Ngày 09/01/2018, ông Tuấn liên hệ với vợ chồng ông Phan Văn Kết và bà Phạm Thị Thùy Trang và xác nhận rằng vợ chồng ông Trinh, bà Bé bán đất khoảng 10.000m2 cho vợ chồng ông Kết, bà Tran
Trang 1PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI
THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
Buổi thảo luận thứ hai: Vấn đề chung của
hợp đồng
Năm học 2019 - 2020
GVHD: ThS Nguyễn Tấn
Hoàng Hải Nhóm thực hiện: Nhóm 4 Lớp: 91 - DS43 3
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
Trang 2MỤC LỤC
VẤN ĐỀ 1: HỢP ĐỒNG VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC 3
1.1: Hợp đồng trong hai vụ việc trên có phải công chứng, chứng thực không? Nếu cơ sở pháp lý khi trả lời 4 1.2: Đoạn nào của các Bản án cho thấy hợp đồng không được công chứng, chứng thực theo quy định? 5 1.3: Trong Bản án số 189, đoạn nào của Bản án cho thấy Tòa án công nhận hợp đồng không được công chứng, chứng thực? 5 1.4: Trong Bản án số 189, việc Tòa án công nhận hợp đồng không được công chứng, chứng thực có thuyết phục không? Vì sao? 6 1.5: Việc Tòa án xác định hợp đồng chuyển nhượng vi phạm về hình thức và hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong bản án số 41 có thuyết phục không? Vì sao? 6 1.6: Theo BLDS, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên
bố hợp đồng vô hiệu về hình thức 7 1.7: Việc Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng sau khi xác định có vi phạm quy định và hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu có thuyết phục không? Vì sao? 7
VẤN ĐỀ 2: ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT, HỦY BỎ DO KHÔNG THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG 7
2.1: Điểm giống và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do
có vi phạm 8 2.2: Theo Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị hủy bỏ? 9 2.3: Suy nghĩ của anh/chị về giải quyết trên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (về hủy bỏ hay vô hiệu hợp đồng) 9 2.4: Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm hợp đồng không? Vì sao? 10 2.5: Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với câu hỏi trên như thế nào và suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết này của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long 10
2
Trang 32.6: Điểm giống nhau và khác nhau giữa đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm 11 2.7: Ông minh có được quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng nêu trên không? Vì sao? Nếu có, nêu rõ văn bản cho phép hủy bỏ 12
VẤN ĐỀ 3: ĐỨNG TÊN MUA GIÙM BẤT ĐỘNG SẢN 12
3.1: Việc Tòa án nhân dân tối cao xác định nhà có tranh chấp do bà Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ ông Bình, bà Vân đứng tên hộ có thuyết phục không? Vì sao? 12 3.2: Ở thời điểm mua nhà trên, bà Tuệ có được đứng tên không ? Vì sao ? 13 3.3: Ở thời điểm hiện nay, bà Tuệ có được đứng tên mua nhà ở tại Việt Nam không? 13 3.4: Ngày nay, theo Tòa án nhân dân tối cao, bà Tuệ được công nhận quyền sở hữu nhà trên không? Hướng giải quyết này của Tòa án nhân dân tối cao đã có tiền lệ chưa? 13 3.5: Theo Toà án nhân dân tối cao, phần giá trị chênh lệch giữa số tiền bà Tuệ
bỏ ra và giá trị hiện tại của nhà đất có tranh chấp được xử lý như thế nào? .14 3.6: Hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao đã có án lệ chưa? Nếu có nêu án lệ đó 14
VẤN ĐỀ 4: TÌM KIẾM TÀI LIỆU 15
3
Trang 4VẤN ĐỀ 1: HỢP ĐỒNG VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC.
Tóm tắt bản án 189/2019/DS-ST:
Ông Phan Văn Tuấn là chủ cửa hàng vật tư nông nghiệp Vợ chồng ông Nguyễn Hữu Trinh và Đào Thị Bé là khách hàng và nhiều năm mua vật tư nông nghiệp tại cửa hàng ông Tuấn với phương thức thanh toán một phần và nợ lại một phần Ngày 10/4/2017, ông Tuấn cho vợ chồng ông Trinh, bà Bé vay số tiền 269.000.000 đồng, không tính lãi để đáo hạn ngân hàng Ngoài ra, trong quá trình mua vật tư nông nghiệp, ông Trinh, bà Bé còn nợ ông Tuấn số tiền 67.030.000 đồng Ngày 06/9/2017, vợ chồng ông Trinh, bà Bé vẫn chưa trả tiền nợ cho ông Tuấn những có làm Giấy nhận nợ cùng ký tên xác nhận tổng nợ là 336.030.000 đồng, hẹn ngày 15/9/2017 sẽ trả Nhưng khi đến ngày hẹn thì vợ chồng ông Trinh,
bà Bé vẫn chưa thể trả được nợ, tuy nhiên có yêu cầu bán lại đất SXNN diện tích 30.000m2 để trừ nợ với giá 90.000.000 đồng/1.296m2 cho ông Tuấn nhưng ông Tuấn không đồng ý nhận chuyển nhượng Ngày 09/01/2018, ông Tuấn liên hệ với vợ chồng ông Phan Văn Kết và bà Phạm Thị Thùy Trang và xác nhận rằng vợ chồng ông Trinh, bà Bé bán đất khoảng 10.000m2 cho vợ chồng ông Kết, bà Trang, hai bên
đã lập Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất (Hợp đồng số 14) được văn phòng công chứng Huỳnh Thị Nào công chứng ngày 05/01/2018 và đang tiếp tục thực hiện thủ tục tách bộ sang tên theo quy định Từ đó, ông Tuấn đã làm Đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp về việc phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ đối với một phần diện tích đất mà ông Kết nhận chuyển nhượng của ông Trinh, bà Bé theo Hợp đồng số 14
Tóm tắt Bản án số 41/2011/ DS-PT ngày 25/4/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa:
Ông Diêu có chuyển nhượng cho ông ngọc diện tích đất thuộc sở hữu chung của hai vợ chồng ông Diêu và bà Định mà không hỏi ý kiến của các con làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đông thừa kế Vì vậy ông Thành có đơn kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng này là vô hiệu Bản án sơ thẩm của Tòa sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của ông Thành và tuyên hợp đồng chuyển nhượng giũa ông Diêu và ông Ngọc vô hiệu Sau đó, ông Ngọc có đơn kháng cáo đề nghị xét xử theo thủ tục phúc thẩm Tại phiên Tòa phúc thẩm Toà phúc thẩm đã chấp nhận kháng cáo của ông Ngọc và yêu cầu các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng
1.1: Hợp đồng trong hai vụ việc trên có phải công chứng, chứng thực không? Nếu cơ sở pháp lý khi trả lời.
4
Trang 5Hợp đồng trong hai vụ việc trên cần phải công chứng, chứng thực Căn cứ theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 thì giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm pháp sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Hình thức của giao dịch dân sự có thể thực hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc hành vi cụ thể Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó
Xét theo Điều 116: Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Và Điều
119, BLDS 2015 Hình thức giao dịch dân sự:
1 Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành
vi cụ thể
Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp
dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản
2 Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó
Như vậy, trong trường hợp hai vụ việc này thì cần phải công chứng, chứng thực, đăng ký theo quy định
1.2: Đoạn nào của các Bản án cho thấy hợp đồng không được công chứng, chứng thực theo quy định?
- Bản án số 189/2019/DS-ST:
“ Xét thấy, tại khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 có quy định: “Giao dịch dân sự
đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực” “Đối chiếu quy định cho thấy chỉ cần các bên
đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực giao dịch đó mà không cần phải thực hiện tiếp việc công chứng, chứng thực”
- Bản án số 41/2011/DS-PT:
“Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Đức Diêu và ông Bùi Quang Ngọc được kí ngày 27/10/2007, mặc dù không đảm bảo về hình thức do không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận nhưng đến ngày 02/11/2009 (theo dấu công văn đến của Tòa án), ông Nguyễn Đức Thành mới có đơn khởi kiện đề ngày 29/10/2009 yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là đã
5
Trang 6quá 2 năm kể từ ngày hợp đồng được xác lập Theo quy định tại khoản 1 điều 126
Bộ luật dân sự, thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức đã hết Vì vậy, đến thời điểm ông Thành khởi kiện, hợp đồng này không
bị vô hiệu về hình thức”
1.3: Trong Bản án số 189, đoạn nào của Bản án cho thấy Tòa án công nhận hợp đồng không được công chứng, chứng thực?
“Xét thấy, tại khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 có quy định: “Giao dịch dân sự
đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về ông chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực” Đối chiếu quy định cho thấy một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó mà không cần phải thực hiện tiếp công việc công chứng, chứng thực”
1.4: Trong Bản án số 189, việc Tòa án công nhận hợp đồng không được công chứng, chứng thực có thuyết phục không? Vì sao?
Việc Tòa án công nhận hợp đồng không được công chứng, chứng thực là có thuyết phục Vì theo luật có quy định tại khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 nếu giao dịch đã được thực hiện “hai phần ba” thì được Tòa án công nhận giao dịch có hiệu lực, vì thế nên quyết định của Tòa là rất thuyết phục
Ví dụ: trong mua bán nhà đất, hai bên giao đủ số tiền và giao đủ số đất theo như giao ước trong hợp đồng thì vẫn được coi là hợp đồng giao dịch có hiệu lực
Trên thực tế, nếu có đầy đủ hai bên thì nên thực hiện thủ tục công chứng hợp đồng tại tổ chức công chứng vì nhanh và hồ sơ dễ thực hiện hơn việc yêu cầu Tòa
án công nhận hợp đồng
1.5: Việc Tòa án xác định hợp đồng chuyển nhượng vi phạm về hình thức và hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong bản án số 41 có thuyết phục không? Vì sao?
Việc Tòa án xác định hợp đồng chuyển nhượng vi phạm về hình thức và hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong bản án số 41 có thuyết phục
Vì theo khoản 1 điều 132 “thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân
sự quy định tại các điều 125, 126, 127, 128, 129 của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức”1
1 Bộ luật dân sự 2015.
6
Trang 7Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức được quy định tại điều 134, BLDS 2005 Do đó có thể hiểu rằng, hợp đồng chỉ bị vô hiệu về hình thức, khi trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hợp đồng được xác lập mà một trong các bên hoặc người thứ 3 yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu Quá thời hạn trên, không ai có quyền khởi kiện yêu cầu hợp đồng tuyên bố vô hiệu về hình thức nữa, đương nhiên nó vẫn có hiệu lực2
1.6: Theo BLDS, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức.
Theo quy định tại Điều 127 BLDS, giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 BLDS thì vô hiệu Về lý thuyết, có thể phân chia thành hai loại vô hiệu của giao dịch: đó là giao dịch đương nhiên vô hiệu (hay còn gọi là giao dịch vô hiệu tuyệt đối) và giao dịch dân sự vô hiệu theo đề nghị của người có quyền, lợi ích liên quan ( hay còn gọi là giao dịch vô hiệu tương đối) Nếu không có đề nghị hoặc có đề nghị nhưng không được Toà án chấp nhận thì giao dịch vẫn có hiệu lực pháp luật BLDS quy định 7 trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu Đây chỉ là những trường hợp vô hiệu nói chung Ngoài ra, Điều 411 quy định
về hợp đồng dân sự vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được, cụ thể trong trường hợp ngay từ thời điểm ký kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được vì lý do khách quan thì hợp đồng này bị vô hiệu
1.7: Việc Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng sau khi xác định có vi phạm quy định và hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu có thuyết phục không? Vì sao?
Việc Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng sau khi xác định không vi phạm quy định và hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là thuyết phục
Vì theo bản án thì ông Thành, ông Diêu và các con của ông Diêu, bà Định đều thừa nhận tờ “lời di chúc của cha mẹ”, không tranh chấp và trên thực tế các con
đã thực hiện được một phần nội dung của di chúc, đã nhận đất của cha mẹ cho và đăng ký quyền sử dụng đất; “phần đất lô gia cư chính giữa diện tích 480m2” được nhắc trong di chúc chính là phần đất còn lại cha mẹ chưa định đoạt và ông Diêu đã bán cho vợ chồng ông Ngọc bà Thùy Theo nội dung di chúc thì sau khi bà Định chết, ông Diêu có quyền tự định đoạt mảnh đất đó Vậy nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Diêu và ông Ngọc không vô hiệu, có giá trị pháp lý về cả nội dung lẫn hình thức; các bên phải tiếp tục thực hiện hợp đồng
Quyết định của Hội đồng xét xử dựa trên Điều 129 BLDS 2015 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức và Điều 132
2 https://thuvienphapluat.vn/ , tham khảo ngày 03/10/2019.
7
Trang 8BLDS 2015 quy định về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu
VẤN ĐỀ 2: ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT, HỦY BỎ DO KHÔNG THỰC
HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG.
Tình huống: Ông Minh ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Cương quyền
sử dụng một mảnh đất Hợp đòng được giao kết hợp pháp và ông Minh đã giao đất cho ông Cường nhưng ông Cường không trả tiền cho ông Minh mặc dù ông Minh
đã nhiều lần nhắc nhở Nay ông Minh yêu cầu Tòa án hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng để nhận lại đất
Tóm tắt Bản án số 06/2017/KDTM-PT ngày 26/5/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long:
Hợp đồng mua bán xe ngày 26/5/2012 vô hiệu nên không tuyên hủy hợp đồng.Hợp đồng ghi bên mua là “Trang trí nội thất Thanh Thảo”, người đại diện Nguyễn Thị Dệt là không đúng vì ông Trương Hoàng Thành mới là Giám Đốc đại diện.Hợp đồng đại diện bên mua là bà Dệt nhưng ký kết là ông Trương Văn Liêm là không đúng pháp luật Tòa tuyên không chấp nhận yêu cầu khuyến cáo nguyên đơn
và bị đơn
2.1: Điểm giống và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do có
vi phạm.
Điểm giống:
Hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm đều đi đến một kết quả chung là chấm dứt hợp đồng Tuy nhiên, hợp đồng bị hủy do có vi phạm và hợp đồng bị vô hiệu có những nét khác biệt
Điểm khác3:
vi phạm Điều kiện
chấm dứt hợp
đồng
Hợp đồng dân sự vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
Một trong các bên trong hợp đồng vi phạm các điều khoản
có trong hợp đồng hoặc một bên yêu cầu hủy hợp đồng
Các trường
hợp chấm dứt
hợp đồng
Hợp đồng dân sự vô hiệu do:
- Vi phạm điều cấm
- Giả tạo
- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi
-Một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường khi bên kia vi phạm hợp đồng
3
https://danluat.thuvienphapluat.vn/so-sanh-hop-dong-dan-su-vo-hieu-va-huy-bo-hop-dong-dan-su-140590.aspx, tham khảo ngày 08/9/2019.
8
Trang 9dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện
- Nhầm lẫn
- Bị lừa dối, đe dọa
- Người xác lập không nhận thức và làm chủ hành vi của mình
- Không tuân thủ quy định về hình thức
- Có đối tượng không thể thực hiện được
Hậu quả pháp
lý
-Khôi phục lại tình trạng ban đầu, trả lại cho nhau những gì đã nhận hoặc trả lại tiền với giá trị tương ứng.
-Các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ theo hợp đồng
Trách nhiệm
thông báo -Hợp đồng không đủ điềukiện có hiệu lực thì đương
nhiên vô hiệu
-Bên hủy hợp đồng phải thông báo cho bên kia về việc hủy bỏ, nều không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường Trách nhiệm
bồi thường -Bên có lỗi gây thiệt hại có
trách nhiệm bồi thường (có thể là một trong số các bên trong hợp đồng, có thể là người thứ ba)
-Bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại (một trong số các bên trong hợp đồng)
-Bên yêu cầu hủy hợp đồng nều không có lỗi thì không phải bồi thường
-Bên vi phạm hợp đồng phải bồi thường phần hợp đồng đã được thực hiện (nếu có thỏa thuận)
2.2: Theo Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị hủy bỏ?
Theo Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long thì hợp đồng vô hiệu Điều này được thấy rõ trong Quyết định tuyên xử của Bản án: “Vô hiệu hợp đồng mua bán xe ô tô
9
Trang 10ngày 26/05/2012 giao kết giữa công ty TNHH MTV Đông Phong Cần Thơ với ông Trương Văn Liêm”4
2.3: Suy nghĩ của anh/chị về giải quyết trên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (về hủy bỏ hay vô hiệu hợp đồng).
Hướng giải quyết của Tòa án là tuyên hợp đồng vô hiệu là hoàn toàn hợp lý Hợp đồng vi phạm hình thức, nếu pháp luật qui định hình thức của hợp dồng là điều kiện bắt buộc của hợp đồng5 Đồng thời hợp đồng vô hiệp do người giao kết không
có quyền đại diện6 Hợp đồng bên mua là Công ty TNHH-SX-TM Thành Thảo do Trương Hoàng Thành là Giám đốc đại diện chứ không phải ghi tên bà Nguyễn Thị Dệt đồng thời người đứng ra giao kết hợp đồng là ông Trương Văn Liêm trường hợp vi phạm người xác lập hợp đồng không hải là người đại diện hoặc việc đại hiện của họ là không hợp pháp7
2.4: Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm hợp đồng không? Vì sao?
Khi một hợp đồng bị vô hiệu , có thể sẽ làm cho các bên bị thiệt hại về mặt vật chất hoặc tinh thần Thường thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng không bao gồm việc bồi thường các thiệt hại về tinh thần8 Nếu bên bị thiệt hại về mặt tinh thần chứng minh được họ bị thiệt hại thực tế do hành vi làm hợp đồng vô hiệu của bên kia gây ra, đồng thời còn dự trên yếu tố lỗi của các bên cùng có lỗi thì trách nhiệm được xác định theo tỷ lệ lỗi của mỗi bên (137 BLDS 2015)9
2.5: Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với câu hỏi trên như thế nào và suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết này của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long :
Vô hiệu hợp đồng mua bán xe ô tô ngày 26/5/2012 giao kết giữa công ty TNHH MTV Đông Phong Cần Thơ với ông Trương Văn Liêm
Chấm dứt hiệu lực các biên bản thỏa thuận nợ ngày 18/7/2012 giữa ông Liêm, bà Dệt với công ty Đông Phong Cần Thơ, hợp đồng thế chấp ô tô với
4 Bản án số 06/2017/KDTM-PT ngày 26/5/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
5 Lê Minh Hùng, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức –
Hội Luật Gia Việt Nam, Hà Nội, tr 179.
6 Lê Minh Hùng, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức –
Hội Luật Gia Việt Nam, Hà Nội, tr 181.
7 Lê Minh Hùng , Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức
– Hội Luật Gia Việt Nam, Hà Nội, tr 181.
8 Lê Minh Hùng , Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức
– Hội Luật Gia Việt Nam, Hà Nội, tr 184
9 Lê Minh Hùng, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức –
Hội Luật Gia Việt Nam, Hà Nội, tr 184.
10