Sự phát triển khúc xạ của mắt và quá trình chính thị hóa Tình trạng khúc xạ của mắt được xác định bởi công suất giác mạc, côngsuất thủy tinh thể, độ sâu tiền phòng và chiều dài trục nhãn
Trang 1NGUYỄN THỊ XUÂN TỊNH
§¸NH GI¸ KHóC X¹ TR£N TRÎ §Î NON KH¤NG M¾C BÖNH VâNG M¹C TRÎ §Î NON ë §é
TUæI §I HäC
Chuyên ngành : Nhãn khoa
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN XUÂN TỊNH
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 Tổng quan 3
1.1 Sự phát triển khúc xạ của mắt và quá trình chính thị hóa 3
1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng khúc xạ 4
1.2.1 Giác mạc 4
1.2.2 Độ sâu tiền phòng 5
1.2.3 Công suất thể thủy tinh 6
1.2.4 Trục nhãn cầu 7
1.3 Các tật khúc xạ của mắt 8
1.3.1 Cận thị 8
1.3.2 Viễn thị 9
1.3.3 Loạn thị 10
1.4 Tật khúc xạ ở trẻ đẻ non 11
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 15
2.1.1 Thời gian nghiên cứu 15
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 15
2.2 Đối tượng nghiên cứu 15
2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 15
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ 15
2.3 Thiết kế nghiên cứu 15
2.4 Mẫu nghiên cứu 15
2.5 Phương tiện nghiên cứu 16
2.6 Biến số và chỉ số nghiên cứu 17
2.7 Quy trình nghiên cứu 18
Trang 43.1 Đặc điểm chung về nhóm bệnh nhân nghiên cứu 21
3.1.1 Phân bố bệnh nhân theo tuổi 21
3.1.2 Phân bố bệnh nhân theo giới 21
3.1.3 Phân bố bệnh nhân theo tuổi thai khi sinh 22
3.1.4 Phân bố bệnh nhân theo BMI hiện tại 22
3.2 Đặc điểm tật khúc xạ của trẻ đẻ non không mắc bệnh võng mạc trẻ đẻ non ở tuổi đi học 23
3.2.1 phân bố tật khúc xạ 23
3.2.2 chỉ số khúc xạ trung bình 23
3.2.3 mức độ nặng của tật khúc xạ 24
3.2.4 tình trạng lác và nhược thị 24
3.2.5 Chỉ số sinh học của nhãn cầu 25
3.2.6 Chỉ số sinh học của nhãn cầu ở các nhóm tật khúc xạ 25
3.2.7 Mối liên quan giữa tật cận thị với tuổi thai khi sinh 26
3.2.8 Mối liên quan giữa tật cận thị với cân nặng khi sinh 26
3.2.9 Mối liên quan giữa chỉ số BMI với tật cận thị 26
Chương 4 DỰ KIẾN BÀN LUẬN 27
4.1 Đặc điểm chung của nhóm đối tượng nghiên cứu 27
4.2 Đặc điểm tật khúc xạ của trẻ đẻ non không mắc bệnh võng mạc trẻ đẻ non ở tuổi đi học 27
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29 PHỤ LỤC
Trang 5Bảng 1.1 sự thay đổi của độ sâu tiền phòng theo tuổi và tật khúc xạ 5
Bảng 1.2 Biên độ điều tiết trung bình theo tuổi 7
Bảng 1.3 sự thay đổi khúc xạ cầu ở trẻ đủ tháng sau sinh 12
Bảng 1.4 các chỉ số sinh trắc nhãn cầu và khúc xạ khi sinh ở trẻ đẻ non 12
Bảng 1.5 Khúc xạ của trẻ đẻ non ở độ tuổi 6 tháng và 24 tháng sau sinh 13
Bảng 2.1 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 17
Bảng 3.1 Chỉ số khúc xạ trung bình 23
Bảng 3.2 Mức độ của tật khúc xạ 24
Bảng 3.3 phân bố tình trạng lác và nhược thị trong các nhóm tật khúc xạ 24
Bảng 3.4 Chỉ số sinh học trung bình của nhãn cầu 25
Bảng 3.5 Chỉ số sinh học trung bình của nhãn cầu ở các nhóm tật khúc xạ .25 Bảng 3.6 Mối liên quan giữa tật cận thị với tuổi thai khi sinh 26
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa tật cận thị với cân nặng khi sinh 26
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa chỉ số BMI với tật cận thị 26
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 phân bố bệnh nhân theo tuổi 21
Biểu đồ 3.2 phân bố bệnh nhân theo giới 21
Biểu đồ 3.3 phân bố bệnh nhân theo tuổi thai khi sinh 22
Biểu đồ 3.4 Phân bố bệnh nhân theo BMI hiện tại 22
Biểu đồ 3.5 tình trạng khúc xạ của nhóm đối tượng nghiên cứu 23
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo tổ chức y tế thế giới mỗi năm có khoảng mười lăm triệu trẻ sinhnon trên toàn thế giới và con số này có xu hướng ngày càng gia tăng [1].Liu.Li và cộng sự (2015) ước tính có khoảng một triệu trẻ dưới 5 tuổi chết dosinh non [2] Số trẻ còn lại phải đối mặt với những tàn tật như không có khảnăng học tập, vấn đề về thị giác và nghe [1]
Vấn đề về thị giác ở trẻ đẻ non là một vấn đề cần được quan tâm bởiđây là những vấn đề xuất hiện sớm có thể gây giảm hoặc mất thị lực, ảnhhưởng đến chất lượng cuộc sống và khả năng học tập trong suốt cuộc đời củatrẻ Ngoài bệnh võng mạc trẻ đẻ non, tật khúc xạ cũng là một vấn đề thườnggặp, gây giảm thị lực và một số bệnh khác như lác, nhược thị nếu không đượcchẩn đoán và điều trị kịp thời [3], [4]
Trong nhóm trẻ sinh non, những trẻ được khám và phát hiện có bệnhvõng mạc trẻ đẻ non thường được khám định kỳ và theo dõi chức năng thịgiác Những trẻ không có bệnh võng mạc trẻ đẻ non thường ít được đi khám
và theo dõi hơn Tuy nhiên, theo Ouyang và cộng sự (2015), trẻ đẻ non cómắc bệnh võng mạc trẻ đẻ non và không có bệnh võng mạc trẻ đẻ non đều có
tỷ lệ cận thị và loạn thị cao hơn so với những trẻ được sinh ra đủ tháng [5]
Do vậy, những trẻ này cũng cần được quan tâm về các tật khúc xạ của mắt.Điều này sẽ mang lại những cơ hội tốt hơn để trẻ phát triển một cách toàndiện, nâng cao chất lượng cuộc sống
Trẻ ở lưa tuổi đi học là những trẻ đang trong giai đoạn phát triển nhanh
cả về thể chất và tinh thần Chức năng thị giác tốt giúp trẻ nhận biết tốt hơn,tăng khả năng tiếp thu kiến thức Trẻ cũng sẽ tự tin hơn trong các hoạt độngthể lực và hòa đồng với bạn bè Điều này sẽ tạo ra cho trẻ những cơ hội tốthơn trong sự nghiệp và cuộc sống sau này
Trang 7Tại Việt Nam, từ năm 2001, trẻ đẻ non đã được khám sàng lọc bệnhvõng mạc trẻ đẻ non Tại Việt Nam, một số tác giả đã nghiên cứu về khúc xạcủa trẻ đẻ non có và không mắc bệnh võng mạc trẻ đẻ non Tuy nhiên chưa cónghiên cứu nào đánh giá về tình trạng khúc xạ của những trẻ không mắc bệnhvõng mạc trẻ đẻ non ở độ tuổi đi học Nhằm đánh giá chức năng thị giác mộtcách lâu dài trên những bệnh nhân đẻ non, chúng tôi thực hiện nghiên cứu nàynhằm 2 mục tiêu sau:
1 Đánh giá tình trạng khúc xạ trên những trẻ đẻ non không mắc bệnh võng mạc trẻ đẻ non: xác định tỷ lệ cận thị, viễn thị, loạn thị và lệch khúc xạ.
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng khúc xạ của trẻ đẻ non không mắc bệnh võng mạc trẻ đẻ non ở tuổi đi học.
Trang 8Chương 1 Tổng quan
1.1 Sự phát triển khúc xạ của mắt và quá trình chính thị hóa
Tình trạng khúc xạ của mắt được xác định bởi công suất giác mạc, côngsuất thủy tinh thể, độ sâu tiền phòng và chiều dài trục nhãn cầu Theo Zorema
và cộng sự (2017), khúc xạ của trẻ khi sinh trung bình là 2,78±0,93 Diopter [6] Trong năm đầu tiên sau sinh, trong quá trình chính thị hóa, trục nhãn cầutăng lên một cách đáng kể, cả giác mạc và thể thủy tinh đều giảm công suấtkhúc xạ bằng cách tăng độ dẹt [7] Việc tăng chiều dài trục nhãn cầu phù hợpvới sự giảm công suất khúc xạ giúp nhãn cầu đạt được tình trạng chính thị Độviễn thị của nhãn cầu giảm dần từ sau sinh tới hết năm thứ 3 Sau năm thứ 3,trục nhãn cầu và độ sâu tiền phòng tiếp tục tăng, công suất thủy tinh thể giảmmột cách đáng kể, tuy nhiên công suất giác mạc thay đổi rất ít Quá trìnhchính thị hóa có thể đạt được vào năm thứ 6 sau sinh [8]
Quá trình chính thị hóa là sự tác động qua lại giữa các yếu tố liên quanđến khúc xạ của mắt để đạt được tình trạng chính thị Quá trình này vừa cótính chủ động, vừa thụ động [4], [7]
Quá trình chính thị vẫn chưa được biết một cách rõ ràng nhưng có mộtđiểm nổi bật là khả năng kiểm soát của mắt để duy trì một tình trạng khúc xạgần sát tình trạng chính thị cho dù các thành phần cấu tạo quang hệ mắtchịu nhiều biến đổi trong khi cơ thể phát triển Có hai yếu tố được xem là
có ảnh hường đến sự chính thị hóa đó là tính di truyền và môi trường Cácnghiên cứu về ảnh hưởng của môi trường lên tật khúc xạ phần lớn là dẫnđến cận thị Sự phát triển của chiều dài trục nhãn cầu được bù đắp bằng
Trang 9cách giảm công suất khúc xạ của giác mạc và thể thủy tinh để ngăn cản sựhình thành tật khúc xạ.
Nghiên cứu của Sheng và cộng sự (2015) cho thấy công suất khúc xạ củanhãn cầu giảm theo tuổi trong suốt quá trình chính thị hóa Trong quá trình
đó, bán kính cong giác mạc tăng lên đồng nghĩa với công suất giác mạc giảm,công suất thể thủy tinh giảm và kích thước bán phần trước ( tính từ giác mạctới mặt sau thể thủy tinh) tăng lên Giá trị khúc xạ trung bình là số Dioptertính từ điểm hội tụ của ánh sáng đến từ xa tới lớp nhận cảm ánh sáng
1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng khúc xạ.
1.2.1 Giác mạc
Mặt trước giác mạc lồi có công suất hội tụ khoảng 49 Diopter, mặt sau lõm
có công suất phân kỳ khoảng -6 Diopter Như vậy công suất hội tụ chung củagiác mạc khoảng 43 Diopter Công suất hội tụ lớn nên khi có sự biến đổi vềcấu trúc hay độ cong giác mạc sẽ tác động nhiều đến khúc xạ của mắt Bánkính cong giác mạc thay đổi 1mm sẽ làm thay đổi công suất 6 Diopter [4].Phần trước nhãn cầu phát triển rất nhanh trong giai đoạn đầu sau sinh và đạt
tỷ lệ gần như người lớn vào cuối năm thứ 2 Giác mạc trẻ sơ sinh có kíchthước khoảng 10 mm và đạt được kích thước hoàn chỉnh vào cuối năm thứ 2.Tại thời điểm khi sinh ở những trẻ đủ tháng, theo Rozema và cộng sự(2018), giác mạc có bán kính cong mặt trước là 6,93±0,27 mm, Bán kínhcong mặt sau là 5,71±0,23 mm, độ dày giác mạc trung tâm 570,1±47,7µm [6] Theo tác giả Gul và cộng sự (2014), độ dày giác mạc của trẻ từ 1-12 tuổitrung bình là 556 µm, trong đó nhóm trẻ 1-2 tuổi là 556 µm, 6-7 tuổi là 565
µm và 9-10 tuổi là 555 µm [9] Có thể thấy độ dày trung tâm giác mạc thayđổi không nhiều trong quá trình phát triển của trẻ Theo kết quả nghiên cứucủa tác giả Fledelius và cộng sự (1986), nghiên cứu sự thay đổi độ cong giác
Trang 10mạc trong quá trình phát triển và trưởng thành, bán kính cong giác mạc củatrẻ từ 5-7 tuổi ở nữ là 7,69±0,19 mm, ở nam là 7,9±0,22mm Bán kính này ởtrẻ 11-13 tuổi là 7,79±0,31mm và 7,98±,23mm [10] Như vậy, bán kính conggiác mạc tăng lên trong quá trình phát triển của trẻ, điều này đồng nghĩa với
độ dẹt của giác mạc tăng lên Theo Gordon và cộng sự (1985), công suất giácmạc tại thời điểm trẻ khi sinh có tuổi thai 39-40 tuần là 51,2±1,1 Diopter [11] Cũng theo tác giả này, công suất giác mạc ở thời điểm trẻ 1 tuổi là45,3±1,2 Diopter, giảm xuống còn 43,2±0,7 Diopter vào thời điểm trẻ 4-5tuổi, sau đó lại tăng lên 44,2±1,6 Diopter ở thời điểm 7-9 tuổi và đạt đượccông suất không đổi sau 10 tuổi là 43,5±1,2 Diopter Sự thay đổi công suấtgiác mạc có thể nghĩ đến là do sự thay đổi độ cong giác mạc nhiều hơn là do
sự thay đổi độ dày giác mạc
1.2.2 Độ sâu tiền phòng
Độ sâu tiền phòng được cho là không ảnh hưởng nhiều đến khúc xạ củanhãn cầu nhưng có tham gia một phần vào quá trình chính thị hóa của nhãncầu thông qua sự bù đắp cho sự gia tăng chiều dài trục nhãn cầu Độ sâu tiềnphòng thay đổi trong quá trình phát triển của trẻ và tiếp tục thay đổi trong suốtcuộc đời Độ sâu tiền phòng cũng khác nhau ở những người có tật khúc xạkhác nhau Theo Bhardwaj và cộng sự (2013) sự thay đổi này được thể hiệnqua bảng sau [12]:
Bảng 1.1 sự thay đổi của độ sâu tiền phòng theo tuổi và tật khúc xạ
Trang 111.2.3 Công suất thể thủy tinh
Thể thủy tinh là thấu kính hai mặt lồi Trẻ sơ sinh có bán kính cong mặttrước là 5mm, bán kính cong mặt sau là 4 mm Công suất hội tụ cuat thể thủytinh ở trẻ sơ sinh khoảng +34 Diopter Trong giai đoạn phát triển về sau, thểthủy tinh dẹt dần và ổn định với bán kính mặt trước dài đến 10 mm và mặt sau
là 6mm Vì thế công suất hội tụ của thể thủy tinh cũng giảm xuống cònkhoảng +16 đến +20 Diopter Sự giảm sút của thể thủy tinh về độ cong và chỉ
số khúc xạ trong quá trình phát triển sẽ làm thay đổi khúc xạ nhãn cầu, bùđắp cho sự gia tăng chiều dài trục nhãn cầu Thể thủy tinh có đặc điểmquan trọng là có thể thay đổi độ tụ thông qua điều tiết Khi điều tiết, côngsuất thể thủy tinh thay đổi từ +19 đến +33 Diopter do tính chất co giãn của
mô thể thủy tinh [4]
Theo tác giả Rozema và cộng sự (2018), trẻ sau sinh đủ tháng có bánkính cong mặt trước thể thủy tinh là 5,63±0,38 mm, bán kính cong mặt sau là3,86±0,26 mm, độ dày thể thủy tinh là 3,66±0,11 mm, công suất thể thủy tinh
là 49,34±3,27 Diopter [6] Theo Gordon và cộng sự (1985), công suất thểthủy tinh sau sinh (39 tuần) là 34,4±2,3 Diopter, sau 1 tuổi thể thủy tinh cócông suất giảm xuống còn 28,7±1,0 Diopter, công suất này tiếp tục giảmxuống còn 20,9±0,6 Diopter khi trẻ 4-5 tuổi, và ổn định ở mức khoảng 18,9Diopter sau 10 tuổi tới 36 tuổi [11]
Về khả năng điều tiết của mắt, ở người trẻ mắt chính thị, khi nhìn xa thìảnh hiện đúng trên võng mạc Khi nhìn vật ở gần, nhờ khả năng điều tiết củamắt mà ảnh của vật vẫn được duy trì trên võng mạc, do đó mắt luôn nhìn rõ ở
cả khoảng cách xa và gần Khả năng điều tiết của mắt là nhờ sự thay đổi côngsuất khúc xạ của thể thủy tinh Khi mắt điều tiết, thể thủ tinh vồng lên hơn, do
đó tăng độ tụ của mắt Theo Helmholtz, khi mắt điều tiết các cơ thể mi co sẽlàm cho vòng thể mi ngắn lại, do đó làm giảm sức căng của dây Zinn lên bao
Trang 12thể thủy tinh Sự giảm căng của bao thể thủy tinh làm cho chất thể thủy tinhtrong bao biến dạng, vồng lên ở phần trung tâm, dẹt hơn ở gần xích đạo Mặttrước thể thủy tinh vồng lên nhiều hơn so với mặt sau Cùng với sự vồng lêncủa thể thủy tinh còn có sự hiện tượng: co đồng tử, mống mắt xê dịch về phíatrước [13] Biên độ điều tiết trung bình theo tuổi được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.2 Biên độ điều tiết trung bình theo tuổi
Tuổi Biên độ điều tiết
7,08,310,014,222,240,0100,0400,0
Vô cực
1.2.4 Trục nhãn cầu
Trục nhãn cầu được tính bằng khoảng cách từ tâm mặt trước giác mạctới điểm xa nhất nằm trên lớp biểu mô sắc tố võng mạc [12] Phần lớn cácnghiên cứu đều đưa ra số liệu độ dài trục nhãn cầu ở vào khoảng 23,5 đến24,5 mm ở người trưởng thành có mắt chính thị Theo Curtin chiều dài trụcnhãn cầu là yếu tố quyết định và có sự liên quan rõ nét nhất đến tình trạng tậtkhúc xạ Ở mắt chính thị, khi chiều dài trục nhãn cầu thay đổi 1mm sẽ làmthay đổi công suất khúc xạ 3 Diopter Tuy nhiên sự thay đổi này không tuyến
Trang 13tính, ở mắt cận thị nặng, khi thay đổi 1mm chiều dài chỉ làm thay đổi khúc xạ
2 Diopter Trong khi đó ở mắt viễn thị có thể làm thay đổi đến 3 Diopter [4]
Theo Rozema và cộng sự (2018), chiều dài trục nhãn cầu ở trẻ sơ sinh
là 16,53±0,48 mm Nghiên cứu của tác giả Pennie và cộng sự (2001), chiềudài trục nhãn cầu khi sinh là 17,01±0,41 mm, khi trẻ 27 tháng tuổi là19,07±0,75 mm [14] Theo Gordon và cộng sự (1985), chiều dài trục nhãncầu tăng nhiều nhất trong 2 năm đầu, trong 3 đến 4 năm tiếp theo mỗi nămtăng khoảng 0,4 mm, sau 6 tuổi chiều dài trục nhãn cầu chỉ kém người trưởngthành khoảng 1 mm, chiều dài này dường như không tăng sau tuổi thứ 10 đến
15 [11]
1.3 Các tật khúc xạ của mắt
Mắt chính thị là mắt bình thường ở trạng thái nghỉ ngơi và không cóđiều tiết thì các tia sáng phản chiếu từ các vật ở xa sẽ được hội tụ trên võngmạc
Khi mắt bị tật khúc xạ thì một vật ở vô cực sẽ tạo thành hình ảnh trongmắt ở trước hoặc sau võng mạc Tật khúc xạ bao gồm: cận thị, viễn thị và loạnthị [15]
1.3.1 Cận thị
Cận thị là khi các tia sáng từ một vật ở xa (6m hoặc hơn) hội tụ ở trướcvõng mạc của một mắt không điều tiết
Cận thị có thể do trục nhãn cầu dài hơn bình thường (cận thị trục), hoặc
do công suất khúc xạ của giác mạc hoặc thể thủy tinh hoặc cả hai cao hơnbình thường (cận thị do khúc xạ)
Để điều chỉnh tật cận thị, bệnh nhân cần đeo một kính phân kỳ, giúpảnh của vật hội tụ đúng trên võng mạc [16]
Trang 14Hình 1.1 Ảnh của vật hội tụ ở mắt cận thị và sau khi chỉnh kính
Để chỉnh tật viễn thị, bệnh nhân cần đeo một kính hội tụ, giúp ảnh củavật hiện đúng trên võng mạc [16]
Trang 15Hình 1.2 Ảnh của vật hội tụ ở mắt viễn thị và sau khi chỉnh kính
(nguồn: wikipedia.org/wiki/Far-sightedness)
1.3.3 Loạn thị
Loạn thị là khi mắt có công suất khúc xạ khác nhau ở các kinh tuyếnkhác nhau Điều này làm cho ánh sáng đi vào mắt hội tụ ở các vị trí khácnhau, chứ không phải một điểm
Nguyên nhân của loạn thị là do các bề mặt của giác mạc và thể thủytinh không có độ cong đều nhau ở tất cả các kinh tuyến Bề mặt khúc xạ củamắt loạn thị giống như bề mặt của một quả bóng bầu dục Mặt loạn thị có 2kinh tuyến : một kinh tuyến cong hơn, một kinh tuyến dẹt hơn [16]
Để chỉnh tật loạn thị, bệnh nhân cần đeo kính loạn thị Có 2 loại kínhloạn thị đó là kính trụ và kính cầu trụ Kính trụ có công suất ở một kinh tuyến,trong khi kinh tuyến khác không có công suất, kính này được dùng cho ngườiloạn thị đơn thuần Kính cầu trụ có thể xem như một kính trụ phối hợp vớimột kính cầu Nó có công suất khác nhau ở các kinh tuyến khác nhau
Trang 16Hình 1.3 Ảnh của vật hội tụ ở mắt loạn thị
Theo pennie và cộng sự (2001), khúc xạ cầu ở trẻ thay đổi sau đẻ như sau:
Trang 17Bảng 1.3 sự thay đổi khúc xạ cầu ở trẻ đủ tháng sau sinh
Tuổi trung bình (tuần) Khúc xạ cầu tương đương (Diopter)
Tuy nhiên tình trạng khúc xạ ở trẻ đẻ non có khác biệt so với trẻ đủtháng Theo Gordon và cộng sự (1985), trẻ sinh ra từ tuổi thai 30-35 tuần tuổi
có các chỉ số như sau:
Bảng 1.4 các chỉ số sinh trắc nhãn cầu và khúc xạ khi sinh ở trẻ đẻ non
Tuổi thai khi
sinh
CDTNCMm
KXGMDiopter
CSKXTTTDiopter
KXNCDiopter30-35 15,1±0,9 53,6±2,5 31,9±0,5 -1,0±0,935-39 16,1±0,6 52,6±1,9 28,4±1,1 0,3±1,639-41 16,8±0,6 51,2±1,1 27,7±1,6 0,4±1,5Theo kết quả nghiên cứu của tác giả này, trẻ sinh non có chiều dài trục nhãncầu ngắn hơn trẻ sinh đủ tháng, khúc xạ giác mạc cao hơn, công suất thể thủytinh cũng cao hơn Tuy nhiên khúc xạ nhãn cầu lại cận thị hơn so với trẻ sinh
đủ tháng [11]
Nghiên cứu của tác giả Ozdemir và cộng sự (2015) cũng cho kết quả trẻsinh non nhẹ cân có khúc xạ cầu thấp, và khúc xạ nhãn cầu tăng khi tuổi saukhi sinh của trẻ tăng Tuy nhiên, độ loạn thị của trẻ không có mối liên quanvới tuổi thai khi sinh, tuổi của trẻ sau sinh và cân nặng của trẻ khi sinh [17]
Nghiên cứu của tác giả Yokrat Ton và cộng sự (2004) trên 390 trẻ đẻnon không mắc bệnh võng mạc trẻ đẻ non ở độ tuổi từ 2 tuần đến 6 tháng, kết
Trang 18quả cho thấy có 347 trẻ (89%) có tật khúc xạ, 43 trẻ (11%) có hai mắt chínhthị Tỷ lệ trẻ có tật cận thị là 11,9%, trẻ có tật loạn thị là 24,4%, khúc xạ cầutương đương trung bình là +1,56±1,82 D, chỉ số khúc xạ nhãn cầu có mối liênquan thuận với tuổi của trẻ sau sinh Khúc xạ trung bình của trẻ dưới 1 thángtuổi là 1,24 D, tăng lên 2,50 D ở trẻ 4 đến 6 tháng tuổi Tật khúc xạ không cómối liên quan đến tuổi thai và cân nặng của trẻ khi sinh [18].
Ching-ju Hsieh và cộng sự (2010) nghiên cứu trên 109 trẻ, bao gồm 74trẻ đẻ non và 35 trẻ đẻ đủ tháng, trong số trẻ sinh non có trẻ có bệnh võngmạc trẻ đẻ non đã được laser, trẻ có bệnh võng mạc trẻ đẻ non chưa tớingưỡng và trẻ không có bệnh võng mạc trẻ đẻ non Nghiên cứu tiến cứu theodõi trong 2 năm tại các thời điểm trẻ 6 tháng và 24 tháng Kết quả nghiên cứucho thấy
Bảng 1.5 Khúc xạ của trẻ đẻ non ở độ tuổi 6 tháng và 24 tháng sau sinh
Độ tuổi Đối tượng Khúc xạ cầu Độ loạn thị Độ lệch khúc