Với kinh nghiệm vốn có của một người học luật, từng làm việc trong Viện kiểm sát cộng với tài năng của bản thân, Nguyễn Đình Tú đã khá nhạy bén khi khám phá, thể hiện những góc khuất của
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ THANH HÀ
NHÂN VẬT NỮ TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN ĐÌNH TÚ
Ngành: Văn học Việt Nam
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực, khách quan và chưa được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn và sự tri ân sâu sắc tới PGS.TS Cao Thị Hảo, người đã hướng dẫn tận tình, chu đáo, đầy trách nhiệm
và có những chỉ dẫn khoa học giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm, các thầy cô giáo Khoa Ngữ văn và Phòng đào tạo Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tham gia giảng dạy, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khóa học
Cuối cùng tôi xin được chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp những người đã luôn ở bên động viên, khuyến khích và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Hà
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề……… 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Cấu trúc luận văn 10
NỘI DUNG 11
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN ĐÌNH TÚ 11
1.1 Những vấn đề lí luận chung 11
1.1.1 Khái niệm nhân vật văn học 11
1.1.2 Vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học 13
1.1.3 Nhân vật trong tiểu thuyết 14
1.2 Vấn đề nữ quyền trong văn học Việt Nam hiện đại 16
1.2.1 Vấn đề nữ quyền và văn hóa xã hội thời hiện đại 16
1.2.2 Quá trình phát triển vấn đề nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại và tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú 18
1.3 Tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam đương đại 20
1.3.1 Khái quát chung về tiểu thuyết Việt Nam đương đại 20
1.3.2 Đóng góp của tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú 27
Trang 6Tiểu kết chương 1 34
Chương 2: NHÂN VẬT NỮ VỚI NHỮNG KHUÔN DIỆN ĐA DẠNG TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN ĐÌNH TÚ 35
2.1 Nhân vật nữ với dục vọng bá chủ thế giới ngầm 35
2.1.1 Con đường đến với vị trí bá chủ thế giới ngầm 35
2.1.2 Quyền năng của người phụ nữ trong thế giới ngầm 38
2.2 Người phụ nữ với khát vọng yêu và kiếm tìm hạnh phúc 42
2.3 Nhân vật nữ với hoàn cảnh sống đầy bi kịch thời hiện đại 48
2.3.1 Thiên tính nữ tiềm ẩn trong chân dung kẻ tội phạm 48
2.3.2 Quá trình đấu tranh để sinh tồn đầy bi kịch 51
2.4 Người phụ nữ bị tha hóa bởi hoàn cảnh sống 56
2.4.1 Những hoài nghi, vỡ mộng 56
2.4.2 Lối sống buông thả, phó mặc 62
Tiểu kết chương 2 66
Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN NHÂN VẬT NỮ TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN ĐÌNH TÚ 67
3.1 Xây dựng nhân vật qua miêu tả ngoại hình và nội tâm 67
3.1.1 Xây dựng nhân vật qua miêu tả ngoại hình 67
3.1.2 Xây dựng nhân vật qua miêu tả nội tâm 71
3.2 Xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ nghệ thuật 79
3.2.1 Ngôn ngữ thông tục, đời thường 79
3.2.2 Ngôn ngữ mang màu sắc sex 84
Tiểu kết chương 3 88
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Kết thúc cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ, đất nước thống nhất bước vào giai đoạn xây dựng, phát triển trong quỹ đạo hòa bình, mở ra cho văn học những tiền đề mới nhưng cũng đem lại nhiều thách thức mới Đó là thời kỳ
con người “không tìm được sự tĩnh lặng của cuộc sống và tâm hồn trong mỗi
âm thanh tích tắc của chiếc đồng hồ thời đại” [40, tr.61] Để bắt nhịp, chuyển
tải được cái phức tạp của sự thay đổi ấy, nền văn học Việt Nam đã có những bước chuyển mình rất mạnh mẽ được ghi nhận ở hầu hết các thể loại trong đó
có tiểu thuyết Tiểu thuyết được định nghĩa là “Tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả
năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian” [18,
tr.328] Tiểu thuyết có khả năng khám phá cuộc sống ở nhiều chiều và nhiều khía cạnh đời tư khác nhau nên nó đi vào thượng tầng kiến trúc của văn học
nghệ thuật như một xương sống vô cùng quan trọng Tiểu thuyết chính là “hiện
thân của cái phức tạp, cái đa dạng và phong phú” [70, tr.103] Không ít nhà
văn đặc biệt các nhà văn trẻ thế hệ 7x, 8x lựa chọn tiểu thuyết để thể nghiệm, tìm tòi và khẳng định cá tính sáng tạo của mình Hiện nay tiểu thuyết đang được nghiên cứu dưới nhiều góc độ: đề tài, cốt truyện, ngôn ngữ… Và xu hướng tiếp cận từ phương diện nhân vật cũng mang lại nhiều khám phá thú vị đối với lĩnh vực tiểu thuyết đương đại hiện nay Bởi qua đó, bạn đọc thấy được khuôn diện đời sống xã hội và tài năng nghệ thuật của nhà văn
1.2 Bên cạnh thế hệ các nhà văn đã được khẳng định vai trò, vị thế vững chắc trên văn đàn, một đội ngũ các cây bút trẻ thuộc thế hệ 7x, 8x đã chấp nhận mạo hiểm, sẵn sàng thể nghiệm, làm mới tiểu thuyết ngay trong cuộc “trở dạ đau đớn” để sinh thành một loạt tiểu thuyết mới với lối viết mới, tư duy mới, cách khám phá mới Mỗi người một vẻ, những cây bút trẻ đã tạo nên một không gian đa chiều cho văn học thời đại mới - thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa Trong số các tác giả thế hệ 7x, 8x như Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Ngọc Thuần, Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp, Phạm Duy Nghĩa, Phạm Thị Hoài…
Trang 8mươi mốt tuổi, Nguyễn Đình Tú đã trình làng tám tiểu thuyết Ma Văn Kháng
không ngần ngại khi khẳng định Nguyễn Đình Tú là “nhà tiểu thuyết lực lưỡng”,
“một triển vọng đầy hứa hẹn của văn xuôi hiện nay” [dẫn theo 24, tr.9]
Đời sống đương đại vốn rất phức tạp, điều cốt lõi là nhà văn nói được gì giữa “đống hỗn độn” ấy của cuộc sống Không phải ngẫu nhiên mà tiểu thuyết
hôm nay luôn khiến cho người ta phải suy tư, và nhiều khi nó trở thành “Người
bạn đồng hành chung thủy của con người, bảo vệ con người bằng việc thường xuyên nhắc nhở, thức tỉnh, tôn vinh những giá trị nhân văn” [70, tr 100] Tiểu
thuyết Nguyễn Đình Tú đã “thức tỉnh, tôn vinh những giá trị nhân văn” từ việc
đi tìm và giải mã “cái tôi bí ẩn” bằng một lối viết đầy sáng tạo và mới mẻ, thể hiện được những trải nghiệm cũng như bản lĩnh của một cây bút sớm trưởng thành khi tuổi còn rất trẻ Với kinh nghiệm vốn có của một người học luật, từng làm việc trong Viện kiểm sát cộng với tài năng của bản thân, Nguyễn Đình Tú
đã khá nhạy bén khi khám phá, thể hiện những góc khuất của đời sống xã hội
và con người thời hiện đại, đề cập đến thực trạng suy thoái, băng hoại đạo đức, nhân cách của con người, đặc biệt là ở giới trẻ bằng một hướng tiếp cận mới
mà như nhà văn Chu Lai nói “không né tránh bất cứ thứ gì mà cuộc sống khuất
lấp ngổn ngang đang phô bày” Ngụp lặn trong đống “ngổn ngang”, “xô bồ”,
những góc khuất của đời sống xã hội thời kì hiện đại, Nguyễn Đình Tú tập trung khai thác các hình tượng nhân vật đặc biệt là nhân vật nữ với nhiều khuôn diện khác nhau
1.3 Nhà văn đã thể hiện được quan niệm nghệ thuật của mình về con người thông qua thế giới nhân vật Đồng thời giúp người đọc nhận thấy tư tưởng, tình cảm, khát vọng mà nhà văn muốn truyền tải qua tác tấc phẩm của
mình Đọc các tiểu thuyết Hồ sơ một tử tù (2002), Bên dòng Sầu Diện (2006),
Nháp (2007), Phiên bản (2009), Kín (2010), Hoang tâm (2013), Xác phàm
(2014), Cô mặc sầu (2015) của Nguyễn Đình Tú, người đọc luôn bị ám ảnh bởi
một thế giới nhân vật với nhiều giai tầng cứ vẫy vùng, ngụp lặn trong cái xã hội đầy rẫy những cám dỗ, những mảng tối - sáng tranh chấp, xô đẩy khiến họ luôn
Trang 9bị rơi vào trạng thái mất phương hướng Song có lẽ day dứt, ám ảnh hơn cả vẫn
là các nhân vật thuộc giới nữ Họ cũng đang phải đối diện với biết bao thử
thách của cuộc sống, để rồi “vừa tự đập tan nát mình vỡ vụn, vừa ráng chịu
đau đớn, tự tay “khâu vá” lại những mảnh vụn nát ấy cho lành lặn?” [51] Hầu
hết, nhân vật nữ chính hay phụ trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú tuy thân
phận, vị thế, hoàn cảnh sống… khác nhau nhưng đều mang trong mình “bi kịch
cơ bản hiện nay của tầng lớp thanh niên đô thị đương đại Việt Nam” Tiếp xúc
với các nhân vật nữ trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú, người đọc như được tiếp xúc trực tiếp với mặt trái của cuộc sống hiện thực Và nhà văn muốn truyền tải những vấn đề nóng hổi của thời đại, những vấn đề không thể dửng dưng,
lạnh lùng của xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, đó là “bi kịch
của giới nữ” trước những mặt trái của cuộc sống với biết bao xô bồ, hỗn độn và
cạm bẫy Nguyễn Đình Tú đã không ngần ngại bóc trần những mảng tối trong góc khuất sâu thẳm nhất của đời sống tình cảm, tâm, sinh lí người phụ nữ để qua đó hiểu, cảm thông, trân trọng và mong muốn mọi người trong xã hội hãy có một cái nhìn khách quan, toàn diện về người phụ nữ Việt Nam trong thời kì mới
Với những lí do nêu trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài Nhân vật
nữ trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú Qua đó góp phần khẳng định giá trị tiểu
thuyết Nguyễn Đình Tú đồng thời gióng lên hồi chuông cảnh báo về lối sống cho thế hệ trẻ hôm nay
2 Lịch sử vấn đề
Vốn được học ngành luật, lại là nhà văn công tác trong quân đội cùng với
sự quan sát tinh tường, phán đoán và lí giải sắc sảo, Nguyễn Đình Tú đã rèn cho mình một bản lĩnh khi viết văn Những tiểu thuyết đầu tiên của Nguyễn Đình Tú đã thu hút nhiều sự quan tâm, chú ý của bạn đọc và giới phê bình ngay khi được công bố Bên cạnh những ý kiến khen ngợi, đánh giá cao vẫn còn một
số ý kiến chưa thực sự hài lòng với những gì mà Nguyễn Đình Tú đã mang lại cho văn học Việt Nam thời gian qua Điều đó cũng đồng nghĩa với việc dư luận
Trang 10những ý kiến trái chiều, song những bài báo, những công trình nghiên cứu về Nguyễn Đình Tú đã góp phần khẳng định chỗ đứng của nhà văn trẻ này trong đời sống văn học hiện đại Dù tiếp cận tiểu thuyết của anh dưới góc độ nào, chúng ta cũng không thể phủ nhận ý thức tìm tòi, quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc, những ý tưởng ấp ủ, trau chuốt của Nguyễn Đình Tú trong quá trình cách tân tiểu thuyết Việt Nam
Qua những lời giới thiệu tác phẩm, một số bài viết trên các trang tạp chí, website văn học, giới nghiên cứu, phê bình đã tập trung quan tâm nghiên cứu
đề cập đến một số khía cạnh tiêu biểu của tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú như vấn
đề thời đại mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm, điểm nhìn trần thuật.v.v Chẳng hạn, Trần Tố Loan trên cơ sở phân tích điểm nhìn nghệ thuật trong tiểu thuyết
Nguyễn Đình Tú đã kết luận: “Tiểu thuyết của anh thường sử dụng phối hợp
điểm nhìn của người kể chuyện và nhân vật Sự phối hợp giữa ngôi kể thứ nhất (xưng tôi) và thứ ba (xưng hắn, thị) khiến câu chuyện linh hoạt hơn” [38] Nói
về tiểu thuyết Nháp, nhà văn Chu Lai cho rằng : “Đó là quả đấm của nhịp điệu
nhanh, mạnh, hiện đại, cuồng nộ, nhịp điệu của giới trẻ toàn cầu mà trong đó
ta thấy cả bóng dáng của hiphop, của blog, của thủ thuật cắt dán tinh xảo, ẩn chìm, của nối mạng và án mạng, của các pha tình dục thẳng căng, của những cảnh đời dưới đáy thô rám đến nhợn người, của các tính cách nổi hằn, nổi mụn nhưng sau đó, cái kết tủa, điều lắng lại là tình yêu, tình bạn, tình đời thao thiết nhiều khi đến yếu đuối, bịn rịn” [33, tr.10]
Một số bài nghiên cứu đã đề cập đến thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú song mới tiếp cận ở việc nhìn nhận đánh giá khái quát chung
về các nhân vật hoặc những nhận xét, đánh giá nhân vật trong một tác phẩm cụ thể Hầu hết, các tác giả chưa đi sâu lí giải, khám phá những điểm nổi bật về hình ảnh người phụ nữ trong các tiểu thuyết của nhà văn này Đoàn Minh Tâm
có một phát hiện và nhận xét rất tinh tế về tiểu thuyết Nháp: “Các nhân vật
trong Nháp chỉ có hành động và hành động Qua hành động nhân vật tự bộc lộ bản thân mình Độc giả tùy vào trình độ tri thức, vốn sống, sự hiểu biết của
Trang 11mình để cảm nhận, đánh giá về tác phẩm theo những chiều kích đa dạng mà không phải chịu bất cứ một sự lệ thuộc nào Đơn cử như vấn đề làm sao để hạnh phúc, con người phải làm gì để tìm được sự thanh thản cho tâm hồn, các nhân vật trong Nháp không tranh luận với nhau, mỗi người trong họ tự đi tìm câu trả lời cho mình” [50]
Khi đọc Phiên bản, Ma Văn Kháng cho rằng: “Thế giới tội phạm, một lát
cắt của đời sống hiện thực! Xa lạ chăng chỉ là, ở nơi đây không có cái thường quy, cái phổ biến Thống trị ở nơi đây là cái hỗn mang chi sơ, là những bản năng kinh thiên động địa, là cái ác độc, là thói tàn bạo thâm căn Thế giới tội phạm, một bước lùi của lịch sử nhân loại!” [31] Tác giả Đoàn Ánh Dương
khẳng định: “Nguyễn Đình Tú không lập hồ sơ tội phạm bằng án tích mà chủ
yếu bằng thương tích” hoặc “Không chú ý đi sâu xây dựng những tình huống, tình tiết giàu kịch tính, những hình ảnh li kì, gay cấn giống như tác phẩm trinh thám hay hồ sơ tội phạm thường thấy mà cố gắng đi vào thể hiện tâm trạng nhân vật, thái độ và cảm xúc của nhân vật trong cái nhìn hồi cố” [8] Rõ ràng
thành công của Nguyễn Đình Tú đã được khẳng định ở phương thức xây dựng nhân vật
Nguyễn Thị Minh Thái trong bài viết Kín - một dòng tiểu thuyết miên
man đã nhấn mạnh: “Cuộc sống nhân vật tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú phải chăng như đóa sen đầu mùa hạ còn phong kín nhụy hương? Hay là viết về cuốn tiểu thuyết của Tú, phải chăng đến cuốn thứ năm, vẫn là một dòng chảy mải miết, miên man nhằm xâm nhập, thám hiểm vào tận ngóc ngách thế giới bên trong đầy hoang vu rợn ngợp, đầy khắc khoải, đan cài vô số chuyển động ngược chiều: các nhân vật trẻ của Tú vừa tự đập nát mình vỡ vụn, vừa ráng chịu đau đớn, tự tay “khâu vá” lại những mảnh giấy vụn ấy cho lành lặn?” [51] Lê
Quốc Hiếu đưa ra đánh giá Kín trong sự so sánh với các tiểu thuyết khác: “Nếu
như ở Nháp ta thấy, có nồng nặc mùi sex, chuyện sex thì ở Phiên bản lại đề cập chủ yếu đến vấn đề bạo lực Còn ở Kín, cuốn tiểu thuyết được trình làng gần đây nhất lại “dàn trải” ra nhiều vấn đề đang còn tồn tại một cách bức bối
Trang 12Liễu Hạnh… Tuy nhiên, từng đấy vấn đề trong Kín, theo tôi, cũng chỉ nhằm tập trung nổi bật lên vấn đề: thân phận lạc loài, hoang hoải đến hoài nghi vỡ mộng của giới trẻ trong xã hội hiện đại” [22]
Trên trang Thể thao & Văn hóa, Việt Quỳnh đưa ra nhận định về nhân
vật khi đọc Hoang tâm: “Các nhân vật trong tiểu thuyết của anh có thể từ cuộc
sống bước vào, cũng có thể là do anh sáng tạo ra, nhưng tựu trung, họ luôn mang nhiều bi kịch Không đau đớn về thân thể cũng là tâm hồn, không thương tích trên người thì cũng thương tích về ký ức Điểm giống nhau nữa, các nhân vật dù vẻ bề ngoài gai góc, thì bên trong vẫn mang cái âm tính giàu lãng mạn chất nữ, hay chiêm nghiệm, ưa phán xét, giải thích” [47] Tác giả đã nhấn
mạnh “cái âm tính” của nhân vật nữ nhưng chưa đi sâu phân tích kĩ vấn đề
Bên cạnh những bài giới thiệu, bài báo kể trên còn một số bài viết như:
Nguyễn Đình Tú - nhà văn hai trong một (Bùi Việt Thắng); Không có “vùng cấm” trong tiểu thuyết trẻ (Bùi Việt Thắng); Nháp không chỉ là một thông điệp lạnh lùng (Võ Thị Xuân Hà); Văn chương sạch sẽ quá sẽ không còn đời sống
(Sơn Huy); Trình ba Phiên bản về một con người (Thủy Anna); Nhà văn Nguyễn Đình Tú và tiểu thuyết Phiên bản: Tội ác mang gương mặt đàn bà (Hoài Hương); Hoàng Anh với Nháp hay là một sự xới xáo đáng ghi nhận; Lương Nguyên có Nháp với nỗi cô đơn và sex; Phạm Thùy Linh với Phiên bản
góc tiếp cận nhân văn; Nguyễn Tuấn Anh với Phiên bản những mảng tối của cuộc đời; Nga Sơn với Phiên bản hay một cuộc vượt thoát để tìm về với bản ngã; Phong Lan với Nguyễn Đình Tú và hé lộ Kín; Tiểu Quyên với Kín những vòng tròn mồ côi; Dương Tử với Kín và nỗi hoang mang thời đại… Hầu hết các
bài viết trên đã đề cập một số khía cạnh liên quan đến nhân vật trong tiểu thuyết của anh song vẫn là đánh giá, xem xét nhân vật trong một tác phẩm ở những khía cạnh như: Bản tính con người, con người trước sự tác động của hoàn cảnh, tính cách nhân vật, đời sống tâm lí, khát vọng tình dục, nguyên nhân phạm tội của con người… mà chưa có bài viết nào đi sâu tìm hiểu một cách hệ thống về nhân vật nữ trong tất cả các tiểu thuyết của nhà văn trẻ này
Trang 13Tuy nhiên, những bài viết trên cũng là những gợi ý đáng quý để tác giả luận văn có thêm cơ sở đi sâu tìm hiểu thế giới nhân vật nữ trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú
Nghiên cứu về tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú còn phải kể đến một số
luận văn thạc sĩ như: Hiện thực trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú của Phạm Anh Hào; Tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú của Nguyễn Thị Bình; Tiểu thuyết
Nguyễn Đình Tú: sự dung hợp văn học đặc tuyển và văn học đại chúng của
Tuấn Anh; Điểm nhìn nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Đình Tú của Trần
Tố Loan; Phản biện sex trong Nháp của Lê Nhật Tăng … Và đặc biệt là một số
khóa luận đã nghiên cứu và ít nhiều đề cập đến một khía cạnh nào đó liên quan đến thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú như: Tạ Thị Lan
Phương với đề tài: Nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú; Nhóm ngành khoa học xã hội với: Vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết Nguyễn
Đình Tú Các khoá luận này đã tập trung khai thác quan niệm nghệ thuật về con
người, các loại nhân vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật, hoàn cảnh, số phận mang tính chất tổng thể, khái quát về nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú Tuy nhiên, vấn đề về kiểu nhân vật nữ, hoàn cảnh số phận, đời sống tâm, sinh lí, nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ trong tiểu thuyết của nhà văn chưa được đề cập đến hoặc chưa khai thác, khám phá sâu
Những bài viết trên, ở một mức độ nhất định đều có xu hướng tìm ra những nét độc đáo ở các phương diện như: con người trước tác động của hoàn cảnh xã hội, con người bản năng, ý thức nhân phẩm, vấn đề tâm linh, điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ, hình tượng nhân vật… trong từng tiểu thuyết cụ thể Đây
là nguồn tư liệu tham khảo có ý nghĩa quý giá để chúng tôi triển khai đề tài nghiên cứu của mình
Ngoài ra, người thực hiện luận văn còn tham khảo một số bài phỏng vấn
được đăng tải trên các trang web như: “Nháp không chỉ có sex và giết người” (eVan.com), “Tác phẩm của tôi không chỉ có bạo lực + sex” (eVan.com),
“Bạn đọc sẽ không chết chìm trong Kín” (eVan.com), “Nguyễn Đình Tú: Văn
Trang 14dục trong sách mới (http://giaitri)… Thông qua các bài phỏng vấn, Nguyễn
Đình Tú đã chia sẻ những vấn đề liên quan đến tác phẩm, quan niệm, tư tưởng của mình về cuộc đời, con người và văn học có chi phối tới sáng tác của anh Tuy không trực tiếp bày tỏ quan niệm về việc xây dựng nhân vật nữ trong tiểu thuyết nhưng Nguyễn Đình Tú cũng cho thấy những quan điểm riêng về việc xây dựng nhân vật của mình Và đây cũng là cơ sở quan trọng đối với tác giả luận văn khi tiến hành nghiên cứu đề tài này
Qua tìm hiểu các bài, các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy các tác giả đã chỉ ra nét độc đáo và mới mẻ trong cách viết tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú Một số bài viết đã đưa ra những nhận xét, đánh giá tinh tế, sâu sắc mang tính gợi mở về thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú song quả thực qua khảo sát, chúng tôi chưa thấy có công trình nghiên cứu hay bài viết nào đi sâu khám phá, tìm hiểu vấn đề nhân vật nữ trong tiểu thuyết của nhà văn này Vì vậy, đề tài mà chúng tôi thực hiện không trùng lặp với những kết quả nghiên cứu trước đó Trên cơ sở tiếp thu những ý kiến, đánh giá của các tác giả đi trước cùng với sự tìm hiểu của bản
thân, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài Nhân vật nữ trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú Hi vọng, luận văn sẽ góp thêm một cách kiến giải về hình
tượng người phụ nữ trong xã hội hiện đại qua tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Đình Tú Thông qua nghiên cứu này góp phần làm rõ hơn vai trò của Nguyễn Đình Tú trong quá trình cách tân, hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu nhân vật nữ trong tám cuốn tiểu thuyết, cụ thể gồm
các tiểu thuyết sau: Hồ sơ một tử tù (2002), Bên dòng Sầu Diện (2006), Nháp (2007), Phiên bản (2009), Kín (2010), Hoàng tâm (2013), Xác phàm (2014),
Cô mặc sầu (2015)
Trang 154 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn muốn hướng tới khám phá những điểm chung, điểm riêng, trong cách thức xây dựng nhân vật nữ ở tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú Nhận diện các mô hình nhân vật nữ trong tiểu thuyết của nhà văn Tập trung phân tích nhân vật nữ trên các bình diện khác nhau Đi sâu tìm hiểu các thủ pháp nghệ thuật được sử dụng để xây dựng nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung làm sáng tỏ những vấn đề lí luận chung về nhân vật văn học, nhân vật trong tiểu thuyết, chỉ ra những nét nổi bật về nhân vật nữ trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại và nhân vật nữ trong tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Đình Tú Tìm hiểu những đặc điểm và các phương diện nghệ thuật tiêu biểu trong việc xây dựng nhân vật nữ ở tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú
Từ đó cho thấy những đóng góp tiêu biểu của Nguyễn Đình Tú cho văn học Việt Nam đương đại
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau:
5.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đây được xác định là phương pháp chủ đạo của đề tài Trên cơ sở phân tích tám cuốn tiểu thuyết đã được chọn làm đối tượng nghiên cứu, chúng tôi sẽ tổng hợp để chỉ ra những đặc điểm nổi bật của nhân vật nữ trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú
5.2 Phương pháp nghiên cứu thi pháp học: vận dụng lí thuyết thi pháp học về nghệ thuật xây dựng nhân vật để làm nổi bật đặc điểm của hệ thống nhân vật nữ trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú
5.3 Phương pháp khảo sát - thống kê: Chúng tôi sử dụng phương pháp khảo sát - thống kê nhân vật nữ trong sáng tác của Nguyễn Đình Tú trên nhiều phương diện, để từ đó phân loại nhân vật, tìm hiểu thấu đáo hơn các đặc điểm của nhân vật nữ cũng như các thủ pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ trong tiểu thuyết của nhà văn
Trang 165.4 Phương pháp hệ thống: Là một trong những yếu tố cấu thành chỉnh thể tác phẩm, nhân vật nữ được xem xét trong mối tương quan với cả hệ thống nhân vật, với cốt truyện, với giọng điệu, với hệ thống các yếu tố nghệ thuật thể hiện ngoại hình, nội tâm… Sử dụng phương pháp này giúp cho việc tìm hiểu nhân vật nữ trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú đạt đến cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn
5.5 Phương pháp loại hình: sử dụng cách phân chia theo loại hình nhân vật để tìm ra những kiểu nhân vật nữ có đặc điểm chung trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú
5.6 Phương pháp so sánh, đối chiếu: được sử dụng để khu biệt những đặc điểm của các nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú với nhân vật nữ của các nhà văn cùng thời
6 Đóng góp của luận văn
Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ về thế giới nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú
Qua việc nghiên cứu, luận văn đã góp một góc tiếp cận mới đối với tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú thông qua thế giới nhân vật nữ Từ đây khẳng định những đóng góp tiêu biểu và vị trí của nhà văn trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại
Việc nghiên cứu luận văn cũng góp phần khẳng định vị trí của dòng văn xuôi viết về vấn đề an ninh xã hội ở Việt Nam giai đoạn từ sau 1986 đến nay, trong đó Nguyễn Đình Tú là một cây bút tiêu biểu
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần Nội dung của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận chung và hành trình sáng tác của
Nguyễn Đình Tú
Chương 2: Nhân vật nữ với những khuôn diện đa dạng trong tiểu thuyết
Nguyễn Đình Tú
Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật thể hiện nhân vật nữ trong
tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú
Trang 17NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG
VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN ĐÌNH TÚ
1.1 Những vấn đề lí luận chung
1.1.1 Khái niệm nhân vật văn học
Tác phẩm văn học là thành quả của lao động sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Một tác phẩm văn học được tạo nên từ sự phức hợp của nhiều yếu tố trong
đó không thể thiếu yếu tố nhân vật: “Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi vì
đó là hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng” [39, tr.277] Thật vậy, một tác phẩm văn học có thể có nhiều hoặc ít
nhân vật nhưng không tác phẩm nào lại hoàn toàn không có nhân vật Nhân vật luôn là trung tâm của sáng tác văn học, là hình chiếu tư tưởng và năng lực nghệ thuật của nhà văn, là hình thức cơ bản để văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng Chức năng của nó là khái quát những quy luật phong phú của cuộc sống con người, từ đó bộc lộ những hiểu biết, quan niệm và những trăn trở, ước
mơ của người nghệ sĩ
Nhấn mạnh đến chức năng của nhân vật trong tác phẩm văn học, trong
cuốn Từ điển văn học, các tác giả cho rằng nhân vật văn học có chức năng quan trọng trong việc thể hiện nội dung và hình thức của tác phẩm văn học: “Nhân
vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng chủ đề và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc họa Nhân vật do đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng - nghệ thuật của tác phẩm văn học” [44, tr.86 ] Nhân vật đóng vai trò là
yếu tố hàng đầu của tác phẩm, là phương diện để nhà văn truyền tải tư tưởng, thể hiện cá tính sáng tạo của mình, đồng thời mang quan niệm có tính nghệ thuật của nhà văn về thời đại, đặc biệt trong các sáng tác thuộc thể loại tự sự
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, tác giả Lại Nguyên Ân quan niệm:
“Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác
Trang 18vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người Một trong những dấu hiệu
về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống con người” [2, tr.241] Quan niệm
này đã xem xét nhân vật trong mối tương quan với cá tính sáng tạo, phong cách nhà văn, khuynh hướng, trường phái văn học
Còn đây là cách nhìn nhận về nhân vật của nhà nghiên cứu Hà Minh
Đức: “Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó
không phải là sự sao chụp mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách…
Và cần chú ý thêm một điều: thực ra khái niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi rộng hơn nhiều, đó không chỉ là con người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc họa sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm mà còn có thể là những sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách con người… Cũng có khi đó không phải là những con người hoặc có liên quan tới con người, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm” [14, tr.126]
Điểm qua một vài khái niệm trên, chúng ta thấy tuy nhìn nhận nhân vật ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu, phê bình đều thống nhất rằng con người trong tác phẩm văn học chính là nhân vật văn học và nhân vật
ấy là đứa con tinh thần của nhà văn, thể hiện quan niệm và lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn về cuộc đời và con người Nhân vật là đối tượng mà văn học miêu
tả nhằm phản ánh đời sống hiện thực, là yếu tố cơ bản nhất của tác phẩm được xây dựng bằng những phương tiện nghệ thuật mang tính ước lệ thể hiện sự sáng tạo của nhà văn Tuy nhân vật văn học phản ánh đời sống hiện thực nhưng không đồng nhất những con người có thật ngoài đời Chúng có những đặc trưng nghệ thuật và được thể hiện trong tác phẩm bằng các phương tiện văn học thông qua lăng kính chủ quan của nhà văn, nhưng không vì thế mà nhân vật kém phần chân thật Mỗi tác phẩm văn học, không thể thiếu nhân vật văn học bởi vì nó là phương tiện quan trọng nhất của tác phẩm quyết định phần lớn tới
Trang 19các yếu tố như: cốt truyện, chi tiết, ngôn ngữ và thậm chí cả kết cấu Với vị trí quan trọng ấy nhân vật trở thành đối tượng không thể bỏ qua khi tìm hiểu, nghiên cứu về một nhà văn nào đó
1.1.2 Vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học
Như trên đã phân tích, nhân vật không chỉ là tiêu chí đánh giá tài năng nghệ thuật của nhà văn, trong tác phẩm nhân vật còn là phương tiện khái quát
hiện thực: “Chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống
con người, thể hiện những hiểu biết, những ao ước và kì vọng về con người”
[39, tr.279] Nói cách khác nhân vật là phương tiện nghệ thuật để qua đó nhà văn khái quát các vấn đề đời sống và con người, là nơi để nhà văn gửi gắm những quan niệm, những băn khoăn, trăn trở trước các vấn đề cuộc sống
Nhân vật có vai trò quan trọng quyết định nội dung, tư tưởng của tác phẩm:
“Thứ nhất, nhân vật là phương tiện quan trọng để nhà văn khái quát hiện thực đời sống Hiện thực đời sống được tái hiện thông qua thế giới nghệ thuật người nghệ sĩ miêu tả trong tác phẩm mà nhân vật lại là yếu tố không thể thiếu trong thế giới nghệ thuật ấy
Thứ hai, nhân vật là phương tiện khái quát các tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng
Thứ ba, nhân vật là người dẫn dắt ta vào một thế giới đời sống Nói khác đi,
nó là công cụ, là chìa khóa để mở rộng các mảng đề tài mới, rộng lớn và sâu sắc
Thứ tư, nhân vật thể hiện tư tưởng, quan niệm nghệ thuật cũng như lý tưởng thẩm mỹ của tác giả về cuộc đời, con người: “Nhân vật văn học được sáng tạo ra, hư cấu để khái quát và biểu hiện tư tưởng, thái độ đối với cuộc sống Ca ngợi nhân vật là ca ngợi đời, lên án nhân vật là lên án đời, xót xa cho nhân vật là xót xa cho đời Do vậy tìm hiểu nhân vật là tìm hiểu cách hiểu về cuộc đời của tác giả đối với con người” [46, tr.16]
Đối với hình thức tác phẩm, nói như G N Pospelov thì: “Nhân vật là
phương diện có tính thứ nhất trong hình thức tác phẩm Nó quyết định phần lớn
Trang 20Có nghĩa là nhân vật đóng vai trò quyết định tạo nên mối liên kết giữa các yếu
có sức sống lâu bền khi tác phẩm ấy khắc họa rõ nét, chân thực, sinh động hình tượng các nhân vật Đặc biệt đối với thể loại tiểu thuyết, nhân vật có vai trò hết sức quan trọng, bởi tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực ở tất cả mọi giới hạn không gian và thời gian, tái hiện bức tranh hiện thực rộng lớn một cách bao quát, sinh động trên cả bề rộng lẫn chiều sâu của nó Nhân vật trong tiểu thuyết là yếu tố đầu tiên của mọi sự sáng tạo nghệ thuật, là hạt nhân quan trọng để nhà văn giải quyết những vấn đề của xã hội Tìm hiểu nhân vật, người đọc có thể thấy được thái độ, tình cảm, tư tưởng mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm
1.1.3 Nhân vật trong tiểu thuyết
Nếu như nhân vật là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong tác phẩm văn học thì tiểu thuyết lại càng không thể không có nhân vật bởi nhân vật trong
tiểu thuyết là linh hồn của tác phẩm Với đặc trưng là “một thể loại lớn trong
phương thức tự sự, có năng lực phản ánh hiện thực một cách bao quát và sinh động, tái hiện những bức tranh về đời sống thông qua những tính cách và hoàn cảnh điển hình rộng rãi” [4, tr.78] nên số lượng nhân vật trong tiểu thuyết
thường nhiều và được các nhà văn kì công xây dựng, trau truốt, gọt giũa, để nhân vật trở nên hoàn thiện ở mọi phương diện từ ngoại hình, tính cách, phẩm chất đến thế giới nội tâm Khẳng định vai trò của nhân vật trong tiểu thuyết,
nhà văn Nguyễn Đình Thi cho rằng: “Vấn đề trung tâm của nghệ thuật viết tiểu
thuyết là miêu tả con người và con đường đi của họ trong xã hội Người viết tiểu thuyết nghĩ mọi vấn đề phải thông qua nhân vật, xuất phát từ nhân vật hơn
Trang 21là từ sự việc Một cuốn tiểu thuyết có đứng được hay không là ở chỗ nó tạo ra được những nhân vật và cho bạn đọc nhớ được hay không” [55, tr.78]
Nhân vật tiểu thuyết trước hết phải là nhân vật văn học, bên cạnh những đặc điểm chung của nhân vật văn học, nhân vật tiểu thuyết vẫn có những đặc điểm riêng không thể trộn lẫn với các thể loại tự sự khác
Nếu như nhân vật sử thi, nhân vật kịch, nhân vật trong truyện thời kỳ trung đại thường được khắc họa một cách đơn giản, phù hợp với quan niệm của thời đại thì nhân vật trong tiểu thuyết luôn được khắc họa tỉ mỉ và luôn là nhân vật sống Nhân vật trong tiểu thuyết có hình hài, thể xác, tâm hồn… và đặc biệt không xa lạ trong những mối quan hệ cụ thể với đời thường Soi mình vào mỗi nhân vật trong tiểu thuyết người đọc luôn thấy mình với những nỗi niềm, suy
tư, trăn trở rất đời thường Nói như nhà văn Vũ Bằng: “Một nhân vật sống là
một nhân vật phản chiếu cái hình ảnh của đời, là một nhân vật như chúng ta đây, một nhân vật rất gần, rất thân thiết chúng ta, một nhân vật mà nhìn vào đó thấy như nhìn vào lòng ta vậy Một nhân vật sống chứ không phải nói nhiều, hò hét nhiều, hành động nhiều nhưng tự gây ra sự tình, biến cố, chỉ định lấy những cảnh ngộ và cảm nghĩ rất phiền phức Sống ở đây là sống cả vật chất lẫn tinh thần, sống cái đời sống bên ngoài và sống cả cái đời sống bên trong nữa, mà có khi lại sống cái đời sống bên trong nhiều hơn bên ngoài” [3, tr.73] Chính đặc
điểm này đã làm cho nhân vật tiểu thuyết trở nên cụ thể, chân thực như những con người thật của cuộc đời
Vì có cuộc đời khá dài và sinh động như cuộc đời thật nên nhân vật trong tiểu thuyết có một quá trình phát triển tính cách như con người Tất nhiên tính cách của nhân vật tiểu thuyết không tự nhiên sinh ra mà đều phải do nhà văn sáng tạo, đều là hiện thân cho tư tưởng, tình cảm của nhà văn Nhưng tư tưởng của nhân vật trong tiểu thuyết không phải lúc nào cũng đồng nhất với tư tưởng của nhà văn mà nhiều khi nhân vật tiểu thuyết đã tự thân vận động để thay đổi
cả hình hài, tính cách và tự định liệu số phận của mình một cách phù hợp nhất
Nhân vật tiểu thuyết không phải là những con người thụ động mà “là một nhà
Trang 22tư tưởng” (M.Bakhtin), tự thân vận động để mang tư tưởng riêng trên nền hình
hài tư tưởng nhân vật mà nhà văn dự định xây dựng
Trên đây chỉ là một vài đặc điểm nổi bật của nhân vật trong tiểu thuyết
Có thể còn nhiều biểu hiện khác mà các thể loại tự sự khác cũng có tuy nhiên ở tiểu thuyết những đặc điểm này là nổi bật, rõ nét Đó là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu tìm hiểu về nhân vật trong tiểu thuyết nói chung và góp phần khảo sát, tìm hiểu lí giải thế giới nhân vật, đặc biệt là nhân vật nữ trong sáng tác của nhà văn trẻ tài năng Nguyễn Đình Tú
1.2 Vấn đề nữ quyền trong văn học Việt Nam hiện đại
1.2.1 Vấn đề nữ quyền và văn hóa xã hội thời hiện đại
Nữ quyền có thể hiểu là "Quyền bình đẳng của phụ nữ trên mọi lĩnh vực
kinh tế, xã hội và giáo dục Khái niệm nữ quyền nếu hiểu ở cấp độ rộng là quyền lợi của người phụ nữ đặt trong thế tương quan với quyền lợi của nam giới để đạt đến cái gọi là nam nữ bình quyền Ở cấp độ hẹp thì nữ quyền có mối liên quan với các khái niệm như giới tính, phái tính trong văn học Nếu giới tính, phái tính là những công cụ để khu biệt đặc tính giữa hai phái (nam/nữ) thì khái niệm nữ quyền không chỉ dừng lại ở đó mà mục đích của nó hướng tới là sự bình quyền của nam/nữ đồng thời tạo ra hệ quy chuẩn riêng của nữ giới” [dẫn theo 35, tr.7] Ở phương tây thế kỉ XX, nhiều cuộc đấu tranh
cho nữ quyền đã nổ ra một cách mạnh mẽ, tiêu biểu là Đan Mạch Họ đòi quyền được đi bầu Hội đồng hàng tỉnh và thị xã, đòi quyền bình đẳng nam nữ trong chính trị và việc làm Họ lên tiếng đòi nam giới phải có trách nhiệm chung trong việc chăm sóc, nuôi dạy con cái và làm mọi việc nhà Ở Pháp là sự đấu tranh mạnh mẽ với những hoạt động có tính chất lan tỏa rộng khắp cả nước
để nhằm khẳng định quyền của người phụ nữ như: việc sáng lập và điều khiển
tờ báo LaFonde (sự nổi loạn) của bà Marguerite Durand Trong các bài xã thuyết, tờ báo đòi hỏi phụ nữ phải được ghi tên vào danh sách những người được chính phủ Pháp thưởng Bắc Đẩu Bội Tinh, phải được ra tranh cử vào Quốc hội Pháp Bà tích cực đòi quyền được tự do hành nghề, đòi được hưởng lương bằng với nam, quyền người vợ được giữ lương do mình làm ra Còn ở
Trang 23Châu Mĩ, với khẩu hiệu “đàn bà là tương lai nhân loại, thế kỉ XXI là thế kỉ đàn
bà” [32] người phụ nữ đã đấu tranh đòi quyền bình đẳng với nam giới và
khẳng định vị thế của mình Sự đấu tranh mạnh mẽ ấy là tiền đề để Phê bình nữ quyền được hình thành và các lý thuyết về giới được quan tâm từ đấy
Ở Việt Nam những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, cùng với quá trình hội nhập vấn đề phụ nữ đã được đặc biệt quan tâm Ngay từ những năm
đầu thế kỷ XX, trên Đăng cổ tùng báo đã có mục Nhời đàn bà như một diễn
đàn của phụ nữ và cho đến năm 1920 như nhận xét của nhà Việt Nam học
người Úc David Marr: “Phụ nữ và xã hội đã trở thành điểm tập trung chú ý mà
các vấn đề khác thường xoay quanh nó” Điều này phản ánh vai trò quan trọng
và những đóng góp to lớn của phụ nữ Việt Nam trong xã hội Thực ra, những yếu tố của nữ quyền đã có trong văn học truyền thống, đến văn học trung đại
trở nên cụ thể, rõ nét hơn qua những vần thơ trong bài Làm lẽ: “Chém cha cái
kiếp lấy chồng chung” (Hồ Xuân Hương), hay Truyện Kiều Nguyễn Du cũng
có những vần thơ khẳng định quyền tự do lựa chọn tình yêu cho mình của nhân
vật Thúy Kiều với hành động “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” sang nhà Kim Trọng để cùng Thề nguyền Những năm gần đây, vấn đề nữ quyền
được bùng nổ trong văn học đương đại với những cách viết đầy táo bạo Đặc biệt là vấn đề tình dục của nữ giới được đăng tải nhiều trên các trang báo, nhiều diễn đàn, nhiều Blog cá nhân… và được đón nhận với một cái nhìn cởi mở hơn Nếu trước đây, viết về giới nữ, các nhà văn thường chỉ khuôn trong những chuyện lặt vặt, giản dị thì nay họ bung thoát, mổ xẻ cả những vấn đề tế nhị, nhạy cảm nhất, vấn đề tình dục và sinh lí nữ Vấn đề nhạy cảm vốn khó nói ở người phụ nữ nay lại được viết một cách thẳng thừng, không một chút ngại ngần, giấu giếm, thoải mái biểu đạt bằng nhiều dạng thức khác nhau
Như vậy, đánh giá một cách khách quan thì sự đấu tranh đòi quyền bình đẳng của giới nữ cách này, cách khác đều đem đến cho vấn đề nữ quyền trở thành một hiện tượng văn hóa xã hội đáng quan tâm của thời kì hiện đại Trần
Thiện Khanh cho rằng: “Ngày nay, có thể nói, là thời đại văn học nữ (quyền)
bung ra, rộng khắp chưa từng thấy, là thời đại những tiếng nói đã mất bắt đầu
Trang 24nói của “kẻ Khác” vang lên giữa “thế giới của chúng ta”; thời đại phụ nữ bước vào văn học một cách tự tin, đàng hoàng và đầy thách thức: giờ đây tiếng nói trở thành một hành động (lựa chọn, chất vấn, phản kháng…) chứ không là một thân phận như trước kia Bên cạnh những tiếng nói văn học nữ trong nước với sự tham gia của nhiều thế hệ còn có tiếng nói nhiều bè cộng hưởng của văn học nữ hải ngoại” [dẫn theo 21] Rõ ràng vấn đề nữ quyền đã được quan tâm
trong đời sống xã hội Việt Nam
1.2.2 Quá trình phát triển vấn đề nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại và tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú
Trong bài viết Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học
Việt Nam đương đại, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp cho rằng: “Văn học
nữ tính chỉ có thể xuất hiện trong điều kiện xã hội đạt đến một trình độ dân chủ thực sự” [13] Kể từ năm 1986 đến nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của
đất nước và những nỗ lực tạo nên sự bình đẳng về giới đã giúp người phụ nữ thoát khỏi sự áp chế của nam giới Họ có khả năng tồn tại độc lập và có khả năng tự quyết số phận của mình Gắn với người phụ nữ không chỉ là những công việc nội trợ, là quanh quẩn ở góc nhà, xó bếp mà họ đã chủ động và được tham gia nhiều hơn vào các hoạt động xã hội Nhiều phụ nữ được cử giữ những chức vụ cao trong hệ thống chính trị Nhưng quan trọng hơn, một cách tự giác ý thức về giới đã ăn sâu vào tâm thức của đội ngũ cầm bút và tạo nên âm hưởng
nữ quyền trong văn học Ở văn học dân gian, bị áp chế bởi trong tâm lí chung phổ biến của xã hội luôn xác nhận đàn ông là kẻ mạnh, chủ động, chinh phục trong mọi hoàn cảnh, đàn bà luôn luôn bị lệ thuộc nên âm hưởng nữ quyền bị lu
mờ Văn học trung đại với quan niệm “trọng nam khinh nữ”, hình ảnh người phụ nữ được xuất hiện nhiều, mặc dù có bộc lộ tinh thần phản kháng, nổi loạn nhưng chủ yếu vẫn là những tiếng than thân trách phận Phải đến sau 1945, với
sự ra đời của Hội phụ nữ Việt Nam vai trò của người phụ nữ mới đặc biệt được
đề cao Trong nhiều tác phẩm người phụ nữ được hình dung như những người
anh hùng tiêu biểu cho vẻ đẹp của thời đại: Chị Sứ (Hòn đất của Anh Đức), chị
Út Tịch (Người mẹ cầm súng - Nguyễn Thi), Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng -
Trang 25Nguyễn Minh Châu)… Tuy nhiên do yêu cầu của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, đời sống tinh thần của nữ giới mới được khai thác nhiều
ở khía cạnh xã hội mà chưa chú ý đến đặc trưng về giới Vấn đề nữ quyền chủ yếu nằm trong hệ tư tưởng chung của thời đại chứ chưa được nhà văn quan tâm kiến tạo thành tư tưởng nghệ thuật riêng của mình Từ sau 1986, Việt Nam chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của văn học nữ tính mang âm hưởng nữ quyền với sự góp mặt của những cây bút thực sự tài năng: Phong Điệp, Phạm Duy Nghĩa, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Đình Tú… Trong tác phẩm của họ, hình ảnh người phụ nữ được khai thác với nhiều góc cạnh khác nhau, nhiều lối viết khác nhau Ví như vấn đề dục tính ở người phụ nữ trước vốn luôn
bị né tránh thì nay họ lại viết nhiều, và viết khá nhạy bén Có lẽ bởi “Tính dục
có vẻ là mặt trận duy nhất mà phái nam có và chịu thua phái nữ Thành trì bảo
vệ cho phái nam còn một góc hớ hênh là tính dục Do đó không có gì lạ khi phái nữ cần nói lên tiếng nói phản kháng hay nữ quyền thì họ dùng ngay lợi khí tính dục” [58, tr.9]
Trong Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư) hình ảnh người phụ nữ được miêu tả đầy bản năng bạo liệt, trần trụi Đặc biệt là trong tác phẩm Bóng
đè, Đỗ Hoàng Diệu đã mượn hiện tượng bóng đè để miêu tả những pha bị
cưỡng hiếp cực kì chi tiết Qua đó, nhà văn đã khắc họa thành công hình ảnh người phụ nữ với dục tính Cô dùng người nữ và dục tính như một bộ mã để gửi đi một thông điệp của mình cho cuộc sống này: Hãy yêu thương phụ nữ, trân trọng những khát khao mang ý nghĩa bản năng, khát khao được yêu và được quan hệ tình dục Nếu Đỗ Hoàng Diệu mượn giấc mơ để mô tả chuyện
tình dục thì ở I am đàn bà, Y Ban phô bày bản năng dục tính của nhân vật một
cách trực diện, với những ham muốn tình dục được bộc lộ một cách tự nhiên Cùng với những cây bút mới nổi như Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu, Y Ban… các sáng tác của Phong Điệp, Phạm Duy Nghĩa, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo, đem đến cho văn học
Trang 26những tác phẩm mang chiều sâu tư tưởng, phản ánh chân thực hiện thực xã hội phức tạp, những đổi thay trong quan niệm, trong cách sống ở người phụ nữ
Riêng với Nguyễn Đình Tú, tuy không phải tác phẩm nào anh cũng lựa
chọn đối tượng nữ làm nhân vật chính, nhưng chỉ với Diệu (Phiên bản), Quỳnh (Kín), Son Phấn (Hoang Tâm) và những nhân vật nữ phụ trong các tiểu thuyết
khác cho thấy Nguyễn Đình Tú đã kiến tạo hình tượng nữ thành tư tưởng nghệ
thuật riêng của mình Ý thức được trách nhiệm, sứ mệnh của người cầm bút là
phải chia sẻ niềm vui, nỗi đau và thức tỉnh lương tri, Nguyễn Đình Tú thực sự dành cho người phụ nữ một cái nhìn đầy trân trọng, cảm thông Sự cảm thông, trân trọng của nhà văn dành cho nhân vật cũng thật đặc biệt Mới đọc người ta thấy ở đó là sự tha hóa, biến chất nhưng càng đọc lại càng thấy thấm thía một nỗi xót xa, thương cảm cho những người phụ nữ bị xã hội đầy rẫy những cạm bẫy, phức tạp, bị hoàn cảnh sống dồn đẩy để rồi họ bị rơi vào cuộc sống đầy bi kịch, không lối thoát Đặc biệt tính nữ quyền thể hiện rất rõ trong sáng tác của Nguyễn Đình Tú đó là sự đấu tranh quyết liệt để giành giật lấy sự sinh tồn, là chủ động khẳng định bản năng dục tính của người phụ nữ, là khát vọng giải tỏa những ẩn ức và kiếm tìm niềm vui trong tình yêu và sex, là sự đấu tranh không khoan nhượng để chống lại số phận an bài, là khát vọng bá chủ thế giới ngầm,
là sự đấu tranh để giữ lấy lương tri làm người… Đọc tiểu thuyết của anh người đọc không khỏi trăn trở về vấn đề văn học nữ tính chỉ có thể xuất hiện trong điều kiện xã hội đạt đến một trình độ dân chủ thực sự hay chính cái xã hội đạt đến trình độ dân chủ thực sự ấy đã nhào nặn nên những người phụ nữ với nhiều khuôn diện đa dạng, phức tạp mà ngay chính họ cũng chưa hiểu hết mình
1.3 Tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam đương đại
1.3.1 Khái quát chung về tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, cả dân tộc phấn khởi, náo nức bước vào công cuộc xây dựng cuộc sống mới Song nhìn vào thực tiễn hoàn cảnh đất
Trang 27nước sau chiến tranh, cho thấy nước ta gặp vô vàn khó khăn bởi những tổn thất nặng nề mà chiến tranh để lại Đó không chỉ là những tổn thất, mất mát về vật chất, sức người, sức của mà còn hao tổn lớn về tinh thần, tâm lí và làm biến động cả đời sống xã hội, khó có thể bù đắp trong thời gian ngắn Sau chiến thắng, con đường chúng ta đi không phải là con đường bằng phẳng mà phải đối
diện với vô vàn thử thách, chông gai, phải tiếp tục “vấp váp và trả giá”
(Nguyên Ngọc) Cuộc khủng hoảng kinh tế sau chiến tranh diễn ra trầm trọng kéo theo những mâu thuẫn xã hội Những mặt trái của xã hội không ngừng bộc
lộ, phát triển, len lỏi vào tất cả ngõ ngách của đời sống Đời sống văn hóa, văn nghệ chững lại, độc giả dửng dưng với người viết, nhiều nhà văn lâm vào tình trạng bế tắc Ý thức nghệ thuật của số đông người viết và công chúng chưa thực sự bắt nhịp với thời đại, những quan niệm và cách tiếp cận hiện thực vốn quen thuộc trong thời kì trước tỏ ra bất cập, lỗi thời trước hiện thực mới và thị
hiếu độc giả Đây là thời gian mà nhà văn Nguyên Ngọc gọi là “khoảng chân
không trong văn học”, nhưng cũng chính trong khoảng thời gian này đã diễn ra
sự vận động có chiều sâu trong đời sống văn học Văn học đã chuyển từ “cuộc chiến đấu trao quyền sống cho cả một dân tộc” sang một cuộc chiến đấu mới,
dù âm thầm nhưng quyết liệt không kém Đó là “cuộc chiến đấu cho quyền sống của từng cá nhân Văn học đặt trong mối quan hệ với hiện thực đời sống thường nhật đã bộc lộ tất cả sự phức tạp, đa dạng, đa chiều vốn có của nó Sự thay đổi toàn diện và sâu sắc của hiện thực đất nước sau chiến tranh, đặc biệt là sau đổi mới (1986) đã buộc người cầm bút không thể tiếp tục viết theo cách cũ, không thể nhìn cuộc sống bằng đôi mắt cũ mà phải đặt nó trong sự biến động, đổi thay phức tạp, phải thay đổi cách cảm, cách viết của mình để đáp ứng yêu cầu của một giai đoạn văn học mà ở đó diễn ra nhiều cuộc đối chứng gay gắt
như Nguyễn Minh Châu nhận định: “Thời kì này diễn ra một cuộc đối chứng
giữa nhân cách và phi nhân cách, giữa hoàn thiện và phi hoàn thiện, giữa ánh sáng và khoảng bóng tối còn rơi rớt bên trong mỗi tâm hồn, mỗi con người” [5, tr.49] Nhà văn Lê Lựu luôn tự nhủ: “Tôi tự bảo không thể viết như
Trang 28cũ được” Đây chính là tiền đề quan trọng cho sự phát triển, đổi mới văn học
nghệ thuật nói chung và tiểu thuyết nói riêng
Nói về vị trí quan trọng của thể loại tiểu thuyết trong văn học, Dương
Thu Hương trong luận văn Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú có dẫn: “Nhà
văn Nguyễn Quang Thân cho rằng: Nếu cả nền văn học là một hơi thở thổi suốt
từ quá khứ đến tương lai thì tiểu thuyết là dòng cảm xúc chủ đạo mãnh liệt nhất, liên tục nhất của hơi thở ấy” [25, tr.163] Tiểu thuyết chính là “cỗ máy cái” chiếm vị trí trung tâm “xương sống” của văn học, trở thành nghệ thuật
khám phá đời sống, có khả năng chứa đựng lịch sử nhiều cuộc đời Vì thế, tiểu thuyết không quá bỡ ngỡ trong guồng xoay với những đổi thay lớn lao của đất nước và yêu cầu đổi mới văn học Nó nhanh chóng tiếp cận cái mới, cải biến,
kế thừa đặc điểm tiểu thuyết của giai đoạn trước để bộc lộ hết ưu thế và nội lực tiềm tàng, mang về một mùa gặt bội thu với nhiều phương diện cho tiểu thuyết Việt Nam đương đại
* Đối với thể loại tiểu thuyết, sự đổi mới thể hiện trước hết ở việc mở rộng đề tài, khả năng chiếm lĩnh, khám phá và mô tả hiện thực cuộc sống và con nguời
Tiểu thuyết là thể loại luôn luôn thay đổi, biến hóa, “không hoàn kết” bởi nó
“tiếp xúc tối đa với cái đương đại chưa hoàn thành” (M.Bakhtin) Theo cách
diễn đạt của M.Bakhtin, tiểu thuyết khước từ cái nhìn nguyên phiến, đơn diện, một chiều Ở một góc độ nào đó, tiểu thuyết là thể loại mang tính dân chủ nhất trong các thể loại văn học Rõ ràng sau 1986, với sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của nhiều thành phần kinh tế, cùng với nó là sự tồn tại và phát triển của các lĩnh vực thuộc kiến trúc thượng tầng (văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng), con người cũng thay đổi Bên cạnh con người công dân, con người nhập cuộc, nhiều khát vọng hoặc tham vọng; còn xuất hiện các kiểu con người mới mẻ: con người đời tư với những âu lo, bi kịch; con người tự nhiên với những khát vọng bản năng thầm kín; con người hoài nghi, bất an… Đây chính
là mảnh đất màu mỡ, đầy hấp dẫn của tiểu thuyết
Trang 29Trong giai đoạn đất nước đang đứng trước những thách thức mới, đầy khó khăn, những hiện tượng tiêu cực trong xã hội ngày càng phát triển, đạo đức con người ngày một xuống cấp, con người sẵn sàng bất chấp cả pháp luật và những giá trị đạo đức truyền thống mà làm việc ác Ý thức được trách nhiệm của người cầm bút, các nhà tiểu thuyết giai đoạn này không thể chỉ đứng một chỗ mà viết những vấn đề quen thuộc, hay phản ánh hiện thực cuộc sống theo quan điểm chung của xã hội Họ phải không ngừng khám phá, phát hiện những vấn đề mới
mẻ, vấn đề “nóng” mà xã hội quan tâm Đề tài về an ninh xã hội là một trong những đề tài mà nhiều tiểu thuyết giai đoạn này đã dấn thân thử sức Viết về đề tài này đòi hỏi các nhà văn phải dũng cảm, phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, phải biết chấp nhận nguy hiểm Mảng đề tài này được khai thác ở nhiều khía cạnh khác nhau: những tệ nạn trong xã hội, vấn đề tội phạm, mặt trái của đồng tiền, giá trị đạo đức xuống cấp… Thế hệ các nhà văn không ngừng làm mới cho đề tài này bằng những phát hiện, sáng tạo riêng Trước hết phải nói đến thế hệ những người tiền trạm cho đề tài này như nhà văn Lê Tri Kỷ, những người giữ lửa như Nguyễn Hữu Ước và sẽ được nối tiếp bằng thế hệ những nhà văn trẻ đầy nội lực thế hệ 7X, 8X: Nguyễn Hồng Thái, Nguyễn Thị Hồng, Tống Ngọc Hân, Nguyễn Xuân Thủy và đặc biệt là có sự đóng góp của nhà văn trẻ của quân đội Nguyễn Đình
Tú Là những người mở đường, sáng tác của Lê Tri Kỉ ở mảng đề tài này như
Xuân Thiều nhận xét “…chúng ta không thấy những pha ly kỳ, những vụ án
phức tạp tò mò, những cuộc săn đuổi thủ phạm đầy gay cấn, mà chỉ trên nền truyện như thế Ông viết về tình đời tình người” [56] Và Hữu Ước, nhà văn
thuộc lực lượng vũ trang đã tiếp lửa cho đề tài An ninh xã hội bằng việc đào xới sâu hơn những góc tối của xã hội hiện đại và truy tìm nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh những mặt trái, những mặt tiêu cực trong xã hội Còn với thế hệ 7X, 8x, trong tư cách là những nhà văn trẻ của thời đại mở cửa, vừa kế thừa nền tảng của những nhà văn đi trước đồng thời mở rộng phạm vi khai thác vấn
đề an ninh xã hội và phản ánh một cách thẳng thắn, trực diện táo bạo hơn Điều này có thể chứng minh qua các tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú Trong tám
Trang 30sơ một tử tù (2002) đến cuốn tiểu thuyết được xuất bản gần nhất Cô mặc sầu
(2015) trừ Bên dòng Sầu Diện viết về đề tài chiến tranh biên giời phía bắc, còn
lại bảy cuốn tiểu thuyết đều trực tiếp hoặc gián tiếp viết về vấn đề gai góc, đôi khi gây sốc trong đời sống xã hội: trộm cướp, giang hồ, ma túy, băng hoại đạo đức… Điều đáng ghi nhận trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú khi viết ở đề tài này là nhà văn đã phát hiện trong thế giới tội phạm ấy có cả những nhân vật là
nữ và họ trở thành nữ chúa giang hồ Nhà văn phanh phui, miêu tả cụ thể, chi tiết từng biểu hiện trong cách phạm tội của nhân vật nữ Nào là cảnh chém giết, nào là cảnh dằn mặt, cảnh sex đồi trụy, cảnh trốn tù, cảnh ghen tuông, cảnh chạy trốn,… Thế giới tội phạm nữ trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú như một bức tranh thu nhỏ của cả xã hội Việt Nam hiện đại với rất nhiều mặt tiêu cực, với cái ác đang lấn át dần cái thiện Song đằng sau bức tranh thu nhỏ ấy, ta lại thấy ở nhà văn một niềm tin yêu, cảm thông đối với những nữ tội phạm Bởi nhà văn đã đã phát hiện ra nguyên nhân sâu xa dẫn tới chỗ con người nói chung và những người phụ nữ nói riêng trở thành tội phạm để từ đó muốn phục thiện con người Qua trang viết của Nguyễn Đình Tú, người đọc luôn trăn trở: con người phạm tội do đâu, do bản chất họ ác hay do hoàn cảnh xã hội dồn đẩy
họ đến bước đường cùng và họ có khả năng phục thiện không, họ sẽ phục thiện bằng cách nào, ai và điều gì sẽ giúp họ phục thiện…
Bên cạnh đề tài an ninh xã hội, tình dục là vấn đề rất đỗi bình thường của con người Đó là một vấn đề vô cùng nhạy cảm mà trước kia văn học ít
đề cập đến thì nay trở thành vấn đề được nói đến hết sức chân thực mà ở đó nhà văn phát hiện ra những nhu cầu rất đời thường, rất đáng trân trọng ở con người
Tóm lại, tiểu thuyết đúng là một mảnh đất màu mỡ để từ sau 1986 thực
sự trở thành thể loại phát triển với sự xuất hiện của nhiều vấn đề mới, cách khai thác mới
* Về đội ngũ tác giả tiểu thuyết thời kỳ đương đại
Bên cạnh những nhà văn đã thành danh ở giai đoạn trước như Nguyễn Khải hay Nguyễn Minh Châu, tiểu thuyết giai đoạn này còn đánh dấu sự góp
Trang 31mặt của đội ngũ đông đảo những tác giả mà tài năng chỉ thật sự nở rộ ở giai đoạn sau 1975 như: Ma Văn Kháng, Chu Lai, Lê Lựu, Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Mạnh Tuấn, Thái Bá Lợi, Nguyễn Tri Huân, Bảo Ninh, Dương Hướng, Nguyễn Khắc Trường… với hàng loạt tác phẩm chứng tỏ được sức viết khỏe khoắn và sự bắt nhịp kịp thời với tình hình mới của văn học
Và sẽ là thiếu sót khi nói về các tác giả tiểu thuyết thời kỳ đương đại mà không nhắc đến sự đóng góp của thế hệ những nhà tiểu thuyết trẻ 7X, 8X như: Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Ngọc Thuần, Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp, Phạm Duy Nghĩa, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Đình Tú
Nhìn chung, tiểu thuyết Việt Nam đương đại ghi nhận sự có mặt của đội ngũ đông đảo các tác giả tiểu thuyết, bao gồm những người đã thành danh trong giai đoạn trước, những người mà tài năng thật sự vào độ chín ở giai đoạn sau 1975 và cả những người viết tiểu thuyết chỉ mới xuất hiện trong giai đoạn sau 1975, đặc biệt là thời kì đổi mới văn học Chính sự góp mặt của lực lượng tác giả đông đảo như thế đã làm cho tiểu thuyết giai đoạn này có được sự phát triển và diện mạo mới với sự phong phú về số lượng tác phẩm, sự đa dạng về nội dung, đề tài cũng như sự sâu sắc của những tác giả và tác phẩm tiểu thuyết thành công
* Xét trên bình diện ý thức và quan niệm nghệ thuật, tiểu thuyết đương đại đặc biệt từ sau 1986 trở đi đã có nhiều biến chuyển
Ở giai đoạn trước, do ảnh hưởng của chiến tranh nên văn học được nhìn nhận như một vũ khí tư tưởng với nhiệm vụ chính là tuyên truyền nên thường
ca ngợi chiến thắng, ca ngợi anh hùng vĩ đại của dân tộc Vì thế khuynh hướng chủ yếu trong các sáng tác giai đoạn này mang khuynh hướng sử thi Đến nay trước sự thay đổi của hoàn cảnh lịch sử xã hội, yêu cầu văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng phải đổi mới một cách toàn diện Với nhiệm vụ khám phá thực tại, coi trọng và phản ánh đúng sự thật, tiểu thuyết đương đại hướng đến tiếp cận đời sống trên bình diện thế sự, đời tư Vấn đề chủ yếu mà các tác giả tiểu thuyết giai đoạn này quan tâm là vấn đề con người với những trăn trở về số
Trang 32phận và nhân cách trước những thay đổi đang diễn ra trong cuộc sống và trong chính tâm hồn mỗi con người Về mô hình tính cách, bên cạnh những con người anh hùng- con người cộng đồng đã xuất hiện con người thân phận, cá thể, con người mang bi kịch cá nhân Điều này được thể hiện rõ trong tiểu thuyết của nhiều nhà văn trong đó có Nguyễn Đình Tú Tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú bộc lộ quan niệm về con người bản năng, con người thực tại và đặc biệt nhà văn khẳng định dù con người ở hoàn cảnh nào trong họ luôn tồn tại mầm thiện, khát vọng hoàn lương
* Bên cạnh những đổi mới trong ý thức và quan niệm nghệ thuật của mỗi nhà văn, tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới cũng có những cách tân đáng kể
về mặt hình thức nghệ thuật
Trước tiên, đó là những thay đổi trong nghệ thuật trần thuật Nếu như ở phương diện nội dung của tiểu thuyết sau 1975 khuynh hướng nhận thức lại nổi trội lên như khuynh hướng chủ đạo thì ở phương diện nghệ thuật vấn đề nghệ thuật trần thuật cũng nổi bật lên như một vấn đề trọng tâm Trong nghệ thuật trần thuật, các tác giả tiểu thuyết giai đoạn này đã có những thay đổi ở phương thức trần thuật như sự dịch chuyển điểm nhìn từ nhà văn vào nhân vật, sự thay đổi vai kể, sự xen kẽ hay đảo ngược các tình tiết hay cách đưa truyện lồng trong truyện,… Chính những đổi mới trong nghệ thuật trần thuật này đã góp phần thể hiện ý đồ nghệ thuật của nhà văn cũng như tạo nên sự đa dạng, lôi cuốn trong nghệ thuật trần thuật và làm cho người đọc thích thú hơn khi tiếp nhận tác phẩm Ngoài ra, nghệ thuật xây dựng nhân vật hay ngôn ngữ, giọng điệu trong tiểu thuyết giai đoạn này cũng có những điểm khác trước Vượt ra khỏi tính trang trọng của ngôn ngữ tiểu thuyết sử thi, ngôn ngữ tiểu thuyết sau 1975 ngày càng linh hoạt và “đời thường” hơn Hướng đến việc thể hiện các vấn đề cuộc sống và con người đời thường, tiểu thuyết sau 1975 luôn tìm cho mình ngôn ngữ thể hiện phù hợp Ngôn ngữ đời thường mang đậm tính khẩu ngữ, thông tục và đôi khi lại in đậm dấu ấn cá nhân là điểm dễ nhận thấy của ngôn ngữ tiểu thuyết giai đoạn này Giọng điệu của tiểu thuyết sau 1975 cũng là yếu tố nghệ thuật có nhiều thay đổi Nếu như ở giai đoạn trước tiểu
Trang 33thuyết chủ yếu chỉ mang tính một giọng, thường là ngợi ca thì ở giai đoạn sau
1975 cùng với sự đa dạng về nội dung phản ánh, tiểu thuyết đã dần thoát khỏi tính chất đơn giọng để hướng đến tính đa giọng điệu Ở các tác phẩm tiểu thuyết giai đoạn này dường như không chỉ có một vấn đề được đặt ra, không chỉ có một cách nhìn, một thái độ mà luôn có nhiều hơn một và luôn có sự đan xen, pha trộn Chính vì thế mà trong cùng một tác phẩm người đọc có thể nhận thấy nhiều giọng điệu khác nhau và chính điều này cũng mở ra nhiều hướng cho người đọc trong việc tiếp nhận và cảm thụ tác phẩm
1.3.2 Đóng góp của tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú
1.3.2.1 Vài nét về tiểu sử, con người, sự nghiệp sáng tác
Nguyễn Đình Tú người con của miền đất Kiến An, Hải Phòng, sinh ngày
7 tháng 7 năm 1974, tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội năm 1996 và tu nghiệp sĩ quan tại trường Quân chính Quân khu 3 năm 1997 Từ năm 1997 đến năm 2001 Nguyễn Đình Tú công tác tại Viện Kiểm sát quân sự Quân khu 3 Từ năm 2001 anh về công tác tại Ban Văn- Tạp chí Văn nghệ quân đội Hiện tác giả đang giữ các chức vụ: Phó ban Nhà văn trẻ - Hội Nhà văn; Phó chi hội trưởng chi hội Nhà văn Quân đội và Trưởng ban Văn xuôi - Tạp chí Văn nghệ quân đội
Cùng thời với thế hệ các nhà văn trẻ 7X, 8X như Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Vĩnh Tiến, Đỗ Hoàng Diệu… cách đây mười năm Nguyễn Đình Tú đã được
biết đến từ chuyên mục “Tác phẩm tuổi xanh” trên báo Tiền phong Nguyễn
Đình Tú đến với nghề viết văn như một duyên nợ Học ngành Luật và công tác trong ngành luật nhiều năm nhưng cuối cùng lại chọn theo nghiệp văn chương
Anh từng tâm sự “Không thể nói là tôi không yêu ngành luật cũng không thể
nói là ngành văn kiếm nhiều tiền hơn ngành luật Thôi thì đổ cho số phận vậy Rằng kiếp này, tôi phải viết văn chứ không dừng lại ở việc “cáo trạng” hay
“luận tội” người khác Và tôi chấp nhận sự lựa chọn của số phận, tức là chấp nhận từ một tay “sĩ quan quân Pháp” chuyển sang làm một tay “sĩ quan nhà văn” [60]
Có thể nói anh là cây bút viết khá đều tay ở cả hai thể loại truyện ngắn
và tiểu thuyết Cho đến nay, gia tài văn chương của Nguyễn Đình Tú ngoài các
Trang 34tập truyện ngắn khá nổi tiếng đã xuất bản như: Bên bờ những dòng chảy (2001), Không thể nào khác được (2002), Nỗi ám ảnh khôn nguôi (2003), Điệu
Mambo hư ảo (2006) là hàng loạt tiểu thuyết sáng tác trong hơn 10 năm: Hồ sơ một tử tù (2002) - tác phẩm đã được chuyển thể thành phim truyền hình dài tập
có tựa đề Lời sám hối muộn màng trong seri phim Cảnh sát hình sự phát sóng trên VTV1 năm 2006, Bên dòng Sầu Diện (2006), Nháp (2007), Phiên bản (2009), Kín (2010), Hoàng tâm (2013), Xác phàm (2014), Cô mặc sầu (2015)
Nguyễn Đình Tú đã gặt hái được khá nhiều thành công trong quá trình hoạt động ở lĩnh vực văn chương Có thể kể đến một số giải thưởng văn học như: Giải thưởng cuộc thi truyện ngắn Văn nghệ quân đội 1999 - 2000 với các
phẩm Bên bờ những dòng chảy, Qua sông, Những chàng trai sống cùng hoa
săng đắng, Giải thưởng tiểu thuyết Nhà xuất bản Công an nhân dân phối hợp
với Hội nhà văn năm 2002 với tác phẩm Hồ sơ một tử tù, năm 2010 với tác phẩm Phiên bản Giải thưởng 10 năm Bộ Công an với tiểu thuyết Hồ sơ một tử
tù Giải thưởng 5 năm Bộ Quốc phòng với tiểu thuyết Bên dòng Sầu Diện Gần
đây nhất tiểu thuyết Kín của Nguyễn Đình Tú cũng đã lọt vào vòng chung khảo
của hội Nhà văn Việt Nam năm 2011 Song điều đáng nói hơn cả trong thành quả mà nhà văn trẻ nhận được sau quá trình khổ công trên mỗi trang viết đầy tâm huyết là tình cảm yêu mến của độc giả Những tác phẩm của anh đã vượt lên hàng trăm tác phẩm khác để đến với người đọc và chiếm được một vị trí nhất định trong lòng bạn đọc Nói về quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc, cần mẫn, chăm chỉ của Nguyễn Đình Tú, nhà báo Dương Tử dùng cách gọi với
lối ví von, so sánh độc đáo “gã trai phố vác rìu”: “Nguyễn Đình Tú là trai phố,
chẳng nên ví gã như một gã tiều phu và gã cũng chẳng thích được gọi là tiều phu, thế nhưng nếu “lỡ” phải ví như thế thì tôi vẫn nghĩ đến hình ảnh một gã tiều phu miệt mài vung rìu giữa khu rừng có tên gọi cuộc sống Còn gã tiều phu ấy có tên gọi: nhà văn!” [60] Sự ví von ấy của Dương Tử chắc chắn nhận
được sự đồng tình của rất nhiều độc giả bởi Nguyễn Đình Tú cần mẫn, đều đặn viết và đều đặn trình làng các tác phẩm của mình đúng với lời hẹn Bằng sự nỗ lực phấn đấu, miệt mài tìm tòi, sáng tạo, nên dù là người bước vào làng văn
Trang 35“khá muộn” nhưng anh đã chứng tỏ được rằng: “cánh cổng văn chương không
khép lại với ai bao giờ chỉ có điều nhà văn có can đảm đẩy cánh cửa đó ra để bước vào và tự tìm cho mình một lối đi riêng” [24] Ngoài tình yêu văn
chương, Nguyễn Đình Tú còn có sự dũng cảm dấn thân của một người cầm bút nên trải qua những thăng trầm thay đổi của thời gian, anh đã thực sự khẳng định được vị trí của mình trong lòng người đọc
1.3.2.2 Tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú
Đại hội Đảng khóa VI (năm 1986) đã mở ra một cánh cửa mới cho văn học nghệ thuật nói chung Trước những nhu cầu đổi mới, tiểu thuyết Việt Nam bắt đầu có những vận động nhất định cả về đề tài, chủ đề lẫn phương thức biểu hiện Có thể nói, dòng chảy âm thầm và quyết liệt đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với Nguyễn Đình Tú khi chọn thể loại
“công nghiệp nặng” này để sáng tác Trong khoảng hơn 10 năm đầu thế kỷ XXI, Nguyễn Đình Tú đã ra mắt bạn đọc một loạt tiểu thuyết với một lối viết
rất mới mẻ và táo bạo: Hồ sơ một tử tù (2002), Bên dòng Sầu Diện (2006),
Nháp (2007), Phiên bản (2009), Kín (2010), Hoang tâm (2013), Xác phàm
(2014), Cô Mặc Sầu (2015) Điều này đã khẳng định sức sáng tác mạnh mẽ,
đáng nể phục của anh
Hồ sơ một tử tù, tiểu thuyết đầu tay được in năm 2002 ở Nhà xuất bản
Công an nhân dân của Nguyễn Đình Tú ban đầu có tên là Bên kia là cát bụi Tác phẩm đạt giải B trong cuộc thi sáng tác tiểu thuyết, truyện và ký Vì an ninh
Tổ quốc và bình yên cuộc sống giai đoạn 1998 - 2002 do Bộ công an và Hội
nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức Cuốn sách viết về con đường dẫn đến
phạm tội của một sinh viên đầy triển vọng, gióng lên hồi chuông về sự tha hóa lối sống của một bộ phận thanh niên trí thức Cho đến nay cuốn tiểu thuyết đã được tái bản nhiều lần và cũng được chuyển thể thành phim truyền hình dài tập
với tên gọi Lời sám hối muộn màng trong seri phim Cảnh sát hình sự phát sóng
trên VTV1 năm 2006
Trang 36Cuốn tiểu thuyết được giải thưởng 5 năm của Bộ quốc phòng (2004 -
2009) mang tên Bên dòng Sầu Diện viết về đề tài chiến tranh đã khẳng định nội
lực sáng tác tiểu thuyết của nhà văn người lính Nguyễn Đình Tú Đây là cuốn tiểu thuyết viết về đề tài hoàn toàn khác với các tiểu thuyết còn lại của anh Khi chiến tranh kết thúc, đất nước hòa bình, lớp các nhà văn trăn trở kiếm tìm những mảng đề tài mới, phù hợp với yêu cầu của thời đại Đề tài người lính với họ
“không mấy mặn mà” và ít được quan tâm, nhắc tới thì Bên dòng Sầu Diện ra đời
Với chất giọng thương cảm, xót xa nhà văn đã phản ánh thật sống động về chiến tranh với những vết thương lòng khó lành mà những người lính, những con người
đi ra từ cuộc chiến phải gánh chịu là một cố gắng đáng trân trọng
Tiểu thuyết có cái tên khá độc đáo: Nháp (Nxb Thanh niên, 2008), với câu đề từ: “Cuộc đời nháp tôi bằng những số phận” [63] nhà văn Nguyễn Đình
Tú gợi lên cho độc giả nhiều liên tưởng khi tiếp cận tác phẩm, đặc biệt là đối
với độc giả trẻ Có thể hiểu Nháp tức là tiểu thuyết đang nói đến một “thế hệ
Nháp” lúc giao thời của một đất nước, hoặc thi pháp tiểu thuyết được triển khai
dưới dạng bản nháp, hay những nhân vật đang thử nghiệm cuộc sống bằng cách nháp cuộc đời mình dưới nhiều dạng thức… Với một giọng dẫn chuyện rất tự nhiên, cuốn sách đã lôi cuốn người đọc ngay từ những trang đầu tiên Mới ngỡ đầu như đây là cuốn sách viết về sex, bởi lẽ hơn 300 trang sách thì có đến một phần ba là những trường đoạn nóng bỏng và phập phồng với những cảnh huống
ái ân Nhưng thực chất, tác phẩm là sự bày tỏ thái độ của một thế hệ đang muốn bung khởi khỏi những ẩn ức gia đình, những áp chế xã hội và áp lực của cuộc sống đương đại qua sex Thông qua sự biến đổi đầy phức tạp của hai nhân vật chính Đại và Thạch, những con người tiêu biểu cho đời sống của lớp trẻ đương đại, đang trong giai đoạn khát khao khám phá thế giới quanh mình: tình yêu, gia đình, xã hội và khám phá chính bản thân trong mối tương tác với cái đẹp, với văn hóa tính giao đồng chủng tộc và khác chủng tộc Tác phẩm đã lọt vào vòng chung kết cuộc thi viết tiểu thuyết Hội nhà văn Việt Nam 2006 - 2009
Khi Nháp vẫn còn lan tỏa dư âm, “nội lực tiểu thuyết” của Nguyễn Đình
Tú lại tiếp tục được khẳng định bằng cuốn tiểu thuyết thứ tư mang tên Phiên
Trang 37bản Cuốn tiểu thuyết dày 400 trang viết về thế giới tội phạm có sức cuốn hút
người đọc không chỉ bằng cốt truyện hay, thủ pháp mới mẻ mà còn ở việc phân tích chiều sâu tâm lý nhân vật Để lựa chọn con đường đi tốt xấu, thiện ác, con người nhất là thế hệ trẻ phải đối mặt với một cuộc đấu tranh vô cùng khốc liệt giữa lí trí và tình cảm Sự tàn bạo của xã hội giang hồ được phơi bày trần trụi trên nhiều trang sách cùng những trăn trở, day dứt khát khao rất người được
mô tả, mổ xẻ đầy nhân bản Những mảng sáng - tối, thực - ảo đan xen vào nhau, tạo nên một sự mông lung mơ hồ trong cảm thức của người đọc Chưa
có, không có một kết cục duy nhất, mà tất cả đều như đang dang dở, ngổn ngang với những đối lập, tranh chấp, lưu chuyển như cuộc sống ồn ào mà khó hiểu thời hiện tại Phải chăng đó cũng là những băn khoăn, những khao khát
mà Nguyễn Đình Tú muốn gửi vào trong mỗi tác phẩm của mình: “Con người
là những phiên bản nhiệm màu của Chúa” [64, tr.5] Suy nghĩ mang tính
chiêm nghiệm ấy cũng trở thành sợi chỉ xuyên suốt trong những trang viết của
anh Phiên bản là cuốn tiểu thuyết thứ hai của Nguyễn Đình Tú đoạt giải B
cuộc thi sáng tác tiểu thuyết, truyện và ký do Bộ Công an và Hội nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức
Năm 2010 cuốn tiểu thuyết thứ 5 mang tên Kín chính thức ra mắt bạn
đọc Tác phẩm này một lần nữa khẳng định Nguyễn Đình Tú thực sự là một cây bút lực có sức viết khá sung mãn Tài năng của nhà văn đến độ “chín” cả
về lượng và chất Anh đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu đề ra đó là ba năm với
ba cuốn tiểu thuyết Vẫn tập trung khai thác đối tượng là thế hệ trẻ nhưng ở Kín
họ lại không có sự yên ổn về mặt tinh thần, họ tồn tại như những chiếc bóng vật vờ trước sự thay đổi của thời gian Nhà phê bình Nguyễn Thị Minh Thái
thở dài xót xa trước những nhân vật trong Kín khi “họ bị đẩy ra hoặc tự mình
vẫy vùng khỏi gia đình chật hẹp, hoặc mê man đi theo tiếng gọi của bạn bè hay tình ái với những ham muốn bất chợt, bất thường” [51] Như một sự tiếp nối
liền mạch với những tiểu thuyết trước đó của anh, Kín tập trung làm nổi bật
chân dung của bộ phận giới trẻ trong vòng xoay chóng mặt của kinh tế thị trường và bao nhiêu va đập giữa các quan niệm sống Có thuốc lắc, có ăn chơi
Trang 38thác loạn, có quần hôn, lang bạt, bụi đời, có giết người lại có cả văn hóa tâm
linh đạo Mẫu Tuy nhiên, nếu Nháp quá sex, Phiên bản quá bạo lực thì ở Kín là
một giới trẻ quá hoang hoải, lạc loài hoài nghi, vỡ mộng Đây là cuốn tiểu thuyết có kết cấu phức tạp, ẩn giấu nhiều thông điệp về con người trong một xã hội không ngừng thay đổi và rạn nứt
Hoang tâm cuốn tiểu thuyết trinh thám đầy kinh dị được viết xong vào
tháng 1 năm 2013 Không gian của Hoang tâm là không gian lịch sử xoay quanh chiến tranh biên giới phía Tây Nam Song Hoang tâm “không phải là
cuốn tiểu thuyết sử thi, nơi người đọc hi vọng tìm thấy ở đó những trận đánh lớn, chiến lược thể hiện vai trò và tài năng của các tướng lĩnh, hay tinh thần chiến đấu của binh sĩ các bên tham chiến Nguyễn Đình Tú muốn nhấn vào khía cạnh khác, nhỏ lẻ và phân mảnh Cho nên nó “người” hơn” [30] Cuốn
tiểu thuyết đầy huyền bí kể về nhân vật Anh, một chàng sinh viên tốt nghiệp khoa Văn bị động viên vào quân đội tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tây nam và làm nghĩa vụ quốc tế trên nước bạn Campuchia Anh trở về làm thầy giáo nhiều năm trước khi căn bệnh mất ngủ triền miên khiến anh phải tìm về vùng Cửa núi, huyện Yên Thủy để tìm lại giấc ngủ Con đường tìm lại giấc ngủ cũng là con đường của huyền mị, của mông lung, của thao thức và tỉnh thức Chỉ đến khi Anh tìm được lại chính mình với sức vóc đàn ông cường tráng thì giấc ngủ cũng đến với anh, trở lại với anh trong bùi ngùi tiếc nuối Giấc mơ hoang tưởng mà như thực ở khu du lịch Cửa Núi cùng với người con gái điếm với cái tên tạm gọi là Son Phấn như một hành trình đẹp khi con người tìm lại được chính mình giữa bao nhiêu chồng lấn yêu thương và nghi kị, giữa huyền hoặc và sôi động của cuộc đời
Cuốn tiểu thuyết thứ bảy Xác phàm một lần nữa đưa Nguyễn Đình Tú
vào danh sách những nhà văn có nhiều độc giả nhất hiện nay Nhà phê bình Bùi
Việt Thắng nhận định: “Một Nguyễn Đình Tú ngồn ngộn vốn sống, dày dặn trải
nghiệm và đặc biệt cực kỳ phong phú trí tưởng tượng Văn phong vẫn cứ sắc ngọt, hoạt Nhưng bắt đầu chín muồi về độ triết lý” [53]
Trang 39Xác phàm đó là một câu chuyện “ốc mượn hồn”, mượn câu chuyện
đương đại để nói về một sự kiện lịch sử, để qua đó gắn kết lịch sử với hiện tại
Đúng như nhà văn Đào Bá Đoàn nhận xét: “Xác phàm thực ra là một dòng
sông ký ức cuộn chảy của dân tộc Việt thời đoạn một phần ba thế kỷ qua - Ấy là cuộc chiến vệ quốc với kẻ thù truyền kiếp; sự khốc hại của chiến tranh; cái nhân văn trong cảnh ngộ máu; những đớn đau mất mát của thân phận đàn bà;
sự “lệch chuẩn” trong hoàn thiện nhân cách trẻ em - những cơn buồn và những vẻ đẹp hoang đường như một mê sảng của thế giới tiếp tục còn bị đẩy sâu vào vùng tăm tối - đường còn lắm mê loạn, cái đẹp còn còn bị dìm, bị tàn hại bởi bao tảng đá hộc; khát vọng nhân văn còn vời vợi và bản thân nó vẫn gây khát như người bệnh trót uống cả biển mặn mà mặt trời đã đổ lửa, rang tất
cả trong một khung trời…” [dẫn theo 54]
Cũng viết về đề tài hình sự cùng với Hồ sơ một tử tù, Phiên bản là tiểu thuyết viết về tội phạm ma túy mang tên Cô Mặc Sầu (2015) Bối cảnh chính
của tác phẩm là thung lũng Cô Mặc Sầu nhỏ bé, xinh đẹp, nổi tiếng với loài hoa
dạ thảo phong Góc rừng núi thơ mộng ấy bỗng rung động bởi những vụ án thảm khốc liên tiếp xảy ra mà nguyên nhân đều có liên quan đến ma túy khiến cho mảnh đất vốn bình yên nay trở nên u ám, đáng sợ Lần theo dấu vết những người sử dụng, buôn bán ma túy cùng với cuộc trở về tìm lại cội nguồn của nhân vật Việt kiều Min và câu chuyện nhuốm màu huyền bí của bà lão trăm tuổi, các chiến sĩ an ninh không chỉ điều tra được bí ẩn quanh các vụ án mà còn đưa vào tác phẩm góc nhìn về văn hóa, truyền thống và tình người
Như vậy, có thể nói, tiểu thuyết mười năm đầu thế kỷ XXI trong đó có sự góp mặt của tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú đã xác lập được diện mạo riêng từ những thể nghiệm của các cây bút trẻ mang dấu ấn của văn học hậu hiện đại Hơn 10 năm với 8 cuốn tiểu thuyết không chỉ cho thấy sức sáng tạo dồi dào, mãnh liệt của Nguyễn Đình Tú mà còn cho thấy nỗ lực làm mới mình của nhà
Trang 40vẫn chưa tìm thấy những tác phẩm có “sự thống nhất giữa trò chơi và những
ẩn dụ lớn” nhưng như ngạn ngữ phương Tây từng nói: “Khi chưa tìm được cái mình yêu hãy yêu cái mình có” [40, tr.48], sự tâm huyết khát khao thể hiện
cách tân của nhà văn rất cần được khích lệ và hi vọng đó chính là cầu nối để chúng tôi yêu và khám phá được những cái mới trong tiểu thuyết của anh
Tiểu kết chương 1
Dù các nhà nghiên cứu nhìn nhận nhân vật văn học ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng với một tác phẩm văn học, nhân vật chính là phương tiện quan trọng quyết định giá trị, sức sống của tác phẩm đó với thời gian Đặc biệt với thể loại tiểu thuyết, nhân vật quyết định mọi sự sáng tạo nghệ thuật, giúp nhà văn thể hiện quan điểm, tư tưởng của mình về con người, cuộc sống và xã hội Trong văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, tiểu thuyết hướng tới khai thác muôn mặt của đời sống trong đó có vấn đề nữ quyền Bình đẳng giới đã giúp các nhà tiểu thuyết phân tích, lí giải được nhiều phương diện khác nhau ở người phụ nữ Là nhà văn trẻ thuộc thế hệ 7X, từng học ngành Luật, công tác ở Viện Kiểm sát và hiện đang làm việc trong quân đội, Nguyễn Đình Tú có cái nhìn khá toàn diện về đời sống xã hội đặc biệt là phương diện tội phạm và những mặt trái của xã hội mà người phụ nữ cũng là đối tượng góp mặt trong thế giới phức tạp, nhiều cạm bẫy ấy Trong hơn 10 năm sáng tác, Nguyễn Đình Tú
đã ra mắt bạn đọc nhiều truyện ngắn cùng tám cuốn tiểu thuyết và được đánh
giá là “nhà tiểu thuyết lực lưỡng” Cùng với những cây bút có tên tuổi, nhà
văn trẻ Nguyễn Đình Tú viết về vấn đề nữ quyền theo cách riêng Khi viết về giới nữ, dường như anh buộc mọi người phải trăn trở với những số phận đầy bi kịch đau đớn, khó tìm được con đường giải phóng cho chính mình Đây cũng là một trong những đóng góp đáng ghi nhận của nhà văn trẻ Nguyễn Đình Tú trong văn học Việt Nam đương đại