố kị… Tuy nhiên tùy từng vào giai đoạn văn học, xuất phát từ những mục đích khác nhau mà việc thể hiện con người cũng sẽ khác nhau

Trong văn học dân gian, nhân vật được xây dựng để thể hiện niềm ước

mơ, khát khao về một xã hội công bằng, truyền tải những đạo lý ở đời Nhân vật được xây dựng là những con người nguyên phiến mang trong mình tính cách phù hợp với chức năng mà người nghệ sĩ dân gian giao phó

Trong văn học hiện thực phê phán, xuất phát từ mục đích phơi bày hiện thực nên các tác giả đã xây dựng nhân vật là những con người điển hình của hoàn cánh điển hình Tâm lý, tính cách nhân vật đã có sự phát triển, thay đổi ở từng hoàn cảnh cụ thể khác nhau Sự phát triển ấy luôn chịu sự chi phối của hoàn cảnh và ít nhiều mang tính chủ quan của người nghệ sĩ Bởi vậy tính cách nhân vật nhìn chung vẫn còn đơn giản

Ngày hôm nay thì khác Cuộc sống đương đại khốc liệt đã đẩy con người vào sự bơ vơ không tìm thấy chỗ đứng trong xã hội, luôn băn khoăn đi tìm bản ngã, đi tìm ý nghĩa đích thực của cuộc đời Cảm hứng suy ngẫm về hiện thực thay thế cho cảm hứng phơi bày hiện thực Cảm quan đời sống mang nặng dấu ấn của sự hoài nghi đã chi phối tới sự tiếp cận và tái hiện con người phồn tạp của các nhà văn đương đại Con người trong tiểu thuyết đương đại không phải là con người mang trong mình những tính cách thuần nhất nữa mà hiện lên trong đời sống thực tại với đầy đủ tính người vốn có, với những mảnh vỡ của thân thể và những “vết dập xóa” trong tâm hồn, với

số phận chưa hoàn kết Sự phức tạp ấy không cho phép con người đương đại

Trang 23

giữ vị trí đại diện cho bất kì thứ gì của đời sống Con người hiện lên chỉ là những mảnh, những mẩu của đời sống

Khai thác con người hỗn tạp đã xuất hiện trong những tác phẩm của nhiều nhà văn đương đại trước đó như: Phạm Thị Hoài, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Thuận… Tới Nguyễn Đình Tú, sự hỗn tạp của con người cũng được thâu tóm vào trong tác phẩm của anh Với cảm quan đời sống mang màu sắc riêng, tác giả đã ghi lại sự khủng hoảng trong tâm thức của con người thời đại với những biến động tinh vi của nhiều trạng thái tâm

lý khác nhau Để khai thác, khám phá sự hỗn tạp của con người, tác giả đã đặt nhân vật vào nhiều môi trường sống, nhiều mối quan hệ khác nhau để nhân vật tự hành động và tự bộc lộ trạng thái tâm lý của mình

“Nháp” là bức tranh về một “cuộc sống nháp” của thế hệ trẻ Nhân

vật được đặt trong hai vùng không gian đối lập nhau giữa một bên là Phố Núi xa lắc, yên bình với Hà Thành nhộn nhịp, hiện đại Trong sự đối sánh này con người càng trở nên cô đơn hơn bao giờ hết trên con đường tìm đến Chân – Thiện – Mỹ Ngoài ra tác giả còn đặt nhân vật trong những mối quan

hệ tính giao đồng chủng tộc và khác chủng tộc để nhân vật bộc lộ rõ nét đời sống bản năng tha hóa, sự lạc loài khi không tìm thấy bản ngã và tiếng nói chung trong cộng đồng, để thấy rõ hơn sự phức tạp trong nội tâm nhân vật

“Nháp” đã tái hiện một thế hệ trẻ đang sống bằng những thể nghiệm cảm xúc, những cơn bấn loạn, những cái điên thoáng chốc và những dằn vặt lâu dài Nhân vật luôn bị đặt trong lằn ranh của sự giằng xé giữa bản năng và trách nhiệm, u mê và thức tỉnh để rồi tìm thấy bản ngã đích thực

“Phiên bản” – tiểu thuyết bị bủa vây bởi một thế giới ngầm Đó là thế

giới của những kẻ ham bạo lực, thích lấy “số” của người khác, một thế giới

luôn nằm trong sự bất an và đe dọa bởi tội ác Cái ác được đặt trong một không gian rộng lớn cả về chiều dài lẫn chiều rộng, từ thành phố Ngã ba

Trang 24

sông tới thành phố Lớn, vượt ra ngoài phạm vi một quốc gia Trong thế giới

ấy bên cạnh những con người sống xuôi theo bản năng của tội ác vẫn có những con người luôn đấu tranh giằng xé để thoát khỏi cái ác Tân dành cả tuổi trẻ để thực hiện lẽ công bằng “thay trời hành đạo” nhưng lại bị đẩy vào vòng của cái ác rồi phải sống trong sự dằn vặt, lựa chọn giữa thiện và ác Diệu – một cô bé hồn nhiên với tình cảm ngọt ngào thuở học trò với Nhân cũng đã bị cái ác cuốn trôi Nhưng với Diệu đó là định mệnh dù cô gắng chống chọi, gắng vùng vẫy cũng không thể thoát khỏi Đinh từng theo đuổi ước mơ trở thành người diệt trừ cái ác trong xã hội nhưng đã nhanh chóng từ

bỏ ước mơ để lao vào những vụ làm ăn phi pháp… Con người như bị nhấn chìm trong vòng vây của tội lỗi mà không thể vùng thoát thậm chí còn an nhiên chấp nhận như một thứ định mệnh và mặc nhiên sống chung với nó thay vì chối bỏ Đó là bà nội Diệu Cả cuộc đời bà là chuỗi ngày đau khổ khi chứng kiến chồng, con, cháu bị nhấn chìm trong tội ác Bà đau đớn nhưng không hề vùng thoát vì với bà “Đất này dữ trai hay gái cũng thành nghịch tặc cả” Bởi vậy thay vì cố gắng kéo người thân về cuộc sống lương thiện bà lựa chọn làm chỗ dựa tinh thần cho họ “Phiên bản” như một sự khẳng định: cái

ác chưa bao giờ mất đi, nó luôn luôn song tồn với cái thiện Hai mặt đối lập

ấy luôn đan cài xen lẫn, giằng xé nhau trong cùng một con người, làm cho con người trở nên phức tạp, khó hiểu

“Kín” tái hiện một giới trẻ hoang hoải, lạc loài, hoài nghi và vỡ mộng

Với tiểu thuyết này Nguyễn Đình Tú đã đưa người đọc xâm nhập sâu hơn vào ngổn ngang của hiện thực cuộc sống đương đại Nhân vật trong tiểu thuyết không phải là những người trẻ tuổi tự tin và làm chủ cuộc sống mà luôn hoang hoải, hoài nghi Họ sống nhưng không biết mình muốn gì, sống

vì cái gì Họ bị kéo trôi đi, miên man vô định, chìm đắm vào trong thuốc lắc,

tình ái, những trò chơi thác loạn “phê lòi mắt”… Cái tôi trở nên suy đồi Bản

Trang 25

ngã bị đánh tráo Cuộc sống là những chuỗi ngày vật lộn để tìm ý nghĩa sự

sống “Kín” là một bầu không khí chờn vờn mà ở đó “con người bỗng dưng

trở nên hết sức khó hiểu, nó trôi giữa ham muốn và chán nản, giữa lưu manh

và lương thiện, giữa tin đến mù quáng và ráo hoảnh không tin gì nữa cả”

(Nguyễn Bình Phương)

Mặc dù nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú bị bủa vây bởi sự hỗn độn của đời sống, bởi những trạng thái tâm lý hết sức khó hiểu nhưng tất

cả họ vẫn luôn được sống trong không khí của tình thương gia đình, tình bạn

bè Đây chính là chỗ dựa cho mỗi nhân vật trong cuộc vật lộn tìm lại mình

“Gấp cuốn sách lại, nhận thấy chỉ có tình thương là không bị chối từ bởi tình

thương vốn rất hiếm hoi trong thời này” là cái nhìn lạc quan của nhà văn trẻ

Nguyễn Đình Tú Tác giả đã đặt nhân vật trước sự hỗn tạp của đời sống để nhận họ ra sự hỗn tạp trong con người mình, để các nhân vật tự quẫy đạp, va chạm, xung đột, biến chuyển, thay hình đổi dạng để buộc phải trưởng thành ngay “khi người ta trẻ”

2.1.2.2 Con người bản năng tự nhiên

Mac - Ăngghen đã nói: “Sống trước hết có nghĩa là ăn, uống, ở, mặc

và những việc khác nữa” Những việc khác nữa ấy là những ham muốn, đòi

hỏi vật chất và chắc chắn có cả tình dục

“Văn học là nhân học” nghĩa là những gì liên quan đến con người,

thuộc về con người đều là đối tượng phản ánh của văn học Văn học từ xưa tới nay có không ít tác giả viết về con người trước những ám ảnh của miếng

ăn, cái đói, cái khát, cái nghèo, cái khổ… Sự ám ảnh về tình dục theo đó không lẽ gì lại bị bỏ qua Tình dục là một phần của đời sống bản năng con

người và hơn nữa, nó còn “bộc lộ một trình độ văn hóa, văn minh nhất định

của cộng đồng, cũng như của từng cá thể trong cộng đồng ấy”

Trang 26

Lịch sử văn học Việt Nam đề cập đến tính dục không phải là ít Trong kho tàng truyện tiếu lâm có nhiều truyện liên quan tới đề tài này Một phần

bản chất của tiếng cười dân gian là gắn liền với chữ “tục” mà “tục” ở đây khó tách rời chữ “dục”

Đọc nhiều tác phẩm văn học trung đại người ta vẫn thấy phảng phất

yếu tố nhục dục như trong “Thánh Tông di thảo”, “Truyền kì mạn lục”,

“Truyện Kiều”… và rõ hơn cả là trong thơ của Hồ Xuân Hương Tuy nhiên,

xã hội phong kiến với các quan niệm khắc kỉ về đạo đức thì chấp nhận những tác phẩm như vậy không dễ dàng Chuyện riêng tư thầm kín chốn

phòng the là “cánh cửa sinh ra ta mà cũng là nấm mồ chôn ta” Bởi vậy

người ta dè dặt, không dám nhìn thẳng vào mình, nói ra cũng chỉ là ỡm ờ, lấp lửng

Ở phương Tây, thuyết Phân tâm học của S Freud (1856 - 1939) ra

đời đã cho thấy cái nhìn tổng quát về tình dục và vai trò không thể thiếu của

nó trong đời sống con người: “Bản năng tình dục và thèm khát nhục dục là yếu tố đầu tiên và mạnh mẽ nhất trong việc tạo thành nhân cách con người… Những rạo rực về tình dục, dù hiểu theo nghĩa hẹp hay nghĩa rộng cũng giữ một địa vị vô cùng quan trọng mà cho đến nay người ta vẫn chưa hiểu đúng

mức vai trò của nó trong đời sống tinh thần” Freud cũng đã nêu lên cách

nhìn nhận của mình về tình dục trong văn học nghệ thuật: “Nghệ thuật đạt tới sự hòa giải theo một con đường độc đáo… Bị thúc đẩy bởi những thèm khát ghê gớm, nghệ sĩ muốn danh giá, thanh thế, của cải, vinh quang và tình yêu của đàn bà, nhưng nó không đủ phương tiện để thỏa mãn những dục vọng này Vì vậy, như những người bất mãn, nó rời bỏ thực tế để về với trí tưởng tượng phóng túng, nó chuyển toàn bộ libido và hào hứng của mình vào những hình ảnh mà nó ham muốn”

Trang 27

Quan điểm này của Freud có phần hơi cực đoan khi cho rằng sáng tác văn chương là sự thăng hoa của những ẩn ức về tình dục Cái nhìn của ông thiên về chủ nghĩa tự nhiên nhưng những gì ông nêu ra là tiền đề, cơ sở cho

sự hoàn thiện sau này Quan điểm của Freud có ảnh hưởng ít nhiều tới văn chương nước ta Vũ Trọng Phụng là một điển hình Đời sống bản năng là tiêu chuẩn tác giả lí giải cho mọi hành động, tâm lí, số phận của nhân vật Với cái nhìn “trần trụi” trước đời sống bản năng, đặc biệt là tình dục của con

người một thời người ta cho ông là “nhà văn có đôi mắt đen, đeo kính đen”

Bên cạnh đó ta còn bắt gặp nhiều sáng tác đề cập tới vấn đề này như trong những tác phẩm văn chương lãng mạn của nhóm Tự lực văn đoàn và phong trào thơ mới

Văn học bắt nguồn từ đời sống, nhận thức, phản ánh đời sống bằng hình tượng nghệ thuật Đời sống xã hội ảnh hưởng, chi phối rất lớn tới sáng tác văn học Thời kì 1945 – 1975, chiến tranh là đề tài, cảm hứng sáng tác bao trùm lên toàn bộ nền văn học Đâu đâu cũng là tiếng kèn xung trận, là tiếng hô vang hào sảng, là tiếng hát ngợi ca,… Đối tượng mà văn chương hướng tới lúc này là những con người anh hùng, có tinh thần xả thân, có ý thức khắc kỉ biết kiềm chế những nhu cầu, ham muốn cá nhân để hi sinh, cống hiến hết mình cho cộng đồng, dân tộc Đời sống riêng tư của con người

bị quên lãng, bản năng bị xem nhẹ

Bước sang thời kì đổi mới, xã hội bước vào quá trình dân chủ hóa Con người được trở về sống với những bản năng vốn có của mình Thế sự đời tư trở thành cảm hứng chủ đạo trong văn học Những gì cá nhân nhất, riêng tư nhất thuộc về góc khuất của con người luôn được tìm tòi, mổ xẻ, đặc biệt là vấn đề tình dục Các nhà văn đương đại nhìn nhận tình dục như một vấn đề thuộc về bản thể con người, một khía cạnh quan trọng để hiểu con

Trang 28

người hơn Không ít nhà văn, nhà phê bình đã nêu lên quan niệm của mình

về vai trò của tình dục:

Nhà văn Thuận viết: “Tình dục là một phần của cuộc sống Chúng ta

không thể cho các nhân vật ăn cơm, uống nước, đi làm, đi chợ, chọn hàng, mặc cả… nhưng sau đó thì quẳng họ lên giường, tắt đèn bắt họ đi ngủ […] Tình dục như một đề tài văn chương”

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: “Đời sống con người không hoàn toàn

buồn thảm, Thượng đế đã cho nó dục tính nhiều hơn lí trí”

Đặt con người trong đời sống tình dục, nhà văn đã trả cho con người tiếng nói thật hơn, người hơn

Hơn nữa, trong xã hội hiện đại với sự phát triển chóng mặt của khoa học kĩ thuật, kinh tế thị trường thì vấn đề bản thể con người được quan tâm hơn bao giờ hết Ranh giới giữa những giá trị trong đời sống trở nên mờ nhạt Khi địa vị không phải là một đảm bảo chắc chắn, tiền bạc không phải là cứu cánh, gia đình là sa mạc hoang tàn… thì cuộc sống con người trở nên bất

ổn Sự kiếm tìm bản ngã như rơi vào mê cung Con người trở nên khó hiểu ngay với chính mình Tình dục dường như là cứu tinh cuối cùng con người tìm đến để thỏa mãn nỗi chán chường, giải tỏa những uẩn ức Bởi vậy muốn

“bóc trần” sự phức tạp của con người thời hiện đại nhà văn không thể bỏ qua cái bản năng sâu kín ấy

Tuy nhiên, viết về tình dục không phải là đơn giản Viết thế nào để cái bản năng “nhạy cảm” ấy trở nên thật, tự nhiên, trở thành một phần của tác phẩm là vấn đề lớn đối với mỗi nhà văn Nó phụ thuộc vào tài năng, bản lĩnh

của tác giả Nói như Nguyễn Huy Thiệp thì: “Thực ra viết về sex rất khó.[…]

Đề tài này khó đến nỗi trong văn chương thực sự nó giống như một miếng đất hoang” [39]

Trang 29

“Miếng đất hoang” ấy đã được cày xới bởi không ít nhà văn đương

đại Nguyễn Đình Tú là một sự tiếp nối Có thể nói, với bản lĩnh của mình, anh đã không ngần ngại khi dấn ngòi bút của mình vào cái khó này Ngay

bản thân anh cũng đã khẳng định: “Chỉ khi nào sex không tồn tại trong đời

sống thì nó sẽ không còn được đề cập trong tiểu thuyết của tôi nữa” Nguyễn

Đình Tú khai thác đời sống bản năng của con người với sự phủ sóng dày đặc của tình dục Trước những vấn đề của thời đại, bằng cảm quan nhạy bén, Nguyễn Đình Tú đã thâu tóm và thể hiện đời sống bản năng của con người, đặc biệt là giới trẻ như một đối tượng để suy nghĩ, nghiền ngẫm

Trong “Nháp”, Nguyễn Đình Tú đã “trưng bày” đời sống bản năng tự

nhiên của con người một cách trực diện Mật độ sex dày đặc “gần một phần

ba là những trường đoạn nóng bỏng và phập phồng những cảnh huống ái ân” [36] Ở đó không chỉ là những cảnh ái ân nam nữ quen thuộc mà còn là

những pha sex nhầy nhụa của những người thuộc giới tính thứ ba và lần đầu tiên người ta thấy sự xuất hiện của hình ảnh dương vật đầy đủ, rõ ràng như vậy trong tiểu thuyết Xa hơn, tình dục đã vượt ra khỏi bờ cõi một quốc gia với những mối quan hệ tình dục khác chủng tộc Tất cả đều được Nguyễn

Đình Tú “vẽ rất khéo, tưởng như dữ dội mà chừng mực, tưởng như sa đà mà

biết dừng lại đúng lúc Tác giả đã dẫn người đọc đến các cung bậc sex thật

tự nhiên, không nhàm chán nên thấy dễ chịu và đồng cảm theo diễn biến tâm

lý của nhân vật khi vào “cuộc mây mưa” đầy tâm trạng chứ không bị các

hành vi tình dục dẫn dắt một cách thiếu kiểm soát” [36] Sex trong “Nháp”

không đơn thuần chỉ là sex Sau những pha sex thẳng căng ấy là nỗi ám ảnh

tình dục trong tâm lý nhân vật Ở Thạch là “nỗi ám ảnh về giống đực” Nỗi

ám ảnh này đeo mang trong Thạch từ khi ý thức được bi kịch ra đi của người

mẹ Nó tạo nguồn cơn đam mê tìm hiểu về cái “công cụ” duy trì loài người

và đẩy anh sa đà vào đời sống bản năng có phần “vô luân” Tình dục còn là

Trang 30

cách thức trả thù để Thạch có cơ hội “vung nắm đấm gia trưởng hàng ngàn

năm” Bên cạnh Thạch là Đại cũng được tác giả đặt vào mối quan hệ tình

dục với hai người phụ nữ là Duyên và Thảo “một vé” Đời sống tình dục của

Đại có được phải cần có sự hỗ trợ của viên ngọc ước Sau những mối quan

hệ tình dục ấy, người đọc nhận thấy một sự cô đơn, bất lực, nhận thấy rõ hơn

cái bi kịch “không tìm được cái mình cần tìm” của Đại Tiểu thuyết còn

thành công khi xây dựng hình ảnh những người phụ nữ (mẹ Thạch, Yến) bất

chấp từ bỏ hạnh phúc gia đình, quê hương để tới “chỗ cho người phụ nữ son

phấn” và “đáp ứng được điều họ cần”

Tới “Phiên bản”, nhà văn đã đưa một cái nhìn khác về bản năng tự nhiên của con người Thế giới con người trong “Phiên bản” là thế giới của

những tội nhân – những người mà cuộc sống luôn gắn liền với súng đạn, đao

búa Chém giết trở thành “lá bùa” cho sự sinh tồn, làm cho con người ta cao

số hơn Bản năng chi phối toàn bộ lý trí và hành động đến mức “cứ ngứa mắt

là đánh” Thủ lĩnh của thế giới ấy là những Lân “sói”, Cọc “ba tai”, Tùng

“hero”, Hương “ga” luôn mang trong mình khát vọng bá vương thống trị cõi giang hồ Sau đó là hình bóng của những tên đàn em như Vĩnh “con” – kẻ

dính ma túy liều mình đổi lấy những phút thăng hoa ảo ảnh, là những kẻ khát

máu như Phát “anh”, Phát “em”, là Mỹ “chột” với khoái cảm nhìn máu

người… và Đinh – kẻ cầm trong tay công lý vì ham hố tiền bạc mà quên đi bổn phận Tất cả đều ngụp lặn trong những bản năng hoang dã, cuồng quay trong cơn lốc chém giết, cướp bóc, trả thù, lừa đảo, chiếm đoạt Một thế giới bản năng “lầy nhầy máu mủ” Nhưng đằng sau khuôn mặt ấy là những trạng thái tâm lý nào? Miêu tả đời sống tình dục của nhân vật đã hé mở một phần

câu hỏi đó, đặc biệt là nhân vật Hương “ga” Tình dục ở đây cũng nhuốm màu bụi đời “ăn ngủ với nhau ở bất kì chỗ nào có thể ngả lưng xuống được” Bản năng tình dục không trực diện như trong “Nháp” mà “kín đáo, đớn đau,

Trang 31

nhễ nhại và có gì đó thẳm sâu” Nỗi thẳm sâu ấy là sự ám ảnh của những con giao long trên chuyến tàu vượt biển năm nào của cô bé Diệu ngây thơ, trong

trắng Nó đeo đẳng tâm hồn Diệu ngay cả khi đã trở thành Hương “ga” – nữ

chúa bóng đêm Nó hiện thân cho sự đau đớn và vượt thoát bất lực, là một phần nguyên nhân đưa đẩy cô tới tội ác Cuộc sống luôn bị bủa vây bởi tội ác

và máu Ngay cả căn phòng ngủ, trên chiếc giường dành cho những phút

giây hạnh phúc thăng hoa cũng “Máu còn dính đầy nơi thành giường, chỗ

bậu cửa, trên chăn gối, trên cả tóc tai, mặt mũi, quần áo của em nữa… chẳng khác gì căn phòng của một cặp vợ chồng đồ tể” [43; 305]

Trong “Kín”, bản năng tự nhiên của con người được nâng lên một

cấp độ khác Tác giả đã xây dựng khá thành công nhân vật Quỳnh – cô gái

có đời sống bản năng tình dục mãnh liệt Bản năng ấy được đánh thức từ tuổi

mười ba với: “Tính chất thì đó chỉ là sự gặp gỡ chốc lát của loài thú hoang”

[44; 242] Nhưng nó có sức ám ảnh mạnh mẽ, là khởi nguồn cho sự kiếm tìm của những dục vọng tạm bợ trong cuộc đời cô sau này Cuộc sống của Quỳnh hoàn toàn buông thả theo bản năng Đó là chuỗi ngày dài của những chơi bời đú đởn, yêu đương lăng nhăng, cờ bạc, rượu chè, hút thuốc Tình

dục đã trở thành vốn sống, kinh nghiệm “gọi ra được cả mùi vị của sex”, biến cô thành con “cuồng sex” Quỳnh tìm đến sex như để gạt bỏ tạm thời sự

cô đơn, hoài nghi hiện tại và là sự kiếm tìm cái “mùi người thuần khiết”

Đời sống bản năng được “nâng cấp” với hình thức quần hôn trong buổi lễ linh tinh tình phộc: “… Lập tức sáu con giáp nam lao vào sáu con

giáp nữ để chạm tay lên đôi gò bồng đảo của họ lấy may Tiếng hò hét rượt đuổi, tiếng nũng nịu, chí chóe, tiếng xô đẩy cào cấu vang lên khắp căn phòng Cuộc vui bắt đầu lên men… Chó cắn, Lợn cào, Hổ vồ, Gà mổ, Ngựa

đá, Rồng lượn, Rắn bò, Trâu húc, Chuột gặm, Mèo vờn… Cảm giác nóng bỏng, căng cứng… Những tấm thân muông thú hằn lên đường lửa khoái cảm

Trang 32

từ móng vuốt dục vọng… Đám muông thú thỉnh thoảng dừng lại một cách đột ngột rồi lại bật mình hú hét…” [44; 429 - 432] Đây hoàn toàn là đời

sống bản năng của loài vật, thác loạn, trác táng Nó biểu hiện một cuộc sống nhạt nhẽo, xuống cấp của thế hệ trẻ

Đặt con người trong đời sống bản năng, Nguyễn Đình Tú đã cho

người đọc nhận ra một điều rằng: “Điều tưởng như là tự do nhất thì thực

chất lại không hề có tự do, cái tưởng là thiêng liêng nhất té ra lại tầm thường và bẩn thỉu nhất, niềm hạnh phúc hòa hợp nhất giữa con người với con người thực chất là nỗi cô đơn thẳm sâu và cay đắng nhất, giây phút gọi

là người nhất thì cũng là lúc đánh mất người nhất” [15; 72] Đó giống như

lời cảnh báo về tình trạng tha hóa của con người trong thời hiện đại Con người đang dần đánh mất chính mình khi để bản năng chi phối toàn bộ lý trí Tuy nhiên cái nhìn nhân văn của tác giả không dừng lại ở đó Trong đời sống bản năng ấy nhân vật của Nguyễn Đình Tú vẫn luôn giằng xé, vật lộn, luôn chịu đau đớn tự tay “khâu vá” những mảnh vụn nát trong tâm hồn nhằm tìm

lại chính mình, để không phải “tiếc là chúng ta đã không làm được gì để

ngăn chặn chính chúng ta”

2.1.2.3 Con người tâm linh

Tâm linh là một vấn đề phức tạp Xung quanh vấn đề này tồn tại nhiều quan niệm

Theo các tác giả Từ điển tiếng Việt: “Tâm linh là khả năng biết trước

một biến cố nào đó sẽ xảy ra, theo quan niệm duy tâm” [31; 1112]

Trong cuốn Văn hóa tâm linh, tác giả Nguyễn Đăng Duy cho rằng:

“Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc đời thường, là niềm tin

thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo” [6; 14]

Với các nhà nghiên cứu, phê bình văn học, tâm linh “thường được

hiểu như đời sống tinh thần bí ẩn của con người, đối lập với ý thức kiểu lý

Trang 33

tính thuần túy Nó bao gồm cái phi lý tính, cái tiềm thức, vô thức, bản năng thiên phú… có thể nhấn mạnh phần trực cảm, linh cảm, những khả năng bí ẩn” [13; 265]

Như vậy có thể hiểu một cách đơn giản: tâm linh là vấn đề thuộc về đời sống tinh thần con người, chứa đựng đầy bí ẩn, được biểu hiện ở ý thức, tiềm thức, vô thức, linh tính, điềm báo, niềm tin vào những thế lực siêu nhiên, là sự thông giao giữa người sống và người chết…

Tâm linh là một phần của đời sống tâm hồn con người Và lẽ dĩ nhiên

nó cũng sẽ có chỗ đứng trong văn học Tuy nhiên, tùy vào từng hoàn cảnh lịch sử – xã hội cụ thể mà việc khai thác, phản ánh đời sống tâm linh của con người trong văn học có sự khác nhau về mức độ

Nhân vật trong văn học dân gian là nhân vật chức năng Với những con người vừa thoát khỏi thuở hồng hoang của lịch sử, đời sống tâm linh cũng chỉ thể hiện đơn thuần ở niềm tin vào những thế lực siêu nhiên Đó là những ông Bụt, bà Tiên… – hiện thân cho niềm mong ước khi con người gặp bất hạnh, khổ đau

Thời kỳ văn học trung đại, trước sự du nhập ồ ạt của nhiều trào lưu tư tưởng, tôn giáo, tâm linh trong văn học cũng đượm màu sắc hơn Người đọc

dễ dàng thấy được những cảnh thông giao giữa người sống với người chết

(Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục…), những cái gọi là điềm báo cho

số phận của con người (Truyện Kiều)… và một thế giới tâm linh nhuốm màu Phật giáo trong “Văn chiêu hồn” của Nguyễn Du

Như vậy ngay ở những thời kỳ văn học xa xưa nhất, tâm linh của con người đã được chú ý Tuy nhiên nó chỉ dừng lại ở mức độ đơn giản phù hợp với tâm thế của con người bấy giờ

Như đã nói, hoàn cảnh xã hội ảnh hưởng rất lớn tới văn học Thời kỳ

1930 – 1945, vấn đề lớn nhất mà con người quan tâm là miếng ăn, sự sống

Trang 34

còn thì đời sống nội tâm cơ bản vẫn xuôi chiều, đơn giản Mọi khổ đau của con người đều bị quy chụp bởi hoàn cảnh xã hội Hơn nữa, do cái nhìn thiên

về duy lý nên đời sống tâm linh của con người thường bị gán cho cái mác là duy tâm, bị kìm kẹp và bài trừ Hiện thực trong văn chương chỉ đơn thuần là hiện thực đời sống xã hội Nhà văn hầu như chỉ quan tâm phản ánh những gì nghe thấy, nhìn thấy còn cái cảm thấy thì sự lưu tâm là chưa đáng kể Bởi vậy đi tìm “con người bên trong con người” cũng là chưa cần thiết lúc bấy giờ

Tới ngày hôm nay thì khác Guồng quay của cuộc sống hiện đại đẩy con người vào trạng thái cô đơn, bơ vơ, lạc lõng, hoài nghi… Sự đảo lộn của trật tự đời sống cùng với sự xuất hiện cùng những hiện tượng không thể lý giải bằng các hình thức suy lý, người ta đã phải thừa nhận tâm linh như một

phần không thể tách khỏi đời sống Giờ đây: “Kỳ quặc và lẩn thẩn, hoàn

toàn khó tin, tuy vậy giờ đây kỳ quặc nhất hay bình thường nhất cũng thế cả thôi” Và sẽ là thiếu sót nếu bỏ qua góc khuất tâm linh khi miêu tả con

người: “Nghệ thuật sẽ không là gì nếu không ôm hết cái dữ dằn, đanh đá của

cuộc sống, cả cuộc chết nữa! Sẽ chẳng đi đến đâu một thứ nghệ thuật không thấy hết, không nói hết cái bờ bên kia của hiện thực” [40; 48]

Con người tâm linh từ lâu đã được cày xới trong văn học hiện đại thế giới Với mong muốn đi tìm cái tôi bề sâu, khám phá miền sâu kín của tâm linh con người, các nhà văn hiện đại đã cho ra đời tiểu thuyết dòng ý thức Đóng góp của những tiểu thuyết này là sự khám phá và thể hiện ý thức của con người, cho người đọc thấy ý thức là một chuỗi liên tục, miên man không dứt, không có khởi đầu và không có kết thúc

Sau này, các tiểu thuyết gia hậu hiện đại “sử dụng cái nhìn như tia X

rọi xuyên qua những vùng sâu thẳm và phi lí của nội tâm cá nhân” để thể

hiện khá sâu sắc đời sống tâm linh con người hiện đại Các tiểu thuyết hậu

Trang 35

hiện đại đã có bước đi xa hơn so với tiểu thuyết dòng ý thức trên hành trình tìm kiếm và khám phá những chất liệu tâm lý mới mẻ Những hiện thực, chất liệu hay yếu tố tâm lý này bao gồm những tình cảm, những mâu thuẫn, mối xúc động nội tâm, những đối thoại tiềm ẩn, tất cả đều là những bí mật sâu

thẳm nhất của con người

Tiểu thuyết đương đại Việt Nam, như đã khẳng định, chịu ảnh hưởng của sáng tác văn học hiện đại và hậu hiện đại thế giới, trong đó có phương diện khai thác, khám phá chiều sâu tâm linh của con người Quan niệm về

tính phức tạp và bí ẩn của con người đã dẫn dắt nhà văn đi tìm “con người

bên trong con người” Với xu hướng mở rộng biên độ khám phá hiện thực và

khát khao tìm kiếm, lật xới từng vùng tâm thức bí ẩn của con người, các tiểu

thuyết gia đương đại Việt Nam nhận ra rằng: “Những gì ta thấy, ta nghe, ta

trải nghiệm là chưa đủ Hiện thực còn là cái ta cảm nhận nữa… Cả một đời sống tâm linh cũng là hiện thực” [40; 48] Khai thác con người tâm linh trở

thành nhu cầu tất yếu Nó sẽ đem lại sự phong phú cho cấu trúc nhân cách của nhân vật và góp phần xây dựng một quan niệm nghệ thuật toàn diện về con người

Nguyễn Đình Tú không phải là tên tuổi đi tiên phong cho sự đổi mới của tiểu thuyết đương đại Những gì mà anh thể hiện trong tác phẩm là sự kế thừa, tiếp nối và phát triển ở mặt nhất định nào đó Để thể hiện sự hỗn tạp của con người, tác giả cũng đã dành sự quan tâm tới thế giới tâm linh sâu kín của nhân vật Thế giới tâm linh trong các tiểu thuyết của anh hiện lên đa dạng, nhiều tầng bậc từ những tư tưởng rộng lớn của Phật giáo, Thiên Chúa giáo, đạo Mẫu tới những bí ẩn sâu kín về tiềm thức, vô thức, những giấc mơ

và nỗi ám ảnh, hoang mang, hoài nghi, sợ hãi của con người thời đại

Trong “Nháp”, Nguyễn Đình Tú đã mở cánh cửa vào thế giới tâm linh

của con người với nhiều mức độ và biểu hiện khác nhau Ở đó có niềm tin

Trang 36

của con người vào sự ngự trị của đấng siêu hình Đấng siêu hình đó là sự kì

diệu của viên ngọc ước “rơi ra tư mắt các vị thiên sứ bay lượn trên những

vòm hang nhà thờ… Nắm chặt nó trong tay ước gì sẽ được nấy” Bởi vậy mà

Đại đã ôm ngọc rì rầm nguyện ước nhiều lần, cầu mong một phép màu giúp anh thoát khỏi sự cô đơn, bất lực cuộc sống mang lại Cuộc đời của Đại còn

có sự dắt lối đưa đường bởi những triết lý nhà Phật Triết lý “Phạm luật đời

thì đời trị Về với cuộc đời mà không được hưởng những gì của đời thì về làm gì” [42; 278] đã đeo đẳng, ám ảnh Đại, để anh đối diện với sự thật trần

trụi và nhận ra sai lầm, bi kịch của đời mình Trước sự bế tắc, một lần nữa, với niềm tin tâm linh, Đại đã tìm tới trò bói hoa đại như niềm hy vọng cuối cùng Tâm linh đã trở thành chỗ dựa tinh thần để con người có thêm niềm tin

và sức mạnh bước tiếp về phía trước

Nếu Đại còn có niềm tin tâm linh cứu rỗi tâm hồn thì ở Thạch niềm tin tâm linh lại là một thứ gì đó mơ hồ Sự rời bỏ của mẹ, của người yêu theo

tiếng gọi của những người đàn ông bên trời Tây đã để lại trong anh một “nỗi

buồn nhược tiểu diễm lệ” Với anh, thực tại là một sự phũ phàng không niềm

tin nào đủ sức cứu vớt Nó len lỏi và cả giấc mơ của Thạch Giấc mơ cũng là một lĩnh vực thuộc về đời sống tâm linh của con người Thực tại đã đau đớn trong giấc mơ càng nhân lên gấp bội Trong suốt tiểu thuyết, tác giả chỉ khắc họa duy nhất một giấc mơ của Thạch Nhưng giấc mơ ấy chứa đựng cái

“nhục” đeo đẳng cuộc đời của hai người đàn ông, sự bế tắc trong lối thoát

Và “Không cho bọn đàn ông làng khác mò vào, nó sẽ lấy hết đàn bà làng

mình” [42; 196] phải chăng là một điềm báo? Sự xuất hiện của nhà ngoại

cảm Bích Hà cùng khả năng thông giao với người chết khiến Thạch dần tin vào cái kì lạ trên đời Điều kì lạ ấy cho anh niềm tin về sự tồn tại của bạn

Cựu binh Tony cũng là một hiện thân của con người tâm linh, luôn chịu sự ám ảnh, đeo đuổi của hình ảnh người đại đội trưởng trinh sát bị ông

Trang 37

sát hại trong cơn mộng du Người sống, người chết đan cài, nhập nhòe vào nhau tạo nên không gian kì bí trong tác phẩm

“Phiên bản” – tự nhan đề tiểu thuyết đã đem tới không khí tâm linh

trong Thiên Chúa giáo: con người là một phiên bản của Chúa Bao trùm lên những trang truyện, số phận của nhân vật, người đọc nhận thấy sự chi phối

của thế lực vô hình mang tên “định mệnh” Sự tha hóa của con người là do định mệnh chi phối: “Đất này dữ, trai gái đều thành nghịch tặc cả… có

tránh cũng chẳng được” [43; 84] Tin vào định mệnh, số phận, con người đã

chấp nhận nó vô điều kiện Có trở thành nghịch tặc cũng là do số, do Chúa

Trời muốn vậy Người ta sống và luôn tin rằng: “Chúa có mặt ở khắp mọi

nơi và Chúa sẽ cứu giúp những người hằng tin vào Chúa” Chính cái gọi là

định mệnh ấy đã đưa đẩy Diệu trở thành Hương “ga”, trở thành nữ chúa

bóng đêm của thế giới ngầm Trong thế giới ấy, một trong những cơ sở của

sự tồn tại cũng là vì tin vào “số”: “Sống chết có số Cứ tin nhau mà sống em

ạ Trời có muốn hại mình thì có phòng cũng không được” [43; 200] Phải

chăng chính điều này làm cho những thao tác khoa học trở nên khó khăn đối

với thằng Chín tháng khi nó tiếp cận chân lý tội phạm học và cuối cùng cũng

phải vịn vào Chúa Trời

Tiểu thuyết còn đi sâu vào thể hiện trạng thái vô thức của Hương “ga”

sau khi bị nã đạn Thân thể thì đã chết còn linh hồn thì phiêu diêu với ánh trăng Cõi sống – cõi chết, hiện thực – ảo giác, quá khứ – hiện tại – tương lai đan cài vào nhau Cuộc chất vấn với ánh trăng như sự thanh tẩy tâm hồn của

cô khi trở về với thế giới bên kia Đằng sau quá khứ nhuốm đầy máu ấy là ước mơ, khát khao đẹp đẽ, là một tình yêu trong trắng thuở học trò Và để lại

là những giọt nước mắt muộn mằn

Tới “Kín”, thế giới tâm linh hiện lên rõ ràng hơn bao giờ hết Mở đầu

tiểu thuyết, với việc tái hiện không gian nghĩa địa, Nguyễn Đình Tú đã tạo

Trang 38

cho người đọc một cảm giác ma quái, bí ẩn Ranh giới giữa người và ma hòa trộn vào nhau từ đầu tới cuối tác phẩm Bóng ma xuyên suốt ấy là hình ảnh người mẹ – hiện thân cho quãng thời gian tuổi thơ trong trẻo luôn xuất hiện trong những giấc mơ của Quỳnh Nó như điểm tựa tinh thần khi cô cảm thấy lạc lõng, hoài nghi, cảm thấy sự vô nghĩa của cuộc sống Trong giấc mơ, trước mẹ, Quỳnh như được đối chất với chính mình và nhận ra được sự hiện diện đích thực của con người mình

Tiểu thuyết đã xây dựng không gian tâm linh bàng bạc hương khói của những buổi hầu đồng, những câu chuyện kể về Thánh Mẫu Viết về đạo Mẫu

không phải là mới Người đọc từng biết tới cuốn tiểu thuyết “Mẫu Thượng

ngàn” của Nguyễn Xuân Khánh nhưng “Kín” lại mang tới những lớp mã khác Sống ở thời nào con người cũng cần tới một nơi để gửi gắm niềm tin, cầu mong những điều tốt đẹp Trong xã hội hiện đại ngổn ngang, bát nháo, dường như niềm tin tâm linh không còn đơn thuần là chỗ dựa tinh thần để con người tiến về phía trước nữa Người ta tìm tới Thánh để gửi gắm những

mong muốn tầm thường, tục tĩu của những ghen ghét đố kị: “Thánh vật chết

mẹ cái con trốn chúa lộn chồng”, “Mẫu cho mất bố nó cái chức trưởng phòng đi” [44; 140]… Thế giới tâm linh thiêng liêng ấy cũng đã pha nhiễm

phàm tục, bát nháo của đời thực

Xung quanh những con người tâm linh trong tác phẩm nổi bật lên hình ảnh ông nội Quỳnh Đây là nhân vật mang trong mình niềm tin tôn giáo

mãnh liệt Ông dành cả đời để “tin có thế giới bên kia, tin có thần tiên và ma

quỷ, tin vào điều lành điều ác, điều dữ điều thiện…” Ông đến với Thánh để

cầu xin một đứa cháu trai nối dõi tông đường, để tìm kiếm đứa cháu gái mất tích nhưng đều vô ích Thánh không linh ứng hay đúng là mê tín dị đoan như con trai ông nói Hầu tới giá đồng thứ mười sáu thì ông chết Ông chết trong niềm tin tôn giáo mãnh liệt cùng với những nguyện ước dang dở Niềm tin

Trang 39

tôn giáo như bị lung lay Liệu rằng thế giới tâm linh còn có đủ niềm tin để dung nạp những tâm hồn phức tạp nữa hay không?

Con người tâm linh trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú hiện lên đa dạng, phức tạp Tiếp cận con người tâm linh, tác giả đã cho người đọc thấy

sự kì bí trong đời sống tâm linh của con người Đằng sau sự kì bí ấy là tình trạng bất an, sự hoài nghi và bất lực của con người trước cuộc sống thực tại Tâm linh là cõi mông lung bí ẩn không lời giải đáp Hơn ai hết tác giả nhận

thức rõ điều đó: “… lý giải về sự nhiệm màu là những cố gắng vô ích nhưng

tôi vẫn đang vô ích trong sự lý giải con người” Sự cố gắng ấy suy cho cùng

là đưa con người hướng tới cái Thiện

Khai thác con người ở ba khía cạnh: hỗn tạp, bản năng tự nhiên và tâm linh, Nguyễn Đình Tú đã cho người đọc thấy quan niệm nghệ thuật toàn diện

và mới mẻ về con người của mình Đây chính là cơ sở làm nền tảng cho thế giới nhân vật phong phú, phức tạp của nhà văn xuất hiện

2.2 Các loại nhân vật cơ bản trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú

2.2.1 Nhân vật lạc loài

Theo Từ điển tiếng Việt, “lạc loài” được hiểu là: “bơ vơ, không có

chỗ dựa, do bị sống tách khỏi thân thích, đồng loại” [31; 662]

Nhân vật lạc loài là nhân vật không tìm thấy sự đồng cảm, sẻ chia từ đồng loại, không tìm thấy tiếng nói chung trong cộng đồng Đây là dạng nhân vật có khả năng nhận thức về bản ngã Họ nhận thức được sự khác biệt sâu sắc của bản thân với cộng đồng và chủ động tách mình bởi cảm nhận về

sự xa lạ xung quanh Sự chủ động này khiến họ bơ vơ, lạc lõng, làm nảy sinh mối hoài nghi khắc khoải về ý nghĩa sự sống và con người

Thời hiện đại, cùng với sự phát triển chóng mặt của kinh tế – xã hội là

sự thức tỉnh mạnh mẽ của con người về ý thức cá nhân, sự trỗi dậy niềm khao khát được tự khám phá bản thân, thỏa mãn chính mình Đôi lúc con

Trang 40

người cảm thấy không thể hòa nhịp vào dòng chảy của cuộc sống Họ cảm thấy bơ vơ, lạc lõng và chủ động tách mình Con người lạc loài chính là sản

phẩm của xã hội hiện đại: “Xã hội càng dư thừa thông tin bao nhiêu lại tước

đi khả năng thông hiểu giữa người và người bấy nhiêu, nền văn minh vật chất càng vượt trội bao nhiêu thì con người càng lọt thỏm giữa thế giới đồ vật bấy nhiêu” [20] Cảm thấu rõ nhịp điệu ấy của cuộc sống, văn chương

hiện đại và hậu hiện đại thế giới đã nhanh chóng thấu hiểu, nắm bắt và xây dựng lên chân dung của những con người lạc loài như một hậu quả tất yếu của xã hội

Không phải tới Nguyễn Đình Tú tiểu thuyết Việt Nam đương đại mới xuất hiện dạng thức nhân vật lạc loài Trước anh đã có không ít nhà văn đưa hình ảnh nhân vật này vào tác phẩm Trong số đó, nổi bật hơn cả có thể kể tới Thuận Nếu ở Thuận ta bắt gặp những thân phận lạc loài tha hương thì

Nguyễn Đình Tú lại tái hiện một thế hệ lạc loài kiểu Việt Nam – thế hệ đang phải “đối mặt với sự đổi thay, hay thậm chí là sự tráo trở của các giá trị”

Trong “Nháp”, Đại hiện lên là một con người lạc loài giữa cộng đồng

Sự lạc loài này được nhận thức rõ nét khi nhân vật được đặt trong một môi trường sống mới Nếu như ở Phố Núi xa lắc xa lơ, bình yên thơ mộng, Đại vẫn là bình thường thì tới Hà Thành sầm uất, nhộn nhịp, anh lại trở nên xa lạ,

lạc lõng Những năm tháng sinh viên, Đại xuất hiện với “đầu tóc bù xù, quần

áo nhàu nhĩ, Đại lừ đừ đến rồi lừ đừ đi” Đó giống như cái bóng vô hình lạc

ngoài nhịp điệu hối hả của thành phố Trong con mắt của bạn học cùng lớp,

Đại là “người không bình thường, hơi đao đao, hơi biêng biêng, hơi chập

chập, hơi có vấn đề…” [42; 11] Nguyên nhân của sự lạc lõng này xuất phát

từ tính cách “chỉ chuốc những cái rách việc vào mình” của Đại Xã hội mà ở

đó con người ta chỉ biết đến lợi ích của bản thân thì cái tính cách nghĩa hiệp

ấy biến Đại trở thành kẻ dở hơi trong mắt mọi người Lý do sâu xa hơn mà

Ngày đăng: 30/11/2015, 21:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Tuấn Ảnh (2006), “Những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam qua so sánh với văn học Nga”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, (12), tr. 39 - 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam qua so sánh với văn học Nga
Tác giả: Đào Tuấn Ảnh
Năm: 2006
2. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2004
3. M. Bakhtine (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtine
Năm: 1992
4. Nguyễn Thị Bình (1999), “Một vài đặc điểm của tiểu thuyết Mới”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, (6), tr. 67 - 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài đặc điểm của tiểu thuyết Mới
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1999
5. Lê Nguyên Cẩn (1999), Cái kỳ ảo trong tác phẩm của Balzac, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái kỳ ảo trong tác phẩm của Balzac
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
6. Nguyễn Đăng Duy (1996), Văn hóa tâm linh, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1996
7. Đoàn Ánh Dương (2009), “Phiên bản hay hồ sơ một thanh tẩy”, eVan.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phiên bản hay hồ sơ một thanh tẩy
Tác giả: Đoàn Ánh Dương
Năm: 2009
8. Đặng Anh Đào (1994), “Tính chất hiện đại của tiểu thuyết”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, (2), tr. 17 - 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính chất hiện đại của tiểu thuyết
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 1994
9. Đặng Anh Đào (2006), “Vai trò của cái kỳ ảo trong truyện và tiểu thuyết Việt Nam”, Tạp chí Sông Hương, (210) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của cái kỳ ảo trong truyện và tiểu thuyết Việt Nam
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 2006
10. Hà Minh Đức (2007), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
11. S. Freud (2005), Các bài viết về giấc mơ và giải thích giấc mơ – Nhập đề của Hermann Beland, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bài viết về giấc mơ và giải thích giấc mơ – Nhập đề của Hermann Beland
Tác giả: S. Freud
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2005
12. Hoàng Cẩm Giang (2010), “Vấn đề nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, (4), tr. 90 - 104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Hoàng Cẩm Giang
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w