Và dĩ nhiên để sự trả lời này chỉ hợp lệ khi: - Người trả lời chấp nhận phải có năng lực chủ thể để tham gia xác lập hợp đồng2; - Trả lời chấp nhận phải là sự đồng ý toàn bộ nội dung của
Trang 1PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI
THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
Buổi thảo luận thứ hai: Vấn đề chung của
hợp đồng
Nguyễn Thị Thanh Thảo 1853801012176
Nguyễn Hoàng Anh Thư 1853801012187
Năm học 2019 - 2020
GVHD: ThS Nguyễn Tấn
Hoàng Hải Nhóm thực hiện: Nhóm 4 Lớp: 91 - DS43 3
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
Trang 2MỤC LỤC
*VẤN ĐỀ 1: CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 4
1.1: Bản chất của hợp đồng là gì? 4
1.2: Khái niệm giao kết hợp đồng 4
1.3: Khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng 5
1.4: So sánh điểm khác nhau giữa Bộ luật dân sự 2005 và Bộ luật dân sự 2015 5
1.4.1: Về thay đổi khái niệm hợp đồng 5
1.4.2: Về đề nghị giao kết hợp đồng 6
1.4.3: Về thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng 6
1.5: Vấn đề 1: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng 7
1.6: Thực tế xét xử ở nước ta 8
1.6.1: Tóm tắt quyết định số 08/2005/KDTM - GDT 8
1.7: Đối với luật pháp nước ngoài 10
*VẤN ĐỀ 2: SỰ ƯNG THUẬN TRONG QUÁ TRÌNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 11
2.1: Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng? 11
2.2: Việc tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao? 12
*VẤN ĐỀ 3: ĐỐI TƯỢNG CỦA HỢP ĐỒNG KHÔNG THỰC HIỆN ĐƯỢC 13
3.1: Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang thực hiện 13
3.2: Một bên có thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng trên vô hiệu trên cơ sở Điều 408 BLDS 2015 không? Vì sao? 14
*VẤN ĐỀ 4: XÁC LẬP HỢP ĐỒNG GIẢ TẠO VÀ NHẰM TẨU TÁN TÀI SẢN 15
* Đối với vụ việc thứ nhất 15
2
Trang 34.1: Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch? 15 4.2: Đoạn nào của quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng? Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích gì? 16 4.3: Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu? 16 4.4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Tòa án về hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu 16
*Đối với vụ việc thứ hai 17
4.5: Vì sao Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu 17 4.6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ)? 17 4.7: Cho biết hệ quả của việc Tòa án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ 18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
3
Trang 4*VẤN ĐỀ 1: CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG.
1.1: Bản chất của hợp đồng là gì?
Bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên Khi hợp đồng được xác lập thông qua giao kết thì hợp đồng đó buộc phải thực hiện và có sự ràng buộc về quyền và nghĩa
vụ giữa các bên của hợp đồng
1.2: Khái niệm giao kết hợp đồng.
Giao kết hợp đồng là việc các bên bày tỏ với nhau ý chí về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng trên cơ sở tuân theo nguyên tắc do pháp luật quy định và thiện chí, hợp tác, trung thực, ngay thẳng là những đòi hỏi không thể thiếu trong giao kết, thực hiện những hợp đồng vì khi thiếu
đi một dấu hiệu, một yếu tố nào đó, thi quan hệ hợp đồng sẽ bị đặt vào tình trạng khập khiễng Trong trường hợp đó, người đề nghị không được thay đổi, mời người thứ ba trong thời hạn chờ trả lời và phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình
Và trong giao kết hợp đồng, ngoài bên đề nghị giao kết hợp đồng ra còn có bên chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị”1 Và
dĩ nhiên để sự trả lời này chỉ hợp lệ khi:
- Người trả lời chấp nhận phải có năng lực chủ thể để tham gia xác lập hợp
đồng2;
- Trả lời chấp nhận phải là sự đồng ý toàn bộ nội dung của đề nghị;
- Thông báo trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng phải được đưa ra trong thời hạn xác định3
1 Khoản 1 Điều 393 BLDS 2015 về chấp nhận giao kết hợp đồng: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là
sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị.”
2
Điều 1 BLDS 2015 về năng lực pháp luật dân sự cá nhân: “1 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự 2 Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau 3 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết” Điều 19 BLDS 2015 về năng lực hành vi dân sự của cá nhân: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự”.
3 3 Điều 394 BLDS 2015 về thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng: “1 Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý 2 Trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm
vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của
4
Trang 51.3: Khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng.
Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng Theo đó, BLDS đã quy định việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo Điều 393 BLDS 20154 và quy định thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng theo Điều 394 BLDS 2015
1.4: So sánh điểm khác nhau giữa Bộ luật dân sự 2005 và Bộ luật dân sự 2015.
So với Bộ luật dân sự năm 2005, Bộ luật dân sự được Quốc hội thông qua vào cuối năm 2015, có hiệu lực từ ngày 1/1/2017 đã có những sửa đổi cơ bản những quy định chung về hợp đồng
1.4.1: Về thay đổi khái niệm hợp đồng:
Theo Điều 388 BLDS 2005, “hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên
về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên” Tuy
nhiên, quy định này thể hiện phạm vi khá hẹp, chưa bao quát được phạm vi áp dụng của BLDS là “quy định địa vị pháp lý quyền, nghĩa vụ trong các quan hệ dân sự,
hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động” (Điều 1 BLDS 2005).
Khái niệm về hợp đồng dân sự cho thấy những quy định về hợp đồng dường như chỉ áp dụng trong quan hệ dân sự, trong khi những quy định của BLDS là quy định chung và có thể áp dụng cho nhiều lĩnh vực khác trong đời sống Để khắc phục nhược điểm này, Điều 385 BLDS 2015 quy định “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” So với BLDS 2005, Bộ luật mới bỏ từ “dân sự”, chính vì vậy khái niệm hợp đồng mang tính bao quát, rộng hơn so với quy định cũ Đồng thời nhằm để tránh sự phân biệt máy móc giữa hợp đồng dân sự với hợp đồng kinh tế hay hợp đồng thương mại v.v… và bảo đảm rằng BLDS là luật chung điều chỉnh mọi quan hệ hợp đồng
1.4.2: Về đề nghị giao kết hợp đồng:
bên được đề nghị 3 Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc qua phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về thời hạn trả lời”.
4 Điều 393 BLDS 2015 về chấp nhận đề nghị hợp đồng: “1 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị 2 Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên”.
5
Trang 6Có thể thấy khái niệm về đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định tại khoản
1 Điều 390 BLDS 2005 còn chưa cụ thể, rõ ràng, dẫn đến gây nhiều khó khăn cho quá trình áp dụng, cụ thể “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể”
So với BLDS 2005, khoản 1 Điều 386 BLDS 2015 quy định “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về
đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng” Có thể thấy rằng với quy định mới này đã lược bỏ cụm từ “cụ thể”, nghĩa là chỉ cần gửi tới bên đã được xác định, đồng thời mở rộng thêm chủ thể là “công chúng” Như
vậy, với quy định mới, khái niệm “đề nghị giao kết hợp đồng” mang tính bao quát
và phù hợp hơn cho thực tiễn áp dụng Bởi cụm từ “cụ thể” dường như là không cần thiết, đồng thời có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau như đã phân tích nêu trên Nhìn từ quy định này chúng ta thấy rằng: Một đề nghị giao kết hợp đồng phải thỏa mãn các yếu tố: thể hiện rõ ý định giao kết, phải có sự ràng buộc về mặt pháp lý đối với bên được đề nghị và bên được đề nghị phải được xác định hoặc tới công chúng Nhìn từ quy định này chúng ta thấy rằng: Một đề nghị giao kết hợp đồng phải thỏa mãn các yếu tố: thể hiện rõ ý định giao kết, phải có sự ràng buộc về mặt pháp lý đối với bên được đề nghị và bên được đề nghị phải được xác định hoặc tới công chúng
1.4.3 Về thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng:
Khi bên được đề nghị nhận được đề nghị giao kết hợp đồng, nếu đề nghị giao kết hợp đồng có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó Vậy trong trường hợp nếu bên đề nghị không ấn định thời hạn trả lời thì sẽ như thế nào? Vấn đề này chưa được nêu trong BLDS
2005 BLDS 2015 (khoản 1 Điều 394) đã bổ sung thêm quy định này, theo đó khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý Quy định mới này đã lấp được
“khoảng trống” cho trường hợp khi đề nghị giao kết không nêu thời hạn
1.5: Vấn đề 1: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Tình huống:
- 1/2017: A, B, C gửi 1 đề nghị giao kết hợp đồng cho D (Điều khoản về phương thức giải quyết tranh chấp bằng văn bản và có 3 chứ ký)
- 1/2019 và 2/2019: D gửi cho A và B chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của mình
6
Trang 7- D không chứng minh được đã gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho C và
C không thừa nhận đã nhận được
- Tòa án xét:
+ (1) bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định của Điều 400 BLDS năm 2015;
+ (2) chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý theo quy định của Điều 394 BLDS năm 2015;
+ (3) chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới
Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề trên
Trả lời tình huống:
Đối với tình huống ta xét thấy: A, B, C gửi cho D một đề nghị giao kết hợp đồng (văn bản gồm 3 chữ ký) và đề nghị giao kết hợp đồng này đều đã được thống nhất của A, B, C trước khi gửi cho D Theo lẽ đó, bắt buộc D phải gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho cả 3 người là A, B, C Nhưng D chỉ mới gửi cho A và B
và C chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng từ D và D không chứng minh được mình đã gửi cho C
=> Theo khoản 1 Điều 400 BLDS 20155 về thời điểm giao kết hợp đồng, thì D phải gửi chấp nhận đề nghị giao kết cho cả 3 người A, B, C Nhưng trong tình huống, C chưa nhận được => Hợp đồng này chưa được giao kết => (1) đúng
Áp dụng khoản 1 Điều 394 BLDS 2015 về thời hạn chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, do đề nghị giao kết hợp đồng ban đầu của A, B, C không ghi rõ thời hạn mà D phải gửi lại chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Trước khi C đưa đơn lên Tòa án để tranh chấp sự tồn tại của hợp đồng với lý do do C chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mà D đã gửi trước đó mà đề nghị giao kết hợp đồng này là hợp đồng chung của A, B, C và lợi ích hợp pháp của C đang bị xâm hại
và tại lúc C đưa đơn lên Tòa án chưa tới 3 năm nên áp dụng Điều 588 BLDS 20156
Do D khẳng định mình đã gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho A, B, C nên
D cho rằng hợp đồng này đã được giao kết Nhưng C yêu cầu D gửi lại cho mình chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng với lý do C không nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng từ D trước đó Lúc này, vì A và B đã nhận được chấp nhận
đề nghị giao kết hợp đồng của D, nhưng C thì chưa nhận được nên hợp đồng bây
5 Khoản 1 Điều 400 BLDS 2015 về thời điểm giao kết hợp đồng: “Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên
đề nghị nhận được chấp nhận giao kết”.
6 Điều 588 BLDS 2015 về Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại: “Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”.
7
Trang 8giờ là đề nghị giao kết hợp đồng của C và D C yêu cầu D trong thời hạn mà C yêu cầu thì C phải nhận được chấp nhận giao kết hợp đồng của D thì kể từ thời điểm đó hợp đồng ban đầu mới được giao kết Khi đến thời hạn, C đã không nhận được chấp nhận đề nghị giao kết từ D và khi đó, D vẫn khẳng định mình đã gửi và hợp đồng ban đầu của A, B, C đã được giao kết nên C đã tranh chấp về sự tồn tại của hợp đồng này với Tòa án, thời hạn mà C yêu cầu D gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho C đã kết thúc nên Tòa án xét chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý theo quy định của Điều 394 BLDS năm 2015 là hoàn toàn hợp lý Từ đó, Tòa án yêu cầu D phải gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho C thì hợp đồng ban đầu của A, B, C mới được giao kết và chấp nhận trên của D là một đề nghị giao kết mới theo khoản 1 Điều 394 BLDS 2015
1.6: Thực tế xét xử ở nước ta.
Quyết định số 08/2005/KDTM - GDT ngày 8/12/2005 về vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ bảo trì trạm biến áp” của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao7
1.6.1: Tóm tắt quyết định số 08/2005/KDTM - GDT:
Công ty SEECOM chào hàng 4 đồng hồ đo điện bằng fax và công ty LOTECO chấp nhận trực tiếp vào giấy chào hàng Theo đó, hợp đồng mua bán được ký kết hợp pháp căn cứ theo Điều 29 BLTTDS8 và Điều 499, Điều 5110 và
7 Đỗ Văn Đại: Luật hợp đồng Việt Nam bản án và bình luận bản án, tập 1, phần Bản án số 26, 27 và 28 về
“Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng”, Nxb Hồng Đức – Hội Luật Gia Việt Nam, tr 206-207.
8 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 về những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án: “1 Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm: a) Mua bán hàng hoá; b) Cung ứng dịch vụ; c) Phân phối; d) Đại diện, đại lý; đ) Ký gửi; e) Thuê, cho thuê, thuê mua; g) Xây dựng; h) Tư vấn,
kỹ thuật; i) Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa; k) Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; l) Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; m) Đầu tư, tài chính, ngân hàng; n) Bảo hiểm; o)Thăm dò, khai thác 2 Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận 3 Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty 4 Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định”.
9 Điều 49 Luật thương mai 1997 về hợp đồng mua bán hàng hoá: “1 Việc mua bán hàng hoá được thực hiện trên cơ sở hợp đồng 2 Hợp đồng mua bán hàng hoá được thực hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể 3 Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó; điện báo, telex, fax, thư điện tử và các hình thức thông tin điện tử khác cũng được coi là hình thức văn bản”.
10 Điều 51 Luật thương mại 1997 về chào hàng và chấp nhận chào hàng: “1 Chào hàng là một đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá trong một thời hạn nhất định, được chuyển cho một hay nhiều người đã xác định và phải có các nội dung chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hoá theo quy định tại Điều 50 của Luật này Chào hàng gồm chào bán hàng và chào mua hàng 2 Chấp nhận chào hàng là thông báo của bên được
8
Trang 9Điều 5511 Luật thương mại.
- 22/4/2003: 2 bên thực hiện giao nhận 4 đồng hồ
- 26/6/2003: Công ty LOTECO có văn bản về việc thanh toán nợ tồn đọng và báo giá 4 chiếc đồng hồ quá cao so với thị trường và công ty đã tính lại giá thấp hơn so với ban đầu
- 8/12/2003: Do công ty LOTECO thanh toán không ghi rõ cho khoản nào nên với quyền người thụ hưởng đã hạch toán 50 triệu đồng của số tiền 100 triệu đồng là hợp lý
- 8/3/2004: Công ty LOTECO có Công văn đề nghị công ty SEECOM nhận lại 4 đồng hồ điện năng và hoàn lại 50 triệu đồng
- 6/6/2004: Công ty SEECOM có đơn kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu công ty LOTECO phải thanh toán tất cả và tiền phạt quá hạn thanh toán cùng các thiệt hại kinh tế khác
- 21/9/2004: Toà án cấp sơ thẩm xác định việc mua bán 4 đồng hồ điện năng giữa 2 công ty có giá trị pháp lý là có căn cứ
- Tòa án cấp phúc thẩm nhận định đây không phải hợp đồng viết, chỉ là phiếu đặt mua hàng và không đóng dấu của công ty nên mới chỉ là lời đề nghị giao kết hợp đồng chứ chưa phải là hợp đồng, để buộc công ty SEECOM nhận lại 4 đồng hồ; trong khi chưa kiểm tra đối chiếu với các quy định tại Điều 11 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế12 và Điều 51, Điều 55 Luật thương mại là chưa đúng pháp luật
- Bởi các lẽ trên và căn cứ vào khoản 3 Điều 29113; khoản 2 Điều 29714 và Điều
29815 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 Quyết định hủy bản án kinh tế phúc thẩm và giữ
chào hàng chuyển cho bên chào hàng về việc chấp thuận toàn bộ các nội dung đã nêu trong chào hàng”.
11 Điều 55 Luật thương mại 1997 về thời điểm ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá: “Hợp đồng mua bán hàng hoá được coi là đã ký kết kể từ thời điểm các bên có mặt ký vào hợp đồng Trong trường hợp các bên không cùng có mặt để ký hợp đồng, hợp đồng mua bán hàng hoá được coi là đã ký kết kể từ thời điểm bên chào hàng nhận được thông báo chấp nhận toàn bộ các điều kiện đã ghi trong chào hàng trong thời hạn trách nhiệm của người chào hàng”.
12
Điều 11 Pháp lệnh hợp đồng quy định: “Hợp đồng kinh tế được ký kết bằng văn bản, tài liệu giao dịch: công văn, điện báo, đơn chào hàng, đơn đặt hàng Hợp đồng kinh tế được coi là đã hình thành và có hiệu lực pháp lý từ thời điểm các bên đã ký vào văn bản hoặc từ khi các bên nhận được tài liệu giao dịch thể hiện sự thoả thuận về tất cả những điều khoản chủ yếu của hợp đồng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác đối với từng loại hợp đồng kinh tế”.
13 Khoản 3 Điều 291 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 về thẩm quyền giám đốc thẩm: “Hội đồng Thẩm phán Toà
án nhân dân tối cao giám đốc thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà phúc thẩm, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động của Toà án nhân dân tối cao bị kháng nghị”.
14 Khoản 2 Điều 297 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 về thẩm quyền của Hội đồng giảm đốc thẩm: “Giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Toà án cấp dưới đã bị huỷ hoặc bị sửa”.
15 Điều 298 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 về giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Toà án cấp dưới đã bị huỷ hoặc bị sửa: “Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực
9
Trang 10bản án kinh tế sơ thẩm.
1.7: Đối với luật pháp nước ngoài.
Khái niệm hợp đồng theo pháp luật Hoa Kỳ: Mục §1-201 (21) Bộ luật thương mại hay còn gọi là Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code - UCC) định nghĩa: “Hợp đồng, để phân biệt với “thỏa thuận”, có nghĩa là tổng nghĩa vụ pháp lí mà kết quả từ thỏa thuận của các bên được quy định bởi [UCC] cũng như bổ sung bởi bất kì luật áp dụng khác”16 Nói chung, pháp luật Hoa Kỳ nhìn nhận hợp đồng là một thỏa thuận giữa hai bên hoặc nhiều bên có thẩm quyền, dựa trên những lời hứa lẫn nhau, để làm hoặc không làm một việc cụ thể hợp pháp và có thể thực hiện Kết quả thỏa thuận là nghĩa vụ hoặc nhiệm vụ có thể được thi hành tại tòa án17 Theo pháp luật Hoa Kỳ, văn bản giấy của hợp đồng chỉ là kết quả văn bản hóa của hợp đồng Hợp đồng là tổng thể những biên bản, ghi nhớ, trao đổi, thống nhất, xin ý kiến, phê duyệt của cấp có thẩm quyền… trong quá trình các bên giao kết hợp đồng
Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng đã quy định: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị” và khoản 1 Điều 393 BLDS 2015 quy định: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị” Giai đoạn giữa việc trả lời và chấp nhận, theo pháp luật dân sự Việt Nam, không có ràng buộc tương tự như thành tố “consideration” theo pháp luật hợp đồng Hoa Kỳ Với cách hiểu của người Hoa Kỳ về “consideration”, không có khái niệm trong pháp luật dân
sự Việt Nam có ý nghĩa tương tự “Consideration” không phải là các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo pháp luật Việt Nam (BLDS 2015 quy định 9 loại hình gồm: cầm cố, thế chấp tài sản, đặt cọc, kí cược, kí quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp và cầm giữ tài sản) Bản chất của “consideration” là một lời hứa - nghĩa vụ đối ứng có giá trị (something of value) trao đổi giữa các bên giao kết hợp đồng
Chính việc có sự khác biệt trong khái niệm và bản chất pháp lí giữa hợp đồng nói chung và các nội dung nền tảng của hợp đồng nên việc hiểu không đúng
pháp luật bị kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định của Toà án cấp dưới xét xử đúng pháp luật, nhưng
đã bị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị huỷ bỏ hoặc sửa đổi một phần hay toàn bộ”.
16 Nguyễn Ngọc Bích, Buôn bán với Mỹ, Nxb Trẻ TP Hồ Chí Minh, 2002.
17 Brown, Gordon.W., Sukys Paul A, Business law with UCC applications (9 th edition), Glencoe, Mc GrawHill, Newyork, USA, 1993.
10