Vai trò của tài chính công trong phòng chống HIV/AIDS trên thế giới

Một phần của tài liệu (Luận văn thạc sĩ) đánh giá tác động hỗ trợ tài chính đối với công tác phòng chống lây nhiễm HIV trong cộng đồng nghiên cứu trường hợp tỉnh đồng tháp (Trang 21 - 24)

Chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.2. Vai trò của tài chính công đối với phòng chống HIV/AIDS

2.2.1. Vai trò của tài chính công trong phòng chống HIV/AIDS trên thế giới

Trong giai đoạn 2001 - 2011, các quốc gia trên thế giới đã mở rộng quy mô tài trợ để chống lại HIV. Chi tiêu toàn cầu cho HIV đã tăng 11% trong năm 2011 so với năm 2010 ở mức 16,8 tỷ USD. Chi tiêu công của một quốc gia cho HIV là số tiền tài trợ từ các nguồn tài nguyên quốc gia của nước đó cho các hoạt động cụ thể của HIV, con người nguồn và cơ sở hạ tầng (UNAIDS, 2009). Khi tỷ lệ nhiễm HIV

ở một quốc gia tăng, chi tiêu công cho HIV cũng tăng (Carlos va cộng sự, 2013).

Các nước thu nhập thấp và trung bình đã chi tiêu tổng cộng 43,5 tỷ USD từ các nguồn công cộng trong nước từ năm 2000 đến năm 2010. Trong đó, 35% đã được chi tiêu ở châu Phi cận Sahara (12,9 tỷ USD), 32,8% ở Mỹ Latinh (12,1 tỷ USD), 12,0% ở Đông Nam Á (4,42 tỷ USD) và 9,5% tại Đông Âu và Trung Á (3,52 tỷ USD). Toàn bộ chi tiêu trong nước ở các nước thu nhập thấp và trung bình cho thấy một sự gia tăng tương đối của 314% trong 10 năm (Kates cộng sự, 2012).

Nhìn chung, chi tiêu trung bình cho đầu người HIV từ các nguồn trong nước tăng từ 0,31 đô la Mỹ năm 2000 lên 1,11 đô la Mỹ năm 2010. Các nước nghèo có chi tiêu trong nước thấp cho HIV những nước này đặc biệt dễ bị tổn thương và nhiều khả năng không thể đầu tư đủ các nguồn để kiểm soát sự lây lan của HIV.

Zimbabwe, Kenya, Uganda và Malawi là những trường hợp điển hình của chi tiêu trong nước thấp cho HIV, gánh nặng HIV cao và năng lực kinh tế thấp (Carlos va cộng sự, 2013).

Kiểm soát dịch HIV đòi hỏi một lượng lớn tài chính, đặc biệt là ở các quốc gia có tỷ lệ mắc bệnh HIV/AIDS cao. Sự gia tăng mạnh mẽ tài trợ cho HIV/AIDS kể từ những năm 1990 đã cho phép tăng cường nhiều quốc gia đối phó với dịch bệnh và giảm đáng kể tỷ lệ mắc và tử vong do dịch bệnh (Karima và cộng sự, 2018). Tuy nhiên, bất chấp thành công đáng kể trong việc kiềm chế dịch HIV ở nhiều quốc gia, cần duy trì nỗ lực này và tiếp tục mở rộng phạm vi bảo hiểm theo chương trình HIV /AIDS trong nhiều năm tới sẽ cần tiếp tục cam kết tài chính.

Nhu cầu tài trợ HIV/AIDS trong tương lai tại 12 quốc gia châu Phi cận Sahara với mức chi phí trung bình là 480 USD mỗi năm cho mỗi trường hợp nhiễm HIV.

và chỉ những quốc gia có thu nhập trung bình cao mới có khả năng tự lực trong việc tài trợ chương trình HIV; hầu hết các quốc gia có thu nhập thấp không có khả năng huy động đủ nguồn lực trong nước để đáp ứng nhu cầu tài trợ, do vậy tỷ lệ lớn được tài trợ bằng nguồn lực bên ngoài hoặc tư nhân (Resch và cộng sự, 2015).

Haacker (2015) cho thấy tỷ lệ tài trợ bên ngoài cho chi tiêu HIV/AIDS trong các quốc gia thu nhập thấp là 76%. Ở nhiều nước châu Phi cận Sahara, tài trợ từ bên

ngoài chiếm tới 80 - 100% tổng chi tiêu cho HIV/AIDS ở nước này, với một số quốc gia chia sẻ gánh nặng tài trợ thông qua các nguồn tài chính công và tư trong nước. Tỷ lệ tài chính bên ngoài đã thay đổi tùy theo GDP bình quân đầu người, nhưng không thay đổi nhiều tùy thuộc vào tỷ lệ nhiễm HIV (Haacker, 2015).

Ở những nước có tỷ lệ nhiễm HIV cao, gần một nửa của tất cả các chi tiêu y tế có thể hướng tới kiểm soát HIV. Một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng chi tiêu đối với HIV/AIDS thường tỷ lệ thuận với tỷ lê nhiễm HIV. Mặc dù chi tiêu cho HIV/

AIDS có liên quan đến tỷ lệ nhiễm HIV, phân bổ tài chính bên ngoài cho HIV/AIDS có liên quan đến GDP bình quân đầu người (Amico và cộng sự, 2010;

Haacker, 2015).

Ngân hàng Thế giới (2014) đã phát triển một khung đánh giá tính bền vững của tài chính HIV/AIDS, bao gồm các bước sau: (1) Hiểu hồ sơ bệnh HIV/AIDS, hiện tại và dự kiến; (2) Đánh giá các mô hình chi tiêu hiện tại và phân bổ của nó;

(3) Đánh giá khoảng cách bảo hiểm hiện tại. Đánh giá chi tiêu tối ưu hiện tại và tương lai; (4) Phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô và tài chính và môi trường; (5) Xác định chế độ ưu tiên của chính phủ để tài trợ cho HIV/AIDS; (6) Tăng doanh thu bổ sung cho ngành y tế và các chương trình HIV/AIDS; (7) Tập hợp các quỹ và quản trị; (8) Xác định các lựa chọn để cải thiện hiệu quả và giá trị đồng tiền; (9) Đánh giá khả năng tích hợp và tăng cường các vấn đề hệ thống y tế; (10) Phân tích các vấn đề hệ thống khác để tăng cường và nắm bắt các khoản tiết kiệm và hiệu quả; (11) Thực hiện khuôn khổ bền vững tài chính HIV/AIDS.

UNAIDS (2015) trong Báo cáo tại Hội nghị AIDS Quốc tế lần thứ 21 tổ chức tại Durban, Nam Phi vào năm 2015 đã cho thấy, tài trợ từ các chính phủ cho HIV giảm trong năm 2015, hơn 1 tỷ USD, so với năm 2014 (7,53 tỷ đô la Mỹ trong năm 2015 so với 8,62 tỷđô la Mỹ trong năm 2014), giảm 13%. Có đến 13 trong số 14 quốc gia giảm chi tiêu chính phủ cho HIV. Nếu tính luôn cả thời giá, tỷ giá hối đoái thì số tiền giảm còn lớn hơn 1 tỷ USD. Năm 2015 đã đánh dấu sự suy giảm đầu tiên trong tài trợ của chính phủ tài trợ để giải quyết HIV.

Đối với nguồn tài trợ đa phương, Hoa Kỳ vẫn là nhà tài trợ lớn nhất cho HIV.

Trong năm 2015, Hoa Kỳ chiếm hai phần ba (66,4%) nhà tài trợ chính phủ giải ngân cho HIV. Vương quốc Anh là nhà tài trợ lớn thứ hai (13,0%), theo sau là Pháp (3,5%), Đức (2,7%) và Hà Lan (2,3%).

Một phần của tài liệu (Luận văn thạc sĩ) đánh giá tác động hỗ trợ tài chính đối với công tác phòng chống lây nhiễm HIV trong cộng đồng nghiên cứu trường hợp tỉnh đồng tháp (Trang 21 - 24)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(70 trang)