Điều này đã thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài Lịch sử và văn hóa trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh với mong muốn được góp thêm những hiểu biết của mình về nhà văn Nguyễn Xuân Khán
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thành Thi
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2013
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Thành Thi Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phạm Thị Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Văn học và Ngôn ngữ, phòng Sau Đại học đã giảng dạy và gợi mở cho tôi nhiều ý kiến quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Thành Thi – người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên tôi, động viên, chia sẻ, giúp tôi có thêm động lực để hoàn thành luận văn
Phạm Thị Hương
Trang 5Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1
3 Mục đích, ý nghĩa của đề tài 5
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 5
6 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1 – TIỂU THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH TRONG TIẾN TRÌNH TIỂU THUYẾT VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 8
1.1 Vài nét về tiểu thuyết Việt Nam hiện đại 8
1.2 Tiểu thuyết lịch sử trong tiến trình tiểu thuyết Việt Nam hiện đại 13
1.2.1 Khái niệm tiểu thuyết lịch sử 13
1.2.2 Quá trình phát triển của tiểu thuyết lịch sử 14
1.2.2.1 Giai đoạn trước năm 1945 14
1.2.2.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975 17
1.2.2.3 Giai đoạn sau năm 1975 18
1.3 Hiện tượng Nguyễn Xuân Khánh trong tiểu thuyết lịch sử đương đại 19
1.3.1 Vài nét về nhà văn Nguyễn Xuân Khánh 19
1.3.2 Vị trí tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại20 1.4 Tiểu kết 24
CHƯƠNG 2 – THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH – THẾ GIỚI CỦA LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA 25
2.1 Lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh 25
2.1.1 Lịch sử nhìn từ chính sử 26
2.1.1.1 Những sự kiện lịch sử từ chính sử 27
2.1.1.2 Những nhân vật lịch sử từ chính sử 29
2.1.1.3 Lịch sử nhìn từ dã sử 31
Trang 62.1.2.1 Phản ánh những vấn đề của đời sống hiện tại 33
2.1.2.2 Cái nhìn đa chiều về lịch sử 38
2.1.2.3 Lịch sử trong mỗi con người 41
2.2 Văn hóa trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh 43
2.2.1 Yếu tố tâm linh, tôn giáo trong tiểu thuyết 44
2.2.1.1 Yếu tố tâm linh 45
2.2.1.2 Tôn giáo 48
2.2.2 Sự tiếp biến về văn hóa 52
2.2.3 Con người – vẻ đẹp của văn hóa Việt 54
2.3 Lịch sử trong mối quan hệ với các yếu tố văn hóa 55
2.4 Tiểu kết 57
CHƯƠNG 3 – PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH – PHƯƠNG THỨC TÁI HIỆN LỊCH SỬ VÀ TÔ ĐẬM YẾU TỐ VĂN HÓA 59
3.1 Hư cấu nghệ thuật 59
3.1.1 Khái niệm hư cấu 59
3.1.2 Hư cấu về sự kiện 59
3.1.3 Hư cấu trong xây dựng nhân vật 64
3.1.3.1 Hư cấu trong xây dựng nhân vật có thật 64
3.1.3.2 Hư cấu trong xây dựng nhân vật không có thật 66
3.2 Kết cấu và điểm nhìn trần thuật 71
3.2.1 Kết cấu 71
3.2.2 Điểm nhìn trần thuật 75
3.2.2.1 Điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ ba 75
3.2.2.2 Điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ nhất 76
3.2.2.3 Sự đa dạng hóa điểm nhìn 78
3.3 Diễn ngôn trần thuật 80
3.3.1 Diễn ngôn của người kể chuyện 80
3.3.1.1 Lời kể 81
3.3.1.2 Lời tả 82
3.3.1.3 Bình luận 83
Trang 73.3.2.1 Diễn ngôn đối thoại 86
3.3.2.2 Diễn ngôn độc thoại 87
3.4 Tiểu kết 89
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 98
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nền văn học Việt Nam, tiểu thuyết là thể loại ra đời khá muộn nhưng lại có có sức hấp dẫn đặc biệt Cùng với những biến động của lịch sử, tiểu thuyết Việt Nam cũng có những thay đổi nhất định về đối tượng, quan điểm sáng tác,… cho phù hợp với từng giai đoạn và đã đạt được những thành tựu không nhỏ
So với các thể loại khác, tiểu thuyết lịch sử được coi là một thể loại khá đặc biệt bởi có sự pha trộn giữa lịch sử và hư cấu Trong những năm gần đây, tiểu thuyết lịch sử được độc giả quan tâm đặc biệt bởi sự gia tăng không ngừng về số lượng và có những thay đổi mạnh mẽ về nội dung và nghệ thuật
Đến với tiểu thuyết lịch sử, Nguyễn Xuân Khánh được coi là người đi ngược với xu hướng phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Bởi lẽ trong khi nhiều nhà văn đương đại đang có xu hướng truyện ngắn hóa tiểu thuyết thì Nguyễn Xuân Khánh lại quay trở về với hình thức truyền thống của thể loại Minh chứng cụ thể là
ông liên tục cho ra đời những tác phẩm có dung lượng đồ sộ Hồ Quý Ly, Mẫu
Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa là những tác phẩm được đánh giá cao của nhà văn
Với sự kết hợp hài hòa hai yếu tố truyền thống và hiện đại, những tác phẩm trên đã đạt được những hiệu quả rất lớn về nội dung và hình thức Chính do vậy, có khá nhiều tọa đàm cũng như bài nghiên cứu về ba tác phẩm này Tuy nhiên, để nghiên
cứu một cách hệ thống và chi tiết về lịch sử và văn hóa trong ba tiểu thuyết Hồ Quý
Ly, Mẫu Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa lại chưa có công trình nào Điều này đã
thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài Lịch sử và văn hóa trong tiểu thuyết Nguyễn
Xuân Khánh với mong muốn được góp thêm những hiểu biết của mình về nhà văn
Nguyễn Xuân Khánh, về những đóng góp của ông trong việc tái hiện lịch sử và tô đậm yếu tố văn hóa
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Không thể phủ nhận rằng tiểu thuyết lịch sử đang là thể loại thu hút sự quan tâm của rất nhiều độc giả Các công trình nghiên cứu về khuynh hướng này khá nhiều,
Trang 9tuy nhiên chúng tôi chỉ có thể điểm qua một vài công trình tiêu biểu và ít nhiều có liên quan tới đề tài luận văn
Trước hết, phải kể đến công trình Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại của nhà nghiên
cứu Phan Cự Đệ [21] Đây là cuốn sách đề cập một cách khái quát, hệ thống nhất về tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Phần viết về tiểu thuyết lịch sử tuy có được đề cập đến trong tất cả các giai đoạn phát triển của tiểu thuyết hiện đại nhưng tác giả mới
chỉ đưa ra những nhận định khái quát mà không đi vào chi tiết Đến Văn học Việt
Nam thế kỷ XX – Những vấn đề lịch sử và lý luận[22], một lần nữa nhà nghiên cứu
Phan Cự Đệ lại đề cập đến tiểu thuyết lịch sử Tuy nhiên, ở đây tiểu thuyết lịch sử được tác giả dành riêng một chương và được nói đến một cách sâu rộng hơn Sự phân biệt giữa lịch sử và tiểu thuyết lịch sử hay sự khác nhau giữa nhà sử học và tiểu thuyết gia cũng được tác giả đề cập một cách chi tiết Bên cạnh đó, tác giả còn thể hiện những quan điểm, hướng tiếp cận của mình qua những tiểu thuyết lịch sử
tiêu biểu từ những năm đầu thế kỷ XX đến nay, trong đó có tác phẩm Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh Với Vạn Xuân, Hồ Quý Ly trên nền tiểu thuyết lịch sử
của TS Lại Văn Hùng [49], lịch sử ra đời và phát triển của tiểu thuyết lịch sử từ những tiểu thuyết viết bằng chữ Hán đến những năm 1945 được nói đến một cách rõ nét và chi tiết Tuy nhiên, riêng phần tiểu thuyết lịch sử Nam Bộ lại ít được đề cập
tới Vấn đề này chỉ được nghiên cứu một cách sâu sắc qua công trình Tiểu thuyết
lịch sử ở Nam Bộ thời đầu thế kỷ của tác giả Võ Văn Nhơn [56] và công trình Tiểu thuyết lịch sử của Tân Dân Tử của tác giả Phan Mạnh Hùng [35] Cũng nghiên cứu
về đề tài lịch sử, nhà nghiên cứu Phạm Xuân Thạch với tham luận Quá trình cá
nhân hóa hư cấu : Tự sự đương đại Việt Nam về đề tài lịch sử giữa truyền thống và
cá nhân của mình vượt khỏi sự lệ thuộc vào cái nhìn có tính “cộng đồng” về các sự kiện lịch sử” Trong tham luận này tác giả cũng đưa ra ba kiểu nhân vật của tự sự lịch sử đương đại: con người tham gia và làm nên tiến trình lịch sử, con người – nạn nhân của lịch sử và con người kẻ quan sát lịch sử Về phương diện nghệ thuật, luận
văn Nghệ thuật trần thuật trong tám triều vua Lý của Hoàng Quốc Hải của tác giả
Trang 10Lê Thị Thu Trang [74] đã nghiên cứu một cách chi tiết những yếu tố nghệ thuật mà
nhà văn Hoàng Quốc Hải đã sử dụng trong bộ tiểu thuyết của mình: hình tượng
người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật, thời gian trần thuật, diễn ngôn trần thuật
2.2.1 Về lịch sử
Sự thành công của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh đã thôi thúc nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về các tác phẩm của ông Tìm hiểu về lịch sử trong tiểu thuyết
Nguyễn Xuân Khánh, nhà nghiên cứu Đỗ Hải Ninh có bài Quan niệm về lịch sử
trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh (Khảo sát Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng ngàn) [60] Bài viết trên cơ sở tìm hiểu một số quan niệm về lịch sử của tác giả như:
lịch sử qua sự thẩm thấu của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, lịch sử không phải là quá khứ bất biến, lịch sử trong mỗi con người để đi tới lý giải về sự thành công của
hai tác phẩm Tác giả Nguyễn Hoài Nam với bài viết Tiểu thuyết Nguyễn Xuân
định ba cuốn tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng ngàn , Đội gạo lên chùa là tiểu
thuyết lịch sử và có sự đan bện giữa lịch sử và văn hóa trong tác phẩm Trong bài viết này, tác giả đã đề cập tới cách tiếp cận lịch sử cùng những trăn trở của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh Bên cạnh đó tác giả cũng khẳng định tài năng của Nguyễn Xuân Khánh khi phát hiện và khai thác được cái “lõi” của văn hóa Việt Bài viết có những nghiên cứu về lịch sử, cách tiếp cận lịch sử và khai thác yếu tố văn hóa của Nguyễn Xuân Khánh, tuy nhiên trong khuôn khổ của 10 trang giấy thì tác giả khó
mà nói được hết những vấn đề liên quan tới lịch sử và văn hóa của tác phẩm Về những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, nhà phê bình
Lã Nguyên có bài Về những cách tân nghệ thuật trong Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng
chính yếu đã làm nên thành công của ba cuốn tiểu thuyết nói trên, bao gồm: đổi mới nguyên tắc truyện kể theo xu hướng tiểu thuyết hóa, ngôn ngữ kết cấu và chiều sâu không gian truyện kể, văn hóa xử thể và cặp đối lập “âm – dương” như là mã tạo nghĩa truyện truyện kể Trong đó, nhà nghiên cứu Lã Nguyên đặc biệt nhấn mạnh
Trang 11cách tân về kết cấu trong những tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh, theo tác giả “kết cấu là ngôn ngữ chính yếu của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh” và đây là cách tân
quan trọng nhất đem lại thành công cho ba tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng
ngàn, Đội gạo lên chùa Với ba tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, nhà nghiên
cứu Phạm Xuân Thạch trong Nguyễn Xuân Khánh, từ cấu trúc nghệ thuật đến cấu
trúc tư tưởng [24] nhận thấy có hiện tượng “phá vỡ tính lưỡng phân của hệ thống
nhân vật” Theo tác giả, hiện tượng trên xuất hiện đầu tiên ở tác phẩm Hồ Qúy Ly
và dần rõ nét hơn ở hai tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên chùa Trong
bài viết này, nhà nghiên cứu Phạm Xuân Thạch cũng đi tìm lời giải cho câu hỏi: phải chăng đằng sau cấu trúc thi pháp trong các sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh
là một cấu trúc tư tưởng?
2.2.2 Về văn hóa
Về văn hóa trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh, nhà nghiên cứu Trần Thị An
với bài viết Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết Mẫu Thượng
ngàn [24] đã đề cập một cách đầy đủ những tín ngưỡng văn hóa của người Việt như: tục thờ thần cẩu, tục thờ thần cây, tín ngưỡng phồn thực ông Đùng bà Đà, tín ngưỡng thờ Mẫu Tuy nhiên, bài viết không đi sâu phân tích, lý giải từng tín ngưỡng
cụ thể mà đặt không gian tiểu thuyết trong bối cảnh văn hóa Việt Nam ở nhiều thời điểm “để chỉ ra sự tác động của tín ngưỡng dân gian lên không gian nghệ thuật của
tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn, qua đó bước đầu nhìn nhận quan điểm của nhà văn
về tín ngưỡng dân gian của người Việt ” Cũng với tác phẩm Mẫu Thượng ngàn, hai tác giả Nguyễn Văn Long và Lê Thị Thủy có bài Mẫu Thượng ngàn – con đường
tìm về cội nguồn văn hóa và sức sống dân tộc [24] Bài viết khẳng định: “Chọn bối
cảnh lịch sử ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, tác giả đã đặt nền tảng văn hóa bản địa trong cuộc tiếp xúc va chạm với văn hóa phương Tây Ở đấy Nguyễn Xuân Khánh chọn điểm nhìn văn hóa – phong tục để soi chiếu vào bản chất cuộc sống, soi chiếu vào những tâm hồn, tính cách, số phận Việt Chọn đạo Mẫu ít nhiều đã bị mai một làm luồng tư tưởng ngầm chảy xuyên suốt cuốn tiểu thuyết chính là một lựa chọn mang tính phát hiện của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh”
Trang 12Với tác phẩm Đội gạo lên chùa tác giả Phan Trọng Hoàng Linh trong bài Đội gạo
của văn hóa Phật giáo, đồng thời đưa ra những lý giải về mối quan hệ tư tưởng, văn hóa Phật giáo với tư tưởng văn hóa khác, về cặp phạm trù thiện – ác trong mối quan
hệ với cuộc sống hiện tại ngày nay
Như vậy, nhìn chung số lượng công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh trên hai phương diện lịch sử và văn hóa là khá nhiều Tuy nhiên để tìm một công trình nghiên cứu một cách sâu rộng và có hệ thống về tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh thì lại rất khó Trên đây, chúng tôi chỉ dẫn ra một vài công trình nghiên cứu về lịch sử và văn hóa trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh Tuy rất ít so với số lượng bài viết về các sáng tác của ông nhưng đều là những công trình tiêu biểu viết về lịch sử và văn hóa trong tác phẩm của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh
3 Mục đích, ý nghĩa của đề tài
Với đề tài Lịch sử và văn hóa trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh, mục đích
của chúng tôi là đi sâu vào tìm hiểu thế nghệ thuật: thế giới của lịch sử và văn hóa
trong bộ ba tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa Bên cạnh
đó tìm hiểu những biện pháp nghệ thuật tác giả sử dụng để tái hiện lịch sử và tô đậm văn hóa Từ đó rút ra những nét riêng, nét mới và khẳng định tài năng của tác giả trong việc tiếp cận lịch sử, dựng lại không gian văn hóa trong tác phẩm
4 Đối tượng và phạm vi của đề tài
Tìm hiểu về văn hóa, lịch sử trên phương diện nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh được coi là đối tượng của đề tài
Nghiên cứu về lịch sử, văn hóa trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh, tuy nhiên
trong luận văn chúng tôi chỉ giới hạn khảo sát ở ba tác phẩm Hồ Quý Ly, Mẫu
Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa Đây là ba tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết lịch
sử và là ba tác phẩm tạo nên tên tuổi nhà văn Nguyễn Xuân Khánh
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi có sử dụng một số phương pháp sau:
Trang 13- Phương pháp loại hình: Chúng tôi đã xem tiểu thuyết lịch sử như một loại hình đặc biệt của tiểu thuyết Từ đó đưa ra hướng nghiên cứu phù hợp với ba
tác phẩm Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa
- Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Từ việc xác định thể loại tiểu thuyết, chúng tôi đã tìm hiểu về nội dung và nghệ thuật các tác phẩm nói trên bằng cách giải mã cấu trúc văn bản các tác phẩm và nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề
- Phương pháp liên ngành: Để nghiên cứu đề tài Lịch sử và văn hóa trong tiểu
thuyết Nguyễn Xuân Khánh chúng tôi đã sử dụng các kiến thức liên ngành về
lịch sử, văn hóa,…
Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu đề tài chúng tôi còn sử dụng một số thủ pháp như: phân tích, thống kê, mô tả,…
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, luận văn trình bày kết quả nghiên cứu theo làm ba
sử đương đại
Chương 2: Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh – thế giới của lịch sử và văn hóa
Chương này chúng tôi triển khai theo ba nội dung:
- Về lịch sử: Chúng tôi tiến hành khảo sát những sự kiện, nhân vật từ chính
sử Từ đó rút ra kết luận về mức độ tham gia và vi trí, vai trò của lịch sử trong tác phẩm Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tìm hiểu quan điểm tiếp cận lịch sử và tư tưởng của tác giả
Trang 14- Về văn hóa: Luận văn chứng minh sự đa sắc về văn hóa trong các tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh Đồng thời khẳng định tài năng của tác giả khi tìm
ra được cái “lõi” của văn hóa Việt
- Mối quan hệ giữa lịch sử và văn hóa: Luận văn khẳng định lịch sử và văn hóa có sự quy chiếu lẫn nhau
phương thức tái hiện lịch sử và tô đậm yếu tố văn hóa
Phần này chúng tôi phân tích những phương thức tự sự trong tiểu thuyết: hư cấu, kết cấu, điểm nhìn trần thuật, diễn ngôn trần thuật Qua đó tìm ra nét mới, nét riêng trong sáng tạo nghệ thuật của nhà văn
Trang 15Chương 1 Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh trong tiến trình tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, tiểu thuyết được định nghĩa là “tác phẩm tự
sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [29; tr.328]
So với Phương Tây và Trung Quốc, tiểu thuyết Việt Nam ra đời muộn hơn
Đầu thế kỷ XVIII với sự ra đời hai tác phẩm tự sự cỡ lớn là Nam triều công nghiệp
diễn chí và Hoàng Lê nhất thống đã đánh dấu sự ra đời của tiểu thuyết Việt Nam
Tuy nhiên, giai đoạn này tiểu thuyết Việt Nam “vẫn thuộc phạm trù của tiểu thuyết phương Đông” và phải đến đầu thế kỷ XX mới bước sang thời kỳ phát triển mới: tiểu thuyết hiện đại
Có nhiều ý kiến khác nhau về tác phẩm khởi đầu cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Có người cho rằng tác phẩm “Truyện thầy Larazo Phiền” của Nguyễn Trọng Quản là tác phẩm mở đầu cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, bởi tiểu thuyết được viết bằng chữ quốc ngữ, mang hơi hướng của tiểu thuyết phương Tây và thoát ly khỏi lối diễn đạt bằng câu văn biền ngẫu lúc bấy giờ “Tôi có dụng
ý lấy tiếng nói thường mọi người hằng nói mà làm ra một truyện hầu cho kẻ sau coi
mà bày đặt cùng in ra ít nhiều chuyện hay, trước là làm cho con trẻ ham vui mà tập
đọc, sau là làm cho dân các xứ biết rằng: người An Nam sánh trí, sánh tài thì cũng chẳng thua ai” Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng “Truyện thầy Lazaro Phiền ” là tiểu thuyết viết bằng chữ quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam, tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu
Phan Cự Đệ, “Tố Tâm xứng đáng là một tác phẩm đầu tiên chuẩn bị cho sự hình
thành của nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại” Tác phẩm với lối kết cấu theo quy
Trang 16luật tâm lý cùng với nội dung phản ánh mới đã tạo nên bước ngoặt cho tiểu thuyết Việt Nam bấy giờ
Từ đây đánh dấu sự ra đời và phát triển của một nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại trải qua ba giai đoạn: Trước 1945, từ 1945 đến 1975, từ 1975 đến nay Trước năm 1945 được coi là giai đoạn phát triển rực rỡ của tiểu thuyết Việt Nam với sự ra đời của Tự lực văn đoàn cùng với sự xuất hiện nhiều khuynh hướng sáng tác mới
Những sáng tác của Tự lực văn đoàn được chia làm ba thời kỳ Thời kỳ thứ
nhất là các tiểu thuyết mang màu sắc lãng mạn về đề tài tình yêu như Hồn bướm mơ
tiên, Gánh hoàng hoa của Khái Hưng; Đoạn tuyệt của Nhất Linh,… Thời kỳ thứ hai
chủ yếu là những tiểu thuyết phong tục và tiểu thuyết tâm lý, luận đề phê phán lễ
giáo và đại gia đình phong kiến như Lạnh lùng của Nhất Linh, Thoát ly của Khái Hưng, Gió đầu mùa của Thạch Lam,… Thời kỳ thứ ba được coi là khoảng thời gian
chín muồi với những tìm tòi nghệ thuật xuất sắc của Tự lực văn đoàn, thể hiện những bế tắc và cuộc đấu tranh nội tâm tìm lẽ sống của tầng lớp thanh niên, trí thức
trước cách mạng như: Bướm trắng, Sợi tóc của Nhất Linh; Đẹp của Khái Hưng…
Sự ra đời của tổ chức Tự lực văn đoàn đã đánh dấu bước trưởng thành của văn học hiện đại Việt Nam, đồng thời hoàn tất bước chuyển đổi từ mô hình văn học truyền thống sang mô hình văn học hiện đại
Cùng với sự phát triển của tiểu thuyết lãng mạn giai đoạn này, tiểu thuyết hiện thực phê phán cũng ra đời và có nhiều thành tựu Người ta thấy trong giai đoạn này xuất hiện rất nhiều cây bút hiện thực cùng với hàng loạt tác phẩm có giá trị về nội dung và nghệ thuật Có thể kể ra một vài tên tuổi như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao,… cùng với những tác phẩm lớn
của nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại: Số đỏ, Bước đường cùng, Tắt đèn, Bỉ vỏ,
Sống mòn,…
Có thể nói tiểu thuyết hiện thực phê phán ra đời là sự đáp ứng một phần nào đó của phong trào yêu nước Điều đó lý giải vì sao trong thời kỳ mặt trận Dân chủ dòng văn học này có lại sự phát triển vượt trội đến như vậy Hàng loạt tác phẩm có giá trị
Trang 17cùng với lực lượng sáng tác đông đảo là điểm nổi bật của giai đoạn này Nhìn chung tiểu thuyết hiện thực phê phán giai đoạn trước 1945 chủ yếu hướng về những số phận cùng khổ của giai cấp công nhân, nông dân, vạch mặt bọn cường hào độc ác,…
Mặc dù còn nhiều hạn chế về vốn sống, thế giới quan, đối tượng phê phán,… nhưng nhìn lại những đóng góp của dòng văn học này chỉ trong thời gian ngắn khiến người ta không khỏi ngỡ ngàng, đặc biệt về mặt thể loại Theo nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ tiểu thuyết hiện thực phê phán đã “xây dựng những tính cách điển hình trong những hoàn cảnh điển hình” [21; tr.116], từ đó bộc lộ được những mâu thuẫn
cơ bản của đời sống xã hội Ngôn ngữ trong tác phẩm cũng nhiều màu sắc, đa dạng
và được cá thể hóa rõ rệt
Giai đoạn 1945-1975 đánh dấu bước chuyển biến mới của tiểu thuyết Việt Nam sang tiểu thuyết xã hội chủ nghĩa Đây là giai đoạn tiểu thuyết Việt Nam đã có những thay đổi vượt bậc về nội dung, đối tượng sáng tác Lớp nhà văn giai đoạn này
đã có những thay đổi quan trọng về nhân sinh quan, thế giới quan Tuy thời gian đầu, phần nhiều cây bút sáng tác vẫn đang trong tình trạng “nhận đường” nhưng họ
đã có những tuyên ngôn thể hiện những thay đổi trong nhận thức
Theo nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ, tiểu thuyết giai đoạn này có được ba vụ
mùa bội thu Đó là những năm 1951-1952 với những tác phẩm như Vùng mỏ của Võ Huy Tâm, Xung kích của Nguyễn Đình Thi,… Cùng với cuộc kháng chiến của dân
tộc, tiểu thuyết thời kỳ này cũng phản ánh một cách nhanh nhạy, nóng hổi về cuộc chiến chống Pháp Phần lớn các sáng tác đều hướng tới công cuộc lao động, sản xuất và chiến đấu của quân và dân ta trên hai mặt trận tiền tuyến và hậu phương “Vụ mùa bội thu” thứ hai là thời kỳ 1958 – 1962 Có thể nói đây là khoảng thời gian tiểu thuyết Việt Nam đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Người ta thấy thời
kỳ này xuất hiện trên văn đàn nhiều tiểu thuyết có giá trị, đa dạng về đề tài và
phong cách: Sống mãi với thủ đô, Một truyện chép ở bệnh viện, Xung đột, Cái sân
gạch,… Nếu như trong thời kỳ trước, nhiều nhà văn mới đang bước vào quãng thời
gian “nhận đường” trước những thay đổi về thế giới quan, nhân sinh quan thì giờ đây trong mỗi tác giả, tác phẩm đã có một độ chín về tư tưởng, nhận thức Cuộc
Trang 18sống mới, con người mới được phản ánh trong tiểu thuyết có chiều sâu hơn, đa dạng nhiều màu sắc hơn Một điểm đặc biệt lưu ý trong thời kỳ này là “đã làm nổi bật lên được khuôn mặt tươi sáng, rạng rỡ, vằng vặc như trăng rằm của con người Việt Nam” [21; tr.154]
Thời kỳ 1966 – 1972 được đánh giá là vụ mùa bội thu thứ ba của tiểu thuyết Việt Nam trong giai đoạn 1945 – 1975 trên cả hai miền Nam Bắc Đây là giai đoạn
đế quốc Mỹ leo thang đánh phá khốc liệt nước ta Trên cả nước đâu đâu cũng sôi sục tinh thần đánh Mỹ Nhiều văn nghệ sĩ cũng xông pha vào nơi tuyến lửa Chính
do vậy tiểu thuyết ra đời trong thời gian này giống như những thiên ký sự ghi chép một cách trung thực những khốc liệt của cuộc chiến Các vấn đề về “Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quần chúng” là những đề tài chính của tiểu thuyết thời kỳ này Cũng vì thế mà tiểu thuyết những năm này chú trọng nhiều hơn trong xây dựng những người anh hùng cách mạng trẻ tuổi – những con
người ưu tú, đầy nhiệt huyết như nhân vật Lữ trong Dấu chân người lính, Mẫn trong Mẫn và tôi hay nhân vật Kan Lịch trong tác phẩm cùng tên Bên cạnh đó vấn
đề “hai thế hệ cầm súng” cũng được đề cập đến trong nhiều tác phẩm Sự dung hòa giữa những người trẻ tuổi và những người lớn tuổi, sự tự hào của thế hệ trẻ đối với bậc cha chú của mình hay sự tự tin, bản lĩnh của thế hệ trẻ trong những năm kháng chiến chống Mỹ khốc liệt là những gì mà nhiều nhà văn muốn nói tới
Năm 1975, hòa bình được lập lại , hai miền Nam Bắc thống nhất, đất nước ta với nhiều sự thay đổi vĩ đại đã kéo theo những đổi thay mạnh mẽ trong lĩnh vực văn học nghệ thuật Nếu như tiểu thuyết Việt Nam trong những năm tháng chống Pháp –
Mỹ có nhiệm vụ phản ánh một cách trung thực và nhanh nhạy nhất về cuộc chiến tranh khốc liệt thì trong những năm sau năm 1975 đã có sự thay đổi rõ rệt
Trong khoảng thời gian 10 năm sau khi hòa bình được lặp lai (1975 - 1985) tiểu thuyết vẫn viết theo hướng sử thi Hiện thực khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ vẫn là đối tượng phản ánh trong các tác phẩm giai đoạn này Tuy nhiên,
so với “mùa tiểu thuyết - sử thi” trước, hiện thực khốc liệt trong các tác phẩm thời
kỳ này đã mất đi tính thời sự, nó đã trở thành quá khứ được chiêm ngưỡng với lòng
Trang 19tự hào vô hạn Giờ đây nhà văn với “độ lùi của thời gian và độ chín của tài năng” đã nhìn cuộc chiến một cách toàn diện và bao quát hơn Những góc khuất trong tâm hồn con người hay những mất mát hi sinh trong cuộc chiến đã được nhiều tác phẩm hướng đến
Từ sau năm 1986 đất nước ta bước vào công cuộc đổi mới trên mọi mặt Văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng cũng có những thay đổi phù hợp với thời bấy giờ Hàng loạt các tác phẩm ra đời với góc nhìn đa diện về cuộc sống, về góc độ đời
tư con người, về xã hội, các mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng… Tiểu thuyết thời kỳ này do vậy “đời” hơn, chân thực và gần với cuộc sống hơn Bên cạnh những thành tựu về nội dung, tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới cũng có nhiều thành công trong việc tìm tòi những cách tân trong nghệ thuật Đó là sự giải phóng cái tôi của người cầm bút, sự đa dạng trong phương thức tiếp cận, đa dạng trong các biện pháp nghệ thuật như: nghệ thuật đồng hiện, nghệ thuật độc thoại nội tâm,…
Cùng với sự vận động của thời gian, tiểu thuyết trong những năm gần đây cũng có những biến thiên ở cả nội dung và nghệ thuật Sự khác biệt so với tiểu thuyết giai đoạn trước đó tập trung nhiều về nghệ thuật xây dựng nhân vật, kết cấu hay dung lượng tác phẩm,… Tiểu thuyết đương đại không chú trọng xây dựng nhân vật theo hướng điển hình Nhân vật không được miêu tả một cách tỉ mỉ về ngoại hình hay hoàn cảnh xuất thân Đó là “những “mảnh vỡ” về ngoại hình, về tính cách, thậm chí cả cái tên của nó cũng không có, hoặc có nhưng không rõ ràng,
không ám ảnh” [67] như những nhân vật trong tác phẩm Ngồi của Nguyễn Bình
Phương, nhân vật trong nhiều tác phẩm của Phạm Thị Hoài,…
Kết cấu truyện lồng trong truyện được sử dụng khá nhiều trong văn học đương đại Do vậy trong một tác phẩm có nhiều truyện cùng tồn tại, các sự kiện, nhân vật, giữa thực và ảo có sự đan xen lẫn nhau
Các nhà văn của tiểu thuyết đương đại hướng nhiều hơn tới một nền tiểu thuyết ngắn Dung lượng trong tác phẩm vì thế được thu gọn hơn nhiều so với những tiểu thuyết giai đoạn trước (riêng các tác phẩm viết về đề tài lịch sử vẫn có
Trang 20một dung lượng đồ sộ, vấn đề này chúng tôi sẽ đề cập tới trong những phần sau) Tính hàm súc, đa nghĩa, tính triết lý cũng được nhà văn khai thác một cách triệt để Như vậy, cùng với những biến động lớn của đất nước, tiểu thuyết hiện đại Việt Nam sau một chặng dài phát triển đã gặt hái được những vụ mùa bội thu Trải qua gần một thế kỷ phát triển, tiểu thuyết đã có một khối lượng tác phẩm đồ sộ cùng với sự đa dạng về loại hình, thể loại Nhiều tác phẩm hiện nay vẫn còn sức sống mãnh liệt, sức lay động đối với nhiều thế hệ bởi những giá trị về nội dung và nghệ thuật mà tác phẩm đó mang lại
1.2.1 Khái niệm tiểu thuyết lịch sử
Tiểu thuyết lịch sử có thể hiểu một cách nôm na là tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử Ở đó có sự song hành, cùng tồn tại hai yếu tố lịch sử và hư cấu Do vậy nhiệm vụ của nhà văn là vừa phải đảm bảo được tính chân thực của lịch sử đồng thời vẫn phát huy được khả năng sáng tạo, hư cấu của mình Chính vì vậy tiểu thuyết lịch sử đã trở thành một thể loại đặc biệt, thu hút sự quan tâm của độc giả
Theo Từ điển văn học tiểu thuyết lịch sử được định nghĩa là “một thuật ngữ
chỉ loại hình tiểu thuyết hoặc tác phẩm tự sự hư cấu lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính” [50; tr.1725] Với định nghĩa này chúng tôi nhận thấy nổi lên hai vấn đề chính đồng thời cũng là đặc trưng của tiểu thuyết lịch sử, đó là: hư cấu và lịch sử Vấn đề này mới xem qua có vẻ mâu thuẫn Bởi lẽ hư cấu là hoạt động sáng tạo tất yếu của tiểu thuyết, còn lịch sử lại là những gì thuộc về quá khứ, đã đóng đinh trong quá khứ Nhà văn phải làm như thế nào để dung hòa được hai yếu tố trên? Làm thế nào để tác phẩm vừa tôn trọng lịch sử, vừa phát huy được khả năng hư cấu của tiểu thuyết? Câu trả lời phụ thuộc vào sự sáng tạo, tài năng của tác giả
Tiểu thuyết lịch sử được phát triển theo hai khuynh hướng Khuynh hướng thứ nhất đặt yếu tố lịch sử làm trọng, nghĩa là nhà văn tự xem mình như là “thư ký trung thành của thời đại” ghi chép một cách tỉ mỉ và chân thực nhất những vấn đề của lịch sử Tôn trọng lịch sử là tiêu chí của những nhà văn thuộc khuynh hướng này Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có một khuynh hướng viết tiểu thuyết lịch sử rất
Trang 21khác biệt Lịch sử ở đây chỉ được sử dụng như cái cớ để tác giả gửi gắm những tâm
tư, suy nghĩ về các vấn đề của cuộc sống hiện tại Nói về vấn đề này, A.Dumas đã từng cho rằng: “Lịch sử với tôi là gì? Nó chỉ là cái đinh để tôi treo những bức họa của tôi mà thôi” [22, tr.175]
1.2.2 Quá trình phát triển của tiểu thuyết lịch sử
Hiện nay có nhiều luồng ý kiến về sự ra đời tiểu thuyết lịch sử ở Việt Nam
Có nhiều người cho rằng tiểu thuyết lịch sử ra đời từ thế kỷ XVIII với sự xuất hiện
của một số tác phẩm văn xuôi viết về đề tài lịch sử như: Nam triều công nghiệp diễn
chí, Thiên Nam liệt truyện, Hoàng Lê nhất thống chí… Trong đó, Nam triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm được coi là tác phẩm khai sinh nền tiểu
thuyết chương hồi Việt Nam và Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái là
tác phẩm đỉnh cao của tiểu thuyết lịch sử Tuy nhiên nhà nghiên cứu Lại Nguyên
Ân và Nguyễn Huệ Chi trong Từ điển văn học lại cho rằng đây mới chỉ là những
truyện ký lịch sử được viết theo lối chương hồi và “về mặt thể tài giữa tư duy tiểu thuyết và tư duy lịch sử đôi khi còn lẫn lộn với nhau ” [50; tr.1728] Phải đến đầu thế kỷ XX “ý thức viết truyện lịch sử mang tính chất hư cấu đã rõ hơn nhiều” và
Trùng quang tâm sử của Phan Bội Châu là một dấu mốc đáng kể Như vậy, do việc
xác định mốc thời gian ra đời của tiểu thuyết lịch sử vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau nên khó có thể nói một cách chính xác về vấn đề này Tuy nhiên, có một điều chắc chắn rằng tiểu thuyết lịch sử viết bằng chữ quốc ngữ chính thức được định hình và phát triển từ đầu thế kỷ XX, đánh dấu một chặng đường mới của thể loại đặc biệt này
1.2.2.1 Giai đoạn trước năm 1945
Cùng với sự phát triển rực rỡ của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam vào giai đoạn này, tiểu thuyết lịch sử cũng có một thời kỳ nở rộ với sự xuất hiện hàng loạt các tác
giả và tác phẩm Nguyễn Trọng Thuật với tác phẩm Quả dưa đỏ ra đời năm 1925, Nguyễn Tử Siêu với rất nhiều tác phẩm như Tiếng sấm đêm đông (1928), Hai bà
đánh giặc (1929), Lê Đại Hành (1929), Vua bà Triệu Ẩu (1929)… Trong lớp nhà
văn viết về đề tài lịch sử những năm đầu thế kỷ XX Nguyễn Tử Siêu được đánh giá
Trang 22là cây bút số một Có ý kiến cho rằng đến Nguyễn Tử Siêu tiểu thuyết lịch sử quốc ngữ thế kỷ XX mới chính thức chào đời Với số lượng tiểu thuyết lịch sử phải nói là
đồ sộ (trong mười năm ông viết mười cuốn tiểu thuyết lịch sử, trong đó có tới tám cuốn được xuất bản)vớiđề tài duy nhất mà ông hướng đến là chống giặc cứu nước Các tác phẩm của Nguyễn Tử Siêu ra đời trong thời gian này nhằm khơi gợi tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc ở mỗi người dân Việt Nam thời bấy giờ
Nói về tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này không thể không nhắc tới tiểu thuyết lịch sử Nam Bộ Có thể nói khuynh hướng viết tiểu thuyết lịch sử là khuynh hướng nổi bật của văn học Nam Bộ thời kỳ này Số lượng nhà văn viết về thể loại tiểu thuyết này khá nhiều: Trương Duy Toản, Lê Hoằng Mưu, Tân Dân Tử, Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh… Sở dĩ tiểu thuyết lịch sử Nam Bộ thời kỳ này có sự nở
rộ như vậy một phần do nhu cầu bức thiết của xã hội: “Những người cầm bút cảm thấy cần phải nói lên những khát vọng của cả một dân tộc, khát vọng muốn tìm lại hồn nước”1 Bên cạnh đó còn nguyên nhân khá quan trọng, đó là các nhà văn Nam
Bộ thời kỳ này phản ứng mạnh mẽ với làn sóng dịch truyện Tàu một cách ồ ạt, không chọn lọc, nhiều người Việt Nam thông thạo sử Tàu hơn lịch sử nước nhà Chính do vậy, nhiều nhà văn Nam Bộ hướng ngòi bút tới thể loại lịch sử là một cách để phổ biến lịch sử nước Nam cho người Việt
Tiểu thuyết lịch sử Nam Bộ những năm trước 1945 được chia làm hai thời kỳ phát triển Thời kỳ đầu tiểu thuyết lịch sử mang tính chất ngoại sử, với các nhà văn đại diện: Trương Duy Toản, Lê Hoằng Mưu Lịch sử ở đây chỉ làm nền để tác giả nói chuyện đời tư, nói những chuyện không có thật trong lịch sử Từ những năm 20 trở đi, tiểu thuyết lịch sử đi theo hướng dã sử với những nhân vật là những anh hùng
dân tộc Nhiều tác phẩm tiêu biểu của thời kỳ này được kể đến như: Lê Triều Lý thị của Phạm Minh Kiên, Việt Nam Lê Thái Tổ của Nguyễn Chánh Sắt, Nam cực tinh
huy của Hồ Biểu Chánh… Đặc biệt với nhiều tác phẩm có giá trị như Giọt máu chung tình, Gia Long tẩu quốc, Gia Long phục quốc,…Tân Dân Tử được xem là
1
Dẫn theo Phan Mạnh Hùng trong bài Tiểu thuyết lịch sử của Tân Dân Tử, đăng trong tạp chí
trường Cao đẳng VHNT &DL Sài Gòn, số 1/2011
Trang 23nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử nổi bật nhất ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX Ông viết nhiều tiểu thuyết về đề tài lịch sử nhưng có lẽ tác phẩm gây được tiếng vang sâu
rộng nhất là Giọt máu chung tình ra đời năm 1925 Tân Dân Tử là người rất có ý
thức trong việc viết lịch sử nhằm truyền tải lịch sử đến với người dân Cũng giống như nhiều nhà văn Nam Bộ cùng thời, các tác phẩm của Tân Dân Tử cũng có một
số hạn chế nhất định như lối văn biền ngẫu, cầu kỳ; tác phẩm vẫn chịu ảnh hưởng mạnh của tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc,…
Nhìn chung, tiểu thuyết lịch sử Nam Bộ những năm 20 -30 tuy còn những hạn chế nhất định nhưng đã có những chuyển biến tích cực về nội dung và nghệ thuật, đặc biệt trong xây dựng nhân vật Nhân vật lịch sử được xây dựng khá sinh động với đa dạng các sắc thái tình cảm của con người
Từ những năm 30 xuất hiện thêm nhiều cây bút viết tiểu thuyết lịch sử vốn
từng là những nhà văn lãng mạn, hiện thực như: Ngô Tất Tố với các tác phẩm Gia
đình Tổng trấn tả quân Lê Văn Duyệt (1935), Lịch sử Đề Thám (1935), Vua Tây – Chúa Nguyễn (1937); Nguyễn Triệu Luật với một số tác phẩm Bà Chúa Chè (1938), Loạn kiêu binh (1938),…; Ai lên phố cát, Chiếc ngai vàng, Gái thời loạn của Lan
Khai,… Tiểu thuyết lịch sử những năm này được thổi một luồng gió mới với sự phát
huy cao độ yếu tố hư cấu của những người cầm bút Tuy nhiên đây cũng là nhược điểm của những nhà văn lãng mạn khi viết tiểu thuyết lịch sử Do quá chú trọng yếu
tố hư cấu – một đặc trưng của tiểu thuyết nên nhiều tác giả đã quên mất tính chính xác của lịch sử, nhiều nhân vật lịch sử vì vậy được lãng mạn hóa, hiện đại hóa, lịch
sử có khi còn bị xuyên tạc trong một số tác phẩm
Đến những năm 40, với sự ra đời của các tiểu thuyết lịch sử: Bà quận Mỹ (1941), Thoát cung vua Mạc (1942), Đêm hội Long Trì (1942), An Tư (1944) của
hai tác giả Chu Thiên và Nguyễn Huy Tưởng, tiểu thuyết lịch sử đã có hướng chuyên biệt hơn khi tỏ ra khá trung thành với lịch sử Đặc biệt các tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng được đánh giá cao không chỉ ở lĩnh vực tiểu thuyết mà còn ở
lĩnh vực kịch lịch sử Với vở kịch Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng đã phát huy cao
độ tài năng hư cấu của mình bởi nhân vật này được nhắc đến rất ít trong lịch sử
Trang 24Qua nhân vật Vũ Như Tô với phần nào được lý tưởng hóa, tác giả đã đặt ra nhiều vấn đề lớn lao như: vấn đề giữa nghệ thuật và cường quyền, mối quan hệ giữa nghệ
sĩ và nhân dân, vấn đề về văn hóa dân tộc,…
1.2.2.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975
Cùng với sự khốc liệt của hai cuộc kháng chiến chống Mĩ, tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này cũng mang âm hưởng chung của nền tiểu thuyết thời đó So với giai đoạn trước tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này nhìn chung có những thay đổi tích cực Mỗi nhà văn khi viết tiểu thuyết lịch sử đã có sự đầu tư kỹ lưỡng hơn trong việc nghiên cứu sự kiện, nhân vật lịch sử; dung lượng tác phẩm cũng lớn hơn phù hợp với âm hưởng sử thi mà các tác phẩm thời kỳ này mang lại Một số tác phẩm nổi bật
của giai đoạn này là: Sống mãi với Thủ đô (1960) của Nguyễn Huy Tưởng; Bóng
nước Hồ Gươm (1970) của Chu Thiên; Quận He khởi nghĩa, Tổ quốc kêu gọi của
Hà Ân;… Nói về tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này cũng cần phải kể đến hai cuốn tiểu thuyết đáng chú ý của văn học hiện đại Việt Nam là: Cửa biển của Nguyên Hồng, Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi Đây là hai tác phẩm phần nào cũng có yếu tố
lịch sử khi dựng lại được không khí của xã hội Việt Nam trong những năm đầy biến động trước 1945 Yếu tố lịch sử đậm nét trong sáng tác của Nguyễn Đình Thi có lẽ
tập trung ở hai vở kịch Nguyễn Trãi ở Đông Quan và Rừng trúc Với hai vở kịch
lịch sử này Nguyễn Đình Thi đã tạo ra cách nhìn mới về nhân vật Những nhân vật lịch sử ở đây “không có sự ngưỡng vọng chiều cao của nhân tài trăm năm mới gặp
mà chỉ có sự đào xuống tầng sâu của mỗi con người cá thể theo nghĩa “một vũ trụ riêng tư không lặp lại bao giờ”” [74; tr.622]
So với khoảng thời gian trước 1945, tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này có số lượng ít hơn hẳn, nhà văn viết về đề tài này cũng không nhiều Nguyên nhân chính
có lẽ do giai đoạn 1945 – 1975 là khoảng thời gian đất nước ta trải qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt chống Pháp – Mĩ Thời gian này chúng ta phải tập trung tất cả lực lượng cho cuộc chiến cả về vật chất lẫn tinh thần Tiểu thuyết lúc này có nhiệm
vụ ghi lại một cách nhanh nhất, sống động, nóng hổi, chân thực về những vấn đề xoay quanh cuộc chiến, trên cả hai mặt trận: tiền tuyến và hậu phương Chính do
Trang 25vậy tiểu thuyết lịch sử với sự đòi hỏi người viết phải có thời gian nghiên cứu một cách nghiêm túc, kỹ lưỡng về lịch sử để đảm bảo độ chính xác đến từng chi tiết, nhân vật lịch sử đã phần nào hạn chế các sáng tác về thể loại này
1.2.2.3 Giai đoạn sau năm 1975
Sau một thời gian khá dài ít được chú ý, tiểu thuyết lịch sử giờ đây đã có một giai đoạn phát triển mới với những cách tân về nghệ thuật, những quan niệm mới về lịch sử,… Rất nhiều tác phẩm được ra đời trong giai đoạn này thu hút sự quan tâm
của độc giả: Núi rừng Yên Thế của Nguyên Hồng; Cờ nghĩa Ba Đình của Thái Vũ;
Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác; Gió lửa của Nam Dao; Con ngựa Mãn Châu, Hội thề của Nguyễn Quang Thân; Tám triều vua Lý của Hoàng Quốc Hải và
bộ tiểu thuyết 4 tập về triều trần của ông: Bão táp cung đình, Thăng Long sụp đổ,
Huyền Trân công chúa, Vương triều sụp đổ; Giàn thiêu của Võ Thị Hảo; Hồ Quý
Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh…
Sự nở rộ của tiểu thuyết lịch sử trong thời kỳ này đã làm không ít người phải đặt câu hỏi: trong xu hướng phát triển của tiểu thuyết đương đại là truyện ngắn hóa, tại sao một thể loại dài hơi như tiểu thuyết lịch sử lại có sự phát triển rực rỡ như vậy? Có thể nói trong những năm gần đây tiểu thuyết lịch sử được người viết và độc giả quan tâm đặc biệt Bởi lẽ khi xã hội càng phát triển, tính cá nhân được đề cao thì lịch sử và “những mâu thuẫn có tính nội tại của xã hội Việt Nam trong quá khứ” [24, tr.150] càng được chú ý Con người tìm về với lịch sử để giải đáp những băn khoăn về quá khứ, để liên hệ với cuộc sống hiện đại và xa hơn nữa để có thêm kinh nghiệm sống cho xã hội hiện tại
Cùng với sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tiểu thuyết lịch sử cũng có những cách tân, những thay đổi mạnh mẽ về nội dung về nghệ thuật Nếu như trước kia khi nhắc tới tiểu thuyết lịch sử người đọc tự hiểu đó là những tác phẩm viết về đề tài lịch sử, tái hiện lại những sự kiện nhân vật lịch sử để thỏa mãn nhu cầu hiểu của con người, thì ngày nay đã có sự thay đổi về quan niệm lịch sử từ nhà văn và người tiếp nhận Lịch sử trong mỗi tác phẩm trở nên sống động hơn, nó không còn là lịch sử cứng nhắc bất biến như trước kia nữa mà lịch sử được tái hiện
Trang 26trong ba chiều quá khứ - hiện tại – tương lai Nhà văn mượn những nhân vật, sự kiện của quá khứ để suy ngẫm về những vấn đề của hiện tại và tương lai Nói về vấn đề này Nguyễn Xuân Khánh cũng từng cho rằng: “Tôi quan niệm rằng tiểu thuyết lịch sử không phải là kể lại lịch sử, minh họa lịch sử mà là phản ánh những vấn đề của con người hiện tại vì chúng ta đang viết cho những người đang sống đọc
vì vậy cần phải đề cập đến những điều mà họ quan tâm” [79]
Bên cạnh đó, cách thức và mục đích phản ánh lịch sử của tiểu thuyết lịch sử đương đại cũng có nhiều khác biệt so với trước Nếu như các tiểu thuyết gia trước kia muốn thông qua tác phẩm để làm người đọc tin vào lịch sử thì những năm gần đây nhà văn lại muốn người đọc tiếp nhận lịch sử theo hướng khác Theo đó, lịch sử trong mỗi tác phẩm “không hoàn toàn là cái đã xảy ra mà là cái có thể xảy ra, lịch
sử trở thành một sáng tạo mới trong mỗi người đọc” Vấn đề này thể hiện rất rõ
trong tác phẩm Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh, chúng tôi sẽ nói rõ hơn ở
những chương sau của luận văn
1.3 Hiện tượng Nguyễn Xuân Khánh trong tiểu thuyết lịch sử đương đại
Nói về tiểu thuyết lịch sử đương đại không thể không nhắc tới Nguyễn Xuân Khánh Có thể nói ông là trường hợp đặc biệt của văn học đương đại với hành trình văn chương có “rất nhiều những chuyển động ngược chiều”
1.3.1 Vài nét về nhà văn Nguyễn Xuân Khánh
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh sinh năm 1933 tại làng Cổ Nhuế, Hà Nội Ông từng là sinh viên Đại học Y khoa Hà Nội Đến hết năm 1952 ông ra vùng tự do tham gia bộ đội Trong một thời gian dài ông ở một đơn vị pháo binh, sau đó dạy văn hóa tại Trường Sĩ quan Lục quân Sau thời gian quân ngũ nhà văn về làm việc tại tạp chí Văn nghệ Quân đội, Báo Thiếu niên Tiền phong Một tai nạn nghề nghiệp khiến nhà văn phải về hưu sớm vào năm 1973 Thời gian sau đó, do biết nghề may nên Nguyễn Xuân Khánh đã cùng vợ con may bán áo ở chợ Giời Trong cuộc đời chìm nổi đó, Nguyễn Xuân Khánh đã rất thích thú với việc dịch sách Nhiều tác
phẩm được ông dịch đã in thành sách như: Tiểu thuyết Những quả vàng của Nathalie Saraute (NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1996); tiểu thuyết Chuông nguyện cầu cho
Trang 27kẻ đã khuất của Taha Ben Jelloun (NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1998); Bảy ngày trên khinh khí cầu của Jules Verne (NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1998); Hoàng hậu Sicile
của Pamela Schoenewaldt (NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1999); Tâm lý học đám đông
của Gustave le Bon (NXB Tri thức, Hà Nội, 2006)
Cùng với việc dịch sách, viết sách cũng là niềm đam mê của Nguyễn Xuân Khánh Ông bắt đầu sự nghiệp văn chương từ những năm 60 của thể kỷ XX với tập
truyện ngắn Rừng sâu Tuy nhiên, vì nhiều lý do mà gần mười năm sau ông mới viết thêm cuốn Miền hoang tưởng và đến tận năm 1990 mới được in với bút danh Đào Nguyễn Sau thời gian đó, ông viết thêm nhiều tác phẩm nữa như: Trư cuồng,
Hai đứa trẻ và con chó mèo xóm núi, và đặc biệt với ba tiểu thuyết gây được tiếng
vang trên văn đàn: Hồ Quý Ly (NXB Phụ nữ, Hà Nội, in lần đầu năm 2000), Mẫu
Thượng ngàn (NXB Phụ Nữ, Hà Nội, in lần đầu năm 2006) và Đội gạo lên chùa
(NXB Phụ nữ, Hà Nội, 2011)
Hiện Nguyễn Xuân Khánh đang sinh sống cùng gia đình ở ngoại ô Hà Nội
1.3.2 Vị trí tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Có thể nói Nguyễn Xuân Khánh là một hiện tượng khá đặc biệt của văn học đương đại Ông bắt đầu viết tiểu thuyết từ khá sớm, tuy nhiên phải đến gần hai mươi năm sau ông mới xuất hiện trở lại trong đời sống văn chương “Hành trình văn chương của Nguyễn Xuân Khánh là một hành trình với rất nhiều những chuyển động ngược chiều Từ trung tâm bị văng ra ngoại biên rồi lại từng bước được tái khẳng định trong văn học trung tâm và được thừa nhận từ phía các thiết chế văn chương chính thống thông qua các giải thưởng văn chương” [24, tr.147] Với ba
tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa ông đã giành được
nhiều giải thưởng có giá trị Giải thưởng Cuộc thi tiểu thuyết (1998 -2000) của Hội Nhà văn Việt Nam, Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội (2001), Giải thưởng Mai
vàng của báo Người lao động (2001), Giải thưởng Thăng Long của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội (2002) dành cho tiểu thuyết Hồ Quý Ly; tiểu thuyết Mẫu
Thượng ngàn giành được hai giải đó là Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội (2006),
Trang 28Giải thưởng Văn hóa Doanh nhân (2007); và mới đây tiểu thuyết Đội gạo lên chùa
cũng đã giành được Giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam Không những thế ba tiểu thuyết nói trên cũng được đông đảo độc giả đón đọc Tính đến năm 2011 riêng
tác phẩm Hồ Quý Ly đã tái bản tới lần thứ 10, Mẫu Thượng ngàn tái bản tới lần thứ
6 và Đội gạo lên chùa vừa mới ra đời đã in tới lần thứ 2 Nói như vậy để thấy văn
chương của Nguyễn Xuân Khánh có sức sống mãnh liệt như thế nào trong nền văn học đương đại
Mặc dù đến năm bảy mươi tuổi, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh mới được công nhận là hội viên hội nhà văn Việt Nam nhưng ông lại là người đến muộn có duyên Có thể nói ông là người có duyên với tiểu thuyết lịch sử, là một đại diện của thế hệ nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử thành công So với nhiều nhà văn khác ông sáng tác không nhiều nhưng những tác phẩm của ông đã góp phần làm nên diện mạo của tiểu thuyết đương đại
Có nhiều nhận định khác nhau trong việc xác định thể loại tiểu thuyết
Nguyễn Xuân Khánh Nhiều ý kiến cho rằng chỉ có Hồ Quý Ly là tiểu thuyết lịch sử còn Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên chùa thuộc về tiểu thuyết văn hóa , phong
tục Tuy nhiên, cũng có không ít nhà nghiên cứu khẳng định cả ba tác phẩm trên đều thuộc thể loại tiểu thuyết lịch sử Chúng tôi thiên về ý kiến thứ hai Để lý giải vấn đề này chúng tôi xin đưa ra một số quan niệm về tiểu thuyết lịch sử
Như trên chúng tôi đã có đề cập tới hai khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử, hoặc là tác giả tự coi mình là “một thư ký trung thành của thời đại” giống như Banzac hay như A.Tolstoi từng khẳng định về tác phẩm của mình: “Bộ tiểu thuyết của tôi chính xác như một tác phẩm nghiên cứu lịch sử và đó là sức mạnh của nó”; hoặc là tác giả chỉ coi lịch sử như là cái cớ: “Lịch sử với tôi là gì? Nó chỉ là một cái đinh để tôi treo những bức họa của tôi mà thôi” (A.Dumas) Nguyễn Xuân Khánh cũng từng bộc lộ quan điểm riêng của mình về thể loại tiểu thuyết đặc biệt này Ông từng nói: “Theo tôi, tiểu thuyết lịch sử có hai loại Một là viết về những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Và người viết không được phép bịa đặt một cách trắng trợn, chỉ có thể hư cấu về tâm lý hoặc thêm những nhân vật hư cấu để soi sáng nhân vật
Trang 29có thực Còn một loại khác là nhà văn xây dựng không khí xưa nhưng nhân vật là nhân vật hư cấu Có một vài nhân vật nhưng chỉ làm bối cảnh cho nhân vật hư cấu
Và lịch sử chỉ là cái đinh treo” [80] Ông cũng có những nhận định về mục đích của thể loại này: “Tôi quan niệm rằng tiểu thuyết lịch sử không phải là kể lại lịch sử, minh họa lịch sử, mà là phản ánh những vấn đề của con người hiện tại vì chúng ta đang viết cho những người đang sống đọc vì vậy cần phải đề cập đến những điều
mà họ quan tâm Người viết lịch sử không thể dựng lại đúng hiện thực mà chỉ là cách nhìn về lịch sử, và cách nhìn ấy, ngôn ngữ ấy được độc giả chấp nhận là được Chính vì thế theo tôi loại tiểu thuyết thứ hai có nhiều đất để người viết dụng võ và người đọc cũng thấy hấp dẫn” [80]
Bên cạnh những sự kiện, khung cảnh lịch sử, các tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh còn cho thấy một dung lượng tác phẩm đồ sộ, dung lượng phản ánh hiện thực phong phú cùng với hệ thống nhân vật đa tuyến, đa nhân cách Với những đặc điểm đó, cùng những quan điểm về thể loại của chính tác giả đã cho thấy nhận định
ba tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa là tiểu thuyết lịch
sử phần nào có cơ sở
Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh có sự “đan bện giữa lịch sử và văn hóa phong tục” Đây là yếu tố tạo nên sức lôi cuốn đặc biệt trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh Lịch sử trong tác phẩm của ông đóng vai trò là chất xúc tác tác động tới mạnh ngầm của văn hóa, phong tục
Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa – ba cuốn tiểu thuyết đề
cập tới ba thời kỳ lịch sử khác nhau Hồ Quý Ly viết về giai đoạn cuối thời Trần đầu thời Hồ Mẫu Thượng ngàn hướng về không khí lịch sử của những năm cuối thế kỷ
XIX, thời kỳ quân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ hai So với hai tác phẩm trước,
Đội gạo lên chùa viết về thời kỳ lịch sử gần đây nhất Đó là khoảng thời gian nhân
dân ta phải trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp và công cuộc cải cách ruộng đất Phải nói rằng lịch sử được Nguyễn Xuân Khánh đề cập đến trong cả ba tiểu thuyết đều là khoảng thời gian có nhiều biến động và đến nay còn nhiều vấn đề chưa được
lý giải Qua các tác phẩm của mình, Nguyễn Xuân Khánh đã có một cái nhìn đa
Trang 30chiều về lịch sử, hướng người đọc đến một cách tiếp nhận lịch sử mới: “Trong tiểu thuyết tất cả là giả định để độc giả rộng quyền hư cấu tưởng tượng, độc giả là người tham dự vào tiểu thuyết, tạo ra những góc nhìn còn ẩn khuất trong lịch sử” [80] Trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh, yếu tố văn hóa như mạch ngầm lan tỏa suốt chiều dài và chiều sâu tác phẩm Trong các tác phẩm của mình Nguyễn Xuân Khánh đặc biệt đề cao đến vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc Có thể nói đây là vấn đề then chốt trong tư duy nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh khai thác yếu tố văn hóa qua nhiều khía cạnh Trước hết đó và vấn đề tiếp biến văn hóa trong quá trình giao lưu với các nền văn hóa khác, sự thay đổi của lịch sử Sau đó khẳng định sự trường tồn của nền văn hóa dân tộc, khẳng định “khả năng hấp thụ và điều chỉnh trong giao lưu văn hóa để làm
giàu có thêm năng lượng sống của văn hóa dân tộc” Trong các tác phẩm Hồ Quý
Ly, Mẫu Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa, Nguyễn Xuân Khánh đặc biệt chú trọng
khai thác yếu tố văn hóa ở góc độ tôn giáo, sự giao lưu, phát triển của mỗi tôn giáo trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau,… và một lần nữa ông lại khẳng định sức mạnh của tôn giáo bản địa- yếu tố tạo nên sức sống của nền văn hóa dân tộc Bên cạnh đó, nhà văn cũng dành khá nhiều thời gian, công sức để viết, miêu tả một cách
tỉ mỉ, sống động về các lễ hội dân gian, về các nét văn hóa dân gian như thú chơi mai, vẽ tranh…
Sự khai thác yếu tố văn hóa qua nhiều chiều, nhiều khía cạnh đã đem lại cho những sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh một sức hấp dẫn riêng Sẽ không phải nói quá khi gọi ông là nhà tiểu thuyết lịch sử và văn hóa, phong tục Trong nền văn học đương đại, không ít tác phẩm viết về lịch sử, cũng không ít tiểu thuyết hướng tới đề tài văn hóa, tuy nhiên để tác phẩm là sự đan bện giữa lịch sử và văn hóa một cách hài hòa như Nguyễn Xuân Khánh đã làm không phải là nhiều Tiểu thuyết của ông
do vậy có một vị trí xứng đáng trên văn đàn và trong lòng độc giả, và ông (một lần nữa chúng tôi nhấn mạnh) là một trong những đại diện tiêu biểu của nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Trang 311.4 Tiểu kết
Trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tiểu thuyết lịch sử tuy có nhiều sự thay đổi trong quan niệm và cách tiếp cận lịch sử nhưng được coi là thể loại khá ổn định Trải qua một thời gian dài phát triển, tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đã có được nhiều thành tựu về số lượng, chất lượng So với tiểu thuyết lịch sử những giai đoạn trước, tiểu thuyết lịch sử đương đại đến gần với độc giả hơn, lịch sử không còn
là quá khứ bất biến mà trở thành những sáng tạo mới trong mỗi người đọc
Giữa lúc tiểu thuyết Việt Nam đang hướng đến những thay đổi về dung lượng, nội dung phản ánh… thì Nguyễn Xuân Khánh lại có sự quay ngược về với tiểu thuyết truyền thống Ông được coi là một trong những đại diện tiêu biểu của tiểu thuyết đương đại Tiểu thuyết của ông là sự đan bện giữa lịch sử và văn hóa phong tục Yếu tố lịch sử và văn hóa được nhà văn khai thác ở nhiều góc độ khác nhau tạo nên những nét độc đáo, mới lạ cho mỗi tác phẩm
Trang 32Chương 2 Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh –
thế giới của lịch sử và văn hóa
Khi tiếp nhận một cuốn tiểu thuyết lịch sử, nhiều nhà nghiên cứu thường có cái nhìn khắt khe hơn so với những thể loại tiểu thuyết khác Đơn giản bởi vì đây là một thể loại đặc biệt của tiểu thuyết – một thể loại vừa đòi hỏi tính chính xác của yếu tố lịch sử vừa đòi hỏi khả năng sáng tạo của người cầm bút
Đọc tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh chúng tôi thấy nổi lên hai vấn đề chính: lịch sử và văn hóa Tuy mỗi tác phẩm yếu tố văn hóa, lịch sử có độ đậm nhạt khác nhau nhưng không thể phủ nhận rằng sự đan bện giữa hai yếu tố này
chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt ba tác phẩm: Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng ngàn, Đội gạo
lên chùa
2.1 Lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh
Cho đến bây giờ nhiều nhà nghiên cứu vẫn còn hoài nghi về ranh giới thể loại trong các tác phẩm Nguyễn Xuân Khánh Sự phân vân giữa tiểu thuyết lịch sử hay tiểu thuyết văn hóa phong tục của nhiều người không phải không có cơ sở Bởi
lẽ trong các tác phẩm của ông, trừ Hồ Quý Ly đã được xác định rõ thuộc tiểu thuyết
lịch sử, còn lại đều mang đậm yếu tố văn hóa, phong tục
Dựa trên quan điểm về tiểu thuyết lịch sử của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu, của chính tác giả Nguyễn Xuân Khánh, cùng với những xu hướng phát triển của thể
loại và một số tiêu chí nhận diện thể loại, chúng tôi cho rằng cả ba tác phẩm Hồ
Quý Ly, Mẫu Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa đều là tiểu thuyết lịch sử (phần này
chúng tôi nói khá rõ ở chương 1)
Lịch sử trong mỗi tác phẩm được tác giả sử dụng với mật độ khác nhau, được tham khảo từ nhiều nguồn khác nhau Đó có thể là lịch sử từ chính sử hay lịch
Trang 33sử từ dã sử Từ lịch sử đến văn bản nghệ thuật không phải là vấn đề đơn giản và tài năng của nhà văn là phải sử dụng lịch sử một cách khéo léo, không khô khan mà vẫn chuyển tải được những quan điểm, tư tưởng của mình
2.1.1 Lịch sử nhìn từ chính sử
Mỗi tác phẩm lịch sử dù sử dụng chất liệu lịch sử ở mức độ nào thì vẫn phải tôn trọng tính chính xác của lịch sử Như chúng tôi đã nói ở chương một, tiểu thuyết lịch sử phát triển theo hai khuynh hướng “một là viết về những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Và người viết không được phép bịa đặt một cách trắng trợn, chỉ có thể
hư cấu về tâm lý hoặc thêm những nhân vật hư cấu để soi sáng nhân vật có thực Còn một loại khác là nhà văn xây dựng không khí xưa nhưng nhân vật là nhân vật hư cấu
Có một vài nhân vật nhưng chỉ làm bối cảnh cho nhân vật hư cấu Và lịch sử chỉ là cái đinh treo” [80] Dù tác phẩm viết theo khuynh hướng nào nhưng việc đầu tiên khi tiếp nhận tiểu thuyết lịch sử đó là phải kiểm chứng lịch sử trong tiểu thuyết với lịch
sử đã qua Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu đòi hỏi tính chính xác và độ tin cậy tuyệt đối của yếu tố lịch sử trong tiểu thuyết Chính do vậy họ khó có thể chấp nhận một tác phẩm phần nào có cách nhìn khác với lịch sử Trường hợp các tác phẩm giả lịch
sử của Nguyễn Huy Thiệp là một ví dụ Không ít người đã tỏ thái độ không đồng tình với cách nhà văn viết về những nhân vật lịch sử Họ cho rằng Nguyễn Huy Thiệp đã tầm thường hóa danh nhân lịch sử khi để vua Quang Trung chửi tục, để một người Pháp phê phán, xúc phạm tới lịch sử và văn hóa Việt Vấn đề này đòi hỏi phải có sự phân biệt một cách rõ ràng giữa lịch sử và lịch sử trong tiểu thuyết Đến đây chúng tôi xin dẫn ra một vài ý kiến để làm rõ hơn về vấn đề này
Milan Kundera đã từng so sánh một cách nôm na rằng: “Lịch sử ghi ngày đó, tháng đó một ông Tổng thống đọc bài diễn văn hùng hồn phát động một cuộc chiến tranh “trừ bạo” Tiểu thuyết gia không quan tâm tới nội dung bài diễn văn đó Tiểu thuyết gia tò mò muốn biết trong thời gian soạn thảo bài diễn văn đó, đám quần thần của quần chúng đã nói những gì, ai văng tục khi nghe ý kiến mình bị phản bác, ai ngay ngáy lo bị ông Tổng thống cách chức vì nịnh không được khéo…” [22, tr.167] Về vấn đề này nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức trong cuốn
Trang 34Nguyễn Huy Tưởng cũng có những nhận định riêng: “Việc nghiên cứu lịch sử là vô
cùng cần thiết đối với nghệ sĩ, nhưng sự nghiên cứu ấy không thể thay thế sự sáng tạo Có khi nhà nghệ sĩ chỉ cần vài khoảnh khắc trong đời sống của nhân vật lịch sử;
có khi nghệ sĩ đưa vào tác phẩm những điều phi lịch sử không quan trọng, thậm chí, trong một chừng mực nào đó, có quyền vi phạm sự đúng đắn về mặt sự kiện lịch sử, bởi vì tác giả chỉ cần sự đúng đắn lý tưởng mà thôi” [22; tr.166] Như vậy lịch sử trong tiểu thuyết là lịch sử được nhà văn viết lại bằng tài năng sáng tạo và hư cấu của mình trên cơ sở vẫn tôn trọng lịch sử Chính do vậy “các nhân vật của tiểu thuyết lịch sử phải sinh động hơn các nhân vật lịch sử, vì các nhân vật của tiểu thuyết lịch sử được trao cho sự sống, còn các cá nhân lịch sử thì đã sống” [18; tr.131]
Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa viết về ba thời kỳ lịch sử
khác nhau Dung lượng lịch sử trong mỗi tác phẩm cũng không đồng nhất Khảo sát yếu tố lịch sử trong mỗi tác phẩm chính là quá trình tìm hiểu vị trí lịch sử và cách tiếp cận lịch sử của tác giả
2.1.1.1 Những sự kiện lịch sử từ chính sử
Do mỗi tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh đề cập tới mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, vì vậy nguồn đối chiếu chúng tôi sử dụng cũng khác
Với Hồ Quý Ly,tác giả gần như đã tái hiện khá đầy đủ cả một giai đoạn triều
Trần với các sự kiện lịch sử dày đặc Để khảo sát vấn đề này chúng tôi đã so sánh
với cuốn chính sử khá tiêu biểu là Đại Việt sử ký toàn thư của soạn giả Lê Văn Hưu,
Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên với bản in Nội Các Quan Bản, Mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697)
Với Mẫu Thượng ngàn, mặc dù xuất hiện khá ít và dường như nằm ngoài
mạch chảy chính của cốt truyện nhưng không thể phủ nhận vai trò của lịch sử trong tác phẩm Có thể nói yếu tố lịch sử là nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển của toàn
bộ câu chuyện Để có những dữ liệu đầy đủ nhất về các mốc thời gian lịch sử trong tác phẩm, chúng tôi đã tìm đọc lịch sử ở nhiều nguồn khác nhau về các sự kiện Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất và lần thứ 2, sự kiện Pháp xây nhà thờ lớn
Trang 35Đến Đội gạo lên chùa yếu tố lịch sử được xuất hiện một cách điểm xuyết qua
một số mốc thời gian, mốc sự kiện như: sự kiện Nhật đảo chính Pháp vào ngày 09.03.1945 (tr.53), cuộc chiến tranh Pháp – Việt (tr.62), quân Pháp tấn công lần thứ hai vào năm 1950 (tr.146), sự kiện Pháp ký hiệp định Giơnevơ (tr.443), sự kiện cải cách ruộng đất miền Bắc (tr.459), phong trào hợp tác hóa nông nghiệp (tr.735), sự kiện thống nhất đất nước (tr.850)
Qua sự so sánh, thống kê các sự kiện lịch sử trong tác phẩm, chúng tôi rút ra một số nhận xét như sau:
Về thời gian lịch sử trong tác phẩm: Ba cuốn tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh viết về ba thời kỳ lịch sử khác nhau, với các quãng thời gian khác
nhau Hồ Quý Ly viết về thời kỳ cuối Trần đầu Hồ với các sự kiện xoay quanh sáu
đời vua (từ đời vua Dụ Tông đến đời Thiếu Đế) và kéo dài suốt một thời kỳ dài từ
năm 1369 đến năm 1400 Đến Mẫu Thượng ngàn nhắc tới các sự kiện lịch sử trong
khoảng hơn 10 năm – sự kiện Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ hai và sự kiện Pháp
cho xây nhà thờ lớn Lịch sử trong Đội gạo lên chùa là lịch sử của suốt quãng thời gian dài từ năm 1945 đến sau khi thống nhất đất nước
Về mức độ tham gia, vai trò của các sự kiện lịch sử có thật trong tác phẩm:
Trong tác phẩm Hồ Quý Ly mức độ và mật độ sử dụng sự kiện khá dày đặc
Với hơn 800 trang của tác phẩm, tác giả đã đề cập khá chi tiết, tỉ mỉ các sự kiện lịch
sử xoay quanh sáu triều vua Điều này cho thấy tác giả đã bám khá sát vào chính
sử Tuy nhiên, không phải vì vậy mà tác phẩm trở thành sự mô phỏng lịch sử Các
sự kiện trong Hồ Quý Ly không phải được kể đến theo trình tự thời gian biên niên
mà được sử sử dụng với dụng ý nghệ thuật riêng của nhà văn Trật tự thời gian các
sự kiện trong tác phẩm được đảo lộn, nhiều sự kiện được nhà văn nhắc đi nhắc lại nhiều lần như: Sự kiện loạn phường chèo Dương Nhật Lễ, sự kiện đánh Chế Bồng Nga, sự kiện Quý Ly viết sách Minh Đạo, Nhiều sự kiện chỉ được nhắc đến trong
Đại Việt sử ký toàn thư bằng vài dòng ngắn ngủi nhưng tác giả lại tái hiện được
một hiện thực đủ đầy Có thể nói Nguyễn Xuân Khánh đã phát huy được tài năng
hư cấu của mình trong việc dựng lại những sự kiện lịch sử
Trang 36Khác với Hồ Quý Ly, những sử kiện lịch sử trong Mẫu Thượng ngàn chỉ
được nhắc đến khá ít, tập trung chủ yếu ở các sự kiện: Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ hai, Pháp đánh nhau với quân Cờ Đen, Pháp xây nhà thờ lớn Đây không phải là những sự kiện mang tính bước ngoặt trong lịch sử, cũng không phải là những sự kiện tác động trực tiếp tới cốt truyện và số phận nhân vật Lịch sử ở đây được tác giả sử dụng như “cái đinh treo” mà thôi Vậy yếu tố lịch sử, cụ thể hơn là sự kiện lịch sử với vai trò là “cái đinh treo” của tác phẩm đã ảnh hưởng như thế nào tới hệ
thống truyện, nhân vật? So với Hồ Quý Ly, những sự kiện trong tác phẩm Mẫu
Thượng ngàn bị thu hẹp hơn cả về không gian và thời gian Sự kiện Pháp đánh
chiếm thành Hà Nội đến sự kiện người Pháp xây nhà thờ lớn diễn ra trong khoảng thời gian hơn mười năm và diễn ra ở Hà Nội Lịch sử ở đây tuy không ảnh hưởng trực tiếp tới mạch chảy của cốt truyện nhưng nó lại có sự tác động tới mạch ngầm văn hóa của một vùng đất Hà Nội văn hiến Nói cách khác lịch sử là chất xúc tác
cho sự diễn tiến của cốt truyện trong Mẫu Thượng ngàn
Đến Đội gạo lên chùa, yếu tố lịch sử lại được khai khác ở một khía cạnh
khác Có thể nói Nguyễn Xuân Khánh đã đặt toàn bộ không gian, sự kiện, nhân vật
hư cấu trong một cái khung của lịch sử Nếu đi tìm những sự kiện lịch sử trong Đội
gạo lên chùa quả thật không đơn giản, bởi lẽ trong tác phẩm chỉ có sự xuất hiện của
những mốc thời gian của sự kiện Ở đây tác giả đã khéo léo sử dụng những mốc thời gian, mốc sự kiện lịch sử làm cái cớ để triển khai cốt truyện Chính do vậy, khi tiếp nhận tác phẩm không ít người đã cho rằng đây không phải là cuốn tiểu thuyết lịch
sử bởi không có sự tham gia của các yếu tố sự kiện, nhân vật đã được ghi lại trong
chính sử Tuy nhiên, cũng giống như Mẫu Thượng ngàn, lịch sử trong tác phẩm Đội
gạo lên chùa giống như “cái đinh treo” để qua đó tác giả bộc lộ những tư tưởng,
quan niệm của mình Tác phẩm dù không có những sự kiện lịch sử cụ thể nhưng tác giả lại làm sống lại được không khí lịch sử của những năm kháng chiến chống Pháp,
Mỹ ở Bắc Bộ thông qua làng Sọ
2.1.1.2 Những nhân vật lịch sử từ chính sử
Trang 37Gắn với những sự kiện được ghi lại trong chính sử là hệ thống nhân vật có thật Lẽ đương nhiên tác phẩm nào sử dụng nhiều sự kiện lịch sử thì sẽ xuất hiện nhiều nhân vật có thật và ngược lại
Ba tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa với mức độ
xuất hiện các sự kiện lịch sử khác nhau, do vậy số lượng nhân vật lịch sử xuất hiện trong tác phẩm cũng khác
Tiểu thuyết Hồ Quý Ly với những nét khắc họa của gần 90% (60/69) nhân
vật có trong chính sử đã tạo nên một bức tranh sống động của thời kỳ cuối Trần đầu
Hồ Người đọc không khó để nhận ra rất nhiều những nhân vật đã được ghi tên trong sử sách, đó là: Hồ Quý Ly, các vị vua đời Trần từ Duệ Tông đến Thiếu Đế, và hàng chục vị tướng tài ba của thời Trần… Mỗi nhân vật dưới ngòi bút của Nguyễn Xuân Khánh đều hiện lên rất sinh động, mang một dấu ấn riêng
Trong tác phẩm, hệ thống nhân vật đều xoay quanh nhân vật chính Hồ Quý
Ly Đây là nhân vật được tác giả quan tâm khai thác nhiều nhất Để xây dựng nhân vật này tác giả đã nghiên cứu rất kỹ những sự kiện, nhân vật lịch sử xoay xung quanh nhân vật đặc biệt này Từ nguồn gốc dòng dõi họ Hồ cho đến những mối quan hệ với các đời vua, tôn thất nhà Trần, những cải cách,… được tác giả đề cập khá chi tiết và rất sinh động Theo đó, Hồ Quý Ly vốn thuộc dòng dõi họ Hồ, quê gốc ở Nghệ An Ông tổ bốn đời của Hồ Quý Ly làm con nuôi cho quan tuyên úy Lê Huấn ở Thanh Hóa, sau đó họ Hồ ở xứ Thanh đổi sang họ Lê Trong lịch sử Việt Nam, Hồ Quý Ly lâu nay vẫn được biết đến là một con người có nhiều chính sách cải cách táo bạo về các mặt hành chính, kinh tế, văn hóa xã hội… Như vậy, khi viết
về Hồ Quý Ly, Nguyễn Xuân Khánh đã bám rất sát lịch sử Rất nhiều sự kiện xoay quanh nhân vật chính được tác giả tái hiện một cách sinh động, chân thực
Nếu như ở Hồ Quý Ly nhân vật lịch sử chiếm đa số, thậm chí có phần lấn át nhân vật hư cấu thì trong tác phẩm Mẫu thượng ngàn số lượng nhân vật có thật lại
rất ít Điều này dễ hiểu bởi nó tương đương với sự kiện lịch sử diễn ra trong tác phẩm Xoay quanh vài ba sự kiện trong khoảng mười bốn năm là bốn nhân vật có thật được ghi lại trong chính sử Đó là: Tổng đốc Hoàng Diệu, Francis Garnier,
Trang 38Henri Rivière, Giám mục Paul-Francois Puginier, Le Myre de Viler Với 5/59 nhân vật, nhân vật lịch sử chiếm hơn 8% số lượng nhân vật trong tác phẩm, có thể nói đây là một con số khá khiêm tốn so với một tác phẩm lịch sử Nói như vậy không phải để phủ nhận khả năng của tác giả mà là sự khẳng định vai trò “cái đinh treo” lịch sử trong tác phẩm Bốn nhân vật lịch sử như là sự minh chứng cho những sự kiện lịch sử diễn ra trong tác phẩm Như trên chúng tôi đã nói, sự kiện lịch sử ở đây tưởng chừng không tác động đến cốt truyện lại có sự ảnh hưởng mạnh mẽ tới mạch ngầm văn hóa của vùng đất văn hiến Vì lẽ đó, nhân vật gắn liền với những sự kiện đóng vai trò như phông nền, chất xúc tác tác động về mặt văn hóa, cụ thể hơn, về tôn giáo tới một làng quê Bắc Bộ
Đến Đội gạo lên chùa, dường như không có sự xuất hiện của những nhân vật
có thật trong lịch sử Hơn 800 trang sách chỉ có sự xuất hiện của cái tên Jean De Lattre de Tassigny được nhắc tới hơn một lần qua một nhân vật hư cấu Tuy nhiên,
tất cả chỉ dừng lại ở đó, nhân vật không đóng vai trò, vị trí gì trong tác phẩm Đội
gạo lên chùa với yếu tố lịch sử được thể hiện cụ thể qua sự điểm xuyết của các mốc
thời gian, mốc sự kiện; cùng hệ thống nhân vật hư cấu nhưng lại làm sống lại không
khí của ba mươi năm lịch sử Sức sáng tạo, tài năng của người cầm bút chính là ở
đây Tác giả chỉ dựng nên vỏ bọc là quãng thời gian lịch sử, còn lại tất cả chỉ là hư cấu nhưng người đọc lại nhận thấy hơi thở, mạch nguồn của lịch sử chảy suốt tác
phẩm
2.1.2 Lịch sử nhìn từ dã sử
Có thể nói trong các tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh, yếu tố dã sử, giai thoại dân gian được tác giả sử dụng khá ít và dường như chỉ tập trung trong tác
phẩm Hồ Quý Ly Cụ thể một số chi tiết được tác giả lấy từ dã sử như: chi tiết về
nguồn gốc họ Hồ (Tr.54), chi tiết về giấc mơ của vua Nghệ Tông với bài thơ báo mộng về Hồ Quý Ly, chi tiết Quý Ly đối lại vế đối của vua Minh Tông (Tr.320, Tr.545), chi tiết về Đạo sĩ Thanh Hư và vua Thuận Tông (Tr.364 – tr.367)
So với hơn tám trăm trang của tác phẩm cùng hàng loạt sự kiện lịch sử, nhân vật bám sát chính sử thì những chi tiết mang yếu tố dã sử, giai thoại dân gian trên
Trang 39chỉ như những hạt cát trên sa mạc Nguyễn Xuân Khánh đã khai thác tối đa nguồn
sử liệu từ chính thống tới dân gian trong tác phẩm của mình Do vậy lịch sử trong
tác phẩm Hồ Quý Ly hiện lên một cách toàn vẹn và sinh động nhất
Để xây dựng nhân vật Hồ Quý Ly, ngoài việc bám sát những chi tiết, sự kiện trong chính sử liên quan tới nhân vật, nhà văn còn khai thác những tư liệu từ dã sử
để người đọc có cái nhìn toàn vẹn hơn về nhân vật Trang 53 – 54 tác giả đã mượn lời nhân vật Hồ Nguyên Trừng để nói về nguồn gốc họ Hồ được lưu truyền trong dân gian Câu truyện được trích dẫn trong “Lĩnh Nam chích quái” với truyền thuyết
Hồ tinh chín đuôi và lời khẳng định “Hồ Quý Ly chính là con cháu của con Hồ này vậy” như một kiến giải khác đầy hư ảo về họ Hồ, về Hồ Quý Ly
Nói về mối tình của Hồ Quý Ly và công chúa Huy Ninh, có ít nhất hai lần tác giả dẫn lại chi tiết Quý Ly đối lại vế đối của vua Minh Tông và được vua gả công chúa Huy Ninh Thực ra đây là một giai thoại khác về Hồ Quý Ly được Lê
Quý Đôn dẫn lại trong Kiến văn tiếu lục từ một cuốn sách đời Thanh Theo đó, Quý
Ly trong một lần tình cờ thấy trên bãi cát có câu rằng: “Quảng Hàn cung lý nhất chi mai” Sau Quý Ly được làm một chức quan nhỏ, một hôm vua Trần đang nghỉ mát
ở điện Thanh Thử, sân điện có hàng ngàn cây quế, nhà vua mới ra câu đối: “Thanh thử điện tiền thiên thụ quế” Bầy tôi chưa ai kịp đối, lúc đó Quý Ly nhớ lại câu đố trên bãi cát năm nào, liền đem đối lại Vua giật mình bởi ông có cô con gái là Nhất Chi Mai ở cung Quảng Hàn Quý Ly thực lòng trình bày lại sự việc, vua cho đó là
số trời và quyết định gả công chúa Nhất Chi Mai cho Quý Ly
Như vậy, việc sử dụng tư liệu từ dã sử trong tác phẩm Hồ Quý Ly tuy không
nhiều nhưng đã được tác giả khai thác khá thành công Một số chi tiết liên quan tới nhân vật vừa mang tính chân thực của chính sử, vừa có sắc màu huyền thoại từ dã sử
đã góp phần tạo nên tính đa diện cho nhân vật, đặc biệt là nhân vật chính Hồ Quý Ly
Với Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên chùa, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh
chọn cho mình một lối đi riêng mang tên lịch – văn hóa Lịch sử ở đây đóng vai trò
là “cái đinh” để tác giả treo bức tranh của riêng mình về văn hóa, phong tục Chính
do vậy, yếu tố dã sử và những giai thoại dân gian xoay xung quanh nhân vật lịch sử
Trang 40gần như không có trong tác phẩm Có chăng là sự xuất hiện những truyền thuyết
dân gian, huyền thoại, tín ngưỡng dân gian trong Mẫu Thượng ngàn, tuy nhiên theo
chúng tôi những yếu tố trên thuộc phạm trù văn hóa nhiều hơn vì vậy sẽ được đề
cập đến ở những phần sau
2.1.3 Quan điểm tiếp cận lịch sử và tư tưởng của tác giả
Với nhà văn khi viết về đề tài lịch sử đều có quan điểm, tư tưởng riêng của mình Nguyễn Xuân Khánh cũng không phải là trường hợp ngoại lệ Với ông, lịch
sử không chỉ được sử dụng như một mục đích mà còn là chất liệu để người cầm bút dệt nên bức tranh muôn màu về văn hóa, phong tục và quan trọng hơn để tác giả bộc lộ những quan điểm riêng của mình
2.1.3.1 Phản ánh những vấn đề của đời sống hiện tại
Nguyễn Xuân Khánh đã từng nói rằng: “Tôi quan niệm rằng tiểu thuyết lịch
sử không phải là kể lại lịch sử, minh họa lịch sử, mà là phản ánh những vấn đề của con người hiện tại vì chúng ta đang viết cho những người đang sống đọc vì vậy cần phải đề cập đến những điều mà họ quan tâm.Người viết lịch sử không thể dựng lại đúng hiện thực mà chỉ là cách nhìn về lịch sử, và cách nhìn ấy, ngôn ngữ ấy được độc giả chấp nhận là được” [80] Lịch sử trong các tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh được kéo gần hơn với hiện tại, là sự soi chiếu nhiều vấn đề của cuộc sống ngày hôm nay
Tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh đề cập đến những thời điểm đầy biến
động của lịch sử: Giai đoạn cuối Trần đầu Hồ trong Hồ Quý Ly; giai đoạn giao thời của xã hội Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX trong Mẫu
thượng ngàn và những năm kháng chiến chống Pháp, Mỹ cùng với công cuộc cải
cách ruộng đất với nhiều vấn đề nhạy cảm trong Đội gạo lên chùa Có thể nói nhà
văn đã tự làm khó mình khi viết về những giai đoạn lịch sử nhiều biến động, viết về những nhân vật lịch sử từng gây tranh cãi trong một thời gian dài Bản lĩnh của người cầm bút đã thôi thúc nhà văn Nguyễn Xuân Khánh tìm tòi, soi rọi vào những vùng tối tăm, khuất nẻo của lịch sử Chính do vậy lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh không đơn thuần chỉ là sự tái hiện lại quá khứ mà đó là lịch sử được