1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

liên văn bản trong tiểu thuyết đức phật, nàng savitri và tôi

100 784 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 574,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Liên văn bản là một trong những khái niệm được sử dụng rộng rãi nhất trong phê bình văn học thế giới nửa cuối thể kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI. Được khơi nguồn từ M. Bakhtin qua những công trình quan trọng của ông và chính thức được Julia Kristeva “khai sinh”, liên văn bản nhanh chóng được các nhà cấu trúc luận, giải cấu luận phát triển và tiến tới hoàn thành một phương pháp phê bình văn học. Có thể nói việc phát hiện ra liên văn bản đã tạo nên một cuộc “cách mạng” trong tư duy văn học, thay đổi một cách mạnh mẽ các quan niệm về văn chương.Với tầm ảnh hưởng như vậy, liên văn bản được xem là hướng tiếp cận khả quan không chỉ trong văn học mà còn có thể vận dụng vào phê bình các lĩnh vực nghệ thuật khác nhau như: điện ảnh, âm nhạc...2. Trên thực tế của phê bình văn học Việt Nam, lý thuyết về liên văn bản vẫn chưa thực sự thể hiện được đúng tầm quan trọng của nó. Việc nghiên cứu về vấn đề này vẫn còn hạn hẹp. Quan niệm mỗi tác phẩm văn học là một “hòn đảo cô độc”, nhà văn là người có quyền năng vô hạn trong vai trò “độc sáng” của mình vẫn ăn sâu vào tâm lý của độc giả. Trong phê bình và tiếp nhận văn học vẫn chưa thật sự cởi mở với lý thuyết này. Đặc biệt với những tác phẩm đương đại, chúng ta thật sự cần những phương tiện mới như liên văn bản để mở “ổ khóa bí ẩn” của tổ chức tác phẩm. Đây là một trong những đòi hỏi khá thời sự với lý luận phê bình và nghiên cứu văn học của chúng ta hiện nay.3. Trên văn đàn văn học Việt Nam đương đại, Hồ Anh Thái nổi lên như một hiện tượng độc đáo. Từ những tiểu thuyết và truyện ngắn đầu tay ông đã thể hiện mình là một “cơn gió lạ” khao khát tìm cái mới. Đặc biệt trong các tiểu thuyết gần đây, Hồ Anh Thái đã thể hiện sự đột phá vượt bậc trong lối viết cũng như quan niệm nghệ thuật. Việc tiếp thu nhiều luồng văn hóa, đặc biệt là Phật giáo và các tôn giáo khác của Ấn Độ, đã giúp tác giả tạo được mạch nguồn riêng cho sáng tác của mình khiến cho hầu hết những người đọc đều thấy tác phẩm của Hồ Anh Thái có bề dày và chiều sâu văn hóa, có cái gì đó còn rộng hơn cả quan niệm lâu nay chúng ta vẫn gọi là văn học.Xuất phát từ những vấn đề lý thuyết và thực tế văn học hiện nay, cụ thể là các sáng tác của Hồ Anh Thái, chúng tôi nhận thấy việc sử dụng lý thuyết liên văn bản để tìm hiểu tác phẩm của ông là một hướng khám phá khả quan. Bởi vậy, người viết muốn qua đề tài Liên văn bản trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái đóng góp ít nhiều về một hướng tiếp cận mới trong văn học.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1 Liên văn bản là một trong những khái niệm được sử dụng rộng rãinhất trong phê bình văn học thế giới nửa cuối thể kỉ XX và những năm đầuthế kỉ XXI Được khơi nguồn từ M Bakhtin qua những công trình quantrọng của ông và chính thức được Julia Kristeva “khai sinh”, liên văn bảnnhanh chóng được các nhà cấu trúc luận, giải cấu luận phát triển và tiến tớihoàn thành một phương pháp phê bình văn học Có thể nói việc phát hiện raliên văn bản đã tạo nên một cuộc “cách mạng” trong tư duy văn học, thayđổi một cách mạnh mẽ các quan niệm về văn chương

Với tầm ảnh hưởng như vậy, liên văn bản được xem là hướng tiếpcận khả quan không chỉ trong văn học mà còn có thể vận dụng vào phê bìnhcác lĩnh vực nghệ thuật khác nhau như: điện ảnh, âm nhạc

2 Trên thực tế của phê bình văn học Việt Nam, lý thuyết về liên vănbản vẫn chưa thực sự thể hiện được đúng tầm quan trọng của nó Việcnghiên cứu về vấn đề này vẫn còn hạn hẹp Quan niệm mỗi tác phẩm vănhọc là một “hòn đảo cô độc”, nhà văn là người có quyền năng vô hạn trongvai trò “độc sáng” của mình vẫn ăn sâu vào tâm lý của độc giả Trong phêbình và tiếp nhận văn học vẫn chưa thật sự cởi mở với lý thuyết này Đặcbiệt với những tác phẩm đương đại, chúng ta thật sự cần những phương tiệnmới như liên văn bản để mở “ổ khóa bí ẩn” của tổ chức tác phẩm Đây làmột trong những đòi hỏi khá thời sự với lý luận phê bình và nghiên cứu vănhọc của chúng ta hiện nay

3 Trên văn đàn văn học Việt Nam đương đại, Hồ Anh Thái nổi lênnhư một hiện tượng độc đáo Từ những tiểu thuyết và truyện ngắn đầu tayông đã thể hiện mình là một “cơn gió lạ” khao khát tìm cái mới Đặc biệttrong các tiểu thuyết gần đây, Hồ Anh Thái đã thể hiện sự đột phá vượtbậc trong lối viết cũng như quan niệm nghệ thuật Việc tiếp thu nhiều

Trang 2

luồng văn hóa, đặc biệt là Phật giáo và các tôn giáo khác của Ấn Độ, đãgiúp tác giả tạo được mạch nguồn riêng cho sáng tác của mình khiến chohầu hết những người đọc đều thấy tác phẩm của Hồ Anh Thái có bề dày vàchiều sâu văn hóa, có cái gì đó còn rộng hơn cả quan niệm lâu nay chúng

ta vẫn gọi là văn học

Xuất phát từ những vấn đề lý thuyết và thực tế văn học hiện nay, cụthể là các sáng tác của Hồ Anh Thái, chúng tôi nhận thấy việc sử dụng lýthuyết liên văn bản để tìm hiểu tác phẩm của ông là một hướng khám phá

khả quan Bởi vậy, người viết muốn qua đề tài Liên văn bản trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái đóng góp ít nhiều về một hướng tiếp cận mới trong

văn học

2 Lịch sử vấn đề

Hồ Anh Thái, cái tên đã quá quen thuộc với độc giả Việt Nam Nổilên như một hiện tượng qua những tác phẩm đầu tay, nhà văn sớm khẳngđịnh được tên tuổi của mình trên văn đàn cả ở truyện ngắn và tiểu thuyết.Đặc biệt trong thời gian gần đây, mỗi tác phẩm của ông đều để lại trong dưluận nhiều ấn tượng với những đột phá về nghệ thuật cũng như nội dung

Hồ Anh Thái viết “khỏe” và còn đang sung sức Với tuổi đời như vậytrong nghiệp văn chương vẫn được coi là trẻ nhưng nhà văn đã có hàngchục đầu sách được xuất bản bằng nhiều thứ tiếng Hồ Anh Thái đã tạo ramột “thương hiệu” của riêng mình, không thể lẫn với ai Đặc biệt, giọng vănhết sức linh hoạt của ông dường như có thể chiếm lĩnh nhiều đối tượng, đivào rất nhiều không gian sống Điều này thể hiện rõ ở cả hai “khung trời”truyện ngắn và tiểu thuyết Chúng ta bắt gặp một Hồ Anh Thái bông đùa,

sẵn sàng giễu nhại cuộc đời trong Bốn lối vào nhà cười (tập truyện) Mười

lẻ một đêm (tiểu thuyết), có khi ông lại hối hả, vội vã trong Cõi người rung chuông tận thế (Tiểu thuyết) hay trầm tư suy tưởng với văn hóa Ấn Độ cũng như hồi quang Đức Phật như trong Tiếng thở dài qua rừng kim tước

Trang 3

(tập truyện); Đức Phật, nàng Savitri và tôi (Tiểu thuyết)… Nhưng dù ở

giọng điệu nào, tác phẩm của ông vẫn toát lên những ý vị sâu xa, chiêm

nghiệm về lẽ đời Đặc biệt, trong hai tiểu thuyết gần đây nhất là Mười lẻ một đêm và Đức Phật, nàng Savitri và tôi, nhà văn dường như đã bước

sang một thế giới khác: Huyền ảo hơn, rộng lớn hơn những cũng ý vị hơn

Và những tác phẩm đó luôn được độc giả đón nhận và các nhà nghiên cứuquan tâm sâu sắc

Đã có hàng loạt bài báo cũng như luận văn tìm hiểu về sáng tác của

Hồ Anh Thái Các luận văn đã phần nào tập trung vào các cách tân nghệthuật, đổi mới thi pháp tiểu thuyết của nhà văn Xin điểm qua một số nghiêncứu tiêu biểu:

Nguyễn Hữu Tâm trong luận văn Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái đã tập trung vào các phương thức trần thuật của nhà

văn ở một vài tiểu thuyết để đi đến kết luận “việc lựa chọn và thay đổi linh

hoạt các điểm nhìn (vị trí mà từ đó chủ thể sáng tạo quan sát sự vận động của thế giới xung quanh) của tác giả Hồ Anh Thái đã giúp cho ông có thể cảm nhận và phản ánh về hiện thực ở những tầng sâu nhất thông qua tác phẩm của mình Hiện thực đời sống luôn được nhìn trong một sự vận động

đa chiều do vậy tính khách quan trong phản ánh là điều tác giả đưa lại trong người đọc”.

Cũng đi vào những vấn đề về nghệ thuật tiểu thuyết, Hoàng Thu

Thủy trong Điểm nhìn trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái đã khái quát những

đặc trưng về điểm nhìn và cấu trúc lời nói nghệ thuật trong các tác phẩm

của nhà văn: “Người kể chuyện hàm ẩn với điểm nhìn bên trong chiếm ưu

thế vượt trội trong các tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, kéo theo kết quả là kiểu không gian- thời gian đồng hiện, đan xen được tác giả cho ẩn vào những dòng tâm tư, dòng hồi ức của nhân vật xuất hiện với tần số cao trong tác phẩm”[53, 119]

Trang 4

Nguyễn Thị Ngọc Hà trong luận văn Kết cấu tiểu thuyết hiện đại qua tiểu thuyết Hồ Anh Thái lại khảo sát các cấp độ hình tượng của kết cấu và

cấp độ văn bản của kết cấu: “Tiểu thuyết Hồ Anh Thái luôn có sự đan xen,

pha trộn giữa kết cấu được hình thành trên những tọa độ không gian - thời gian phi tuyến tính và kết cấu tầng bậc, đa tuyến, đa phương”[21, 111].

Đi tìm những cách tân nghệ thuật ở nhiều bình diện hơn, Phạm Lan

Anh trong luận văn Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái cũng đi vào những đặc điểm về thế giới nhân vật, cốt truyện và kết cấu

cũng như giọng điệu và ngôn ngữ

Cũng theo hướng nghiên cứu thế giới hình tượng nghệ thuật và kết

cấu, ngôn ngữ và giọng điệu, Hoàng Thị Xuân trong luận văn: Hồ Anh Thái và những nỗ lực các tân tiểu thuyết đã khẳng định: “Không thể phủ

nhận, Hồ Anh Thái đã bền bỉ tạo nên một dòng chảy, đủ để lại những ấn tượng khó phai trong lòng người đọc Mỗi cuốn tiểu thuyết được viết ra là một minh chứng rõ ràng cho những nỗ lực thể nghiệm, cách tân miệt mài

và nhiệt thành của tác giả, đồng thời đó là minh chứng hiện hữu cho nỗ lực vượt thoát chính mình” [55, 123].

Khảo sát một nhóm tác giả đương đại trong đó có Hồ Anh Thái,

Nguyễn Thị Kim Lan trong Nghệ thuật kết cấu trong một số tiểu thuyết huyền ảo triết luận của Tạ Duy Anh, Châu Diên, Hồ Anh Thái cũng đã

nghiên cứu tổ chức cốt truyện và trần thuật, nghệ thuật tổ chức không gian thời gian và tổ chức nhân vật trong sáng tác của các tác giả nói trên

-Bên cạnh những luận văn đã nghiên cứu về sáng tác của Hồ Anh Thái

kể trên, tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi cũng nhận được khá

nhiều đánh giá qua các bài báo Tuy những bài viết này không trực tiếpdùng lý thuyết liên văn bản để đi sâu vào tác phẩm nhưng cũng đã có đề cậpđến vấn đề viết lại Phật sử và so sánh với các văn bản khác Chẳng hạn nhưtác giả Võ Anh Minh đã so sánh hình tượng Đức Phật trong sáng tác của Hồ

Trang 5

Anh Thái với Phật học khải luận để đưa ra nhận định: “Hồ Anh Thái cũng

cho thấy con người ấy bình dị bao nhiêu thì anh cũng biết chọn lọc và móc nối rất nhiều chi tiết lấy từ Phật sử lại với nhau để cùng lúc cho người đọc chiêm ngưỡng một tư tưởng minh triết siêu việt trong cái vỏ bọc giản dị khiêm nhường”[37].

Tác giả Hoàng Công Danh trong bài viết Tái hiện Phật sử, đồng hiện nghệ thuật, tương hợp đạo và đời cũng đánh giá: “Cái mới của cuốn

sách ngoài việc dựng lại hình ảnh Đức Phật từ lúc sơ sanh đến khi xuất gia thành đạo và nhập điệt còn là góc nhìn mới thông qua lối kể chuyện”[11].

Tác giả Lê Thị Oanh cũng theo hướng so sánh các tác phẩm về Đức

Phật để nhận định: “Đó là những tác phẩm được nhiều thế hệ độc giả ghi

nhớ, thuộc thể loại truyện dài Vậy về mặt thể loại, nếu như độc giả Việt Nam vẫn luôn mong có một cuốn tiểu thuyết về Phật và thời đại của Người

thì Đức Phật, nàng Savitri và tôi là cuốn tiểu thuyết được trông đợi ấy”.

[41]

Tác giả Nguyễn Danh Lam trong bài viết Vững chắc trên cây cầu phiêu lưu cũng đã phần nào nói lên được mối liên hệ văn hóa trong tác

phẩm: “Ở nàng Savitri, một bữa tiệc hoành tráng của lịch sử văn hóa Ấn

Độ Tác giả thỏa sức vùng vẫy với những kiến thức về Bà La Môn giáo, về Veda, Upanishad, Ramayana, Mahabharata và cả Kamasutra”[33].

Tiếp nối những nhận định trên, với luận văn Liên văn bản trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái (qua Đức Phật, nàng Savitri và tôi) chúng tôi cũng

muốn đóng góp thêm một hướng tiếp cận những tác phẩm của nhà văn này

Hy vọng rằng nó sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn về tính phức hợp, đặc thùnghệ thuật tiểu thuyết của ông

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 6

Thực hiện luận văn, chúng tôi không nghiên cứu toàn bộ các tiểu

thuyết của Hồ Anh Thái mà chủ yếu tập trung vào Đức Phật, nàng Savitri

và tôi Thêm nữa ngay với tiểu thuyết này chúng tôi cũng chỉ tập trung

nghiên cứu phương diện liên văn bản Tất nhiên trong những trường hợpcần thiết chúng tôi cũng sẽ có liên hệ với các tiểu thuyết khác của nhà văn.Nói chung, luận văn này nhằm hướng đến việc tìm hiểu mối liên hệ của tácphẩm với các văn bản văn hóa và văn học khác trong sự đối thoại liên kếtnhằm mở rộng ý nghĩa của tác phẩm Đồng thời, người viết cũng muốnkhảo sát sự tồn tại của các kiểu văn bản cụ thể được sử dụng trong tác phẩm

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi khảo sát của luận văn là cuốn tiểu thuyết của nhà văn Hồ

Anh Thái: Đức Phật, nàng Savitri và tôi trong mối liên hệ với các hiện

tượng văn hóa, văn học khác ngoài nó

4 Nhiệm vụ nghiên cứu và đóng góp mới của luận văn

4.2 Đóng góp mới của luận văn

Thử đưa ra một hướng tiếp cận về tiểu thuyết Việt Nam đương đại.Khẳng định cá tính sáng tạo độc đáo và đóng góp của nhà văn Hồ Anh Tháivào quá trình hiện đại hóa văn học nói chung và tiểu thuyết Việt Namđương đại nói riêng

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài, chúng tôi vận dụng đồng bộ các phương pháp sau:

- Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Văn hoá học hình thành trên

vùng tiếp giáp của các tri thức xã hội và nhân văn về con người và xã hội,

nghiên cứu văn hoá như một chỉnh thể toàn vẹn với một phạm vi rộng khắp,

Trang 7

trong đó văn hóa học, văn học nghệ thuật như một tiểu hệ thống Từ cáinhìn văn hóa, chúng tôi sẽ tìm thấy những mối quan hệ tương hỗ, biệnchứng giữa văn hóa và văn học.

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Để thực hiện đề tài này, luận

văn cần kết hợp phương pháp nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu văn hóa, Cáinhìn liên ngành sẽ giúp luận văn giải quyết thỏa đáng vấn đề cần nghiên cứu

Ngoài ra chúng tôi sử dụng các thao tác nghiên cứu khác như phântích thi pháp tác phẩm và các thao tác tổng hợp, so sánh…

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và thư mục Tài liệu tham khảo, luậnvăn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý thuyết về liên văn bản

Chương 2: Đối thoại văn hóa trong tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi Chương 3: Các kiểu văn bản trong tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi

Trang 8

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ LIÊN VĂN BẢN

1.1 Khái niệm liên văn bản

Liên văn bản (intertextuality) là một khái niệm thường xuyên gắn bó

với chủ nghĩa hậu hiện đại Được“khởi nguồn” từ D.Sausurre và

M.Bakhtin, khái niệm này, lần đầu tiên, chính thức được giới thiệu bởi J.Kristeva và nó nhanh chóng trở nên hữu dụng với khả năng nêu bật nhữngquan niệm về tính liên hệ trong đời sống văn hóa hiện đại

Tuy được sử dụng một cách phổ biến trong nhiều lĩnh vực triết học, nghệthuật và đặc biệt là phê bình văn học nhưng xem ra khái niệm liên văn bản đang

có nguy cơ trở nên vô nghĩa Vì sự sử dụng tràn lan làm mất hết sự khu biệt nộihàm nghĩa khoa học của khái niệm Liên văn bản được sử dụng quá phổ biến vàhầu như ai cũng muốn gán cho nó thêm một ý nghĩa nào đó Nhiệm vụ của luậnvăn là góp phần xác định, khu biệt hóa nội dung khái niệm này

Liên văn bản là một trong những ý tưởng trọng tâm của lí thuyết vănhọc đương đại Cái khó trong việc tiếp nhận lý thuyết này là do nội hàm của

nó quá rộng, không hề dễ hiểu rõ ràng và minh bạch Với năng lực nghiêncứu còn hạn chế, người viết cũng chỉ mong muốn đưa ra cách hiểu một vàikhía cạnh của khái niệm này, bởi như Graham Allen cũng từng thừa nhận

trong công trình về lý thuyết liên văn bản của mình: “Cuốn sách này không

tìm kiếm để điều chỉnh những nhầm lẫn này bằng việc đề xuất một định nghĩa thiết yếu về thuật ngữ đó Một dự án như thế tất phải thất bại Cái chúng ta được đòi hỏi là trở lại với lịch sử của thuật ngữ và để gợi nhắc bản thân chúng ta về việc như thế nào và tại sao nó lại mang chính những ý nghĩa và sự áp dụng hiện hành.” [1,3]

Trang 9

Muốn hiểu về liên văn bản, có lẽ chúng ta cần tìm hiểu về văn bản vàcác quan niệm về văn bản khi thuật ngữ liên văn bản còn chưa xuất hiện.Cho đến nay, văn bản được dùng với nhiều phạm vi, góc độ khác nhau Vớinghĩa thông thường, văn bản là tên gọi chỉ những tài liệu, bài viết được in

ấn, lưu hành hàng ngày trong giao tiếp (một bài báo, một công văn, một tậptài liệu, một quyết định,…) Với nghĩa là một thuật ngữ ngôn ngữ học, vănbản là một trong những đơn vị phức tạp, có nhiều cách hiểu và định nghĩa

khác nhau Tuy nhiên có thể dẫn giải theo lối một định nghĩa như sau: “1,

Bản ghi bằng chữ viết hay chữ in, một phát ngôn hoặc một thông báo ngôn

từ (phân biệt với thực hiện phát ngôn hoặc thông báo ấy bằng nói miệng); 2) Phương diện tri giác cảm xúc của tác phẩm được biểu đạt và ghi nhận bằng kí hiệu ngôn ngữ; 3) Đơn vị nhỏ nhất tương đối (có tính thống nhất tương đối và tính độc lập tương đối) của giao tiếp bằng ngôn từ.” [24, 395]

Quan niệm truyền thống về văn bản và nghiên cứu văn bản có khuynhhướng nghiên cứu riêng lẻ văn bản như một cơ thể, một thực thể khép kín

Và đây cũng chính là nhược điểm của Chủ nghĩa cấu trúc và kí hiệu học Chủnghĩa cấu trúc nghiên cứu văn bản như một “thể” - tập hợp thống nhất - trongranh giới xác định Văn bản được xem như “một hòn đảo cô độc” bị tách rakhỏi những mối liên hệ khác bên ngoài với mong muốn của các nhà cấu trúcrằng theo cách đó phê bình văn học sẽ trở nên khách quan hơn

Cùng với quan niệm như vậy về văn bản, phê bình văn học trước đâycoi tác giả trở thành người “độc sáng”, là “đấng quyền năng” chi phối toàn

bộ tác phẩm của mình Trên “hòn đảo” văn bản đó, nhà văn là một “vị chúa”sáng tạo nên tất cả, còn người đọc với tác phẩm chỉ giữ vai trò tiếp nhận thụđộng Việc tiếp cận văn bản đơn chiều như vậy làm cho ý nghĩa của tác phẩm

bị hạn chế, có phần cứng nhắc, làm mất đi nhiều giá trị hàm ẩn của nó

Trang 10

Với sự xuất hiện của khái niệm liên văn bản, phê bình văn học đãđược mở ra theo một hướng mới, khả quan và linh hoạt hơn Liên văn bảnkhông chỉ dừng ở ảnh hưởng của người viết đối với văn bản mà nó đặt vănbản trong tất cả những mối quan hệ nội tại và ngoại tại Chủ nghĩa cấu trúc

đã nhìn thấy ở khái niệm này sự chống lại những gì họ đã thấy như một “hốsâu” tồn tại trong lý thuyết và thẩm mĩ của họ Với sự xuất hiện của liên vănbản, tính độc trị của văn bản và tác giả đã đánh mất vị trí của mình

Như đã nói ở trên, khái niệm liên văn bản được sử dụng rất phổ biếntrong những nửa cuối của thế kỉ XX với nhiều định nghĩa, nhiều cách ứngdụng trong nhiều lĩnh vực Nhưng có lẽ cách hiểu về liên văn bản lần đầu

tiên khi nó xuất hiện bởi J.Kristeva là rõ ràng hơn cả: “Chiều ngang (chủ

thể - người nhận) và chiều dọc (văn bản - văn cảnh) cùng hiện diện làm sáng tỏ một thực tế quan trọng: mỗi từ (văn bản) là một giao tuyến của từ (các văn bản) nơi mà ít nhất một từ khác (văn bản khác) có thể đọc được”

[1, 34] Kristeva quy cho văn bản trong giới hạn của hai trục: một trụcngang kết nối giữa tác giả và người đọc văn bản, và một trục dọc được kếtnối giữa văn bản với các văn bản khác Ở đây người viết xin được sơ đồ hóaquan niệm này như sau:

Văn bản

Văn bản

Trang 11

Như vậy, Kristeva đã tuyên bố rằng mỗi văn bản được bắt đầu dướiquyền lực của những cuộc đối thoại Quan niệm về liên văn bản nhắc chúng

ta mỗi văn bản luôn tồn tại trong mối quan hệ với những văn bản khác, vớingười đọc và tác giả Liên văn bản thường được định nghĩa như nơi một vănbản ám chỉ tới một văn bản khác Nó tạo thành một chuỗi bất tận và văn bảntrở nên vô biên trong sự ám chỉ đó

Văn bản không còn đơn độc mà ẩn sau nó là những văn bản khácđược tác giả trích dẫn sử dụng trong quá trình viết của mình một cách ýthức hay vô thức Và đến người đọc cũng vô thức hay ý thức sử dụng nhữngvăn bản cũ để khám phá tác phẩm và tạo ra văn bản mới cho mình Trongquá trình đối thoại với văn bản, tác giả và người đọc đã đối thoại với nhaumột cách gián tiếp Và có lẽ, nếu hiểu về liên văn bản cụ thể hơn như vậythì sơ đồ về nó cần được thể hiện như sau:

Có thể nói, liên văn bản đã mở ra nhiều chiều khám phá cho văn bản.Trong mỗi mối quan hệ nó lại có khả năng tạo ra thêm một tầng ý nghĩa Ýnghĩa trong mỗi tác phẩm có lẽ trở nên vô hạn Ngay cả tác giả cũng khôngbiết được hết tác phẩm của mình có những ý nghĩa gì Ý nghĩa trở nên vượt

ra ngoài ảnh hưởng của tác giả và ở bên kia sự sáng tạo, hiểu biết Văn bản

Văn bản

Văn bản

Trang 12

trở thành “một không gian nhiều chiều” và việc đi tìm nguồn gốc của nó làkhông tưởng bởi nó là những “mảnh ghép” trong “kí ức” của nhà văn vàngười đọc.

Để có một định nghĩa đầy đủ về liên văn bản là điều rất khó, ít ra làvới người viết Ở trên tôi chỉ xin trình bày cách hiểu về liên văn bản theoquan niệm của Kristeva: Liên văn bản là liên kết các văn bản trong một vănbản qua sự sáng tạo và tiếp nhận của người đọc với tính đối thoại một cách

Lý luận văn học và văn hóa luôn được xem xét là có nguồn gốc từ sựkhai sinh của ngôn ngữ học hiện đại: một hệ thống nguyên tắc mà có thể nói

đã xuất hiện trong tác phẩm của Ferdinand de Sausurre Sausurre mất năm

1913 mà không để lại một dòng nào về lý thuyết của mình Sau khiSausurre mất, những bài viết được dùng để ông dạy cho sinh viên mới được

Charles Bally và Albert Riedlinger xuất bản năm 1916 Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương này thực chất là những bài giảng mà Sausurre đã dạy ở

Đại học Geneva suốt giai đoạn 1906 đến 1911 Sausurre vì thế không viết

mà cũng không hề đọc cuốn sách mang tên ông “Trong Giáo trình,

Sausurre hình dung một khoa học mới sẽ nghiên cứu “đời sống xã hội của các kí hiệu”, cái mà ông gọi là semiology (ký hiệu học) Chủ nghĩa cấu trúc, một phong trào phê bình, triết học và văn hóa dựa trên những quan niệm kí hiệu học của Sausurre theo đuổi từ những năm 1950 trở về sau, đã

Trang 13

thực hiện một sự tái miêu tả mang tính cách mạng về văn hóa loài người trong phạm vi của những hệ thống kí hiệu và cấu trúc ngôn ngữ của Sausurre Cuộc cách mạng này về bản chất là sự “trở về với ngôn ngữ học” trong các khoa học nhân văn, có thể được hiểu như một nguồn gốc của lý thuyết về liên văn bản” [1,10].

Tuy nhiên, để trích dẫn Sausurre như là nguồn gốc của những ýtưởng liên quan đến liên văn bản không phải là không có vấn đề của nó vìông hầu như không đề cập trực tiếp đến vấn đề này Chỉ với những côngtrình của Bakhtin thì những quan điểm cụ thể về ngôn ngữ mới giúp choviệc phát triển rõ ràng lý thuyết này Xuất phát điểm cho vấn đề liên vănbản được tìm thấy trong công trình của Bakhtin những năm 1920 trong

cuốn sách về Chủ nghĩa Mác và triết học ngôn ngữ, phổ biến ở Nga năm

1929 dưới tên tác giả V.Voloshinov Sau đó, tác phẩm này được cho là củaBakhtin Và ai là tác giả của cuốn sách này đến nay vẫn còn là vấn đề gâytranh cãi

Thực sự, trong tác phẩm này của Bakhtin, chúng ta thấy một khảnăng để đến với lý luận ngôn ngữ khác với lối đi của trường phái Sausurre.Nếu Sausurre nhấn mạnh đến tính “đồng đại” của ngôn ngữ, chỉ ngôn ngữtrong ý nghĩa trừu tượng của nó, chỉ những quy tắc và quy ước cấu trúc mộtngôn ngữ tại bất kì thời điểm nào có tính lịch sử thì mới có thể trở thành đốitượng nghiên cứu của ngôn ngữ học thì Bakhtin cho rằng đánh giá như vậylàm mất đi trên thực tế tầm nhìn về tính xã hội cụ thể của ngôn ngữ và giamhãm nó trong cái gì đó cũng trừu tượng như một cuốn từ điển cổ xưa hoặc

hiện đại Bakhtin biện luận chống lại Sausurre rằng: “Không có thời khắc

hiện thời thực sự trong thời gian khi hệ thống đồng đại của ngôn ngữ có thể được kiến tạo Điều này là bởi ngôn ngữ luôn luôn trong một “dòng chảy không ngừng” [1,16]

Trang 14

“Phương diện cốt yếu nhất của ngôn ngữ từ góc độ năy lă ở chỗ

toăn bộ ngôn ngữ được đâp lại những phât ngôn có trước đó vă những khuôn mẫu ý nghĩa vă giâ trị đê hiện diện trước đó cùng những xúc tiến vă tìm kiếm để xúc tiến những sự hồi đâp sau đó Người ta không thể hiểu được một phât ngôn hay thậm chí một tâc phẩm đê được viết ra cứ như lă

nó đê độc nhất về ý nghĩa, không quan hệ đối với những tâc phẩm hay những phât ngôn trước đó vă tương lai Không một phât ngôn hoặc tâc phẩm năo, như Bakhtin/Volosinov biện luận, lă độc lập tuyệt đối” [1,17]

Quan niệm năy hướng tới tính “lịch đại” của ngôn ngữ Nó nhắcchúng ta rằng mỗi văn bản tồn tại trong mối quan hệ với văn bản khâc Tuynhiín, để tìm nguồn gốc của liín văn bản trong câc công trình của Bakhtin,

có lẽ, chính xâc hơn cả lă từ tính đối thoại (Dialognism) trong ngôn ngữ mẵng đê chứng minh, về cuộc đấu tranh diễn ra giữa những lực ly tđm vă lựchướng tđm của ngôn ngữ Chúng có thể được biểu tượng hóa bằng sự đốilập giữa phât ngôn độc thoại vă đối thoại Chẳng hạn như công trình củaBakhtin về Rabelais nghiín cứu phương thức, nơi mă những truyền thống

cổ xưa của hoạt động Carnaval như một lực hướng tđm thúc đẩy nhữngchiều kích “phi quan phương” của đời sống xê hội con người, vă điều đóxuyín suốt từ đầu đến cuối với một ngôn ngữ trần tục vă kịch tính của “giaitầng thđn xâc” Những hình ảnh Carnaval như: thđn xâc khổng lồ, bộ phận

cơ thể được phóng đại, những kẻ say sưa, trâc tâng nhằm ca tụng thđn xâctập thể có tính phi quan phương của con người, đứng lín chống lại ý thức

hệ quan phương vă diễn ngôn của câc tôn giâo, quyền lực nhă nước Đóchính lă truyền thống đối thoại mang tính chất Carnaval

Trong công trình Những vấn đề về thi phâp Dostoevski (Bakhtin),

chúng ta bắt gặp sự chứng minh kiín trì nhất của ông liín quan đến đặctrưng đối thoại của tiểu thuyết: những khâi niệm khâc như “đa thanh”(poliphoni), “giọng khâc” (heteroglossia), “diễn ngôn hai giọng” (Double-

Trang 15

voice discourse) và những sự biện luận của ông về tiểu thuyết có thể đưachúng ta đến việc hiểu biết quan niệm về ngôn ngữ và về bản chất liên vănbản của nó.

Hạt nhân của vấn đề liên văn bản được tìm thấy trong công trình củaBakhtin là các khía cạnh trong tính đối thoại của ngôn ngữ Quan niệm này

về cơ bản đe dọa bất kì cái gì đơn nhất, độc đoán và những quan niệm mangtính tôn ti thứ bậc về xã hội, nghệ thuật và đời sống Quan niệm này đứngđằng sau liên văn bản do Kristeva đặt ra như một phần mô tả khi bà nói vềtác phẩm của Bakhtin Và đây là một quan niệm được kết hợp vào trong hệthống và phương pháp luận nghiêm ngặt của lí luận cấu trúc chủ nghĩa

Vào nửa cuối những năm 1960, thuật ngữ liên văn bản mới chínhthức được ra đời bởi J.Kristeva Trong tiểu luận của mình, Kristeva giớithiệu tác phẩm của nhà lí luận người Nga Bakhtin với phần thế giới nóitiếng Pháp Trên cơ sở kế thừa đó, Kristeva bắt đầu xác định một mô hìnhmới của kí hiệu học Bà cố gắng đạt được trong phương pháp tiếp cận nàymột quan niệm về việc những văn bản luôn luôn trong một trạng thái của sựnăng sản (production), hơn là trở thành những thứ hàng hóa để được tiêuthụ mau chóng Kristeva nhấn mạnh rằng, đối tượng nghiên cứu không chỉ

là “tính quá trình”, quá trình tạo ra sản phẩm, mà còn là chủ thể tác giả, độcgiả hay người phân tích Kristeva ngụ ý rằng những ý tưởng không đượcbiểu hiện như đã hoàn tất, như những hàng hóa có thể tiêu thụ được, màbiểu hiện trong một cách khuyến khích chính các độc giả bước vào trong sựnăng sản của ý nghĩa

Kristeva là người đưa ra thuật ngữ liên văn bản, tuy nhiên R.Barthesmới chính là người phát biểu rõ ràng nhất quan niệm về liên văn bản so vớitất cả các nhà văn khác Vào năm 1968, Barthes công bố “cái chết của tácgiả” và “sự ra đời của người đọc” Ông đề xuất một quan niệm diễn giải vềmối quan hệ tác giả - tác phẩm và độc giả - nhà phê bình khi mà sự đọc là

Trang 16

một hình thức của sự tiêu thụ: “Phê bình văn học cổ điển xưa nay không

dính dáng gì đến người đọc; đối với nó, trong văn học chỉ tồn tại người viết Giờ đây chúng ta không còn bị lừa dối thêm nữa bởi những loại lời sáo rỗng mà cái xã hội đáng kính với cơn phẫn nộ cao thượng đã sử dụng

để bảo vệ kẻ mà trên thực tế bị nó chèn ép, coi thường, áp bức, tiêu diệt Giờ đây chúng ta biết: để đảm bảo tương lai cho cái viết cần phải lật đổ cái huyền thoại về nó - sự ra đời của Người đọc phải trả giá bằng cái chết của

Tác giả” [6] Tác giả xác lập ý nghĩa trong tác phẩm và người đọc - nhà phê

bình tiêu thụ ý nghĩa đó Một tiến trình như vậy được hoàn tất và người đọcđược tự do chuyển qua tác phẩm kế tiếp Quan niệm mới của Barthes đãphủ nhận tính độc sáng, quyền lực tối cao của tác giả khi sáng tạo lên tácphẩm Và như vậy, “cái chết của tác giả” đã “khai sinh ra người đọc”, đối

tượng luôn bị xem nhẹ đã đứng trên vị trí mới “Một văn bản được tạo ra

từ vô số sự viết, vẽ từ nhiều nền văn hóa và đi vào trong các quan hệ lẫn nhau của đối thoại, giễu nhại, tranh luận, như có một không gian nơi chúng được hội tụ đồng đại và không gian đó là người đọc, không phải như lâu nay người ta vẫn nói là tác giả Người đọc là không gian trên đó mọi trích dẫn được tạo ra, sự viết được ghi khắc mà không bất kì cái gì trong chúng biến mất Sự thống nhất của văn bản không nằm ở nguồn gốc của nó mà ở trong đích đến của nó Tuy nhiên đích đến này cũng không còn có được tính

cá nhân: người đọc thiếu vắng lịch sử, tiểu sử, tâm lí; anh ta đơn giản chỉ

là một ai đó nắm giữ đồng thời trong một chuyên môn đơn độc mọi vết tích

mà bởi chúng văn bản đã viết được cấu thành Sự khai sinh của người đọc phải trả giá bằng cái chết của tác giả” [6]

Sự mô tả của R.Barthes về văn bản và liên văn bản đã làm đảo lộntrật tự phụ quyền, mối quan hệ huyết thống giữa tác giả và người đọc trướcđây Lý thuyết về liên văn bản không khẳng định chắc chắn về “thân phậncủa tác giả” Văn bản trở thành một không gian nhiều chiều của lối viết với

Trang 17

những pha trộn và xung đột Nó chỉ là một “mảnh” của trích dẫn Điều nàydẫn đến quan niệm nhà văn chỉ là người pha trộn lối viết, mô phỏng, đảolộn những điều đã có trước đó Claude Levi-Strauss cũng từng tuyên bố

rằng: “Tôi không có cảm nhận rằng những cuốn sách của tôi được viết bởi

tôi ” (khi khẳng định rằng “tác giả đã chết”) theo cách nói của Barthes thì

có vẻ cực đoan nhưng thực sự người đọc trong một vài trường hợp đã tạonên ý nghĩa tác phẩm Tác phẩm không còn bị lệ thuộc hoàn toàn vào tácgiả nữa hay nói cách khác, tác giả không phải “đấng tối cao” toàn quyền tạonên ý nghĩa cho “đứa con tinh thần” của mình nữa Người đọc trở thànhngười đồng sáng tạo, góp phần tạo ra ý nghĩa của tác phẩm Rõ ràng, vớikhái niệm về liên văn bản, những quan niệm thống trị trong văn học trướcđây bị rạn vỡ nghiêm trọng Việc đi tìm tác giả trong những tác phẩm vănhọc trở nên gần như vô nghĩa Tuy nhiên, việc thủ tiêu hoàn toàn vai trò củatác giả là không đúng đắn Tác giả vẫn tồn tại nhưng không còn là “đấngtoàn tri” Người đọc tham gia vào quá trình đồng sáng tạo với tác giả Quátrình tiếp nhận và sáng tạo có lẽ nên đặt ngang hàng với nhau để tránhnhững quan niệm cực đoan trong việc khám phá tác phẩm văn học

Cũng từ thuật ngữ liên văn bản, Barthes đã đặt ra vấn đề văn bản đọc

dễ (lisible text) và văn bản đọc khó (scriptable) Văn bản đọc dễ đã đượcđịnh hướng diễn giải và trong cách trình bày của Barthes được kết hợp vớitiểu thuyết hiện thực thế kỉ XIX Barthes thường xếp bó như là văn bản “cổđiển” đối chọi với văn bản “hiện đại” Văn bản đọc dễ dẫn dắt người đọchướng đến một ý nghĩa Nó tạo ra ảo tưởng rằng nó được tạo bởi một giọngđơn nhất và tỏ ra quá xem thường sức mạnh của liên văn bản Barthes nhấnmạnh: gọi một văn bản là đọc dễ như vậy là để nêu bật phương thức nơi màchính người đọc bị đặt vào vị trí như người tiếp nhận thụ động Barthes chorằng: văn bản đọc dễ sẽ tiêu tan trong tính đa nguyên

Trang 18

Trong khi khảo sát các tác phẩm văn học, Barthes chia cắt văn bảnthành đơn vị đọc, những mảnh nhỏ có thể có từ một mẫu hành động, một câuhoặc nhóm nhỏ các câu Mỗi đơn vị đọc bao gồm một số lượng nghĩa hạnchế, đôi khi chỉ một, không bao giờ nhiều hơn bốn Barthes chia văn bảnthành những đơn vị đọc nhưng thay vì giải thích chúng, tập hợp chúng lại ởcấp độ cao hơn và do đó khép kín ý nghĩa của chúng Ông cố gắng làm nổtung ý nghĩa của chúng mà không nghĩ rằng những ý nghĩa đó có thể đượcgộp lại ở vài cấp độ cao hơn của việc phân tích Văn bản, sau tất cả, là mộthiện tượng đa nguyên, nó có cấu trúc, và cũng là một sự vô hạn về ý nghĩa.

Qua lịch sử vấn đề của thuật ngữ liên văn bản có thể thấy đây là mộtkhái niệm có lịch sử phức tạp với hàng loạt những đối lập giữa các quanniệm mà chúng ta không thể đánh giá một cách đơn giản Graham Allen đãđặt ra hàng loạt câu hỏi về vấn đề này:

“Liên văn bản là một khái niệm có tính lịch sử hay về cơ bản là phi lịch sử?

Liên văn bản có mở rộng văn bản đến lịch sử hoặc nhiều văn bản hơn không?

Liên văn bản là một thuật ngữ có thể điều chỉnh được hay về cơ bản không thể điều chỉnh được, quan hệ có giới hạn hay vô hạn, và có chiều kích làm chôn vùi ý nghĩa không?

Liên văn bản có cung cấp cho chúng ta một hệ hình kiến thức hay nó phá hủy cái đã được xác nhận là tri thức trước đó không?

Trọng tâm của liên văn bản ở tác giả, người đọc, hay chính văn bản? Liên văn bản có giúp thực hành sự diễn giải hay nó chống lại quan niệm về diễn giải”[1,50].

Nhiệm vụ của luận văn không phải trả lời tất cả những câu hỏi đó màxác định một cách phân tích văn học dựa theo tư tưởng liên văn bản dù tưtưởng này chưa chắc là đầy đủ Cụ thể nhiệm vụ của chúng ta là vận dụng

Trang 19

nó như một khái niệm phân li, đa bội, đặt những câu hỏi và những đòi hỏi

để làm việc với nó nhiều hơn là bắt buộc phải tạo ra những câu trả lời xácđịnh Không có chân lý nào là tuyệt đối Mỗi khía cạnh của lý thuyết haymỗi lý thuyết cũng chỉ phù hợp trong những trường hợp nhất định Vớiquan điểm liên văn bản, ở đây chúng ta xác lập các cấp độ nghiên cứu thuậtngữ này

1.3 Các cấp độ nghiên cứu liên văn bản

Từ khi liên văn bản xuất hiện năm 1960 bởi J Kristeva, nó đã tạo nênmột bước ngoặt lớn lao đối với lý thuyết văn học Thuật ngữ này này đã làmnảy sinh nhiều hướng nghiên cứu khác nhau đối với nghệ thuật nói chung

và văn học nói riêng

Một đại biểu cho cách tiếp cận cấu trúc luận là Gerard Genette được

coi là “người thám hiểm phức tạp và kiên trì nhất trong thời đại của chúng

ta về mối quan hệ giữa phê bình và thi pháp” G Genette đã thúc đẩy sự

phát triển của thi học cấu trúc vào trong một lĩnh vực mà có thể được gọi làliên văn bản Ông không những tạo ra những phương pháp tiếp cận thựctiễn thi học mà ông còn tạo ra một lý thuyết và mô hình quan trọng về cáiông gọi là “Xuyên văn bản”; cái mà có lẽ nên gọi là “Liên văn bản từ quanniệm của thi học cấu trúc”

Trong công trình của mình G Genette đã đề xuất dạng xuyên văn bản(transtextuality) trong đó bao gồm cả dạng liên văn bản Nó bao gồm nhữngvấn đề về sự mô phỏng (imitation), sự biến dịch (transformation) sự phânloại các kiểu diễn ngôn, cùng với chủ đề, mô thức thể loại và những phạmtrù hình thức và những phạm trù của thi học truyền thống Với Xuyên vănbản (transtextuality), G Genette hy vọng dùng thuật ngữ này để lập sơ đồnhững con đường để những văn bản có thể hiểu và được giải thích một cách

có hệ thống: “Mọi tập hợp văn bản trong một mối quan hệ, hoặc là rõ ràng,

hoặc bị che đậy với các văn bản khác” [1, 84]

Trang 20

G Genette đã chia Liên văn bản thành năm kiểu Đầu tiên là liên vănbản (intertextuality) Tuy nhiên đây không phải là liên văn bản “dùng trongchủ nghĩa hậu cấu trúc”, vì ông giản lược nó đến “một mối quan hệ cùnghiện diện (conpresence) giữa hai văn bản hay giữa một vài văn bản” và như

là “sự hiện diện trên thực tế của một văn bản bên trong văn bản khác”[1,85] Hay nói cách khác, liên văn bản giờ đây được giản lược đến nhữngvấn đề về sự trích dẫn, đạo văn và ám chỉ Nói như vậy, liên văn bản củaG.Genette có phần giống với việc sử dụng điển tích, điển cố của văn họcphương Đông

Kiểu thứ hai mà G Genette nói đến là Cận văn bản (paratextuality)

Nó chỉ là sự liên hệ giữa một văn bản và những văn bản tương đương với

nó - bao quanh cơ thể văn bản chính - như đầu đề, đề mục, lời tựa, đề từ, lời

đề tặng, lời biết ơn, chú thích, minh họa, bìa sách Theo G Genette, bảnthiết kế của bìa sách không phải không có ý nghĩa Nó được thiết kế đểđược trợ giúp người đọc thiết lập loại văn bản nào mà chúng đang được thểhiện và làm thế nào để đọc nó Đối với Genette, cận văn bản biểu thị vô sốchức năng, chúng hướng dẫn độc giả của văn bản và có thể hiểu một cáchthực dụng trong giới hạn của vô số câu hỏi đơn giản, tất cả liên quan tớicách thức tồn tại của văn bản Xuất bản khi nào? Bởi ai? Vì mục đích gì?Những yếu tố bàng văn bản như vậy cũng giúp củng cố những ý đồ của vănbản: nó nên/không nên được đọc như thế nào

Kiểu thứ ba được giới thiệu ở đây là Kiến trúc văn bản(Architexttuality) Nó là sự định rõ một văn bản như một bộ phận của mộtthể loại hay nhiều thể loại hay được hiểu như mối quan hệ thể loại giữa cácvăn bản

Kiểu thứ tư là Siêu văn bản (metatextuality) sự phê bình dẫn giải rõràng hay ẩn tàng của một văn bản trong những văn bản khác, sự chú giảihoặc viện dẫn văn bản trước đó một cách có phê phán

Trang 21

Kiểu cuối cùng được G.Genette nói đến là Ngoa dụ văn bản hay cựcđại văn bản (Hypotexttuality) Ngoa dụ văn bản đánh dấu một khu vực cáctác phẩm văn học mà chất thể loại của chúng nằm trong mối quan hệ vớicác tác phẩm trước đó Nó như sự cười cợt hay giễu nhại của văn bản nàyvới văn bản khác Về cơ bản, theo Genette, các văn bản có thể được biếnđổi bởi quá trình tự gạn lọc, cắt bỏ, rút gọn mở rộng

Có thể nói Xuyên văn bản theo cách hiểu của Genette chính là kiếntrúc văn bản - những khuôn hình xây dựng, nền tảng, ít biến đổi, chống đỡtoàn bộ hệ thống văn học Nó bắt nguồn từ khao khát xây dựng một thi họckhả thể và ổn định về chủ đề, thể loại và thể thức của G Genette

Nói đến vấn đề liên văn bản, chúng ta cũng không thể không nhắctới Harold Bloom (giáo sư, nhà phê bình văn học Hoa Kỳ Ông giảng dạytại Đại học Yale và Đại học New York) với cống hiến rõ ràng cho một sựgiải thích về lí thuyết và thực tiễn liên văn bản Với sự quan tâm đặc biệtđến thơ ca thế kỉ XIX, mà cụ thể là thơ ca lãng mạn, Bloom đi tìm nguyênnhân các nhà thơ lãng mạn không thể giải thoát dứt khoát thơ ca của họ

khỏi thơ ca của tiền nhân: “Một nhà thơ không dám đương đầu với bản

thân mình vì là người đến sau”[1,112] Bloom đã dùng phân tâm học của

Freud mà cụ thể là mặc cảm Oedipuf để nói về “ người cha thơ ca” Vớithuật ngữ “những xung động tình dục” của Freud, Bloom đã quy cho thơ

ca có nguồn gốc từ hai động cơ: động cơ đầu liên quan đến khao khát môphỏng thơ của “người cha” Động cơ thứ hai liên quan đến khao khát làngười sáng tạo đầu tiên Quan niệm của Bloom về thi ca như vậy cũng làliên văn bản Nó chứng minh rằng thi ca, mà thực ra là văn chương nóichung, có thể chỉ mô phỏng những văn bản trước đó trước khi sáng tạo ranhững gì của riêng mình

Bloom cho rằng các nhà thơ đã viết bằng sự hiểu sai và đọc sai cácbài thơ của “nhà thơ cha” hay có thể gọi là nhà thơ tiền bối Những nhà thơ

Trang 22

hậu bối phải làm hai điều: họ phải viết lại các bài thơ của nhà thơ tiền bối,

và trong khi làm việc đó họ phải bảo vệ tri thức của chính họ Họ chỉ được

để hết tâm trí vào tiến trình viết lại, hay cái Bloom gọi là sự đọc sai Theocách hiểu của Bloom, các nhà thơ “sinh sau, đẻ muộn” đã biến hóa, đề tênkhác, sử dụng lại những hình ảnh hầu như đã được viết rồi của thơ ca trước

đó Trong sự làm mới đó, ảo tưởng rằng thơ của họ không bị ảnh hưởngđược sinh ra

Bloom phát triển một “bản đồ đọc sai” mở rộng trong công trình củaông những năm 1970 Bản đồ này muốn liệt kê và cụ thể hóa những kiểuđọc sai biểu trưng thống ngự trong thi ca hiện đại Bản đồ đọc sai gồm sáugiai đoạn, mỗi giai đoạn liên quan đến cái Bloom gọi là “một tỉ lệ đọc sai”

Qua đó, Bloom muốn khẳng định rằng: “thơ ca, và thực ra là văn học liên

quan đến cả ngôn ngữ hình tượng và những cơ chế tự vệ có tính chất tâm lý (phản ứng của cơ thể chống lại bệnh tật) ” “Sự tự vệ” liên quan đến việc

di chuyển các yếu tố bị ẩn ức trong vô thức vào người khác hoặc một vài hiện tượng bên ngoài khác” [1,114] Sự kết hợp phương pháp tu từ học và

phương pháp phân tâm học đối với liên văn bản là một phần đóng góp củaBloom với phong trào lí luận văn học đương đại Lí thuyết về sự đọc saitrên thực tế là một sự bảo vệ tính đa nguyên và cùng với nó là sự hỗ trợ việcnhận thức rằng văn học không tồn tại trong một thế giới giải thích kín mít

Liên văn bản cũng liên quan đến phong trào văn học nữ quyền Cácnhà phê bình nữ quyền cần có sự phân tích cả hai mối quan hệ liên văn bảngiữa các nhà văn nữ và giữa nhà văn nữ với nhà văn nam Có thể thấy trongphương pháp phê bình nữ quyền một hình dung về truyền thống văn học nữgiới, mối quan hệ giữa các nhà văn nữ và liên văn bản Quan niệm củaElaine Showater, một nhà phê bình nữ quyền rằng một tập hợp của những

“hình ảnh, hình tượng, những ẩn dụ, những chủ đề và những cốt truyện” kếtnối lối viết của phụ nữ qua các thời đại và những ranh giới quốc gia - dân

Trang 23

tộc và xây dựng thành thứ gì đó như sự liên kết và như sự phong phú củatính liên văn bản.

Các nhà phê bình nữ quyền cũng đã chỉ ra rằng những nhà văn nữchịu ảnh hưởng của văn hóa phụ quyền: lấy bút danh nam giới Đây là một

sự sợ hãi khác với các nhà văn nam Theo Bloom thì các nhà văn nam viếttrong sự sợ hãi những ảnh hưởng của nhà văn tiền bối Thế nhưng với cácnhà văn nữ thì họ thiếu ý thức về một truyền thống có được, kinh nghiệmcủa nhà văn nữ về bản chất là cô độc Tuy nhiên, các nhà phê bình nữ quyềnquan tâm nhiều đến việc lần theo những mối liên hệ ẩn nấp trong sáng táccủa các nhà văn nữ hơn là đang phát triển một lý thuyết về một phươngpháp nữ giới hoặc nữ quyền đối với việc đọc

Liên văn bản là một thuật ngữ không chỉ được vận dụng trong vănhọc mà nó có khả năng chiếm lĩnh cả hội họa, điện ảnh, âm nhạc, kiến trúc,nhiếp ảnh và hầu như mọi lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật Với tính chất đốithoại, liên văn bản dường như tạo ra cái nhìn đa chiều về các lĩnh vực nghệthuật hơn Nó tìm thấy ở những hình thức nghệ thuật phi văn học sự liên hệvới văn bản ngôn từ

Có thể nói, một bức tranh hay một công trình xây dựng luôn có mốiquan hệ với ngôn ngữ, hay nói cách khác giữa các lĩnh vực nghệ thuật luôn

có mối liên hệ với văn bản văn học Chúng đối thoại với nhau, tan loãngvào nhau, ranh giới giữa các văn bản là “xuyên thấm nhau” Mỗi văn bảntồn tại bên trong một tập hợp những văn bản rộng lớn, trong những loại vàphương tiện khác nhau không văn bản nào là một “hòn đảo” hoàn toàn côđộc Một văn bản có thể bao hàm nhiều mã Chẳng hạn một báo ảnh phải cóđầu đề, một tấm ảnh có thể cho biết mối liên hệ giữa người trong ảnh vớinhững người khác Ngôn ngữ điện ảnh, hội họa, kiến trúc liên quan đến sựsản sinh các yếu tố phức tạp của việc lập mã, giải mã và ám chỉ

Trang 24

Chúng ta có thể thấy điều này rõ ràng nhất qua những đoạn quảngcáo Nghề quảng cáo sớm sử dụng văn bản viết để trình bày thông điệp của

nó Từ giữa những năm 1920, với sự phát triển của công nghệ hiện đại, hìnhảnh và văn bản đã được sử dụng cùng với nhau trong quảng cáo Văn bản

đã góp phần giải thích hình ảnh Trong giai đoạn hậu chiến, đặc biệt từ đầunhững năm 1960, chức năng của văn bản không chỉ dừng ở việc giải thíchhình ảnh mà đối với nhiều đoạn quảng cáo khó hiểu, nó trở thành chìa khóa

để bóc tách ý nghĩa mà nhà quảng cáo muốn nói Sự thấu hiểu nó phụ thuộcvào liên kết nhiều yếu tố Quảng cáo hiện đại tạo nên việc sử dụng rộng rãicác liên văn bản

Đặc biệt trong lĩnh vực điện ảnh, việc mô phỏng các văn bản văn họcliên quan đến một khu vực thẩm mĩ được thừa nhận phổ biến hay còn gọi làkịch bản phi điện ảnh Văn bản văn học và điện ảnh, trong liên kết của nótrở thành sự cắt nghĩa cho nhau Bởi vậy, trong phê bình nghệ thuật hiệnđại, sự liên kết giữa các lĩnh vực trở lên vô cùng quan trọng trong việc khaithác tối đa các lớp ý nghĩa của chúng

Quan niệm về văn bản cũng trở nên linh hoạt hơn với sự ra đời củainternet Với internet, văn bản của chúng ta sẽ được phân chia thành cácđơn vị với những đường kết nối, hoặc có thể chứa đựng một dãy các vănbản nối với nó qua các đường dẫn Người đọc có thể nhanh chóng đọc tácphẩm chỉ thông qua một thao tác bấm vào đường dẫn ấy, có thể đọc tácphẩm bất cứ đoạn nào một cách dễ dàng Các văn bản dạng này được xem

là siêu văn bản (hypertext) Tính ưu việt của nó làm người ta cho rằng trongtương lai gần, siêu văn bản sẽ thay thế sách Và sự thật là sách ở thời điểmhiện tai đang bị lấn át Umberto Eco, nhà văn nhà kí hiệu học người Italia

đã đặt ra vấn đề “Có thể nào siêu văn bản thay thế sách để đọc” [17,212] và ông đã khẳng định luôn là: “Sách sẽ luôn thiết yếu không chỉ trong văn học,

mà cho cả bất cứ trường hợp nào một người đọc cẩn trọng, không chỉ để

Trang 25

nhận thông tin mà để phán đoán và suy nghĩ về nó” [17, 212] Ông còn đánh

giá thấp việc đọc sách qua các siêu văn bản ấy vì cho rằng ở thời điểm hiện

tại “rõ ràng là được viết bởi những tay ngốc nghếch vô trách nhiệm và yêu

sự thừa thãi”[17, 212] Có lẽ không phải là tất cả nhưng trên một siêu văn

bản với tính chất mà ai cũng có thể đưa thông tin lên đó như internet thì tìnhtrạng “vàng thau lẫn lộn” là rất dễ xảy ra Một lý do nữa mà U Eco khẳngđịnh là các phương tiện truyền thông không thể thay thế hoàn toàn sách là

“Sau khi ngồi sử dụng không quá 12 giờ trước một trạm máy điện toán, đôi mắt của tôi như hai quả banh tennis”[17, 212] Đó chính là lý do sức khỏe.

Như vậy, giải pháp cho sự lựa chọn sách để đọc và các siêu văn bản là gì?

Đó là sử dụng linh hoạt cả hai tùy theo mục đích của người đọc Thiên lệch

về bên nào cũng là bất hợp lý vì cái gì được tạo ra cũng có lý do của nó

Chủ nghĩa hậu hiện đại giờ đây là một thuật ngữ quan trọng trongnghiên cứu văn học, cả trong đời sống văn học nói chung Ở thời điểm hiệntại, bất kỳ thảo luận nào về địa vị của liên văn bản trong nghệ thuật cũngdẫn chúng ta đến các vấn đề của chủ nghĩa hậu hiện đại

Trong văn hóa của chủ nghĩa tư bản đương đại, những quan niệmtruyền thống về bản sắc dân tộc và văn hóa được thay thế bằng những hìnhthức toàn cầu xuất phát từ hợp tác xuyên quốc gia trong sự điều khiển củaphương tiện truyền thông đại chúng

Các nhà lí luận hậu hiện đại cho rằng: hậu hiện đại là nơi dường nhưkhông tồn tại một nguyên tắc văn hóa để chống lại, giễu nhại các quy tắcthống trị nữa Đặc biệt trong kiến trúc, các nhà hậu hiện đại khẳng định thay

vì kêu gọi “tạo ra cái mới của kiến trúc hiện đại, các kiến trúc sư hậu hiệnđại thực hiện cái mà chúng ta gọi là một kiến trúc liên văn bản Kiến trúcnày chiếm hữu các phong cách thuộc những kỉ nguyên khác nhau Trongkhi kiến trúc hiện đại chủ nghĩa tránh những hình thức đại chúng thì các nhàkiến trúc hậu hiện đại đùa giỡn và pha trộn các phong cách với nhau

Trang 26

Trong văn học, nói đến liên văn bản là nói đến hiện tượng một vănbản có sẵn hồi thanh những văn bản trước đó Các văn bản thường dẫn dụngnhững văn bản trước đó và sự dẫn dụng đó đôi khi khó có thể nhận ra vìngay cả tác giả đôi khi cũng không ý thức được về nó Tuy nhiên, liên văn

bản trong văn học hậu hiện đại thì sự dẫn dụng lộ rõ và nhận ra được “Có

một thủ pháp điển hình của lối kể chuyện hậu hiện đại gần đây đã được sử dụng nhiều trong khu vực truyền thông đại chúng; nó liên hệ đến sự dẫn dụng châm biếm về những tình huống sáo cũ” [17,180]… “Chúng ta có những văn bản được trích dẫn từ những văn bản khác và sự biết đến những văn bản trước đó - xem như đương nhiên - được giả định là cần thiết cho sự thú vị của văn bản mới” [17, 182]

Như vậy tính liên văn bản trong chủ nghĩa hậu hiện đại cũng khôngnằm ngoài những tính chất cơ bản của liên văn bản Đó vẫn là những đườngdẫn người đọc từ văn bản hiện tại đến những văn bản trước đó Nếu có khácthì ở đây là sự sử dụng có dụng ý những mối liên hệ đó nhằm truyền tảithông tin tốt hơn đối với người xem, người đọc

*

* *

Những vấn đề lý thuyết về liên văn bản có lẽ quá phức tạp để có thểkhái quát trong vài trang giấy và có lẽ nó sẽ còn nhiều biến đổi nữa trongdòng chảy văn học, văn hóa Tuy nhiên về cơ bản chúng ta có thể hiểu rằngsức mạnh của liên văn bản trong việc khám phá các sáng tác nghệ thuật làrất khả quan bởi vì nó không nhìn đối tượng nghiên cứu một cách đơnchiều, bất biến Trong tính liên kết của nó, liên văn bản đối thoại với nhiềuvăn bản khác thuộc nhiều loại hình khác nhau Bởi vậy, khả năng mở rộng ý

nghĩa của nó là rất phong phú: “Vượt qua nhan đề, những dòng đầu tiên và

dấu chấm hết, vượt qua cấu tạo và hình thức nội tại của nó, liên văn bản được tìm thấy trong một hệ thống liên quan của những cuốn sách khác, văn

Trang 27

bản khác, câu văn khác Nó là một điểm trong mạng lưới Một cuốn sách không phải một đối tượng đơn giản để ai đó có thể nắm trong lòng bàn tay.” Có lẽ lời phát biểu của Foucault về liên văn bản giúp chúng hiểu cơ

bản về tính chất của thuật ngữ này Những để vận dụng nó vào văn học vànghệ thuật là một điều không hề đơn giản Mỗi người phải tự tìm thấyhướng đi của mình trong lý thuyết nhiều cấp độ này Luận văn này là mộtthử nghiệm theo hướng nhất định căn cứ trên một hiện tượng văn học có sự

“tích hợp văn hóa”, đó là tiểu thuyết của Hồ Anh Thái

1.4 Hồ Anh Thái, nhà sáng tạo tiểu thuyết

1.4.1 Quá trình sáng tác

Sinh năm 1960 ở Quỳnh Lưu - Nghệ An, nhàvăn Hồ Anh Thái hiện là tiến sĩ văn hoá phươngĐông, đã thỉnh giảng tại các đại học Washington vàSt.Mary (Mỹ), làm việc tại Bộ Ngoại giao, Hà Nội,đồng thời là tổng thư ký Hội nhà văn Hà Nội Sởtrường về tiểu thuyết và truyện ngắn, ở mỗi thể loạinhà văn Hồ Anh Thái đều đạt được những thành tựuriêng Ông đã có rất nhiều đóng góp cho thi pháp tiểu thuyết Việt Nam hiệnđại với nhiều tác phẩm đặc sắc

Hồ Anh Thái góp mặt với làng văn từ rất sớm Với giọng điệu độcđáo của mình, nhà văn đã sớm khẳng định tên tuổi của mình trên văn đàn.Làm việc ở Bộ Ngoại giao và là Tiến sĩ văn hoá phương Đông, được thỉnhgiảng ở nhiều trường đại học phương Tây, từng sống ở Ấn Độ nhiều năm,nhà văn Hồ Anh Thái có một vốn hiểu biết sâu rộng nhiều nền văn hoá Bởivậy trong các sáng tác của ông chúng ta gặp nhiều chủ đề, nhiều cách tiếpcận Một thời gian thấy nhà văn chỉ viết về thanh niên sinh viên, một thờigian viết về Ấn Độ, về Mỹ, sau đó lại thấy ông viết về trí thức công chức

và ở mảng đề tài nào độc giả cũng được thưởng thức những sáng tác độc

Trang 28

đáo mới lạ, những cách tiếp cận tinh tế Nhiều cuốn đã được dịch in ở Pháp,

Mỹ, Nga, Nhật, Thái Lan, Ấn Độ Các tác phẩm chính đã được xuất bảncủa ông như:

- Chàng trai ở bến đợi xe (1985)

- Phía sau vòm trời (1986)

- Vẫn chưa tới mùa đông (1986)

- Người và xe chạy dưới ánh trăng (1987)

- Người đàn bà trên đảo (1988)

- Những cuộc kiếm tìm (1988)

- Mai phục trong đêm hè (1989)

- Trong sương hồng hiện ra (1990)

- Mảnh vỡ của người đàn ông (1993)

- Người đứng một chân (1995)

- Lũ con hoang (1995)

- Tiếng thở dài qua rừng kim tước (1998)

- Họ đã trở thành nhân vật của tôi (2000)

- Tự sự 265 ngày (2001)

- Cõi người rung chuông tận thế (2002)

- Bốn lối vào nhà cười (2005)

- Đức Phật, nàng Sivitri và tôi

- Mười lẻ một đêm (2006)

- Namaskar! Xin chào Ấn Độ (2008)

- Hướng nào Hà Nội cũng sông (2009)

- SBC là săn bắt chuột (2011)

Hầu như năm nào, nhà văn Hồ Anh Thái cũng cho ra mắt một tácphẩm mới Chỉ tính đầu sách đã xuất bản ta thấy sự cần mẫn trong sáng tác

của nhà văn như ông từng phát biểu: “Việc công sở bận rộn, nhưng mỗi

ngày tôi phải đều đặn viết ít nhất hai giờ Người viết chuyên nghiệp phải thế, ngồi vào bàn và anh phải có đủ kỹ năng để huy động cảm hứng Chờ

Trang 29

cảm hứng tự dẫn thân tới là một thái độ lao động nghiệp dư và có chút thần

bí hoá nghề văn.” Có thể nói hiếm có nhà văn nào lại có thể đảm nhận

nhiều công việc, nhiều vị trí mà có thể đều đặn sáng tác như Hồ Anh Thái.Thành công trên nhiều lĩnh vực chính là kết quả sự nỗ lực không ngừng củanhà văn Và khi được hỏi về cảm giác thành công trước con mắt người khác

nhà văn đã không ngần ngại bộc bạch: “Tôi đã học được cách sống bình

thản trước mọi sự ở đời Cách sống ấy quan tâm đến cách nhìn của mình với thế giới bên ngoài, chứ không bận tâm lắm xem bên ngoài nhìn mình ra sao” Nhờ sự cần mẫn, tâm huyết với nghề văn, tác giả Hồ Anh Thái đã đạt

được nhiều giải thưởng về truyện ngắn và tiểu thuyết của Hội Nhà văn ViệtNam, Tổng LĐLĐ Việt Nam, Báo Văn Nghệ, Liên Hiệp các hội văn họcnghệ thuật Việt Nam

1.4.2 Quan điểm nghệ thuật của Hồ Anh Thái

"Tiểu thuyết như là một giấc mơ ẩn chứa những điều không có thực ở

ngoài xã hội Thực chất tiểu thuyết là một câu chuyện bịa đặt nhưng nó còn thật hơn cả sự thực" “Tôi quan niệm tiểu thuyết như một giấc mơ dài.” (Hồ

Anh Thái) Với quan niệm tiểu thuyết là những “giấc mơ dài” như vậy, nhàvăn Hồ Anh Thái đã đưa người đọc đến với nhiều thế giới, nhiều nền văn hóađộc đáo qua những trang sách hấp dẫn của ông Nhưng để có được điều đónhà văn phải có tài năng và làm việc miệt mài cho những sáng tạo của mình

Mỗi lần Hồ Anh Thái ra mắt một cuốn sách thì lập tức nó lại chongười đọc những cảm nhận mới lạ hơn Đó cũng chính là quan điểm của ông

về nghề văn: “… người viết văn không phải vì thế mà bạ gì cũng viết Biết sửdụng chữ cũng phải thận trọng như biết dùng súng dùng dao Không khéo thìsẩy tay cướp cò Trúng vào người vô tình ngang qua Trúng vào chính mình[…] Chớ viết nhờn tay quen tay Chớ viết vì ngứa chân ngứa tay ngứa dađầu” Nhà văn không chấp nhận những lối mòn “quen tay” nhưng muốnnhư vậy thì nhà văn phải nỗ lực liên tục trong sáng tạo của mình Quan niệm

“Tiểu thuyết như những giấc mơ” cũng cho thấy nhà văn đề cao sự hư cấu

Trang 30

trong nghệ thuật: “tái hiện cuộc sống hiện thực mà dùng mỗi một công cụ

hiện thực là không đủ, nó sẽ làm nghèo trang viết của mình”

“Dù công việc ở sở bận rộn, nhưng mỗi ngày tôi phải viết đều đặn hai tiếng, người viết chuyên nghiệp phải thế, ngồi vào bàn là anh có đủ kĩ năng huy động cảm hứng, chứ chờ cảm hứng tự dẫn thân tới là một thái độ lao động nghiệp dư và có chất thần bí hóa nghề văn…” Qua những tâm sự

của tác giả, chúng ta có thể thấy ông coi nghề viết văn không đơn giản chútnào Nó đòi hỏi sự cố gắng, nỗ lực thường xuyên Điều này cũng cho thấyông luôn có ý thức trách nhiệm với ngòi bút của mình, sáng tạo, đổi mới đểkhông lặp lại bản thân và phong cách của người khác Nhìn lại các sáng táccủa Hồ Anh Thái, chúng ta có thể dễ nhận ra nhà văn đã thể hiện trong tácphẩm rất nhiều đề tài khác nhau Ông đi vào từng “ngõ ngách” những vấn

đề của cuộc sống bằng một con mắt vừa hài hước chấm biếm, vừa sâu sắcthâm trầm Cái độc đáo ở Hồ Anh Thái là ông không bao giờ bằng lòng vớinhững gì mình đã viết, luôn đổi mới nghệ thuật tự sự để đi tới những sángtạo nghệ thuật đủ sức chiếm lĩnh, ám ảnh trái tim người đọc

Tuy viết về nhiều đề tài nhưng có lẽ trong các sáng tác của Hồ AnhThái vẫn nổi lên cảm hứng chủ đạo đó chính là đất nước Ấn Độ chính như

tác giả đã thừa nhận mối duyên với mảnh đất này: “Có lẽ là do nhân duyên.

Tôi được đào tạo cơ bản về ngoại giao, làm ngoại giao, rồi đi bộ đội nghĩa

vụ Rời quân ngũ trở về với ngành ngoại giao, tôi đã chọn Ấn Độ chứ không phải những khu vực khác… Ấn Độ cho ta cảm tưởng, càng tìm hiểu lại càng không hiểu gì cả” Mối duyên giữa Hồ Anh Thái và đất nước Ấn

Độ đã cho người đọc những trang viết hay và những hiểu biết về văn hóa

Ấn Độ sâu sắc hơn Đặc biệt, trong những tác phẩm đó có tiểu thuyết Đức

Phật, nàng Savitri và tôi, một cuốn sách thú vị mà chúng tôi sẽ khảo sát

bằng lí thuyết liên văn bản ở chương sau

Có thể nói nhà văn Hồ Anh Thái là một tấm gương về sự phấn đấu,

cố gắng trong công việc và nghề văn Làm được điều đó có lẽ không phải

Trang 31

đơn thuần chỉ cần năng khiếu mà còn cần một tình yêu như nhà văn đã tâm

sự về kinh nghiệm sống và viết: “Kinh nghiệm sống và viết của một người

không mấy có ích với người khác Hình như ở đây có chút gì đó giống như tình yêu Cần một chút mê đắm, một chút thành thực là có tình yêu” Quả

thực bước chân vào nghề sáng tác, mỗi người phải có đủ tình yêu để có thể

đi cùng nó đến hết con đường Ai đủ tình yêu người đó sẽ gặt hái đượcthành công Nhà văn Hồ Anh Thái chính là điển hình của sự tâm huyết vớinghề Hy vọng tương lai người đọc sẽ còn được đón nhận nhiều sáng tác giátrị của ông

Trang 32

CHƯƠNG 2 ĐỐI THOẠI VĂN HÓA TRONG TIỂU THUYẾT

ĐỨC PHẬT, NÀNG SAVITRI VÀ TÔI

2.1 Sơ lược cấu trúc tự sự của tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri

và tôi của Hồ Anh Thái

Ở phần này của luận văn, chúng tôi sẽ bắt đầu từ việc nghiên cứu nềntảng của tiểu thuyết Kiến trúc này được cụ thể hóa qua kết cấu tự sự của tác

phẩm Kiến trúc nền tảng của tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi là sự

đối thoại của nhà văn với các văn bản văn hóa truyền thống, với văn hóadân tộc, với các hệ tư tưởng tôn giáo…

Tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi được xây dựng trên một

cấu trúc lạ với sự tích hợp của ba góc nhìn, ba người kể chuyện Đó là:Người kể chuyện tường minh kể về cuộc đời Đức Phật; người nghiên cứuvăn hóa cổ kể về sự gặp gỡ với nàng Savitri và nàng Savitri kể về tiền kiếpcủa mình Cùng với việc kết hợp nhiều người kể chuyện, nhà văn đã kết cấutác phẩm của mình thành 19 chương với 3 chương tôi, 7 chương Savitri và 9chương Đức Phật Chính sự kết hợp nhiều người kể chuyện, nhiều gócnhìn và nhiều giọng điệu như vậy trong một tác phẩm đã tạo nên cơ sở của

sự đối thoại mà chúng tôi sẽ triển khai sau đây Nhà văn Tô Hoài khi đánhgiá về tác phẩm này cũng đã khẳng định kết cấu mới mẻ của tác phẩm này:

“nhà văn đã tạo ra một lối “quay ngược sáng, tạo dấu ấn chồng chéo”…

“Yếu tố văn hóa đã tham gia vào cấu trúc truyện cổ” Tác giả Trần Thùy

Mai cũng từng đánh giá về kết cấu của tác phẩm: “Có 3 chương tôi, 7

chương Savitri, và 9 chương Đức Phật Tiểu thuyết của Hồ Anh Thái được cấu thành bởi 3 phần rõ rệt, nhưng ba phần ấy không tách lìa nhau, chúng xen lẫn vào nhau để dẫn tới một kết thúc chung nhất Tựa như những âm thanh của một dàn hợp tấu - ta có thể nghe rõ âm sắc từng nốt nhạc

Trang 33

những tất cả quyện chặt với nhau thành một tổng thể không thể tách rời”

[36] Những âm thanh ấy chính là cơ sở để tạo nên tính đối thoại trong tácphẩm khi nhiều giọng điệu cùng xuất hiện và có giá trị ngang nhau, khôngphân biệt chủ âm hay phụ âm

Với sự xây dựng cuộc đời Đức Phật và nàng Savitri song song vớinhau, tác phẩm đã vượt qua kết cấu truyền thống trong văn học để tạo ramột thế giới nghệ thuật với nhiều thời gian và không gian cùng hiện diện

Đó là không gian thời gian cổ đại cùng thời gian không gian hiện đại quatiền thân và hậu thân của Savitri Việc xây dựng nhân vật nàng Savitri nhưvậy khiến cho tác phẩm có kết cấu như những vòng tròn đồng tâm: vòngngoài cùng là hành trình của tôi và nàng Savitri - hậu thân đi tìm Phật tích;vòng bên trong là hành trình của Savitri - tiền thân, nàng công chúa bị lưuđày với tình yêu dành cho Đức Phật; và vòng trong cùng là hành trình củaThái tử Siddhatha đi tìm chân lý Mặc dù vòng trong cùng về cuộc đời củaThái tử Siddhatha - Đức Phật, được tác giả viết cô đọng nhất nhưng nó làtrung tâm, là ngọn đuốc để soi chiếu các nhân vật khác Bên cạnh nhữngvòng tròn đồng tâm ấy là những câu chuyện khác bao quanh nó như nhữnghuyền thoại xưa, những câu chuyện về kĩ nữ Usa, về Devadatta - em ruộtcủa Đức Phật… Tất cả đều tạo thành một mạng lưới mà có lẽ với lí thuyết

về liên văn bản chúng ta sẽ tìm hiểu được phần nào sự kết nối độc đáo đó

Tác phẩm Đức Phật, nàng Savitri và tôi ngay từ cái tên của nó đã cho

chúng ta thấy tính chất liên văn bản Qua sự phân tích sơ lược kết cấu tự sự ởtrên chúng ta đã có cơ sở để khảo sát sự đối thoại giữa các văn bản trong tácphẩm Sự kết hợp nhiều giọng điệu, nhiều góc nhìn, nhiều nền văn hóa cũngnhư tư tưởng tôn giáo chính là điều mà chúng tôi sẽ tìm hiểu sau đây

2.2 Văn hóa và đối thoại văn hóa

Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểukhác nhau, liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần của con người

Trang 34

Cựu Tổng giám đốc Unessco Federico Mayor có đưa ra định nghĩa về

văn hoá: “Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát mọi mặt của

cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỉ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mĩ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”.[34]

Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm trong lời ngỏ của trang Wed về vănhoá vanhoahoc.com cũng định nghĩa tương tự: “Con người tồn tại trong môitrường văn hoá Môi trường ấy thể hiện trong không gian và qua thời gian.Cuộc sống trong ta và quanh ta thấm đẫm chất men của không gian văn hoá.Cha ông ta, bản thân ta, rồi con cháu ta, sinh ra trong văn hoá, sống trongvăn hoá và chết đi trong thời gian văn hoá Tất cả những cái ta đã biết liênquan đến con người thuộc về văn hoá, tất cả những gì chúng ta còn chưabiết liên quan đến con người cũng thuộc về văn hoá Chính là theo nghĩa đó.Edouard Herriot (1872 - 1957) - nhà khoa học và chính khách, Viện sĩ Việnhàn lâm Pháp - đã nói câu bất hủ: “Văn hoá là cái còn lại khi ta đã quên tất

cả, là cái còn thiếu khi ta đã học tất cả”” [49, 1]

Từ định nghĩa trên, ta có thể thấy: Văn hoá là một hiện tượng kháchquan, là tổng hoà của tất cả các khía cạnh của đời sống bao quanh conngười, tồn tại hữu thức và cả vô thức trong mỗi chúng ta Ngay cả nhữngkhía cạnh nhỏ nhất của cuộc sống cũng mang dấu hiệu văn hoá Chính vìtính chất đó mà tính đối thoại văn hóa cũng vô cùng đa dạng Ở bất kì khíacạnh nào chúng ta cũng có thể thấy được sự đối thoại đó Đặc biệt là mốiquan hệ giữa văn hóa và văn học Bất kì văn hóa quốc gia nào cũng có sựphản ánh trong văn học Văn học là nghệ thuật dùng ngôn từ và hình tượng

để thể hiện đời sống và xã hội con người “Văn học ở thời nào cũng phải

đặt trong cấu trúc tổng thể của văn hoá, nhưng ở ta xem xét văn học và tiếp cận văn học từ góc độ văn hoá hiện nay vẫn là vấn đề hết sức mới mẻ.

Trang 35

Trước đây, văn học và văn hoá bị xem xét một cách biệt lập do người ta quan niệm văn học có đặc trưng loại biệt Bây giờ đặc trưng loại biệt không phải là không còn, nhưng trong nhiều cách tiếp cận thì cách tiếp cận văn học từ góc độ văn hoá đang cho thấy là một hướng tiếp cận có hiệu quả Cách tiếp cận này xem văn học như một thành tố trong cấu trúc của tổng thể văn hoá nó truyền tải, lưu giữ được những giá trị văn hoá.”[52]

Trong lịch sử văn học của bất cứ quốc gia nào cũng tồn tại mối quan hệgiữa văn hoá và văn học Đó là một mối quan hệ hai chiều khăng khít khôngthể tách rời Ở đây, chúng tôi muốn khẳng định thêm một lần nữa mối quan

hệ đó để có thể thấy hướng tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hoá

là vô cùng cần thiết

Trước kia, văn hoá và văn học được đặt ở vị trí ngang bằng,“được

coi là quan hệ tương hỗ”, tức là nghiên cứu văn hoá thì dùng văn học làm

tư liệu, còn nghiên cứu văn học lại dùng văn hoá để soi chiếu Gần đây, saukhi Unesco phát động những thập kỷ phát triển văn hoá cùng sự thay đổinhận thức văn hoá và các công trình của M.Bakhtin được giới thiệu, các nhànghiên cứu đã thống nhất văn hoá là nhân tố chi phối văn học Văn hoá trởthành một hướng nghiên cứu hiệu quả Đã có một số tác giả đi theo hướngnghiên cứu này: Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương, Đỗ Lai Thuý, Trần

Nho Thìn… Tác giả Đỗ Lai Thuý khẳng định: “…Văn hoá là một tổng thể,

một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố, trong đó có văn học Như vậy, văn hoá chi phối văn học với tư cách là hệ thống chi phối yếu tố, toàn thể chi phối

bộ phận Đây là quan hệ bất khả kháng Tuy nhiên, văn học so với các yếu

tố khác là một yếu tố mạnh và năng động Bởi thế, nó luôn có xu hướng đi trượt ra ngoài hệ thống Trong khi đó thì hệ thống, nhất là hệ thống văn hoá, luôn có xu hướng duy trì sự ổn định Như vậy, sự xung đột, sự chống lại của văn học đối với văn hoá là không thể tránh khỏi Nhưng nhờ thế mà văn học có sáng tạo Sáng tạo những giá trị mới cho bản thân nó và cho hệ

Trang 36

thống Sáng tạo lớn thì có thể dẫn tới sự thay đổi của hệ thống”[52, 3].

Trong mỗi nền văn hóa, chúng ta đều có thể thấy nhiều đối thoại ở nhiềucấp độ Tuy nhiên ở bất kì nền văn hóa nào cũng đều có sự đối thoại giữatruyền thống và hiện đại, bản sắc văn hóa dân tộc này và bản sắc văn hóadân tộc khác được du nhập, đối thoại giữa dân tộc và nhân loại Mỗi nềnvăn hóa dân tộc (cổ đại, trung đại, hiện đại) đều coi như một văn bản Nhàvăn trong quan hệ với các văn bản đó đã tự mình đối thoại, hay giễu nhại Ởtrường hợp này là sự đối thoại

Đặc biệt trong tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi của Hồ Anh

Thái, tính đối thoại văn hóa càng nổi bật trong chiều văn hóa Ấn Độ và ViệtNam; chiều cổ đại và hiện đại

2.3 Các đối thoại văn hóa trong Đức Phật, nàng Savitri và tôi

2.3.1 Đối thoại với văn hóa cổ đại từ điểm nhìn văn hóa hiện đại

Trong tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi của nhà văn Hồ Anh

Thái, chúng ta bắt gặp những đối thoại thú vị Tác phẩm như một chuỗi đanxen, móc nối những văn bản văn hóa tưởng chừng rất xa nhau Những âmhưởng cổ đại, hiện đại, những cuộc sống khác biệt được hội tụ ở đậy để tạonên một tiểu thuyết độc đáo của văn học đương đại Với tác phẩm này, tínhđối thoại theo quan điểm về tiểu thuyết đa thanh của Bakhtin mà sau đóđược J.Kristeva phát triển thành quan niệm về liên văn bản có lẽ là “chiếcchìa khóa” phù hợp để khám phá giá trị của nó

Tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi kết cấu gồm 19 chương: 3

chương Tôi, 7 chương Savitri và 9 chương Đức Phật không tách lìa nhau

mà được đan xen hòa trộn vào nhau: “Như những âm thanh của một dàn

hợp tấu - ta có thể nghe rõ âm sắc từng nốt nhạc nhưng tất cả quyện chặt với nhau tạo thành một tổng thể không thể tách rời” [36] Với kết cấu này,

nhà văn Hồ Anh Thái đã đồng hiện quá khứ và hiện tại qua lời kể củaSavitri hậu kiếp về tiền kiếp của mình Khoảng cách hơn 2000 năm từ cổ

Trang 37

đại tới hiện đại được kéo lại trong 431 trang sách bằng “cây cầu huyền ảo”

là nữ thần Savitri Sự chuyển dịch không gian và thời gian ấy tạo nên mộtcuộc đối thoại thú vị giữa xưa và nay Để tạo nên sự chuyển dịch khônggian và thời gian này, tác giả Hồ Anh Thái đã sử dụng một cách sáng tạonghệ thuật trần thuật Trong tiểu thuyết hiện đại, ngôi kể không tồn tại độclập, đơn nhất mà được phối hợp với nhau hoặc với các điểm nhìn trần thuật

khác rất linh hoạt, đặc biệt là điểm nhìn bên trong Ở tiếu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi, tác giả Hồ Anh Thái đã sử dụng người kể truyện trực

tiếp là nhân vật “Tôi” để dẫn dắt câu chuyện, cựu Thánh Nữ Đồng TrinhSavitri để đưa câu chuyện trở về thời Đức Phật, và cả người kể chuyện hàm

ẩn trong các chương viết về Đức Phật Như vậy chúng ta có đến ba người

kể chuyện, chưa kể việc dịch chuyển điểm nhìn giữa nàng Savitri tiền kiếp

và Savitri hậu kiếp, đã tạo nên rất nhiều giọng điệu trong tác phẩm Việc sửdụng nhiều người kể chuyện và dịch chuyển điểm nhìn đã đưa người đọcđến các góc nhìn, khoảng cách nhìn để có thể thấy được nhiều chiều của tácphẩm hơn Nhiều người kể chuyện cũng đồng nghĩa với có nhiều giọng điệutrong tác phẩm Đó chính là nền tảng cho tính đối thoại trong tác phẩm.Cùng với nó là việc các chương được lồng ghép kể trên, quá khứ và hiện tạilần lượt được xuất hiện theo diễn biến của câu chuyện Một quá khứ, mộtlịch sử, một nền văn hóa khổng lồ được dẫn dắt bởi con người ở thế giớihiện tại Một tiền kiếp đầy huyền thoại song hành với một hiện kiếp trong

xã hội văn minh Cái nhìn về lịch sử, về văn hóa cổ đại bằng cách đó tạonên sức hấp dẫn riêng cho tác phẩm Hai thế giới khác nhau: một bên vớinhững khách sạn, bể bơi, điện thoại một bên với thành quách, cung điện,ngai vàng tạo nên một kết hợp văn hóa độc đáo Sự tranh luận giữa ĐạoPhật và quan niệm ái tình của Savitri, sự tranh luận giữa Savitri tiền kiếp vàhiện kiếp, giữa quá khứ và hiện tại… Đó vẫn mãi là một dòng chảy không

Trang 38

thôi Câu hỏi về đâu là chân lý, đâu là lẽ sống… hãy để cho người đọc tựkiếm tìm câu trả lời sau khi gấp trang sách lại.

Nhưng nếu chỉ nói như vậy có lẽ chưa làm rõ được tính đối thoại vănhóa ở đây và vai trò của nó được thể hiện như thế nào Người viết, ở đây,xin được tập trung vào nhân vật Savitri để làm rõ hơn điều này Savitri vừa

là người kể chuyện, vừa là cầu nối đại diện của hai thế giới cổ đại và hiệnđại Nhân vật này hội tụ cả hơn 2000 năm văn hóa Ấn Độ Một Savitriphóng túng, đầy nhục cảm, sức sống trong quá khứ được soi chiếu bởi mộtSavitri trầm lắng của hiện tại

Sự đối thoại ấy vừa khiến nhân vật như đang tranh luận với bản thân,vừa như câu hỏi trong quá khứ tràn về chất vấn hiện tại Dường như sau khiđầu thai chuyển kiếp Savitri đã giác ngộ Savitri đã đi qua sự vô minh của

tiền kiếp để có thể đọc được suy nghĩ của người khác: “Savitri đọc được

suy nghĩ của tôi Cô thản nhiên kể tiếp” Những câu nói của cô ở hiện kiếp

đầy triết lý; “thấy mà không thấy”; “Không chỉ con người mà ngay cả lịch

sử cũng thường xuyên phân tâm” [46,25]

Một Savitri có thể nhìn xuyên qua lớp sương mù của thế giới vô minhchiêm nghiệm lại cuộc đời Cây cầu thời gian - nàng Savitri - cho thấy nhữngthăng trầm lịch sử, những thời đại hoàng kim của các đế chế cổ đại đến phế

tích đền đài ngày nay: “Savitri và tôi đang viếng thăm thành phố Raijgir.

Tên cổ đại là Rajagaha Vương xá Nơi đây xưa kia có nhiều đền đài thành quách của các triều đại, kinh đô của vương quốc Magadla” [46,286]

“Xuống xe, nơi đầu tiên Savitri dẫn tôi đến là cột đá Asoka”

[46,20] Những chứng tích lịch sử, những dấu ấn văn hóa một thời, đượcsống lại trong thời hiện tại bởi nàng Savitri Nó như có âm vang của quákhứ vọng về, lại như câu hỏi từ tương lai dội lại: Cái gì là chân lí? Đồngthời, cuộc đối thoại văn hóa xuyên thời gian cũng như luận công tội, đánhgiá lại về con người, về lịch sử, về những gì là chân lí Chân lí mãi trường

Trang 39

tồn: “Asoka là người nhìn xa trông rộng Ngài biết kí ức lịch sử là cái

không bền vững, sẽ có ngày người đời quên lãng rồi sinh ra nghi vấn Hoàng đế bèn đến tất cả thánh địa có dấu chân Phật trên đất Ấn Độ cổ đại, đến đâu ngài cho khắc những chỉ dụ lên đá, dựng lên ở đó những trụ đá có khắc thông cáo và mệnh lệnh của hoàng đế Văn bia nghìn năm trên đá Cột đá đã đổ, vùi sâu trong đất, cả thánh địa hoang tàn bị bỏ quên nghìn năm trong rừng rậm Nhưng rồi cũng có ngày tất cả được khai quật, được dựng lại ở vị trí ngày xưa” [46, 23].

Tính đối thoại văn hóa ở đây không chỉ là sự tồn tại các di tích, cáchuyền thoại, Phật tích vượt thời gian mà còn thể hiện ở con mắt của người

hiện tại nhìn về quá khứ: “Thời gian cố tình xóa mờ tất cả, nhưng vẫn thua

sự tính toán của con người, thua cái tâm của con người” [46,23].

“Một mình thời gian không làm nên lịch sử Hoàng đế Asoka đã cắm vào thời gian một cái dấu mốc, gửi nó lại cho thời gian gìn giữ, nhờ người đời sau gìn giữ, mới được như ngày hôm nay” [46,25].

Cái nhìn về quá khứ, về Phật tích là câu hỏi của con người hiện đại

để tìm ra lẽ sống cho mình Nhân vật tôi cũng đối thoại với câu chuyện vềĐức Phật để tìm ra câu trả lời cho mình Từ câu nói của Đức Phật dạy đệ tử

cách đây 2000 năm: “Kiến thức như lá trên cây kia, những điều ta nói với

các con chỉ như nắm lá trong tay này Vì sao vậy? Vì ta chỉ nói những điều cần thiết phải làm để đạt tới giải thoát mọi khổ đau, để được khai sáng, được giác ngộ” [46,39] Nhân vật tôi đã không hỏi nàng Savitri trong 6 cái

bao tải mà nàng luôn mang theo vỉ hiểu rằng chỉ nên biết những gì cần cho

mình: “Tôi đã không hỏi Savitri Và có lẽ sẽ không bao giờ hỏi” [46, 29]

Theo hành trình của Đức phật 2000 năm về trước, theo bước chân chỉđường của nàng Savitri, nhân vật tôi dần dần tìm lại một thời vàng son của

Ấn Độ cổ đại, tìm lại khởi nguồn những chân lí của nhân loại và có lẽ cũngtìm thấy bản ngã của mình khi soi mình vào đó Những chứng tích văn hóa

Trang 40

này cũng đang đối thoại với người đọc hiện đại chúng ta về những vấn đềmuôn thuở của nhân loại: sự sống - cái chết? khổ đau - hạnh phúc? Lịch sử

- sự thật? Quá khứ đang đối thoại với hiện tại bằng những lời nói thầm gửivào trong các di tích đền đài, tượng đá, văn bia… dẫu đến hôm nay chỉ còn

là phế tích Đó chính là một cuộc đối thoại khổng lồ và vĩnh cửu

Tính đối thoại thực sự không đơn giản là những đối thoại giữa các

nhân vật bên trong tiểu thuyết Trong tác phẩm Đức Phật, nàng Savitri và tôi của Hồ Anh Thái, đối thoại giữa văn hóa cổ đại và hiện đại cũng không

phải là đối thoại giữa các nhân vật Nó phần nào được thể hiện ở nhân vậtngười kể chuyện Những phát ngôn của các nhân vật kể chuyện về văn hóanhư sự tranh luận, va chạm với nhau hay tự tranh luận với chính mình:

“Các học giả cổ đại không có kiểu viện nghiên cứu như chúng ta ngày nay.

Ẩn viện của họ chính là viện nghiên cứu vậy Có khi những nơi chốn vắng người thuận lợi cho tu học cũng là viện nghiên cứu Gốc bồ đề này đã là một cái viện nghiên cứu vĩ đại Hàng nghìn năm sau các viện nghiên cứu ngày nay trên khắp thế giới còn phải biết ơn nó” [46, 189].

Những giá trị từ cổ đại được nhìn nhận, đánh giá lại để mang lênmình một ý nghĩa mới Những ẩn viện xa xưa được so sánh với các việnnghiên cứu hiện đại để cho thấy môi trường học thuật thời xưa và khẳngđịnh các giá trị muôn đời hầu như được xuất phát từ “gốc bồ đề” - việnnghiên cứu vĩ đại đó Các văn bản trong tính liên kết của nó góp phần cắtnghĩa giải thích cho nhau Đặc biệt, các yếu tố văn hóa chứa đựng trong nó

sẽ giúp chúng ta cắt nghĩa các giái trị trong tác phẩm Hay nói cách khác,nếu không đặt văn học trong môi trường sinh ra nó là văn hóa chúng ta sẽnhư đi trên một con đường mà không biết phương hướng Mở ra một tác

phẩm khác là Tôtem sói (Khương Nhung) cũng thể hiện rất rõ điều này Có

lẽ với nhiều nước trên thế giới thì văn hoá du mục và loài sói thảo nguyênvẫn còn rất xa lạ Chúng ta không biết rằng nền văn hoá đó đang dần bị biến

Ngày đăng: 12/03/2015, 14:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Graham Allen, Intertextuality (Nguyễn Văn Thuần dịch), tài liệu đánh máy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Graham Allen, "Intertextuality" (Nguyễn Văn Thuần "dịch
2. Phạm Lan Anh, Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, Luận văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Lan Anh, "Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ AnhThái
3. M. Bakhtin (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: M. Bakhtin (2003), "Lý luận và thi pháp tiểu thuyết "(Phạm Vĩnh Cư"dịch
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
4. M. Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp tiểu thuyết Doxtoiepxki, Nxb GD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: M. Bakhtin (1993), "Những vấn đề thi pháp tiểu thuyết Doxtoiepxki
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1993
5. R. Barthes (1997), Độ không của lối viết (Nguyên Ngọc dịch), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: R. Barthes (1997), "Độ không của lối viết
Tác giả: R. Barthes
Nhà XB: NxbHội nhà văn
Năm: 1997
6. R.Barthes, Cái chết của tác giả (Trần Đình Sử dịch), lithuyetvănhoc.wordpress.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: R.Barthes, "Cái chết của tác giả
7. Tuệ Chân sưu tầm và biên soạn (2009), Truyện cổ tích nhà Phật, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuệ Chân sưu tầm và biên soạn (2009), "Truyện cổ tích nhà Phật
Tác giả: Tuệ Chân sưu tầm và biên soạn
Nhà XB: NxbVăn học
Năm: 2009
8. Jean Chevalier, Alain Gheerbrant(1969)Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới (bản dịch tiếng Việt của NXB Đà Nẵng, Trường viết văn Nguyễn Du) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Jean Chevalier, Alain Gheerbrant(1969)"Từ điển biểu tượng văn hoáthế giới
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
9. Doãn Chính (2010), Lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại, Nxb.Chính trị quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doãn Chính (2010), "Lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
Năm: 2010
10. Nguyễn Đình Cường (1999), Ánh đạo vàng, buddhismtoday.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Cường (1999), "Ánh đạo vàng
Tác giả: Nguyễn Đình Cường
Năm: 1999
11. Hoàng Công Danh (2008), “Tái hiện Phật sử, đồng hiện nghệ thuật, tương hợp đạo và đời”, Tạp chí nhà văn, 5/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Công Danh (2008), “Tái hiện Phật sử, đồng hiện nghệ thuật,tương hợp đạo và đời”, "Tạp chí nhà văn
Tác giả: Hoàng Công Danh
Năm: 2008
12. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trương Đăng Dung (1998)," Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: NxbKhoa học xã hội
Năm: 1998
13. Trương Đăng Dung (1998), “Những giới hạn của cộng đồng diễn giải”, lyluanvanhoc.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trương Đăng Dung (1998), “Những giới hạn của cộng đồng diễngiải”
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 1998
14. Dương Ngọc Dũng (2011), “Huyền thoại và giải huyền thoại trong tư tưởng Roland Barthes”, lyluanvanhoc.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dương Ngọc Dũng (2011), “Huyền thoại và giải huyền thoại trong tưtưởng Roland Barthes”
Tác giả: Dương Ngọc Dũng
Năm: 2011
15. Nguyễn Đăng Điệp (2002), “Hồ Anh Thái - người mê chơi cấu trúc”, vnexpress.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đăng Điệp (2002), “Hồ Anh Thái - người mê chơi cấu trúc”
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 2002
16. Cao Huy Đỉnh (2004), Nghiên cứu văn hóa Ấn Độ, Nxb Lao Động, trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao Huy Đỉnh (2004), "Nghiên cứu văn hóa Ấn Độ
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2004
17. Umberto Eco (2004), Đi tìm sự thật biết cười, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội 18. Michel Foucault (2011), “Thế nào là tác giả” (Nguyễn Phương Ngọcdịch), lyluanvanhoc.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Umberto Eco (2004), "Đi tìm sự thật biết cười", Nxb Hội nhà văn, Hà Nội"18." Michel Foucault (2011), “Thế nào là tác giả” (Nguyễn Phương Ngọc
Tác giả: Umberto Eco (2004), Đi tìm sự thật biết cười, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội 18. Michel Foucault
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2011
19. Lucie Guillemette và Josiane Cossette (2011), “Giải cấu trúc và khái niệm trì biệt” (Nguyễn Duy Bình dịch), lyluanvanhoc.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lucie Guillemette và Josiane Cossette (2011), “Giải cấu trúc và kháiniệm trì biệt” (Nguyễn Duy Bình
Tác giả: Lucie Guillemette và Josiane Cossette
Năm: 2011
20. Thi Hà (2007), “Yếu tố tiền kiếp - hậu thân và kết cấu tiểu thuyết”, Hà Nội mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi Hà (2007), “Yếu tố tiền kiếp - hậu thân và kết cấu tiểu thuyết”
Tác giả: Thi Hà
Năm: 2007
21. Nguyễn thị Ngọc Hà, Hồ Anh Thái và nỗ lực cách tân tiểu thuyết, Luận văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn thị Ngọc Hà, "Hồ Anh Thái và nỗ lực cách tân tiểu thuyết

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w