Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện k
Trang 1GVHD: ThS Nguyễn Tấn
Hoàng Hải Nhóm thực hiện: Nhóm 4 Lớp: 91-DS43.3 Năm học 2019-2020
BÀI TẬP THẢO LUẬN DÂN SỰ
Buổi thảo luận thứ bảy:Thừa kế theo
pháp luật
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
Trang 2Danh sách thành viên nhóm 4:
Vũ Thanh Thảo - 1853801012179
Lục Thủy Tiên - 1853801012190
Lê Quốc Tính - 1853801012192
Nguyễn Thanh Thảo - 1853801012173
Nguyễn Thị Thanh Thảo - 1853801012176
Nguyễn Hoàng Anh Thư - 1853801012187
Phạm Thanh Quang – 1853801012161
2
Trang 3MỤC LỤC
*Vấn đề 1: Thực hiện công việc không có ủy quyền 4
*vấn đề 2: Thực hiện nghĩa vụ (thanh toán một khoản tiền) 7
*Vấn đề 3: Chuyển giao nghĩa vụ theo thoản thuận 9
3
Trang 4*V n đ 1: Th c hi n công vi c không có y quy n ấn đề 1: Thực hiện công việc không có ủy quyền ề 1: Thực hiện công việc không có ủy quyền ực hiện công việc không có ủy quyền ện công việc không có ủy quyền ện công việc không có ủy quyền ủy quyền ề 1: Thực hiện công việc không có ủy quyền.
Câu 1: Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền?
Trả lời:
Theo Điều 574 BLDS (Bộ luật dân sự 2015)
Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc
đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối
Câu 2: Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ?
Trả lời:
Điều 275 BLDS 2015 có quy định nghĩa vụ phát sinh từ những căn cứ sau:
1.Hợp đồng;
2.Hành vi pháp lý đơn phương;
3.Thực công việc không có ủy quyền;
4.Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật;
5.Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật;
6.Căn cứ khác do pháp luật quy định;
Ta thấy tại Khoản 3 điều này quy định Thực hiện công việc không có
ủy quyền là một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ Sỡ dĩ được quy định như vậy vì việc quy định chế định này tạo nên sự ràng buộc pháp lý giữa người thực hiện công việc và người có công việc được thực hiện và nâng cao tinh thần trách nhiệm, đảm bảo quyền lợi của người thực hiện công việc cũng như đối với người có công việc được thực hiện
4
Trang 5Câu 3: Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền”.
Trả lời:
Về chủ thể:
- BLDS 2005 quy định: Chủ thể người có công việc được thực hiện chỉ
có cá nhân
- BLDS 2015 quy định: Chủ thể người có công việc được thực hiện bao gồm cả cá nhân và pháp nhân (mở rộng phạm vi chủ thể)
Về mục đích thực hiện:
- BLDS 2005 quy định: “Hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện” (hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện, không có mục đích khác, dẫn đến cách hiểu người có nghĩa vụ không có lợi ích gì, người có công việc không biết hoặc biết mà không phản ứng gì)
- BLDS 2015 quy định: “Thực hiện công việc đó vì lợi ích của người
có công việc được thực hiện” (vì lợi ích của người có công việc được thực hiện nhưng cũng có thể vì mục đích khác tuy nhiên không được làm trái với lợi ích của người có công việc được thực hiện và các chủ thể khác) BLDS 2015 đã bỏ cụm từ “hoàn toàn” “Việc loại bỏ điều kiện trên thực chất chỉ được ghi nhận trong quá trình chỉnh lý dự thảo tại quốc hội và xuất phát từ thực tiễn xét xử áp dụng quy định này trong lĩnh vực mang yếu tố tìm kiếm lợi nhuận1”
Câu 4: Các điều kiện để áp dụng chế định “Thực hiện công việc không có ủy quyền” theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện.
Trả lời:
Theo BLDS 2015, các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” là:
Người thực hiện công việc không có ủy quyền là người không có nghĩa
vụ thực hiện công việc đó Một người có thể thực hiện công việc vì lợi ích của người khác Nếu giữa hai bên có một hợp đồng ủy quyền thì
1Xem thêm Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân Sự 2015, Nxb Hồng
Đức-Hội Luật Gia Việt Nam, Hà Nội.
5
Trang 6nghĩa vụ của họ xuất phát từ hợp đồng Nhưng trong trường hợp giữa
họ không có hợp đông ủy quyền nào, người thực hiện công việc không
có nghĩa vụ phải làm nhưng đã thực hiện công việc một cách
tự nguyện, hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc Việc làm này tự nguyện trên tinh thần tương thân, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong lúc gặp khó khăn tạm thời nên giữa họ không có mối quan hệ pháp lý nào
về công việc được thực hiện trước đó
Việc thực hiện công việc vì lợi ích của người có công việc Người có hành vi tự nguyện thực hiện công việc của người khác được coi là thực hiện công việc không có ủy quyền trước khi tiến hành công việc, người thực hiện công việc không có ủy quyền tự ý thức rằng nếu không có ai thực hiện công việc này thì người có công việc bị thiệt hại một số lợi ích vật chất nhất định Lợi ích này có thể là những lợi ích mà người có công việc được thực hiện không thu được hoặc lợi ích của họ giảm đáng kể Người thực hiện công việc không có ủy quyền xem đó là bổn phận của mình và phải thực hiện công việc nhằm mang lại lợi ích cho người có công việc
Việc thực hiện công việc không có ủy quyền phải có sự tự nguyện của người thực hiện công việc Dù không có nghĩa vụ thực hiện công việc, nhưng người thực hiện công việc vẫn có ý chí hết mình thực hiện công việc của người khác như công việc của chính mình, không hề suy tính lợi ích cá nhân Người thực hiện nhận thức được hành vi thực hiện công việc của mình và trong điều kiện, khả năng thực hiện công việc một cách độc lập nhằm đem lại lợi ích cho người có công việc được thực hiện
Việc thực hiện công việc không có ủy quyền không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội Một người tự nguyện thực hiện công việc của người khác coi đó là bổn phận của mình và phải xuất phát từ người có công việc Mục đích và nội dung của việc thực hiện công việc là không trái pháp luật và đạo đức xã hội.2
2 1 https://diendanphapluat.vn/dieu-kien-phat-sinh-nghia-vu-thuc-hien-cong-viec-khong-co-uy-quyen/?
fbclid=IwAR2J1ch28Ll0sF1vz7yx94Y7KMEyXuEkBOUYz2kNvVDCOwmwhi3y x2pYLuY , tham khảo ngày 10/09/2019.
6
Trang 7Câu 5: Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “Thực hiện công việc không có
ủy quyền” trong BLDS 2015 không?Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trả lời :
Có
Bởi vì, nhà thầu C không biết công việc của mình đã thực hiện cho B
là công việc mà A đã giao cho B quản lý Nhà thầu C chỉ biết được công việc mình được giao từ B Chủ đầu tư A cũng không biết công việc mình nhờ B quản lý đã được B giao cho nhà thầu C
Căn cứ pháp lý:
Khoản 3 Điều 275, Điều 574 Bộ luật Dân sự 2015
*V n đ 2: Th c hi n nghĩa v (thanh toán m t kho n ấn đề 1: Thực hiện công việc không có ủy quyền ề 1: Thực hiện công việc không có ủy quyền ực hiện công việc không có ủy quyền ện công việc không có ủy quyền ụ (thanh toán một khoản ột khoản ản
ti n) ề 1: Thực hiện công việc không có ủy quyền.
Câu 1: Thông tư trên cho phép tính lại khoản giá trị tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì?
Trả lời:
Theo Điểm a, b Điều 1 Mục I Thông tư 01/TTLT trên thì việc tính lại khoản giá trị tiền phải thanh toán được tính như sau:
Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày 01/07/1996 và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì quy đổi các khoản tiền đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa phương, tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ xảy ra sau ngày 1-7-1996 hoặc tuy xảy ra trước ngày 1-7-1996, nhưng trong khoảng thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời
7
Trang 8điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo không tăng hay tuy có tăng nhưng ở mức dưới 20%, thì Toà án chỉ xác định các khoản tiền đó để buộc bên
có nghĩa vụ phải thanh toán bằng tiền Trong trường hợp người có nghĩa vụ có lỗi thì ngoài khoản tiền nói trên còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 313 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác
Việc tính lại khoản giá trị tiền phải trả qua trung gian là gạo
Câu 2: Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu ? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trả lời:
Thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền là 3.285.000đ
Cơ sở pháp lý: Điểm a Khoản 1 Thông tư 01/TTLT ngày 29/6/1997 và Điều 290 BLDS/2005
Cách tính như sau: Giá gạo trung bình năm 1973 là 137đ/kg thì số lượng gạo quy đổi là 365kg ( 50000đ:137đ/kg=365kg) Giá gạo tại thời điểm xét xử là 9000đ, vậy số tiền mà tòa án yêu cầu ông Quới hoàn trả cho bà Cô là 3285000đ (365kg*9000đ/kg=3285000đ)
Câu 3: Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/ DS-GĐT không? Vì sao?
Trả lời:
Thông tư trên không điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong quyết định số 15/2018/DS-GĐT, vì nó chỉ áp dụng các khoản bồi thường, tiền hoàn trả, tiền lương, tiền công, tiền chia tài sản
Thông tư 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân tối cao, bộ tư pháp, bộ tài chính hướng dẫn xét xử, thi hành án về tài sản tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền do thu lợi bất chính
8
Trang 9Câu 4: Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GDT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp
sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu? Vì sao?
Trả lời:
Trong bản án, Tòa án nói rõ: “ Bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng
số tiền còn nợ tương ứng với số tiền 1/5 giá trị căn nhà, đất theo định giá tại thời điểm xét xử sơ thẩm mới đúng”
Vậy nên giá trị nhà đất được xác định là: 1.679.760.000đ thì bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng là: 1.679.760.000đ*1/5= 339.552.000đ
Câu 5: Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa? Nêu một tiền lệ (nếu có)?
Trả lời:
Hướng như trên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã có tiền lệ rồi
Ví dụ: Quyết định 741/2011/DS-GĐT ngày 26-9-2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao Ông Hoanh và ông An có ký hợp đồng chuyển nhượng 1.230m2 đất với giá 500.000.000đ Ông An đã trả cho ông Hoanh 265.000.000đ, còn nợ ông Hoanh 235.000.000đ; nhưng ông An
đã nhận đất và ông An đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên Theo báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại công văn 34/BC.VKST-P5 thì ông An đã bán thửa đất mà ông nhận chuyển nhượng của ông Hoanh Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hoanh và ông An là có căn cứ Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng ông An đã vi phạm hợp đồng, không thực hiện nghĩa vụ trả tiền chuyển nhượng đất đúng thời hạn Do
đó, ông An phải thanh toán cho ông Hoanh số tiền nhận chuyển nhượng đất còn thiếu theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm; như vậy mới bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các đương sự Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông An trả lại ông Hoanh số tiền gốc chưa thanh toán và lãi suất;
9
Trang 10Tòa án cấp phúc thẩm chỉ buộc ông An trả nguyên tiền gốc đều không chính xác
*V n đ 3: Chuy n giao nghĩa v theo tho n thu n ấn đề 1: Thực hiện công việc không có ủy quyền ề 1: Thực hiện công việc không có ủy quyền ển giao nghĩa vụ theo thoản thuận ụ (thanh toán một khoản ản ận.
Câu 1: Điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận
Trả lời:
Chuyển giao quyền yêu cầu, chuyển giao nghĩa vụ dân sự đều dẫn tới hậu quả pháp lý là làm thay đổi chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ theo đó chấm dứt tư cách chủ thể của chủ thể đã chuyển giao, xác lập tư cách chủ thể cho người nhận chuyển giao Khi đó, người có quyền trước/người có nghĩa vụ trước sẽ chấm dứt mối quan hệ với người có nghĩa vụ/người có quyền và không phải chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ (đối với việc chuyển giao quyền yêu cầu) hay của người thế nghĩa vụ (đối với hành vi chuyển giao nghĩa vụ dân sự) Về hình thức chuyển giao, thì việc chuyển giao quyền yêu cầu hay chuyển giao nghĩa vụ đều được thể hiện bằng văn bản hay lời nói Tuy nhiên, về cơ bản giữa hai hành vi này có một số điểm khác biệt sau3:
Về chuyển giao quyền yêu cầu:
Đối tượng có quyền chuyển giao: Bên có quyền là người chuyển giao
Nguyên tắc chuyển giao: Chuyển giao quyền yêu cầu không cần có
sự đồng ý của người có nghĩa vụ vì trong mọi trường hợp người có nghĩa vụ đều phải thực hiện đúng nội dung của nghĩa vụ đã được xác định Tuy nhiên người chuyển quyền phải thông báo cho người có nghĩa vụ biết về việc chuyển giao quyền yêu cầu
Hiệu lực của biện pháp bảo đảm: Nếu chuyển giao quyền yêu cầu
mà quyền yêu cầu có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ kèm theo thì biện pháp bảo đảm được chuyển giao sang người thế quyền
3 https://lawnet.thukyluat.vn/posts/t8287-phan-biet-chuyen-giao-quyen-yeu-cau-va- chuyen-giao-nghia-vu-dan-su?fbclid=IwAR1BggfVv0J0WB5_d1OxqeP3cG3L-9-sYPebUjAZLM91V8Hc9pu6e1vAuFU , tham khảo ngày 10/09/2019.
10
Trang 11Về chuyển giao nghĩa vụ theo thoản thuận:
Đối tượng có quyền chuyển giao: Đối với chuyển giao nghĩa vụ dân
sự thì bên có nghĩa vụ là người có quyền chuyển giao
Nguyên tắc chuyển giao: Chuyển giao nghĩa vụ buộc phải có sự đồng ý của bên có quyền Quy định này rất phù hợp vì trong quan hệ nghĩa vụ, quyền của một bên có được đảm bảo hay không hoàn toàn phụ thuộc vào việc thực hiện nghĩa vụ của bên kia Người thực hiện nghĩa vụ khi chuyển giao nghĩa vụ phải đảm bảo cho người kế thừa nghĩa vụ đó có khả năng thực hiện nghĩa vụ Khi người có quyền đồng
ý, việc chuyển giao mới có thể được thực hiện Người chuyển giao nghĩa vụ không cần thông báo cho người có quyền
Hiệu lực của biện pháp bảo đảm: Đối với chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận, nếu nghĩa vụ thực hiện có biện pháp bảo đảm được chuyển giao thì biện pháp bảo đảm đó đương nhiên chấm dứt (trừ trường hợp các bên không có thỏa thuận khác)
Câu 2: Thông tin nào của bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tú.
Trả lời:
Đoạn trong bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bà
Tú là: “Theo các biên nhận tiền do phía bà Tú cung cấp thì chính bà Phượng là người trực tiếp nhận tiền của bà Tú vào năm 2003 với tổng
số tiền 555.000.000đ và theo biên nhận ngày 27/4/2004 thì thể hiện bà Phượng nhận của bà Lê Thị Nhan số tiền 615.000.000đ Phía bà Phượng không cung cấp được chứng cứ xác định bà Ngọc thoả thuận vay tiền với bà Tú Ngoài ra, cũng theo lời khai của bà Phượng thì vào tháng 4 năm 2004, do phía bà Loan, ông Thạnh và bà Ngọc không có tiền trả cho bà Tú để trả vốn vay Ngân hàng nên bà đã cùng với bà Tú vay nóng bên ngoài để có tiền trả cho Ngân hàng Xác định bà Phượng
là người xác lập quan hệ vay tiền với bà Tú4”
Câu 3: Đoạn nào của bản án cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã được chuyển sang cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh?
4 Bản án số 148/2007/DSST ngày 26/9/2007 của Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.
11