NGUYỄN THÁI VÂN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA HỖ TRỢ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG LÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG CỘNG ĐỒNG: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ T
Trang 1NGUYỄN THÁI VÂN
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA HỖ TRỢ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG LÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG CỘNG ĐỒNG: NGHIÊN CỨU
TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019
Trang 2NGUYỄN THÁI VÂN
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA HỖ TRỢ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG LÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG CỘNG ĐỒNG: NGHIÊN CỨU
TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP
Chuyên ngành: Tài chính công
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS PHẠM QUỐC HÙNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019
Trang 3Tôi cam đoan đề tài “Đánh giá tác động hỗ trợ tài chính đối với công tác
phòng chống lây nhiễm HIV trong cộng đồng: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Đồng Tháp” là nghiên cứu của chính tôi dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Quốc
Hùng Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Ngày 20 tháng 06 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thái Vân
Trang 4TRANG BÌA
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xii
DANH MỤC CÁC BẢNG xiii
TÓM TẮT 1
ABSTRACT 2
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1
1.1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Bố cục của luận văn 4
Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
2.1 Tổng quan về HIV, AIDS và chương trình phòng chống HIV, AIDS ở Việt Nam 5 2.1.1 Khái niệm HIV, AIDS 5
2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng 5
2.1.3 Chính sách tài chính đối với phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam 9
2.2 Vai trò của tài chính công đối với phòng chống HIV/AIDS 10
2.2.1 Vai trò của tài chính công trong phòng chống HIV/AIDS trên thế giới 10
2.2.2 Vai trò của tài chính công trong phòng chống HIV/AIDS tại Hoa Kỳ 13
2.2.3 Vai trò của tài chính công trong phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam 15
2.3 Các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài 17
2.3.1 Lược khảo các nghiên cứu trước 17
Trang 5Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Mô hình nghiên cứu 22
3.1.1 Khung phân tích 22
3.1.2 Mô hình nghiên cứu 22
3.1.3 Các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu 22
3.2 Thu thập dữ liệu nghiên cứu 24
3.2.1 Nguồn dữ liệu 24
3.2.2 Chọn địa bàn điều tra 24
3.2.3 Cỡ mẫu nghiên cứu 24
3.2.4 Cách thức thu thập dữ liệu 24
3.3 Kiểm tra, làm sạch dữ liệu 25
3.4 Phương pháp phân tích số liệu 25
Tóm tắt chương 3 26
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Tổng quan chương trình phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 28
4.1.1 Tình hình nhiễm HIV trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 29
4.1.2 Các chương trình hỗ trợ giảm thiểu tác hại của HIV/AIDS 32
4.2 Đánh giá tác động của hỗ trợ tài chính đối với công tác phòng chống lây nhiễm HIV trong cộng đồng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 33
4.2.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 33
4.2.2 Kiểm định sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 34
4.2.3 Phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 34
4.3 Thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân khó khăn của hỗ trợ tài chính đối với công tác phòng chống lây nhiễm HIV trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 36
Trang 64.4 Thảo luận kết quả nghiên cứu 39
Tóm tắt chương 4 41
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Mục tiêu chương trình phòng chống HIV/AID tại Việt Nam 42
5.2.1 Quan điểm phòng chống HIV/AIDS 43
5.2.2 Mục tiêu 43
5.3 Khuyến nghị chính sách 44
5.3.1 Về huy động nguồn tài chính cho phòng chống HIV/AIDS 44
5.3.2 Về phân bổ, sử dụng nguồn tài chính cho phòng chống HIV/AIDS 46
5.3.3 Về cơ chế, chính sách phòng chống HIV/AIDS 48
5.4 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
PHỤ LỤC 2: DÀN BÀI PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA
PHỤ LỤC 3: DANH SÁCH PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA
Trang 7AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (Acquired Immuno
Deficiency Syndrome)
BHYT Bảo hiểm y tế
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GDĐT Giáo dục đào tạo
HĐND Hội đồng nhân dân
HIV Virus suy giảm miễn dịch ở người (Human Immuno Deficiency
Virus)
NSNN Ngân sách nhà nước
OLS Phương pháp ước lượng bình phương bé nhất
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
UBND Ủy ban nhân dân
VIF Độ phóng đại phương sai
Trang 8Bảng 3.1: Các biến độc lập sử dụng trong mô hình nghiên cứu 23
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 34
Bảng 4.2: Kiểm định khác biệt về tỷ lệ nhiễm HIV giữa 2008 và 2017 34
Bảng 4.3: Hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm HIV 35
Bảng 4.4: Kết quả hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm HIV với vòng lặp robustness 36
Trang 9Hình 2.1: Các yếu tố nguy cơ của HIV ở người trẻ tuổi 18
Hình 3.1: Khung phân tích của đề tài 22
Hình 4.1: Vị trí địa lý của tỉnh Đồng Tháp 28
Hình 4.2: Số trường hợp HIV/AIDS, tử vong tại Đồng Tháp năm 2008 - 2017 29
Hình 4.3: Phân bố các trường hợp nhiễm HIV theo nhóm tuổi 2008 - 2017 30
Hình 4.4: Nguồn tài chính cho phòng chống HIV/AIDS giai đoạn 2008 - 2017 32
Hình 4.5: Cơ cấu quỹ tài chính phòng chống HIV/AIDS giai đoạn 2008 - 2017 33
Trang 10TÓM TẮT
Tên đề tài: Đánh giá tác động hỗ trợ tài chính đối với công tác phòng chống
lây nhiễm HIV trong cộng đồng: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Đồng Tháp
Lý do chọn đề tài: Dịch HIV đã xảy ra rộng trên toàn quốc, Riêng tại tỉnh
Đồng Tháp, đến hết năm 2017, số lượng người mắc HIV/AIDS là 5.999 người, chiếm 0,35% dân số của tỉnh (Sở Y tế tỉnh Đồng Tháp, 2018)
Vấn đề: Mặc dù đã có những cam kết của chính phủ trong việc đầu tư kinh
phí cho chương trình phòng chống HIV/AIDS, nhưng vấn đề đầu tư bền vững là một thách thức lớn ở Việt Nam nói chung và tỉnh Đồng Tháp nói riêng
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so
sánh, phương pháp hồi quy bội
Kết quả nghiên cứu: Chi tiêu cho phòng ngừa HIV/AIDS có ảnh hưởng tích
cực, làm giảm tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng Trung bình nếu số tiền chi cho phòng ngừa HIV/AIDS tăng thêm 1 tỷ đồng/huyện thì tỷ lệ nhiễm HIV giảm đi 1,393‰ Các yếu tố khác cũng có ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng được tìm thấy qua nghiên cứu gồm: Tỷ lệ dân số trong độ tuổi 25 đến 49 tuổi, Thu nhập bình quân đầu người, Tỷ lệ hộ nghèo
Kết luận và khuyến nghị: Đề tài đề xuất các khuyến nghị chính sách gồm:
Tăng cường huy động nguồn tài chính cho HIV/AIDS; Phân bổ, sử dụng hiệu quả nguồn vốn phòng chống HIV/AIDS; Hoàn thiện chính sách phòng chống HIV/AIDS
Từ khóa: Hỗ trợ tài chính, phòng chống HIV/AIDS, tỉnh Đồng Tháp
Trang 11ABSTRACT
Title: Assess the impact of financial support on HIV prevention in the
community: A case study of DongThap Province
Reason for writing: The HIV epidemic has spread across the country,
Particularly in Dong Thap province, by the end of 2017, the number of people infected with HIV / AIDS was 5,999 , accounting for 0, 35% of the province's population (Dong Thap Department of Health, 2018)
Problem: Despite the VietNam Government’s commitment to funding the
HIV/AIDS program, the issue of sustainable investment is a major challenge in VietNam in general and Dong Thap in particular
Methods: Methods were used include: descriptive statistics, comparative
method, multiple regression method
Results: Spending on HIV/AIDS prevention has a positive effect, reducing
HIV prevalence in the community On average, if the amount spent on HIV/AIDS prevention increases by 1 billion VND per district of DongThap Province, the rate
of HIV infection decreases by 1,393‰ The other factors may also affect the rate of HIV infection in the community are: percentage of the population aged 25 to 49 years, per capita income, percentage of poor households
Conclusions and implications: Proposes policy recommendations including:
Strengthening mobilization of financial resources for HIV/AIDS; To allocate and effectively use capital sources for HIV/AIDS prevention; Complete the HIV/AIDS prevention policy
Keywords: Financial support, HIV/AIDS prevention, DongThap Province
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Hiện nay đại dịch vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) và hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) là một đại dịch nguy hiểm, là mối hiểm họa đối với tính mạng, sức khỏe, con người và tương lai nòi giống của các quốc gia, các dân tộc trên toàn cầu Nó tác động mạnh mẽ đến sự phát triển về kinh tế, văn hóa,
an ninh trật tự và an toàn xã hội đe dọa sự phát triển bền vững của tất cả các quốc gia trên thế giới Đáng lo ngại hơn là HIV/AIDS đang lan tràn mạnh mẽ ở khắp các vùng miền từ thành thị đến nông thôn, từ miền núi đến hải đảo xa xôi của đất nước cũng như ở khắp nơi trên thế giới (Chính phủ, 2012)
Nhận thức rõ sự nguy hiểm của đại dịch HIV/AIDS, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng nhằm khống chế sự gia tăng của dịch HIV/AIDS Một trong những văn bản tiêu biểu phải kể đến là “Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030” được ban hành kèm theo Quyết định số Ban hành kèm theo Quyết định số 608/QĐ-TTg ngày 25/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ với mục tiêu chung là khống chế tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư dưới 0,3% vào năm 2020, giảm tác động của HIV/AIDS đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Chương trình hành động quốc gia can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV đặt ra mục tiêu khống chế tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma tuý xuống dưới 20% và nhóm người bán dâm dưới 3%, làm giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV trong nhóm có hành vi nguy cơ cao và từ nhóm có hành vi nguy cơ cao ra cộng đồng, là giải pháp quan trọng để thực hiện thành công Chiến lược Quốc gia phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tính đến cuối năm 2012, ước tính tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nam tiêm chích ma túy ở Việt Nam là 11%, nhưng ở một vài thành phố lớn có đến hơn một nửa số nam giới tiêm chích ma túy là người nhiễm HIV Tỷ lệ nhiễm HIV trung bình trên toàn quốc trong nhóm phụ nữ bán
Trang 13dâm là 2,7%
Theo Cục phòng chống HIV/AIDS (2013), tính đến ngày 17/4/2013 trên cả nước có 210.612 trường hợp nhiễm HIV/AIDS Trong đó có 54.361 trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS và đã có 54.485 người tử vong Tình hình dịch HIV/AIDS tại VN vẫn diễn biến phức tạp, khó kiểm soát Dịch HIV đã xảy ra rộng trên toàn quốc, Riêng tại tỉnh Đồng Tháp, đến hết năm 2017, số lượng người mắc HIV/AIDS là 5.999 người, chiếm 0,35% dân số của tỉnh (Sở Y tế tỉnh Đồng Tháp, 2018)
HIV là nguyên nhân hàng đầu gây ra gánh nặng bệnh tật, tử vong và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội Mặc dù đã có những cam kết của chính phủ trong việc đầu tư kinh phí cho chương trình phòng chống HIV/AIDS, nhưng vấn đề đầu tư bền vững là một thách thức lớn ở Việt Nam (Trung tâm hỗ trợ sáng kiến phát triển cộng đồng, 2014) Tăng cường quản lý, giám sát và sử dụng có hiệu quả các nguồn kinh phí đầu tư cho công tác phòng, chống HIV/AIDS là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Đề tài nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể sau:
Trang 14Mục tiêu 1: Đánh giá tác động của hỗ trợ tài chính đối với công tác phòng chống lây nhiễm HIV trong cộng đồng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
Mục tiêu 2: Tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của khó khăn, vướng mắc của hỗ trợ tài chính đối với công tác phòng chống lây nhiễm HIV trong cộng đồng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
Mục tiêu 3: Hàm ý chính sách nhằm cải thiện ảnh hưởng tích cực của hoạt động hỗ trợ tài chính đối với công tác phòng chống lây nhiễm HIV trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Hỗ trợ tài chính ảnh hưởng như thế nào đến công tác phòng chống lây nhiễm HIV trong cộng đồng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp?
Những khó khăn, vướng mắc của hỗ trợ tài chính đối với công tác phòng chống lây nhiễm HIV trong cộng đồng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là gì? Và nguyên nhân của khó khăn, vướng mắc này là gì?
Cần có những chính sách gì để tăng cường hoạt động hỗ trợ tài chính đối với công tác phòng chống lây nhiễm HIV trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là chương trình hỗ trợ tài chính đối với công tác phòng chống lây nhiễm HIV trong cộng đồng
Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung phân tích ảnh hưởng của chương trình
hỗ trợ tài chính đến việc khống chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp Các tác động khác của chương trình hỗ trợ tài chính đối với sức khỏe, kỹ thuật điều trị không thuộc nội dung nghiên cứu trong đề tài
Về thời gian của dữ liệu: Các số liệu thứ cấp phân tích trong nghiên cứu được thu thập trong 10 năm, từ năm 2009 đến năm 2018
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp định lượng kết hợp với định tính Phương pháp định lượng sử dụng là phương pháp hồi quy đa biến OLS để đánh giá ảnh hưởng của chương trình hỗ trợ tài chính đến tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng trên địa bàn
Trang 15tỉnh Đồng Tháp Phương pháp định tính sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu để giải thích rõ hơn nguyên nhân của kết quả nghiên cứu định lượng
1.6 Bố cục của luận văn
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Giới thiệu sự cần thiết nghiên cứu; Mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết Trình bày các khái niệm có liên quan đến nghiên cứu; Phương pháp đánh giá tác động chính sách; Tổng quan chính sách can thiệp dự phòng giảm tác hại của dịch HIV; Các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày khung nghiên cứu, mô hình nghiên cứu; Mô tả dữ liệu, thu thập và phân tích dữ liệu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Giới thiệu chương trình hỗ trợ tài chính đối với phòng ngừa HIV/AIDS tại Đồng Tháp; Phân tích ảnh hưởng của hỗ trợ tài chính đến phòng chống lây nhiễm HIV trong cộng đồng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp; Những khó khăn, vướng mắc của hỗ trợ tài chính đối với công tác phòng chống lây nhiễm HIV trong cộng đồng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp và nguyên nhân Thảo luận kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và các khuyến nghị Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu; Hàm ý chính sách nhằm cải thiện ảnh hưởng tích cực của hoạt động hỗ trợ tài chính đối với công tác phòng chống lây nhiễm HIV trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp Đồng thời, chỉ ra những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 16Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về HIV, AIDS và chương trình phòng chống HIV, AIDS
ở Việt Nam
2.1.1 Khái niệm HIV, AIDS
HIV là một chữ viết tắt của loại vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người HIV gây tổn thương hệ thống miễn dịch của cơ thể và làm cho cơ thể không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh dẫn đến chết người Có 3 con đường lây truyền HIV: Tình dục, đường máu, mẹ truyền sang con (Tổ chức Y tế thế giới, 1991)
AIDS là chữ viết tắt của hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người AIDS là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV Trong giai đoạn này, hệ thống miễn dịch của cơ thể bị suy yếu nên người bệnh dễ mắc các bệnh bệnh nhiễm trùng
cơ hội, ung thư và các bệnh liên quan đến rối loạn miễn dịch dẫn đến tử vong (Tổ chức Y tế thế giới, 1991)
Thời gian từ khi nhiễm HIV đến biến chuyển thành bệnh AIDS tùy thuộc vào hành vi và đáp ứng miễn dịch của từng người nhưng tựu chung lại trong khoảng thời gian trung bình là 5 năm (Chương trình kiểm soát HIV AIDS, Bộ Y tế Việt Nam, 2005)
2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng
Đến nay, HIV/AIDS là đại dịch Ngoài các yếu tố hành vi thuộc về cá nhân như quan hệ tình dục không an toàn, tiêm chích ma túy và truyền máu bị nhiễm HIV gây ra mối đe dọa trực tiếp đến nhiễm HIV cho các cá nhân liên quan thì những các yếu tố kinh tế xã hội có ảnh hưởng quyết định để tỷ lệ nhiễm HIV ở cấp
độ cộng đồng gồm có nghèo đói, thu nhập quốc dân, phát triển, di cư, trình độ học vấn, tiếp cận các dịch vụ y tế, tiếp cận thông tin và quản lý của nhà nước
2.1.2.1 Yếu tố hành vi
Ở các nước phát triển, đại dịch lần đầu tiên xuất hiện và bị giới hạn trong quần thể người đồng tính và tiêm chích ma túy và đây chính là lý do tại sao các chính
Trang 17sách phòng ngừa chỉ dựa trên hành vi an toàn Định hướng này được duy trì trong các chính sách phòng chống HIV/AIDS Jha và cộng sự (2001) minh họa tác động của việc phòng ngừa HIV đối với việc sử dụng bao cao su ở người bán dâm giúp giảm tỷ lệ nhiễm HIV
2.1.2.2 Giới tính
Giới tính là một trong những yếu tố hàng đầu có ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm HIV Phụ nữ bị nhiễm HIV nhiều hơn nam giới và thường họ bị nhiễm bệnh ở độ tuổi sớm (ECA, 2009) Phụ nữ trẻ ở độ tuổi 15 - 24 đặc biệt dễ bị nhiễm bệnh vì lý
do sinh học và cũng do các yếu tố kinh tế xã hội Ở Châu Phi, 76% thanh niên trong
độ tuổi từ 15 đến 24 nhiễm HIV là nữ (ECA, 2009) Gần một nửa số người nhiễm HIV trên thế giới là phụ nữ (UNIFEM, 2008)
Phụ nữ bán dâm là một nhóm dân số có nguy cơ mắc HIV cao hơn so với các nhóm khác trong dân số Phụ nữ trẻ tuổi 15 tuổi 24 nhiều hơn có khả năng bị nhiễm bệnh cao gấp ba lần so với nam thanh niên (UNAIDS, 2006)
2.1.2.3 Nghèo đói
Có một mối quan hệ rõ ràng giữa nghèo đói và sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm và HIV, AIDS không phải là một ngoại lệ Các hộ nghèo thường có ít tài chính hoặc tài sản khác và thường bị thiệt thòi về mặt chính trị và xã hội Vì vậy, họ
có xu hướng thiếu thông tin đầy đủ Stillwaggon (2002) đã lưu ý, mọi người cũng về mặt sinh học dễ bị nhiễm HIV hơn khi con người bị suy dinh dưỡng và/hoặc bị nhiễm ký sinh trùng (làm suy yếu hệ thống miễn dịch), hai đặc điểm phổ biến hơn ở những người nghèo
2.1.2.4 Thu nhập quốc dân
Các trường hợp nhiễm HIV, AIDS đầu tiên đã được phát hiện ở các nước phát triển, nhưng dịch lan truyền nhanh nhất ở các nước nghèo Lý do là các nước phát triển thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa và chăm sóc cho người bệnh, do đó làm giảm sự lây nhiễm của họ và số ca nhiễm mới Trên toàn cầu, 90% các trường hợp nhiễm HIV mới xảy ra ở các nước nghèo (Lukas 2008)
Mối liên hệ ngược chiều giữa thu nhập và tỷ lệ nhiễm HIV ở cấp quốc gia
Trang 18phản ánh vai trò của cơ sở hạ tầng tốt hơn, tiếp cận các dịch vụ y tế và dinh dưỡng dường như đóng vai trò trong sự lây lan của căn bệnh này Ngoài ra, trong điều kiện nguồn lực tài chính có hạn, chính phủ các nước buộc phải lựa chọn giữa việc phòng ngừa HIV, AIDS hay các chương trình ưu tiên khác như là an ninh, giáo dục, môi trường (Ainsworth và Teokul, 1997)
Khi kinh tế xã hội dễ bị tổn thương, khiến mọi người thực hiện các hành vi nguy cơ cao Trong rất nhiều trường hợp, nghèo đói buộc phụ nữ tham gia buôn bán tình dục (UNIFEM, 2009) Bloom và cộng sự (2001) đã chứng minh rằng những khu vực nghèo nhất trong xã hội có ít kiến thức về cách lây truyền và phòng chống AIDS Nghèo đói cũng tác động đến lây truyền HIV thông qua việc tiếp cận ít hơn với các dịch vụ y tế (Stillwaggon, 2002)
2.1.2.5 Tăng trưởng kinh tế
Mặc dù giảm nghèo có thể được cho là làm giảm tỷ lệ nhiễm HIV AIDS, nhưng trong một số trường hợp, quá trình tăng trưởng kinh tế có thể dẫn đến làm gia tăng dịch bệnh Tăng trưởng kinh tế gắn liền với phát triển cơ sở hạ tầng, đô thị hóa, tăng thu nhập khả dụng và tăng di cư Hơn nữa, sự bất bình đẳng thường xuất hiện trong giai đoạn đầu của tăng trưởng kinh tế (Deaton và Lubotsky, 2001), tạo ra
sự di cư Công nhân di cư đến các trung tâm thành phố lớn nơi có thu nhập cao và nhiều cơ hội việc làm Đó là một yếu tố rủi ro đáng kể: đàn ông đi làm xa nhà, nhưng thỉnh thoảng trở về gia đình ở làng quê gốc
Do đó, sự tăng trưởng kinh tế có khả năng mang lại cơ hội lớn hơn cho các hoạt động mại dâm, tình dục không an toàn Cuối cùng, sự bất bình đẳng có thể tạo
ra những thay đổi trong quan hệ giới có thể tạo điều kiện cho sự lây lan của các bệnh lây truyền qua đường tình dục, trong đó có HIV AIDS (Farmer, 1999)
Trang 19(chỗ ở, không được tiếp cận với nước an toàn và vệ sinh kém) cùng với hệ thống y
tế quá tải làm giảm thiểu vai trò ngăn chặn sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm Một bộ phận những người trẻ tuổi ở nông thôn đến các thành phố lớn có thể tham gia hoạt động mại dâm như một chiến lược sinh tồn nếu thất nghiệp trong thời gian dài
Hajizadeh và cộng sự (2010) khi nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm HIV ở Kenya, Lesentine Uganda và Zambia cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV ở thành thị cao hơn so với nông thôn
HIV và di cư không có mối quan hệ tuyến tính nhưng được liên kết ngang, HIV là biểu hiện của sự bất bình đẳng và thiếu thốn mà người di cư phải đối mặt Môi trường sống phức tạp và cô đơn, tách khỏi gia đình, thiếu tiếp cận thông tin, dịch vụ và hệ thống hỗ trợ xã hội có thể dẫn đến các hành vi không an toàn (tình dục không an toàn, tiêm chích ma túy) khiến họ dễ bị phơi nhiễm HIV hơn Tuy nhiên, có thể lưu ý rằng bản thân việc di cư không phải là yếu tố dễ bị tổn thương đối với HIV, nhưng chính quá trình di chuyển không an toàn sẽ tạo ra các điều kiện
dễ bị tổn thương (UNDP, 2006)
2.1.2.7 Giáo dục
Một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc các bệnh truyền nhiễm là giáo dục Lachaud (2007), khi nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm HIV ở Burkina-Faso đã nhận thấy, những người có học vấn sẽ bị ảnh hưởng bởi HIV ít hơn so với phần còn lại của dân số Điều này có thể do nhiều lý do: đầu tiên, những người có học thức được thông báo tốt hơn về các biện pháp phòng ngừa Giống như tiếp cận với chăm sóc sức khỏe, tiếp cận giáo dục là một phương tiện được thông báo về các phương pháp phòng ngừa, đặc biệt là nếu các chương trình giáo dục bao gồm giáo dục tình dục (Lachaud, 2007)
Parker (1997) đã kết luận rằng 3/4 số người mới được chẩn đoán nhiễm HIV vào đầu những năm 1980 ở Brazil có một giáo dục trung học hoặc đại học, nhưng đến đầu những năm 1990, tỷ lệ này đã giảm xuống còn 1/3 Kavita Singh và cộng
sự (2013) cho rằng giáo dục và bình đẳng giới đang được thúc đẩy như là chiến
Trang 20lược để chống lại dịch HIV tại Châu Phi và nhiều quốc gia đang phát triển trên thế giới
2.1.2.8 Quản trị công
Ảnh hưởng của quản trị công đối với dịch bệnh HIV/AIDS thể hiện thông qua chính phủ ưu tiên dành nguồn lực cho phòng chống HIV/AIDS như một vấn đề sức khỏe cộng đồng thực sự Ở nước châu Phi, tình hình kinh tế thảm khốc được gây ra bởi quản trị tồi tệ, những người ra quyết định không thể đầu tư đủ vào các hoạt động phòng chống HIV/AIDS Theo cách đó, quản trị công tốt sẽ là một yếu tố làm cho dịch bệnh lây lan chậm lại Bonnel (2000), cho rằng môi trường pháp lý chính trị, quyết định chi tiêu y tế, các chính sách tài chính hỗ trợ từ Chính phủ và các tổ chức phi chính phủ là một trong những yếu tố quan trọng để chống lại dịch HIV Vai trò của quản trị công trong việc kiểm soát dịch bệnh HIV/AIDS còn thể hiện thông qua việc thực hiện các chương trình quốc gia về phòng chống và làm giảm tác hại của HIV/AIDS
2.1.3 Chính sách tài chính đối với phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam
Việt Nam đã phê duyệt Đề án “Bảo đảm tài chính cho các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2013 - 2020” theo Quyết định số 1899/QĐ-TTg ngày 16/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ Các nội dung chính gồm có:
Trang 21thiểu 50% tổng chi phí cho các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS vào năm 2015, 25% vào năm 2020; Bảo đảm 80% doanh nghiệp chủ động bố trí kinh phí để triển khai các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại doanh nghiệp; Bảo đảm 80% số người nhiễm HIV có thẻ bảo hiểm y tế được chi trả theo quy định vào năm 2015 và đạt 100% vào năm 2020; Tăng nguồn thu từ một số dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS để tự cân đối thu - chi cho các hoạt động của các dịch vụ này; Bảo đảm quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn kinh phí huy động được theo các quy định hiện hành
2.1.3.2 Định hướng các giải pháp chủ yếu
Nhóm giải pháp về huy động kinh phí: Tăng cường đầu tư NSNN ở trung ương cho các hoạt động thiết yếu, có hiệu quả để bảo đảm tính bền vững của các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS; Phát huy vai trò chủ động và trách nhiệm của địa phương, đơn vị trong đầu tư cho phòng, chống HIV/AIDS ở địa phương, đơn vị; Huy động sự tham gia đóng góp kinh phí của các doanh nghiệp cho các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS; Tăng cường chi trả các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS bằng nguồn đóng góp của người sử dụng dịch vụ chăm sóc, điều trị HIV/AIDS Nhóm giải pháp quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí: Hoàn thiện cơ chế điều phối, phân bổ nhằm kiểm soát hiệu quả nguồn kinh phí huy động được; Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát sử dụng hiệu quả các nguồn kinh phí; Thực hiện các giải pháp quản lý chương trình nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nguồn lực
2.2 Vai trò của tài chính công đối với phòng chống HIV/AIDS
2.2.1 Vai trò của tài chính công trong phòng chống HIV/AIDS trên thế giới
Trong giai đoạn 2001 - 2011, các quốc gia trên thế giới đã mở rộng quy mô tài trợ để chống lại HIV Chi tiêu toàn cầu cho HIV đã tăng 11% trong năm 2011 so với năm 2010 ở mức 16,8 tỷ USD Chi tiêu công của một quốc gia cho HIV là số tiền tài trợ từ các nguồn tài nguyên quốc gia của nước đó cho các hoạt động cụ thể của HIV, con người nguồn và cơ sở hạ tầng (UNAIDS, 2009) Khi tỷ lệ nhiễm HIV
Trang 22ở một quốc gia tăng, chi tiêu công cho HIV cũng tăng (Carlos va cộng sự, 2013) Các nước thu nhập thấp và trung bình đã chi tiêu tổng cộng 43,5 tỷ USD từ các nguồn công cộng trong nước từ năm 2000 đến năm 2010 Trong đó, 35% đã được chi tiêu ở châu Phi cận Sahara (12,9 tỷ USD), 32,8% ở Mỹ Latinh (12,1 tỷ USD), 12,0% ở Đông Nam Á (4,42 tỷ USD) và 9,5% tại Đông Âu và Trung Á (3,52
tỷ USD) Toàn bộ chi tiêu trong nước ở các nước thu nhập thấp và trung bình cho thấy một sự gia tăng tương đối của 314% trong 10 năm (Kates cộng sự, 2012) Nhìn chung, chi tiêu trung bình cho đầu người HIV từ các nguồn trong nước tăng từ 0,31 đô la Mỹ năm 2000 lên 1,11 đô la Mỹ năm 2010 Các nước nghèo có chi tiêu trong nước thấp cho HIV những nước này đặc biệt dễ bị tổn thương và nhiều khả năng không thể đầu tư đủ các nguồn để kiểm soát sự lây lan của HIV Zimbabwe, Kenya, Uganda và Malawi là những trường hợp điển hình của chi tiêu trong nước thấp cho HIV, gánh nặng HIV cao và năng lực kinh tế thấp (Carlos va cộng sự, 2013)
Kiểm soát dịch HIV đòi hỏi một lượng lớn tài chính, đặc biệt là ở các quốc gia
có tỷ lệ mắc bệnh HIV/AIDS cao Sự gia tăng mạnh mẽ tài trợ cho HIV/AIDS kể từ những năm 1990 đã cho phép tăng cường nhiều quốc gia đối phó với dịch bệnh và giảm đáng kể tỷ lệ mắc và tử vong do dịch bệnh (Karima và cộng sự, 2018) Tuy nhiên, bất chấp thành công đáng kể trong việc kiềm chế dịch HIV ở nhiều quốc gia, cần duy trì nỗ lực này và tiếp tục mở rộng phạm vi bảo hiểm theo chương trình HIV /AIDS trong nhiều năm tới sẽ cần tiếp tục cam kết tài chính
Nhu cầu tài trợ HIV/AIDS trong tương lai tại 12 quốc gia châu Phi cận Sahara với mức chi phí trung bình là 480 USD mỗi năm cho mỗi trường hợp nhiễm HIV
và chỉ những quốc gia có thu nhập trung bình cao mới có khả năng tự lực trong việc tài trợ chương trình HIV; hầu hết các quốc gia có thu nhập thấp không có khả năng huy động đủ nguồn lực trong nước để đáp ứng nhu cầu tài trợ, do vậy tỷ lệ lớn được tài trợ bằng nguồn lực bên ngoài hoặc tư nhân (Resch và cộng sự, 2015)
Haacker (2015) cho thấy tỷ lệ tài trợ bên ngoài cho chi tiêu HIV/AIDS trong các quốc gia thu nhập thấp là 76% Ở nhiều nước châu Phi cận Sahara, tài trợ từ bên
Trang 23ngoài chiếm tới 80 - 100% tổng chi tiêu cho HIV/AIDS ở nước này, với một số quốc gia chia sẻ gánh nặng tài trợ thông qua các nguồn tài chính công và tư trong nước Tỷ lệ tài chính bên ngoài đã thay đổi tùy theo GDP bình quân đầu người, nhưng không thay đổi nhiều tùy thuộc vào tỷ lệ nhiễm HIV (Haacker, 2015)
Ở những nước có tỷ lệ nhiễm HIV cao, gần một nửa của tất cả các chi tiêu y tế
có thể hướng tới kiểm soát HIV Một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng chi tiêu đối với HIV/AIDS thường tỷ lệ thuận với tỷ lê nhiễm HIV Mặc dù chi tiêu cho HIV/ AIDS có liên quan đến tỷ lệ nhiễm HIV, phân bổ tài chính bên ngoài cho HIV/AIDS có liên quan đến GDP bình quân đầu người (Amico và cộng sự, 2010; Haacker, 2015)
Ngân hàng Thế giới (2014) đã phát triển một khung đánh giá tính bền vững của tài chính HIV/AIDS, bao gồm các bước sau: (1) Hiểu hồ sơ bệnh HIV/AIDS, hiện tại và dự kiến; (2) Đánh giá các mô hình chi tiêu hiện tại và phân bổ của nó; (3) Đánh giá khoảng cách bảo hiểm hiện tại Đánh giá chi tiêu tối ưu hiện tại và tương lai; (4) Phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô và tài chính và môi trường; (5) Xác định chế độ ưu tiên của chính phủ để tài trợ cho HIV/AIDS; (6) Tăng doanh thu bổ sung cho ngành y tế và các chương trình HIV/AIDS; (7) Tập hợp các quỹ và quản trị; (8) Xác định các lựa chọn để cải thiện hiệu quả và giá trị đồng tiền; (9) Đánh giá khả năng tích hợp và tăng cường các vấn đề hệ thống y tế; (10) Phân tích các vấn đề
hệ thống khác để tăng cường và nắm bắt các khoản tiết kiệm và hiệu quả; (11) Thực hiện khuôn khổ bền vững tài chính HIV/AIDS
UNAIDS (2015) trong Báo cáo tại Hội nghị AIDS Quốc tế lần thứ 21 tổ chức tại Durban, Nam Phi vào năm 2015 đã cho thấy, tài trợ từ các chính phủ cho HIV giảm trong năm 2015, hơn 1 tỷ USD, so với năm 2014 (7,53 tỷ đô la Mỹ trong năm
2015 so với 8,62 tỷ đô la Mỹ trong năm 2014), giảm 13% Có đến 13 trong số 14 quốc gia giảm chi tiêu chính phủ cho HIV Nếu tính luôn cả thời giá, tỷ giá hối đoái thì số tiền giảm còn lớn hơn 1 tỷ USD Năm 2015 đã đánh dấu sự suy giảm đầu tiên trong tài trợ của chính phủ tài trợ để giải quyết HIV
Đối với nguồn tài trợ đa phương, Hoa Kỳ vẫn là nhà tài trợ lớn nhất cho HIV
Trang 24Trong năm 2015, Hoa Kỳ chiếm hai phần ba (66,4%) nhà tài trợ chính phủ giải ngân cho HIV Vương quốc Anh là nhà tài trợ lớn thứ hai (13,0%), theo sau là Pháp (3,5%), Đức (2,7%) và Hà Lan (2,3%)
2.2.2 Vai trò của tài chính công trong phòng chống HIV/AIDS tại Hoa Kỳ
Chiến lược quốc gia về HIV/AIDS ở Hoa Kỳ kêu gọi sự phối hợp chặt chẽ hơn của các chương trình HIV trên toàn Liên bang và giữa các cơ quan Liên bang với chính quyền địa phương Ước tính mức hỗ trợ của liên bang được ngân sách dành cho HIV/AIDS năm 2010 là 19,4 tỷ đô la nhưng các ước tính cụ thể của tiểu bang về chi tiêu công cho HIV/AIDS thì không xác định được Những ước tính như vậy là cực kỳ quan trọng, tuy nhiên, bởi vì các tiểu bang và địa phương đóng một vai trò quan trọng trong việc quản lý sự hỗ trợ của liên bang đối với HIV/AIDS, xuất phát từ một nhiều cơ quan, bao gồm Cơ quan Quản lý Tài nguyên và Dịch vụ
Y tế (HRSA), Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC), Lạm dụng Chất và Sức khỏe Tâm thần Quản trị Dịch vụ (SAMHSA) và Bộ Cựu chiến binh (VA) Việc phân bổ nguồn thu quỹ chung của tiểu bang cho việc điều trị, hỗ trợ và phòng chống HIV/AIDS Ở cấp tiểu bang, một số yếu tố gây khó khăn cho việc xác định hỗ trợ tài chính công cho HIV/AIDS
Đầu tiên, các tiểu bang nhận được một số lượng lớn các nguồn tài trợ công cộng cho HIV/AIDS Một số tài trợ của Liên bang cho HIV/AIDS được cung cấp trực tiếp cho các khu vực bị ảnh hưởng nặng nề Một số tiểu bang hỗ trợ các dịch vụ HIV/AIDS trực tiếp từ Quỹ chung của họ Bổ sung kinh phí có thể được chỉ định bởi các bộ phận cấp nhà nước khác, chẳng hạn như các Sở Sửa chữa, Dịch vụ xã hội hoặc Sức khỏe Tâm thần cho các dịch vụ dành riêng cho HIV
Thứ hai, một phần lớn tài trợ liên bang cho HIV/AIDS (12,1 tỷ đô la trong năm tài khóa 2010) là được cung cấp bởi các chương trình quyền lợi, chẳng hạn như Medicare và An sinh xã hội, nơi lợi ích là truy cập trực tiếp bởi cá nhân, và không
dễ dàng theo dõi bởi các quốc gia (Kaiser Family Foundation, 2010)
Thứ ba, sự phức tạp của việc điều trị HIV có nghĩa là những người nhiễm HIV/AIDS có thể nhận dịch vụ ở nhiều địa điểm từ các nhà cung cấp khác nhau,
Trang 25được hỗ trợ bởi dòng tài trợ khác nhau, với các tiêu chí đủ điều kiện và yêu cầu báo cáo khác nhau
Cuối cùng, các dòng tài trợ có thể thay đổi trong quá trình của bệnh Nhiều nguồn thanh toán này gây khó khăn cho các nhà hoạch định chăm sóc sức khỏe của tiểu bang và các nhà hoạch định chính sách để có được dữ liệu cần thiết cho bức tranh toàn diện về tài chính của HIV/AIDS
Năm 2007, các nhà lãnh đạo California trong chính sách HIV/AIDS, cung cấp dịch vụ và nghiên cứu đã tìm cách thông báo tốt hơn về lập kế hoạch và ra quyết định cho các dịch vụ HIV/AIDS bằng cách biên soạn dữ liệu toàn diện về hỗ trợ của các chương trình HIV/AIDS của liên bang và tiểu bang Leibowitz và cộng sự (2011) đã ước tính rằng các nguồn tài trợ công chiếm khoảng 1,92 tỷ đô la các dịch
vụ cho HIV/AIDS trong năm 2008 Trong đó chi phí điều trị chiếm 90,4% (42,3% cho chăm sóc y tế và 48,1% cho dược phẩm), trong khi 6,4% được chi cho các dịch
vụ phòng ngừa, 2,6% cho các dịch vụ hỗ trợ và dưới 1% cho các dịch vụ khác Tài trợ cho chi phí điều trị (chăm sóc y tế và dược phẩm): Hai chương trình bảo hiểm công cộng Medicare và Trợ cấp y tế cho phần lớn tài trợ cho điều trị HIV/AIDS ở California Medicare bảo hiểm hơn 20.000 người nhiễm HIV/AIDS trong năm 2007 với chi phí 625,8 triệu đô la, tương đương 30.911 đô la cho mỗi người Phục vụ y tế
gần 33.100 người nhiễm HIV/AIDS ở California trong năm 2008 với tổng chi phí là 493,5 triệu đô la Trung bình chi phí cho mỗi người có bảo hiểm Medicare là 14.916
đô la, những người không có có bảo hiểm Medicare là 19.779 đô la
Tài trợ phòng ngừa: Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật (CDC) cung cấp phần lớn tài trợ phòng ngừa được hỗ trợ công khai ở California CDC đã cung cấp trực tiếp 62 triệu đô la cho các khu vực pháp lý y tế khác nhau ở California, chiếm 50,4% tổng kinh phí dự phòng cho năm 2008 Phần còn lại là được cung cấp bởi Văn phòng Hội cựu chiến binh của AIDS, Quỹ Ryan White
Các dịch vụ dự phòng chiếm khoảng 6% tổng kinh phí công cho HIV/AIDS ở bang California vào năm 2008 Mặc dù một tỷ lệ tương đối nhỏ đã được chi cho
Trang 26phòng ngừa, chi tiêu phòng ngừa của California vượt quá mức trung bình quốc gia, nơi tỷ lệ chi tiêu cho HIV/AIDS dành cho phòng ngừa chỉ là 4% (Kaiser Family Foundation, 2012) Thật không may, số tiền tài trợ công có sẵn ở California cho HIV/AIDS dự phòng đã giảm trong năm10 do nhà nước loại bỏ hỗ trợ của Quỹ chung cho HIV Phòng ngừa Kết quả là tổng số tài nguyên có sẵn cho giáo dục, phòng chống HIV và thử nghiệm đã giảm từ 42,4 triệu đô la trong năm 2009 xuống còn 12,2 triệu đô la trong năm 2010 (California State Office of AIDS, 2010)
2.2.3 Vai trò của tài chính công trong phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam
Theo Bộ Y tế Việt Nam (2014), nguồn tài trợ nước ngoài chiếm tới khoảng 75% tổng kinh phí cho phòng chống HIV của Việt Nam Kể từ sau khi kinh tế toàn cầu suy thoái và Việt Nam trở thành một quốc gia có thu nhập ở mức trung bình đã dẫn đến việc những nhà tài trợ lớn đã bắt đầu giảm tài trợ cho phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam DFID và Ngân hàng thế giới cũng đã kết thúc chương trình
hỗ trợ dự phòng lây nhiễm HIV ở Việt Nam vào năm 2013 PEPFAR và Quỹ toàn cầu phòng chống AIDS, Lao và Sốt rét đã thông báo sẽ giảm dần hỗ trợ tài chính cho Việt Nam
Trong khi đó kinh phí của Chương trình mục tiêu quốc gia về phòng chống HIV/AIDS đã bị cắt giảm đáng kể vào năm 2013 và 2014 Hiện phần lớn các dịch
vụ phòng, chống HIV/AIDS là do các dự án tài trợ hỗ trợ, kể cả nhân lực, mô hình
tổ chức hoạt động, thuốc, kinh phí hoạt động và trang thiết bị
Bộ Y tế Việt Nam đã phác thảo 5 kịch bản để làm cơ sở lựa chọn đầu tư tốt nhất để vừa cứu được nhiều người, vừa tạo ra nhiều DALY (năm sống khỏe mạnh
và lao động đóng góp cho xã hội) và tiết kiệm được nguồn lực cần có cho phòng chống HIV/AIDS Dưới đây là 5 kịch bản đầu tư này xếp theo thứ tự tăng dần về kinh phí đầu tư, hiệu quả và tác động:
Kịch bản 1: Duy trì mức bao phủ hiện tại của các can thiệp dự phòng + 80%
độ bao phủ Điều trị sớm cho người nhiễm HIV thuộc nhóm nguy cơ cao và điều trị cho những người nhiễm HIV khác Mức đầu tư cho kịch bản này tương đương kinh
Trang 27phí trung bình 61 triệu đô la Mỹ/năm cho cả giai đoạn 2014 - 2030, sẽ cho kết quả
số ca nhiễm mới HIV vào năm 2020 là 7.700 ca và vào năm 2030 là 4.550 ca Kịch bản đầu tư này sẽ cứu được 87.177 người khỏi bị nhiễm HIV và thu được 2.371.000 DALYs, tương đương 4.647.160.000 đô la trong cả giai đoạn 2014 - 2030
Kịch bản 2: Đạt một nửa mục tiêu Chiến lược quốc gia + Điều trị sớm, nghĩa
là bổ sung thêm 80% độ bao phủ điều trị sớm cho các nhóm nguy cơ HIV cao và điều trị các nhóm HIV khác Mức đầu tư cho kịch bản này tương đương kinh phí trung bình 72 triệu đô la Mỹ/năm của cả giai đoạn 2014 - 2030, sẽ cho kết quả số ca nhiễm mới HIV vào năm 2020 là 5.550 ca và vào năm 2030 là 2.450 ca Kịch bản này sẽ cứu được 118.299 người khỏi bị nhiễm HIV và thu được 3.218.000 DALYs tương đương 6.307.280.000 đô la trong cả giai đoạn 2014 - 2030
Kịch bản 3: Mục tiêu Chiến lược Quốc gia + Điều trị sớm, nghĩa là bổ sung thêm 80% độ bao phủ điều trị sớm cho các nhóm nguy cơ cao vào kịch bản thực hiện được các mục tiêu trong Chiến lược Quốc gia Mức đầu tư cho kịch bản này tương đương kinh phí trung bình 83 triệu đô la Mỹ/năm của cả giai đoạn 2014 -
2030, sẽ cho kết quả số ca nhiễm mới HIV vào năm 2020 là 4.255 ca và vào năm
2030 là 1.560 ca Kịch bản này sẽ cứu được 135.665 người khỏi bị nhiễm HIV và thu được 3.690.000 DALYs tương đương 7.232.400.000 đô la trong cả giai đoạn
2014 - 2030
Kịch bản 4: Mục tiêu Chiến lược Quốc gia + Điều trị sớm + Bổ sung thêm 80% độ bao phủ Điều trị sớm cho các nhóm nguy cơ HIV cao, và 80% độ bao phủ chương trình điều trị ARV ở mức CD4/500 cho những người nhiễm HIV khác vào kịch bản thực hiện được các mục tiêu trong Chiến lược Quốc gia Mức đầu tư kịch bản này tương đương kinh phí trung bình 88 triệu đô la Mỹ/năm của cả giai đoạn
2014 - 2030, sẽ cho kết quả số ca nhiễm mới HIV vào năm 2020 là 4.030 ca và vào năm 2030 là 1.540 ca Kịch bản này sẽ cứu được 137.385 người khỏi bị nhiễm HIV
và thu được 3.737.000 DALYs tương đương 7.324.520.000 đô la trong giai đoạn
2014 - 2030
Kịch bản 5: “Kết thúc dịch AIDS”, nghĩa là bổ sung thêm 80% độ bao phủ của
Trang 28chương trình điều trị ARV cho mọi người nhiễm HIV ở mức CD4 < 1.000, bao phủ chương trình bơm kim tiêm đạt 65%, chương trình điều trị methadone đạt 35% cho nhóm nghiện chích ma túy và dự phòng tích cực cho các cặp vợ chồng/ bạn tình bị nhiễm vào kịch bản thực hiện được các mục tiêu trong Chiến lược Quốc gia Mức đầu tư kịch bản này tương đương kinh phí trung bình 92 triệu đô la Mỹ/năm của cả giai đoạn 2014 - 2030, sẽ cho kết quả số ca nhiễm mới HIV vào năm 2020 là 2.720
ca và vào năm 2030 là 950 ca (định nghĩa dưới 1.000 ca nhiễm mới HIV được xem
là kết thúc HIV/AIDS) Kịch bản này sẽ cứu được 152.583 người khỏi bị nhiễm HIV và thu được 4.150.000 DALYs tương đương 8.134.000.000 đô la trong cả giai đoạn 2014 - 2030
Trong 5 kịch bản trên đấy cho thấy biện pháp điều trị ARV sớm cho những nhóm có nguy cơ cao lây nhiễm HIV luôn có hiệu quả cao cả về giảm số ca nhiễm HIV mới và về số DALY thu được Phân tích cũng cho thấy mở rộng độ bao phủ của các can thiệp giảm hại sẽ tăng thêm hiệu quả cho chương trình phòng chống HIV/AIDS
Phân tích cho thấy rằng kịch bản đầu tư có tác động lớn nhất cả về lợi ích về sức khỏe và con người cũng như về chi phí hiệu quả tính theo số DALY thu được,
là kịch bản số 5: Kết thúc dịch AIDS Theo kịch bản này, nếu được đầu tư trung bình 92 triệu đô la mỗi năm thì đến năm 2030 Việt Nam có thể kết thúc được dịch AIDS, tức là giảm số ca nhiễm mới xuống dưới 1000 ca/năm và HIV/AIDS không còn là một mối nguy lớn cho sức khỏe cộng đồng nữa
2.3 Các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài
2.3.1 Lược khảo các nghiên cứu trước
Joshua Kembo (2012) khi nghiên cứu các yếu tố nguy cơ liên quan đến tỷ lệ nhiễm HIV ở người trong độ tuổi từ 15 - 24 tại Zimbabwe Nghiên cứu đã sử dụng
mô hình nghiên cứu khung phân tích của Mosley and Chen (1984) bao gồm 2 nhân tố: Nhân khẩu học (Tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, tôn giáo, sống xa gia đình)
và yếu tố kinh tế, xã hội (Học vấn, nơi cư trú, tình trạng sức khỏe) (Hình 2.1)
Trang 29Hình 2.1: Các yếu tố nguy cơ của HIV ở người trẻ tuổi
Nguồn: Joshua Kembo (2012)
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ Khảo sát Sức khỏe và Nhân khẩu học của Zimbabwe được thực hiện vào năm 2005 Kết quả nghiên cứu cho thấy, nữ có nguy
cơ nhiễm HIV cao hơn gấp 2 lần so với nam Những người trẻ tuổi đã ly dị, góa vợ hoặc độc thân có nguy cơ cao đáng kể so với người chưa kết hôn Những người có học vấn thấp và sống ở thành thị hoặc sống xa nhà có tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn Christobel và cộng sự (2012) nghiên cứu mối quan hệ giữa điều kiện kinh tế
xã hội, nhân khẩu học với tình trạng nhiễm HIV của người trưởng thành ở Lesicia, Malawi, Swaziland và Zimbabwe Mô hình nghiên cứu gồm các yếu tố: Giới tính, khu vực sinh sống, tình trạng hôn nhân, thu nhập, tuổi Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu từ Khảo sát nhân khẩu học và sức khỏe Ở cả bốn quốc gia khảo sát, kết quả nghiên cứu cho thấy: (i) Xác suất tồn tại HIV dương tính với phụ nữ cao hơn nam giới; (ii) Khả năng tỷ lệ nhiễm bệnh ở thành thị cao hơn so với người dân nông thôn; và (iii) Có một mối quan hệ ngược giữa tuổi và tình trạng HIV nghĩa là những người trẻ tuổi (18 - 35) thì tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn; (iv) xác suất nhiễm HIV ở nhóm có thu nhập thấp sẽ cao hơn và thay đổi theo từng quốc gia nghiên cứu
John (2013) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa HIV và các yếu tố nguy cơ thay đổi theo thời gian thông qua chính sách can thiệp dự phòng giảm HIV ở Tanzania Kết quả nghiên cứu cho thấy, chính sách can thiệp dự phòng đã giúp tỷ lệ
Tỷ lệ nhiễm HIV Các yếu tố về kinh tế xã hội
Trang 30nhiễm HIV từ 7,9% xuống 6,8% trong thời gian 4 năm giữa các cuộc khảo sát, nhưng mức giảm này chỉ có ý nghĩa trong số những người đàn ông thành thị Các yếu tố nguy cơ nhiễm HIV gồm có: (i) phụ nữ độc thân có nguy cơ nhiễm HIV cao hơn phụ nữ đã lập gia đình, (ii) học vấn thấp và thu nhập thấp làm gia tăng nguy cơ nhiễm HIV; (iii) cư dân thành thị có tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn so với khu vực nông thôn nhưng tỷ lệ gia tăng lây nhiễm HIV ở nông thôn lại cao hơn so với thành thị Carlos và cộng sự (2013), nghiên cứu về các yếu tố quyết định tài chính của chính phủ danh cho HIV/AIDS 10 năm (2000 - 2010) ở 125 quốc gia thu nhập thấp đến trung bình Nhóm nghiên cứu đã phân tích xu hướng mười năm và xác định các yếu tố dự đoán độc lập về chi tiêu HIV công cộng bằng mô hình hồi quy dữ liệu bảng Các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu công cho HIV ở cấp quốc gia là: GDP bình quân đầu người, ổn định chính trị, chất lượng quy định và quy tắc của pháp luật, tỷ
lệ nhiễm HIV
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nước thu nhập thấp và trung bình đã chi 2,1
tỷ đô la Mỹ từ các nguồn của chính phủ vào năm 2000, tăng lên 6,6 tỷ đô la Mỹ tỷ trong năm 2010, tăng gấp ba lần Chi tiêu bình quân đầu người cho phòng ngừa HIV thời điểm năm 2010 dao động từ 0,05 đô la Mỹ tại các quốc gia có tỷ lệ nhiễm HIV thấp là Trung Đông đến 32 đô la Mỹ ở các nước thu nhập trung bình tại Nam Phi, nơi có tỷ lệ nhiễm HIV cao và tăng nhanh Trung bình chi tiêu công bình quân đầu người cho HIV tại các quốc gia trong giai đoạn này là 2,55 đô la Mỹ Phân tích cho thấy tỷ lệ mắc HIV, GDP bình quân đầu người có ảnh hưởng cùng chiều đến chi tiêu công cho HIV tại một quốc gia Khi tỷ lệ nhiễm HIV tăng thêm 10% sẽ làm gia tăng 2,5% chi tiêu công cho HIV; Tăng 10% GDP bình quân đầu người sẽ làm tăng 11,49% chi tiêu công cho HIV
Nghiên cứu của Kavita Singh và cộng sự (2013) về mối quan hệ giữa giáo dục
và bình đẳng giới vói tỷ lệ nhiễm HIV tại Kenya, Zambia và Zimbabwe Nghiên cứu tập trung vào những phụ nữ hiện đang kết hôn ở độ tuổi từ 15 đến 34 Dữ liệu được lấy từ Khảo sát Sức khỏe và Dân số Hồi quy logistic đã được sử dụng để nghiên cứu vai trò của bình đẳng giới và giáo dục đối với kết quả xét nghiệm HIV
Trang 31sau khi kiểm soát cả các yếu tố xã hội và sinh học Kết quả nghiên cứu cho thấy, giáo dục và giới tính có liên quan đến tỷ lệ nhiễm HIV Những người được có nền tảng giáo dục tốt thì ít nhiễm HIV hơn Phụ nữ dễ mắc HIV hơn nam giới Những đối tượng có hành vi nguy cơ cao như là mại dâm, ma túy, quan hệ đồng giới, … có
tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn
Vassall và cộng sự (2014) đã nghiên cứu về chi phí phòng ngừa HIV ở nhóm
có nguy cơ nhiễm HIV cao tại miền Nam của Ấn Độ Nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp ước tính hiệu quả chi phí từ các chương trình phòng ngừa HIV tại 22 quận thuộc bốn bang ở Ấn Độ có tỷ lệ nhiễm HIV cao
Nghiên cứu được thực hiện trên dữ liệu của 150.000 người có nguy cơ nhiễm HIV cao từ năm 2004 đến 2008 tại 22 quận, kết quả cho thấy, chi phí trung bình cho mỗi người đạt 327 đô la Mỹ trong giai đoạn 2004 - 2008 Nhờ có chi phí phòng ngừa này mà có 61.000 ca nhiễm HIV được ngăn chặn Chi phí điều trị trung bình cho mỗi trường hợp nhiễm HIV là 785 đô la Mỹ Với chi phí phòng ngừa 50 triệu
đô la được chi trong 4 năm, giá trị DALY (năm sống khỏe mạnh và lao động đóng góp cho xã hội) tại 22 quận kể trên là 77 triệu đô la
Ở Việt Nam, theo hiểu biết của tác giả, các nghiên cứu về HIV hầu hết đều thuộc về các lĩnh vực y học, xã hội học hoặc nhân chủng học Tác giả chưa tìm thấy nghiên cứu nào về lĩnh vực tài chính, phân bổ Ngân sách hỗ trợ tài chính đối với công tác phòng chống lây nhiễm HIV trong cộng đồng Do đó đề tài nghiên cứu của tác giả được kỳ vọng sẽ mang tính mới hơn so với các nghiên cứu trước đây Liên quan đến tỷ lệ nhiễm HIV chủ yếu tập trung ở lĩnh vực y tế, có thể kể tên một số nghiên cứu như: Lưu Thị Minh Châu, Trần Như Nguyên, “Tỷ lệ nhiễm và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ma túy tại thành phố Hà Nội, năm 2004”; Vũ Văn Chiểu, Nguyễn Thị Minh Tâm (2010), “Yếu tố ảnh hưởng đến hành
vi tình dục không an toàn của người tiêm chích ma túy tại Việt Nam” Trong đó, đáng chú ý là nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuấn và Đặng Văn Chính (2014) nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm HIV và các yếu tố liên quan của khách hàng đến phòng khám tư vấn chăm sóc sức khỏe cộng đồng tại tỉnh Tây Ninh Với cỡ mẫu 4.775 cá nhân
Trang 32tham gia xét nghiệm HIV, tỷ lệ nhiễm HIV là 10,1% Có mối liên quan giữa tình trạng nhiễm HIV với nhóm tuổi, nơi cư trú, học vấn, tình trạng hôn nhân, yếu tố nguy cơ của bản thân (mại dâm, ma túy)
2.3.2 Đánh giá tổng quan các tài liệu
Qua lược khảo các nghiên cứu trước, tác giả rút ra một số nhận xét sau:
Một là, vai trò của tài chính công rất quan trọng trong phòng chống HIV/AIDS Ở các quốc gia kém phát triển, tài chính công rất hạn hẹp nên phải phụ thuộc phần lớn từ tài trợ bên ngoài Tuy nhiên, kể từ năm 2015, chi tiêu công cho HIV/AIDS chứng kiến sự sụt giảm 1 tỷ USD tại 13/14 quốc gia kém phát triển, tương đương 13% so với năm 2014 sau giai đoạn 5 năm chi tiêu công cho HIV tăng trưởng liên tục
Hai là, có nhiều yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng: Độ tuổi, giới tính, nghèo đói, giáo dục, thu nhập đầu người, …
Ba là, chi tiêu công cho HIV/AIDS phần lớn tập trung ở chi phí điều trị (chăm sóc y tế và dược phẩm) cho đối tượng nhiễm HIV/AIDS Các chi phí phòng ngừa thường chiếm rất nhỏ trong chi tiêu công cho HIV/AIDS Chi tiêu cho HIV/AIDS bình quân đầu người có xu hướng tăng theo thời gian
Tóm tắt Chương 2
Chương 2 trình bày Tổng quan về HIV, AIDS và chương trình phòng chống HIV, AIDS ở Việt Nam; Vai trò của tài chính công đối với phòng chống HIV/AIDS Chương này cũng lược khảo một số nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài để làm cơ sở hình thành phương pháp nghiên cứu ở chương 3
Trang 33Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mô hình nghiên cứu
3.1.1 Khung phân tích
Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan, khung phân tích của đề tài được trình bày tại Hình 3.1
Hình 3.1: Khung phân tích của đề tài
Nguồn: Tổng hợp lý thuyết và đề xuất của tác giả (2019)
3.1.2 Mô hình nghiên cứu
Để đánh giá tác động của hỗ trợ tài chính đối với công tác phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, đề tài sử dụng mô hình định lượng: Yi = β0 + βi Zi + εi (3.1)
Trong đó, Yi là chỉ tiêu phản ánh tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng của quan sát thứ i; Zi là các biến độc lập: Là các yếu tố có ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng i: sai số của mô hình
3.1.3 Các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu
Trên cơ sở lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp được đề xuất gồm có: Độ tuổi, nghèo, thu nhập đầu người, giáo dục, chi tiêu cho HIV/AIDS (Bảng 3.1)
Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng
Trang 34Bảng 3.1: Các biến độc lập sử dụng trong mô hình nghiên cứu
cộng đồng Nghèo đói làm gia tăng khả năng nhiễm HIV (Stillwaggon, 2002)
-
Các chính sách tài chính hỗ trợ từ Chính phủ và các tổ chức phi chính phủ là một trong những yếu tố quan trọng của quản trị công nhằm chống lại dịch HIV (Bonnel, 2000) Vì vậy, chi tiêu cho HIV/AIDS được sử dụng để đại diện cho quản trị công
Khi chi tiêu càng lớn thì có khuynh hướng làm giảm tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS
-
Nguồn: Tổng hợp các nghiên cứu trước và đề xuất của tác giả (2019)
Trang 353.2 Thu thập dữ liệu nghiên cứu
3.2.2 Chọn địa bàn điều tra
Tỉnh Đồng Tháp có tổng cộng 12 thành phố/thị xã, huyện trực thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện) Đề tài chọn tất cả 12 huyện để lấy số liệu điều tra gồm: Huyện Lấp Vò, huyện Lai Vung, huyện Tam Nông, huyện Tháp Mười, huyện Hồng Ngự, huyện Tân Hồng, huyện Thanh Bình, huyện Châu Thành, huyện Cao Lãnh, thành phố Sa Đéc, thành phố Cao Lãnh, thị xã Hồng Ngự
3.2.3 Cỡ mẫu nghiên cứu
Theo Tabachnick và Fidell (1996), cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được tính theo công thức là n = 50 + 8m (m: số biến độc lập) Nghiên cứu này có 5 biến độc lập, nên kích thước mẫu tối thiểu phải đạt được là n = 50 + 8*5 = 90 Để đảm bảo số quan sát trong mẫu, đề tài chọn 12 huyện, mỗi huyện dự kiến thu dữ liệu của 10 năm Tổng số quan sát dự kiến là 12*10 = 120 quan sát
3.2.4 Cách thức thu thập dữ liệu
Tác giả trực tiếp liên hệ với Cục Thống kê tỉnh Đồng Tháp và Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Đồng Tháp để thu thập dữ liệu Các dữ liệu được lấy từ các niên giám thống kê, file mềm của Cục Thống kê và từ các báo cáo tài chính hàng năm của Trung tâm kiểm soát Bệnh tật Dữ liệu được nhập vào phần mềm Microsoft Excel phiên bản 2013 theo từng huyện trong tổng số 12 huyện của tỉnh Đồng Tháp Sau đó, dữ liệu được đưa vào phần mềm Stata phiên bản 12.0 để phân tích hồi quy