1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

thảo luận hợp đồng lần 5

24 242 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 633,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 360 BLDS 2015: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khá

Trang 1

VẤN ĐỀ 1: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VIỆC KHÔNG THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG GÂY RA

Câu 1: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng theo pháp luật Việt Nam? Nêu rõ những thay đổi trong BLDS 2015 so với BLDS 2005

về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Theo căn cứ pháp lý tại Điều 360 BLDS 2015 thì: “Trường hợp có thiệt hại do

vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác” Như vậy, căn cứ để làm

phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng theo pháp luật Việt Nam gồm 03 yếu tố: có hành vi vi phạm hợp đồng; có thiệt hại xảy ra trên thực tế; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại

Những thay đổi của BLDS 2015 so với BLDS 2005:

Thay vì chỉ quy định chung chung thì BLDS 2015 đã dành ra các điều luật để quy định về chế định bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng Theo đó, có những nội dung mới và nổi bật như sau:

Khoản 1 Điều 308 BLDS 2005: “Người

không thực hiện hoặc thực hiện không

đúng nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách

nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô

ý, trừ trường hợp có thoả thuận khác

hoặc pháp luật có quy định khác”

Điều 360 BLDS 2015: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”

Đầu tiên, điểm khác biệt cơ bản nhất của BLDS 2015 là các nhà làm luật đã bỏ

đi quy định về điều kiện lỗi Khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại việc chứng

minh lỗi không cần được đặt ra Tuy nhiên, trường hợp bên vi phạm nghĩa vụ muốn loại trừ trách nhiệm bồi thường thì họ phải chứng minh được họ không có lỗi trong việc gây ra thiệt hại như thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết,

do lỗi của người bị thiệt hại,…1

1 Nguyễn Văn Cừ và Trần Thị Huệ (2017), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của nước Cộng hoà xã

hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, tr.555

Trang 2

3 Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc”

Thứ hai, các loại thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng cũng được xác định cụ thể, đầy đủ, rõ ràng hơn so với trước đây Theo đó, các thiệt hại bồi thường không chỉ là các thiệt hại xảy ra trên thực tế mà còn là các khoản lợi mà bên có quyền đáng lẽ sẽ có được nhưng do hành vi vi phạm của bên kia nên

không thể thu được

BLDS 2015 đã quy định thêm một loại thiệt hại được bồi thường tại khoản 2 Điều 419 BLDS 2015, đó chính là chi phí bên bị vi phạm phải gánh chịu trong quá trình thực hiện hợp đồng Chẳng hạn như chi phí thuê luật sư tham gia tố tụng Toà án hoặc Trọng tài Theo các quy định cũ thì phí luật sư và các phí liên quan chưa bao giờ được bên thua kiện hoàn trả cho bên thắng kiện Nhờ vào quy định này của BLDS

2015 nên chế độ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng đã trở nên mới

mẻ và tiến bộ hơn

Khoản 2 Điều 448 BLDS 2005:

“…Bên bán được giảm mức bồi thường

thiệt hại nếu bên mua không áp dụng các

biện pháp cần thiết mà khả năng cho

Trang 3

mua bảo hiểm hoặc bên được bảo hiểm

phải báo ngay cho bên bảo hiểm và phải

thực hiện mọi biện pháp cần thiết mà

khả năng cho phép để ngăn chặn, hạn

chế thiệt hại

2 Bên bảo hiển phải thanh toán chi phí

cần thiết và hợp lý mà người thứ ba đã

bỏ ra để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại”.

Thứ ba, BLDS 2005 đã có quy định về chế định nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại nhưng do tính chất rời rạc của các điều luật nên chưa tạo thành được một nội dung mang tính nguyên tắc Để khắc phục những điểm hạn chế của Bộ luật cũ,

BLDS 2015 đã quy định ngăn chặn, hạn chế thiệt hại trở thành một xử sự bắt buộc của bên có quyền tại Điều 362 Bản chất của quan hệ hợp đồng dân sự kể từ khi ký kết cho đến lúc thực hiện hợp đồng đều phải dựa trên nguyên tắc thiện chí trung thực và cùng hợp tác Do đó, nếu bên có quyền có khả năng hạn chế thiệt hại mà họ không làm và

cứ buộc bên có nghĩa vụ gánh chịu toàn bộ thiệt hại thì lại không hợp lý Quy định mới góp phần nâng cao nhận thức và ý thức cho bên có quyền, giúp thúc đẩy sự thiện chí, đảm bảo cân bằng lợi ích và hướng tới sự phát triển giữa các bên

Điều 302 BLDS 2005:

“Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách

nhiệm dân sự nếu chứng minh được

nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn

toàn do lỗi của bên có quyền”

Điều 363 BLDS 2015:

“Trường hợp vi phạm nghĩa vụ và có thiệt hại là do một phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình”

Thứ tư, về vấn đề bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên vi phạm có lỗi

Đây cũng có thể được xem là một điểm tiến bộ trong mặt tư duy lập pháp của các nhà làm luật ở nước ta

Trang 4

Trước đây, những quy định của BLDS 2005 chỉ thể hiện được nội dung: “hoàn toàn do lỗi của bên có quyền” Tuy nhiên, trên thực tế có trường hợp khi một bên vi

phạm nghĩa vụ làm phát sinh thiệt hại chỉ là do lỗi một phần của bên có quyền

Vậy nên, quy định tại Điều 363 BLDS 2015 là hệ quả tất yếu của việc không thực hiện nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại của bên có quyền Quy định mới này

đã phù hợp hoá luật với thực tiễn xét xử cũng như bảo đảm sự phù hợp của quy định pháp luật với lẽ công bằng

Câu 2: Trong tình huống trên, có việc xâm phạm tới yếu tố nhân thân của bà Nguyễn không? Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn đã hội đủ chưa? Vì sao?

Trong tình huống trên, đã có hành vi xâm phạm tới yếu tố nhân thân của bà Nguyễn Đó chính là việc bác sĩ Lại thuộc chuyên khoa phẫu thuật thẩm mỹ đã thực hiện quy trình phẫu thuật có trục trặc trên thực tế dẫn đến các tình trạng như: sau lần một, bà Nguyễn thấy núm vú sưng lên, đau nhức và đen như than; vết mổ hở liên tục khiến túi nước dịch tuôn ướt đẫm người; bà Nguyễn bị mất núm vú Như vậy, bác sĩ Lại đã xâm phạm tới sức khoẻ của bà Nguyễn vì những sai phạm liên quan đến chuyên môn của mình

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoải hợp đồng do con người gây ra (Theo khoản 1 Điều 584 BLDS 2015):2

 Hành vi trái pháp luật: trong trường hợp này, Ông Lại đã có hành vi không thực hiện đúng các cam kết theo hợp đồng thẩm mỹ giữa ông và bà Nguyễn Suy cho cùng, hợp đồng thẩm mỹ đương nhiên ghi nhận sự thành công của ca phẫu thuật do bác sĩ Lại đã nhận tiền từ khách hàng là bà Nguyễn rồi mới thực hiện

ca phẫu thuật

 Thiệt hại vật chất: bà Nguyễn bị mất núm vú, trước đó thì luôn phải chịu sự đau nhói, sưng nhức và trào túi nước dịch

 Mối quan hệ nhân quả: Do những hành vi thực hiện không đúng các thoả thuận

về phẫu thuật do hai bên cam kết nên bác sĩ Lại đã khiến cho bà Nguyễn phải mất núm vú

2 Áp dụng tinh thần còn hợp lý của tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I của Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn

áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trang 5

Như vậy, có cơ sở cho rằng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do không thực

hiện đúng hợp đồng đã phát sinh vì các căn cứ đã hội đủ

Câu 3: Theo quy định hiện hành, những thiệt hại vật chất nào do vi phạm hợp đồng gây ra được bồi thường? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời

Dựa theo căn cứ pháp lý tại khoàn 2 Điều 361: “2 Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút”

Như vậy, thiệt hại về vật chất là toàn bộ tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm thiệt hại trực tiếp tổn thất về tài sản hoặc thiệt hại gián tiếp như chi phí hợp

lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút

Câu 4: BLDS có cho phép yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần phát sinh do

vi phạm hợp đồng không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời

Căn cứ theo Điều 419 BLDS 2015 thì thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều này, Điều 13 và Điều 360 Dựa theo Điều 360 BLDS 2015 thì trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp

có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác Mặt khác, Điều 361 cũng đã quy định rằng: “Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần”

Như vậy, nếu có tổn thất (thiệt hại) về tinh thần phát sinh do vi phạm hợp đồng trên thực tế thì BLDS 2015 cho phép bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường

Câu 5: Theo quy định hiện hành, bà Nguyễn có được bồi thường tổn thất về tinh thần không? Vì sao? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời

Căn cứ theo tình tiết mà đề bài đưa ra và dựa trên quy định hiện hành, chưa có căn cứ để Tòa án xem xét về bồi thường tổn thất về tinh thần cho bà Nguyễn

Trước tiên, cần phải hiểu rằng thiệt hại về tinh thần về nguyên tắc là không thể tính toán hay ước lượng vì không có tính chất như các đại lượng vật chất tồn tại khách quan Giá trị tinh thần không thể cân, đo, đong, đếm vì tồn tại chủ quan bên trong mỗi con người Qua đó, cơ quan có thẩm quyền không thể tự kết luận về tình trạng bị tổn thất về mặt tinh thần khi xem xét về một vụ việc

Trang 6

Do đó, có thể xem tổn thất về mặt tinh thần chỉ là điều kiện cần trong trường hợp này Để Tòa án có căn cứ buộc phía bác sĩ Lại bồi thường cho bà Nguyễn thì cần

có yêu cầu từ phía của bà Nguyễn, đây chính là điều kiện đủ Điều này là dễ hiểu vì chỉ có người có quyền, bà Nguyễn, mới hiểu rõ về tình trạng tinh thần của bản thân và qua đó yêu cầu cơ quan nhà nước bảo vệ quyền lợi của mình

Như vậy, theo quy định hiện hành, bà Nguyễn chỉ có thể được bồi thường tổn thất về tinh thần nếu chứng minh rõ ràng tinh thần của bà đã bị xâm phạm thông qua các tình tiết thực tế và có yêu cầu đối với Tòa án

Trang 7

VẤN ĐỀ 2: PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG

Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về phạt vi phạm hợp đồng

BLDS 2005 và BLDS 2015 đều quy định phần phạt vi phạm hợp đồng tại Mục Thực hiện hợp đồng nhưng vẫn tồn tại một số điểm khác biệt

Thứ nhất, về mức phạt, BLDS 2005 quy định “Mức phạt vi phạm do các bên thỏa

thuận” tại khoản 2 Điều 422 còn BLDS 2015 theo hướng “Mức phạt vi phạm do các

bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác” tại khoản 2 Điều 418

Đoạn in nghiêng là quy định được bổ sung với lý do hiện này vẫn có luật quy định khác về mức phạt như Luật xây dựng, Luật thương mại có quy định về mức phạt tối

đa (tức 2 bên không hoàn toàn tự do thỏa thuận về mức phạt)

Thứ hai, khoản 3 Điều 422 BLDS 2005 theo hướng “các bên có thể thỏa thuận về

việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm mà không phải bồi thường

thiệt hại hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm, vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thỏa thuận trước về mức bồi thường thiệu hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại Trong

trường hợp các bên không có thỏa thuận về bồi thường thiệu hại thì bên vi phạm nghĩa

vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm” Mặt khác, khoản 3 Điều 418 BLDS 2015 quy định

“các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt

hại Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm” Đoạn in nghiêng của quy định cũ đã được bỏ vì

đây là vấn đề bồi thường thiệt hại và đã có quy định khác điều chỉnh tại Điều 13 và Điều 36 BLDS 2015

Thứ ba, về mối quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệu hại, BLDS 2015

vẫn theo hướng nếu không có thỏa thuận cụ thể về việc kết hợp hai chế tài này thì thỏa thuận phạt vi phạm loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại (có thỏa thuận về phạt vi phạm mà không có thỏa thuận về sự kết hợp thì chỉ áp dụng phạt vi phạm) Tuy nhiên, quy định của BLDS 2005 có cách hành văn chưa mạch lạc nên đã dẫn tới các cách hiểu khách nhau Để hạn chế việc hiểu khác nhau về cùng một điều luật, đoạn in

Trang 8

nghiêng trong quy định mới đã có những thay đổi rõ ràng so với quy định tương ứng

cũ.3

 Đối với vụ việc thứ nhất:

Câu 2: Điểm giống nhau giữa đặt cọc và vi phạm hợp đồng

Căn cứ pháp lý: Điều 328, Điều 418 BLDS 2015

Về đối tượng thực hiện: là khoản tiền một bên bắt buộc phải nộp cho bên còn lại;

Về hình thức: đều được lập thành văn bản;

Về hậu quả pháp lý: bên vi phạm sẽ bị mất một khoản tiền và không căn cứ vào hậu quả thực tế

Câu 3: Khoản tiền trả trước 30% được Tòa án xác định là tiền đặt cọc hay là nội dung của phạt vi phạm hợp đồng?

Khoản tiền trả trước 30% được Tòa án xác định là tiền đặt cọc, thể hiện cụ thể

ở đoạn văn trong phần “Xét thấy”:

“Do vậy số tiền thanh toán đợt 1 là 30% giá trị đơn hàng (406.920.000 đồng) được xác định là tiền đặt cọc Việc đặt cọc này là phù hợp khoản 7 Điều 292 Luật Thương mại và Điều 358 Bộ luật dân sự”

Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến khoản tiền trả trước 30%

Hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến khoản tiền trả trước 30% là hợp lý

vì những lí do sau:

Thứ nhất, về vấn đề xác định khoản tiền trả trước 30% là tiền đặt cọc Tòa án

đã căn cứ vào khoản 3 Điều 4 Hợp đồng kinh tế số 01-10/TL-TV ngày 01/10/2010 để kết luận, đây có thể nói là một cơ sở pháp lí hợp tình, hợp lí, công bằng, tôn trọng nguyên tắc của Luật Dân sự (thỏa thuận), đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên

Thứ hai, về việc không chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH Sản xuất

Thương mại Dịch vụ Tân Việt về việc yêu cầu Công ty TNHH Tường Long thanh toán tiền phạt cọc là 406.920.000 đồng

3 Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học – Những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015, Nxb Hồng Đức-Hội Luật

gia Việt Nam, xuất bản lần thứ 2, tr 390, 391

Trang 9

Đúng như tòa án đã xác định, số tiền thanh toán đợt 1 là 30% giá trị đơn hàng (406.920.000 đồng) là tiền đặt cọc, mà căn cứ vào khoản 2 Điều 328 BLDS 2015,

“nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc” Như

vậy, ta thấy bên nhận đặt cọc (ở đây là Công ty Tường Long) chỉ phải trả cho bên đặt cọc (ở đây là Công ty Tân Việt) tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương khi bên nhật đặt cọc từ chối việc giao kết Trong khi đó, căn cứ vào dữ liệu đề bài, ta thấy Công ty Tường Long không hề từ chối thực hiện việc giao kết, hợp đồng vẫn được thực hiện trên thực tế (ngày 12/11/2010, Công ty Tường Long giao lô hàng mẫu đầu tiên với số lượng…bao gồm VAT) Lí do việc thực hiện hợp đồng bị trì hoãn là do lí

do khách quan (giá nguyên liệu tăng), Công ty Tường Long có gửi công văn thông báo đến Công ty Tân Việt nhưng Công ty Tân Việt không đồng ý Từ những dữ liệu trên, ta có thể kết luận bản chất của tiền cọc là để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, Công

ty Tường Long đã thực hiện nghĩa vụ giao hàng như những gì đã cam kết, vậy nên không thể yêu cầu Công ty TNHH Tường Long thanh toán tiền phạt cọc

 Đối với vụ việc thứ hai:

Câu 5: Trong Quyết định của Trọng tài, mức phạt vi phạm hợp đồng được giới hạn như thế nào?

Trong Quyết định của Trọng tài, mức phạt vi phạm hợp đồng được giới hạn là không quá 8% giá trị Hợp đồng, được thể hiện ở đoạn sau:

“Thứ hai, mức phạt Hợp đồng 30% giá trị của Hợp đồng là cao so với quy định của pháp luật Việt nam, cụ thể là…giá trị của Hợp đồng”

Trọng tài đã căn cứ pháp lý theo Điều 301 Luật Thương mại 2005 để đưa ra

Quyết định: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này.”

Vậy, Bị đơn phải thanh toán cho Nguyên đơn khoản tiền phạt là 2780 USD tương đương với 8% giá trị của hợp đồng

Câu 6: So với văn bản mức giới hạn phạt vi phạm trong Quyết định có thuyết phục không? Vì sao?

Trang 10

So với văn bản mức giới hạn phạt vi phạm trong Quyết định là thuyết phục do những nguyên nhân sau:

Trong các băn bản liên quan có quy định (căn cứ pháp lí):

Khoản 2 Điều 418 BLDS 2015 quy định về Thoả thuận phạt vi phạm: “Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác”

Điều 301 Luật Thương mại 2005: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này.”

Điều 1, Điều 2, Điều 3 Luật Thương mại 2005: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”

Thực tế của vụ việc trong Quyết định của Trọng tài: Trong trường hợp này, có xuất hiện sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng về việc phạt vi phạm hợp đồng có mức giá trị là 30% giá trị hợp đồng Như vậy, theo Khoản 1 và 2 Điều 418 BLDS thì khi các bên có thỏa thuận thì bên vi phạm có nghĩa vụ nộp khoản tiền cho bên bị vi phạm bằng mức phạt vi phạm đã thỏa thuận Tuy nhiên, vì hợp đồng này là hợp đồng thương mại (nội dung hợp đồng liên quan đến hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, cụ thể là “Hợp đồng mua bán hàng hóa” số FK-JSC 02/2006) nên phải căn cứ theo Điều

301 của Luật Thương mại 2005 Lúc này, mức phạt 30% như trong thỏa thuận của hai bên là cao hơn so với quy định của pháp luật nên phần mức phạt vi phạm cao hơn 8% giá trị hợp đồng bị vô hiệu

Từ những nguyên nhân trên, có thể thấy rằng mức giới hạn phạt vi phạm trong Quyết định là hoàn toàn hợp lý

Câu 7: Trong pháp luật dân sự và pháp luật thương mại, phạt vi phạm hợp đồng

có được kết hợp với bồi thường thiệt hại không nếu các bên không có thỏa thuận

về vấn đề này? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

Vấn đề kết hợp phạt vi phạm hợp đồng với bồi thường thiệt hại trong pháp luật Dân sự và Luật Thương mại có những quy định khác nhau Cụ thể là:

- Trong pháp luật thương mại, phạt vi phạm hợp đồng có thể được kết hợp với bồi thường thiệt hại nếu các bên không có thỏa thuận về vấn đề này

Trang 11

Theo Luật thương mại năm 2005 quy định tại Khoản 2 Điều 307: “Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.”

Quy định này cho phép bên bị vi phạm được quyền yêu cầu bồi thường những thiệt hại do bên vi phạm hợp đồng gây ra khi các bên có thỏa thuận về việc phạt vi phạm hợp đồng nhưng không thỏa thuận trước về việc kết hợp phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại

Ngoài ra, theo Điều 316 Luật Thương mại năm 2005 cũng có quy định: “Một bên không bị mất quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tổn thất do vi phạm hợp đồng của bên kia khi đã áp dụng các chế tài khác” Như vậy, đối với hợp đồng

thương mại, chỉ cần chứng minh được thực tế có thiệt hại xảy ra, và hành vi trái pháp luật do bên vi phạm gây ra, hành vi vi phạm của bên vi phạm là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại của bên có quyền hoàn toàn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và

có thể kết hợp bồi thường thiệt hại với các chế tài khác

- Trong pháp luật dân sự, phạt vi phạm hợp đồng không thể được kết hợp với bồi thường thiệt hại nếu các bên không có thỏa thuận về vấn đề này.

Căn cứ pháp lý tại Khoản 3 Điều 418 BLDS 2015“ Trường hợp các bên có thoả thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.”

Dù hành vi vi phạm của bên vi phạm có gây ra thiệt hại đối với bên bị thiệt hại thì việc không có thỏa thuận từ trước về kết hợp phạt vi phạm với bồi thường hợp đồng thì bên vi phạm chỉ bị phạt vi phạm hợp đồng

Câu 8: Trong Quyết định Trọng tài, phạt vi phạm hợp đồng có được kết hợp với bồi thường thiệt hại không? Đoạn nào của quyết định cho câu trả lời?

Trong Quyết định Trọng tài, phạt vi phạm hợp đồng được kết hợp với bồi

thường thiệt hại

Đoạn trong Quyết định cho câu trả lời: “Tuy nhiên, Điều 301 Luật Thương mại cũng quy định ngoài mức phạt như trên, bên bị thiệt hại có quyền đòi bồi thường thiệt hại thực tế Do các bên dã thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại tối đa là 30% tổng

Trang 12

giá trị Hợp đồng, nên việc cho phép bồi thường mức cao hơn sẽ tạo bất ngờ cho Bị đơn Hội đồng Trọng tài cho rằng có thể xét bồi thường thiệt hại thực tế cho Nguyên đơn, song tổng mức bồi thường thiệt hại và khoản phạt vi phạm sẽ không được cao quá 30% giá trị hợp đồng.”

Câu 9: Điểm giống và khác nhau giữa phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng

Điểm giống nhau giữa phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng:

- Phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại đều được áp dụng với các hợp đồng có hiệu lực;

- Trách nhiệm pháp lý của cả hai vấn đề này đều được áp dụng với chính các chủ thể hợp đồng (mà không phải là ai khác);

- Nguyên nhân dẫn đến hai hậu quả này đều do có hành vi vi phạm của các chủ thể tham gia hợp đồng Cả hai hệ quả đều nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của bên bị vi phạm;

- Là quy định của pháp luật nhằm tác động vào ý thức tôn trọng pháp luật, xác định trách nhiệm pháp lý của chủ thể tham gia hợp đồng

Điểm khác nhau giữa phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng:

Phạt vi phạm hợp đồng Bồi thường thiệt hại do vi

phạm hợp đồng

Khái niệm

Căn cứ theo Điều 300 Luật Thương

mại 2005: “Phạt vi phạm là việc bên

bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp

miễn trách nhiệm quy định tại Điều

294 của Luật này”

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 302

Luật Thương mại 2005: “Bồi thường thiệt hại là việc bên vi

phạm bồi thường những tổn thất

do hành vi vi phạm hợp đồng gây

ra cho bên bị vi phạm”

Ngày đăng: 18/09/2019, 19:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w