Theo quy định tại điều 574, BLDS 2015: "Thực hiện công việc không có uỷ quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích
Trang 1
Buổi thảo luận thứ nhất: Nghĩa vụ
Lớp TM43.2
NHỌ VÀ TÊN MSSV LỚP
Trương Quang Nhân 1853801011141 90-TM43.2 Trần An Nguyên 1853801011138 90-TM43.2 Nguyễn Thanh Nhanh 1853801011142 90-TM43.2 Nguyễn Thị Ngọc 1853801011136 90-TM43.2 Nguyễn Thị Bích Ngọc 1853801011137 90-TM43.2
Hà Xuân Lịch 1853801011091 90-TM43.2 Trần Minh Long 1853801011109 90-TM43.2 Nghiêm Thị Hải Linh 1853801011095 90-TM43.2 Đinh Thị Lê Na 1853801011122 90-TM43.2 Nguyễn Thuỳ Linh 1853801011097 90-TM43.2
Trang 2VẤN ĐỀ 1: THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ UỶ QUYỀN
Câu 1: Thế nào là thực hiện công việc không có uỷ quyền?
Theo quy định tại điều 574, BLDS 2015: "Thực hiện công việc không có uỷ quyền là việc
một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc
đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối."
Câu 2: Vì sao thực hiện công việc không có uỷ quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ?
Căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự là những sự kiện xảy ra trong thực tế được pháp luật dự
liệu, thừa nhận có giá trị pháp lý làm cơ sở phát sinh quan hệ nghĩa vụ dân sự Theo đó, thực
hiện công việc không có uỷ quyền sẽ là sự kiện xảy ra trong thực tế mà được pháp luật dự liệu và có giá trị pháp lý làm cơ sở phát sinh quan hệ nghĩa vụ dân sự nên sẽ được xem là căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự Hơn nữa, theo khoản 3, điều 275, BLDS 2015 quy định về
căn cứ phát sinh nghĩa vụ là "Thực hiện công việc không có uỷ quyền".
Câu 3: Cho biết điểm mới của bộ luật dân sự 2015 so với bộ luật dân sự 2005 Về chế định thực hiện công việc không có ủy quyền?
Thực hiện công việc không có ủy quyền là
việc một người không có nghĩa vụ thực hiện
công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công
việc đó, hoàn toàn vì lợi ích của người có
công việc được thực hiện khi người này
không biết hoặc biết mà không phản đối .
Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối .
Đến với bộ luật dân sự 2005 quy định thực hiện công việc không có ủy quyền phải “hoàn
toàn vì lợi ích của người có công việc” Chúng ta có thể hiểu là khi thực hiện công việc
không có ủy quyền phải hoàn toàn mang lại lợi ích cho người có công việc mà người thực hiện công việc không được hưởng bất kỳ một lợi ích nào Nhưng trong thực tế, có rất nhiều tình huống người thực hiện công việc không có ủy quyền cũng được lợi ích khi thực
Trang 3hiện công việc đó (ví dụ như trong trường hợp của chủ đầu tư A và nhà thầu C ở phần sau) Như vậy sẽ gây ra mâu thuẫn khi xét xử
Bộ Luật dân sự 2015 sửa đổi theo hướng bỏ hai chữ “hoàn toàn” để phù hợp với hoàn cảnh thực tế hơn Thiết nghĩ sự thay đổi này là hoàn toàn hợp lý vì đa số các công việc thực hiện không có ủy quyền mà không mang lại lợi ích cho người thực hiện rất ít xảy ra
Câu 4: Điều kiện áp dụng chế định thực hiện công việc không có ủy quyền theo bộ luật dân sự 2015? Phân tích từng điều kiện?
Điều 574 Thực hiện công việc không có ủy quyền:“Thực hiện công việc không có ủy quyền
là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.”
Để áp dụng chế định thực hiện công việc không có ủy quyền phải đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:
“…không nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc…” Một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc tức là người đó không có trách nhiệm phải làm (không tuân theo nghĩa vụ đã thỏa thuận theo hợp đồng hay pháp luật bắt buộc) mà thực hiện công việc theo ý chí của bản thân dân sự bắt buộc sự tự nguyện không bị chi phối bởi bất kỳ yếu tố nào
“… vì lợi ích của người có công việc được thực hiện…” người thực hiện công việc không
có ủy quyền phải thực hiện công việc đó như là việc của chính mình, làm một cách tận tâm, tận lực mang lại lợi ích, bảo vệ quyền lợi cho người có công việc
Điều kiện thứ hai này cũng cần lưu ý: luật không quy định rõ lợi ích là gì mà phải tùy từng trường hợp cụ thể con người tự đánh giá Ngoài ra, trong thực tế rất nhiều trường hợp người thực hiện công việc không có ủy quyền cũng được lợi ích khi thực hiện công việc đó chứ không chỉ mang lợi ích cho người có công việc Trường hợp nếu người thực hiện công việc không có ủy quyền cố ý hoặc vô ý gây ra thiệt hại cho người có công việc thì phải bồi thường theo quy định của bộ luật dân sự
Trang 4 “…người này không biết họ biết mà không phản đối…” Chúng ta có thể hiểu theo hai nghĩa, người thực hiện công việc không có ủy quyền thực hiện xong công việc mà người
có công việc không biết hoặc đang thực hiện công việc không có ủy quyền mà người có công việc biết nhưng không phản đối, ngăn cản Nếu người có công việc không có ủy quyền phản đối thì điều kiện này không được thỏa mãn
Câu 5: Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình nhà thầu C có quyền yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định hiện thực hiện công việc không có ủy quyền trong bộ luật dân sự 2015 hay không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời?
Để biết khi xây dựng xong nhà thầu C có được quyền yêu cầu chủ đầu tư ta thực hiện nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định thực hiện công việc không có ủy quyền hay không thì phải xem xét đến 3 điều kiện:
Đầu tiên nhà thầu C không có nghĩa vụ phải xây dựng công trình cho chủ đầu tư nhưng đã thực hiện công việc trên theo thỏa thuận với ban quản lý B Như vậy là C đã thực hiện công việc thông qua bên thứ ba Thiết nghĩ, chế định thực hiện công có không có ủy quyền không chỉ được áp dụng đối với hai chủ thể thông thường (một bên có công việc và một bên thực hiện thực hiện công việc) mà còn có thể thông qua bên thứ ba Như vậy sẽ đảm bảo được quyền lợi của các bên Có thể nói yếu tố đầu tiên đã được thỏa mãn
Trong tình huống trên nhà thầu C đã xây dựng xong công trình mang lại lợi ích cho chủ đầu tư A (bán, cho thuê, ở,…) Điều kiện thứ hai của trái đất đã thỏa mãn Nhưng cũng phải lưu ý rằng khi thực hiện công việc trên bên sai cũng được hưởng những quyền lợi là được trả tiền
Xét đến điều kiện 3, sau khi xây dựng xong công trình nhưng chủ đầu A chủ đầu tư không biết hoặc đặt giả định biết nhưng không ngăn cản, phản đối vẫn để cho nhà thầu C xây dựng xong công trình Như vậy điều kiện bà cũng đã được thỏa mãn Do đó, nhà thầu C
có quyền yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện nghĩa vụ trả tiền
VẤN ĐỀ 2: THỰC HIỆN NGHĨA VỤ (THANH TOÁN MỘT KHOẢN TIỀN)
Trang 5Câu 1: Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian tài sản là gì?
Trường hợp đối tượng của nghĩa vụ về tài sản là các khoản tiền, vàng
1- Đối với nghĩa vụ là các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính thì giải quyết như sau:
Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày 01/7/1996 và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì Toà án quy đổi các khoản tiền đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa phương (từ đây trở đi gọi tắt là "giá gạo") tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ xảy ra sau ngày 01/7/1996 hoặc tuy xảy ra trước ngày 01/7/1996, nhưng trong khoảng thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo không tăng hay tuy có tăng nhưng ở mức dưới 20%, thì Toà án chỉ xác định các khoản tiền đó để buộc bên có nghĩa vụ phải thanh toán bằng tiền Trong trường hợp người có nghĩa vụ có lỗi thì ngoài khoản tiền nói trên còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác
2- Đối với các khoản tiền tịch thu, tiền phạt, tiền án phí thì khi xét xử toà án chỉ quyết định mức tiền cụ thể mà không áp dụng cách tính đã hướng dẫn tại khoản 1 nói trên
3- Đối với các khoản tiền vay, gửi ở tài sản Ngân hàng, tín dụng, do giá trị của các khoản tiền đó đã được bảo đảm thông qua các mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định, cho nên khi xét xử, trong mọi trường hợp toà án đều không phải quy đổi các khoản tiền đó ra gạo, mà quyết định buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán số tiền thực tế đã vay,
Trang 6gửi cùng với khoản tiền lãi, kể từ ngày khi giao dịch cho đến khi thi hành án xong, theo mức lãi suất tương ứng do Ngân hàng Nhà nước quy định
Trường hợp đối tượng của nghĩa vụ về tài sản là hiện vật
1- Trong các trường hợp đối tượng của nghĩa vụ về tài sản là hiện vật, thì khi giải quyết vụ
án cần phải xem xét và xác định người có nghĩa vụ có thể thực hiện được nghĩa vụ giao vật hay không, người có quyền có chấp nhận tiếp nhận hiện vật hay không, để tuỳ từng trường hợp cụ thể mà giải quyết theo các hướng sau đây:
Nếu có đủ điều kiện buộc người có nghĩa vụ về tài sản thực hiện nghĩa vụ giao vật, thì toà
án ra quyết định buộc người đó phải giao hiện vật theo quy định tại Điều 294 Bộ luật dân sự
và trong bản án, quyết định phải ghi rõ tình trạng, số lượng, chất lượng, chủng loại của hiện vật phải giao để việc thi hành án được rõ ràng, thuận lợi Tuy nhiên, toà án vẫn phải xác định giá trị của hiện vật đó theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm để tính án phí
Nếu bên có nghĩa vụ không thể có hiện vật để thực hiện nghĩa vụ giao vật, thì toà án quyết định buộc họ phải thanh toán giá trị của hiện vật theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm và bồi thường thiệt hại
2- Theo quy định tại khoản 2 Điều 310, Điều 311 và khoản 1 Điều 313 Bộ luật dân sự thì người chậm thực hiện nghĩa vụ giao vật, không thực hiện nghĩa vụ giao vật phải bồi thường thiệt hại cho người có quyền Thiệt hại trong trường hợp không giao hiện vật, chậm thực hiện nghĩa vụ giao vật, là thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút Để tính thiệt hại cụ thể, có thể tính theo mức thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút cụ thể do bên bị thiệt hại chứng minh, nếu không xác định được thiệt hại cụ thể, thì tính bằng mức thu nhập bình quân (sau khi đã trừ các khoản chi phí) của 5 tháng liền kề (nếu chưa đủ 5 tháng thì tính bằng mức thu nhập bình quân của các tháng đó), trước thời điểm phát sinh nghĩa vụ giao vật
Câu 2: Đối với tình huống thứ nhất thực tế ông Qưới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền
cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời?
Trang 7Thực tế ông Qưới sẽ phải trả cho bà Cô số tiền là 3284671,533 đồng.
Cách tính: Vì việc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày 1-7-1996 và trong thời gian
từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên (giá gạo thời điểm năm 1973 là 137 đồng/kg và giá gạo trung bình hiện nay theo Sở tài chính TP.HCM là 9000 đồng/kg) nên giá gạo vào năm 1973 là 137 đồng/kg, thì số lượng gạo được quy đổi là 364,96 kg (50000 đồng): 137 đồng/kg = 500 kg) Giá gạo tại thời điểm hiện tại là 9.000 đồng/kg, ông Qưới phải trả cho bà Cô số tiền là 3284640 đồng (364,96 kg x 9000 đồng/ kg =3284640 đồng)
Cở sở pháp lí: Thông tư 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp,
Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản và các quy định liên quan khác
Câu 3: Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong quyết định số 15/DS-GDT không? Vì sao?
Thông tư 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính
hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản và các quy định liên quan khác: “Đối với
nghĩa vụ là các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu
do thu lợi bất chính…”
Câu 4: Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1697760000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu? Vì sao?
Theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là 1697760000 đồng và tiền lãi 1710000đồng (bà Hường phải thanh toán cho cụ Bnagr số tiền còn nợ tương đương 1/5 giá trị nhà, đất theo định giá tại thời điểm xét xử sơ thẩm mới đúng)
Trang 8Cở sở pháp lí: Thông tư 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp,
Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản và các quy định liên quan khác
Câu 5: Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa? Nêu một tiền lệ (nếu có).
Hướng giải quyết trên của TAND cấp cao tại Hà Nội đã có tiền lệ: Quyết định số 741/2011/ DS-GĐT ngày 26/9/2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao
(PGS TS Đỗ Văn Đại, Bản án số 54 Luật Nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Việt Nam, Bản án và bình luận bản án, Tập 1)
Ông Hoanh với ông An có ký hợp đồng chuyển nhượng 1230m2 đất với giá 500.000.000đ Ông An đã trả cho ông Hoanh 265.000.000đ, còn nợ ông Hoanh 235.000.000đ; nhưng ông
An đã nhận đất và ông An đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên Theo báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại Công văn số 34/BC VKST-P5 thì ông An đã bán thửa đất mà ông nhận chuyển nhượng của ông Hoanh Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông An và ông Hoanh là có căn cứ Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng ông An đã vi phạm hợp đồng, không thực hiện nghĩa vụ trả tiền nhận chuyển nhượng đất đúng thời hạn Do đó, ông An phải thanh toán cho ông Hoanh số tiền nhận chuyển nhượng đất còn thiếu theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm, như vậy mới đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của các đương sự Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông An phải trả số tiền gốc chưa thanh toán và lãi suất
VẤN ĐỀ 3: CHUYỂN GIAO NGHĨA VỤ THEO THOẢ THUẬN
Câu 1: Điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận.
Giống nhau:
Trang 9Chuyển giao quyền yêu cầu, chuyển giao nghĩa vụ dân sự đều dẫn tới hậu quả pháp lý là làm thay đổi chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ theo đó chấm dứt tư cách chủ thể của chủ thể
đã chuyển giao, xác lập tư cách chủ thể cho người nhận chuyển giao Khi đó, người có quyền trước/người có nghĩa vụ trước sẽ chấm dứt mối quan hệ với người có nghĩa vụ/người
có quyền và không phải chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ (đối với việc chuyển giao quyền yêu cầu) hay của người thế nghĩa vụ (đối với hành
vi chuyển giao nghĩa vụ dân sự) Về hình thức chuyển giao, thì việc chuyển giao quyền yêu cầu hay chuyển giao nghĩa vụ đều được thể hiện bằng văn bản hay lời nói
Khác nhau:
Chuyển giao quyền yêu cầu Chuyển giao nghĩa vụ dân sự
Cơ sở pháp lý Điều 365-369 BLDS 2015 Điều 370-371 BLDS 2015
Khái niệm
Chuyển giao quyền yêu cầu là sự thỏa thuận giữa người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ dân sự với người thứ ba nhằm chuyển giao quyền yêu cầu cho người thứ ba đó Người thứ
ba đó trong trường hợp này gọi là người thế quyền, trở thành người có quyền, được quyền yêu cầu người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ theo phạm vi quyền yêu cầu được chuyển giao
Chuyển giao nghĩa vụ dân sự là sự thỏa thuận giữa người có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ dân sự với người thứ ba trên cơ sở có sự đồng
ý của người có quyền nhằm chuyển nghĩa vụ cho người thứ ba đó Người thứ ba gọi là người thế nghĩa
vụ trở thành người có nghĩa vụ mới phải thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của người có quyền trong phạm
vi nghĩa vụ đã được xác định
Đối tượng có
quyền chuyển
giao:
Bên có quyền là người có quyền chuyển giao
Đối với chuyển giao nghĩa vụ dân
sự thì bên có nghĩa vụ là người có quyền chuyển giao
Nguyên tắc
chuyển giao
Chuyển giao quyền yêu cầu không cần có sự đồng ý của người có nghĩa
vụ vì trong mọi trường hợp người có
Chuyển giao nghĩa vụ buộc phải có
sự đồng ý của bên có quyền Quy định này rất phù hợp vì trong quan
Trang 10nghĩa vụ dều phải thực hiện đúng nội dung của nghĩa vụ đã được xác định
Tuy nhiên người chuyển quyền phải thông báo cho người có nghĩa vụ biết
về việc chuyển giao quyền yêu cầu
hệ nghĩa vụ, quyền của một bên có được đảm bảo hay không hoàn toàn phụ thuộc vào việc thực hiện nghĩa
vụ của bên kia Người thực hiện nghĩa vụ khi chuyển giao nghĩa vụ phải đảm bảo cho người kế thừa nghĩa vụ đó có khả năng thực hiện nghĩa vụ Khi người có quyền đồng
ý, việc chuyển giao mới có thể được thực hiện Người chuyển giao nghĩa
vụ không cần thông báo cho người
có quyền
Hiệu lực của
biện pháp
bảo đảm
Nếu chuyển giao quyền yêu cầu mà quyền yêu cầu có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ kèm theo thì biện pháp bảo đảm được chuyển giao sang người thế quyền
Đối với chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận, nếu nghĩa vụ thực hiện
có biện pháp bảo đảm được chuyển giao thì biện pháp bảo đảm đó đương nhiên chấm dứt (trừ trường hợp các bên không có thỏa thuận khác)
Câu 2: Thông tin nào của bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tú?
Ở phần đầu mục Nhận thấy của bản án ghi rõ: “Từ đầu 2003, bà Tú cho bà Phượng vay ổng
số tiền là 555.000.000đ, việc giao nhận tiền chia làm 5 đợt, có làm biên lai nhận, lãi suất 1,8%/tháng Theo thỏa thuận, bà Phượng có trách nhiệm trả lãi hang tháng và hoàn vốn sau 12 tháng vì tiền vay do bà Tú vay của Ngân hang để cho bà Phượng vay lại.”