Nghĩa là chỉ khi người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt cần một người tham gia tố tụng khác với tư cách người phiên dịch thì thì đương sự có thể lựa chọn một trong hai cách
Trang 1BÀI THẢO LUẬN TUẦN 1.
*Quy ước:
- Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015: BLTTDS 2015
- Cơ sở pháp lý: CSPL
Phần 1 NHẬN ĐỊNH
1 Hội thẩm nhân dân tham gia tất cả các phiên tòa dân sự sơ thẩm.
Nhận định sai
Theo quy định tại khoản 1 Điều 11 BLTTDS 2015 thì: Việc xét xử sơ thẩm vụ
án dân sự có Hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn Nói cách khác, Hội thẩm nhân dân không tham gia xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn được quy định theo Điều 65 BLTTDS 2015 đồng thời Hội thẩm nhân dân không tham gia vào hội đông xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm tái thẩm vụ án dân sự và các vụ việc dân sự
CSPL: Điều 11, Điều 64, Điều 65, Điều 66, Điều 67 BLTTDS 2015
2 Người phiên dịch là người có khả năng dịch từ ngôn ngữ khác sang Tiếng Việt và ngược lại.
Nhận định sai
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 81 BLTTDS 2015: “Người phiên dịch là người
có khả năng dịch từ một ngôn ngữ khác ra tiếng Việt và ngược lại trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt Nghĩa là chỉ khi người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt cần một người tham gia
tố tụng khác với tư cách người phiên dịch thì thì đương sự có thể lựa chọn một trong hai cách là tự thỏa thuận lựa chọn người phiên dịch và đề nghị Tòa án chấp nhận hoặc Tòa án có thể yêu cầu người phiên dịch tham gia tố tụng Một
Trang 2người có khả năng phiên dịch từ một ngôn ngữ khác sang tiếng Việt và ngược lại nhưng không tham gia tố tụng thì không được coi là người phiên dịch CSPL: Khoản 1 Điều 81 BLTTDS 2015
3 Mọi chủ thể đều có quyền khiếu nại, tố cáo.
Nhận định sai
Vì căn cứ theo Điều 25 đối với quyền khiếu nại thì cơ quan, tổ chức, cá nhân
có quyền khiếu nại đối với những hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tùng hoặc bất kì cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong hoạt tố tụng dân sự Tuy nhiên đối với tố cáo thì chỉ có cá nhân mới được quyền tố cáo Vì vậy, không phải mọi chủ thể đều có quyền khiếu nại, tố cáo
CSPL: Điều 25 BLTTDS2015
4 Thẩm phán tuyệt đối không được tham gia xét xử hai lần một vụ án.
Nhận định sai
Căn cứ Khoản 3 Điều 53 BLTTDS 2015 thì Thẩm phán không được tham gia xét xử hai lần một vụ án khi đáp ứng điều kiện: Thẩm phán đã tham gia giải quyết vụ án và đã ra bản án sơ thẩm, bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, quyết định giải quyết việc dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
Ngoài ra, trường hợp là thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao thì dù đã tham gia xét xử hai lần một vụ án và đã ra bản án, quyết định thì vẫn được tham gia giải quyết
vụ án đó theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vì quy định số lượng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối ca, Uỷ ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao ít nên Thẩm phán được quyền tham gia để đảm bảo số lượng thẩm phán
Trang 3CSPL: Khoản 3 Điều 53 BLTTDS 2015.
5 Viện kiểm sát phải tham gia tất cả các phiên toà, phiên họp dân sự.
Nhận định sai
Không phải phiên tòa, phiên hợp dân sự nào cũng có sự tham gia của Viện kiểm sát Đối với phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Viện kiểm sát phải tham gia song ở phiên tòa, phiên họp sơ thẩm Viện kiểm sát chỉ tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các vụ việc dân sự, phiên tòa sơ thẩm vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 BLTTDS 2015 Nếu không thuộc các trường hợp đã nêu thì Viện kiểm sát sẽ không tham gia
CSPL: Điều 21 BLTTDS 2015
Trang 4PHẦN 2 BÀI TẬP
1 Hãy xác định yêu cầu của chị V và yêu cầu của anh Jack trong vụ án trên?
Chị V và anh Jack cùng có yêu cầu dân sự đó là thuận tình ly hôn Theo đó: + Cả 2 đều yêu cầu được nuôi con chung tên Th và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con
+ Yêu cầu tòa án xác nhận việc thỏa thuận anh Jack được quyền quản lý, sử dụng nhà đất và toàn bộ máy vi tính của tiệm internet và hoàn lại chị V số tiền 150.000.000 đồng
2 Đại diện viện kiểm sát cùng cấp có nghĩa vụ tham gia phiên toà sơ thẩm không?
- Theo tình huống thì đây là tranh chấp về hôn nhân gia và gia đình mà cụ thể
là việc ly hôn tranh chấp về con nuôi giữa chị V và anh Jack, theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 BLTTDS 2015 đây là vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án
- Cháu Th sinh ngày 26/3/2013 tức tới thời điểm hiện tại (2020) cháu Th 7 tuổi,
Th là người chưa thành niên Tuy nhiên xét ở góc độ pháp luật, Luật Hôn nhân gia đình đã quy định rất rõ ràng về vấn đề quyền nuôi con sau khi ly hôn nên cháu Th không được coi là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ
án này mà tức không phải là đương sự Tuy nhiên cũng tại Khoản 2 Điều 21
BLTTDS 2015 quy định: “Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng ” Như vậy, nếu để giải quyết tranh chấp nêu trên mà tòa
phải tự mình thu thập chứng cứ thì phải có sự tham gia của Viện kiểm sát cùng cấp nhằm kiểm tra, giám sát hoạt động của Tòa án theo đúng pháp luật, ngược lại nếu chị Vy và anh Jack tự mình đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu cầu nuôi bé Th sau khi ly hôn thì Viện kiểm sát cùng cấp không tham gia phiên tòa
sơ thẩm
Trang 5- CSPL: Khoản 2 Điều 21 BLTTDS 2015.
3 Có bắt buộc phải có người phiên dịch tham gia tố tụng trong trường hợp trên không?
- Anh Jack là người có quốc tích Mỹ, theo quy định tại Điều 20 BLTTDS 2015,
“Người tham gia tố tụng dân sự có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, trường hợp này phải có người phiên dịch” Nếu khi tham gia tố tụng, anh Jack sử dụng ngôn ngữ ở Mỹ thì bắt buộc phải có người phiên dịch vì Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng dân sự là tiếng Việt
- Ngược lại, trường hợp anh Jack tuy có quốc tịch Mỹ, nhưng lại sử dụng thành thạo tiếng Việt thì không bắt buộc phải có người phiên dịch
- CSPL: Điều 21 BLTTDS 2015
Trang 6PHẦN 3 PHÂN TÍCH BẢN ÁN
- Tóm tắt bản án 366/2019/DS-PT:
Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất (QSDĐ) giữa T và Hồng Theo Biên bản họp gia đình cùng thồng nhất ký tên (có tham gia bà Hồng theo xác nhận UBND xã) thì cụ Oản chia tách cho Toản QSD 200m2 đất (diện tích đất có 1 phần thuộc thửa đất số 304 và 305 nhưng bà Hồng không cho sang tên Nguồn gốc thửa đất 304, 305 do dòng họ anh T để lại Sử dụng đất là do cụ cố và ba người con (cụ Oản, Kỹ, Vấu) quản lý Cụ cố, Kỹ đã chết, cụ Vấu (ông nội Toàn) lập gia đình sống nơi khác và cụ Oản quản lý hai thửa đất trên Cụ Oản được cấp Giấy chứng nhân quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) hai thửa đất trên Tuy nhiên, hai thửa đất thuộc quyền sở hữu chung của cụ Vấu và Oản nên hai thửa đất là tài sản thừa kế của ba Toản Bà Hồng (con cụ Oản) chiếm giữ toàn
bộ hai thửa đất và 200m2 anh Toàn được chia Toàn yêu cầu hòa giải để bà Hồng trả lại đất nhưng bà không thực hiện Cụ Oản kết hôn với bà Bé (đã mất không để di chúc) có con chung là bà Hồng và với cụ Chi (đã mất) có một con chung là bà Chi đã mất tích chưa được tuyên là đã chết Cụ Oản không thê tự quyết định hai thửa đất trên Bà đã tự ý thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa
kế khi đang có tranh chấp nên không được cấp GCNQSDĐ Toàn khởi kiện đề nghị xác định QSD 200m2 thuộc về T, buộc bà Hồng trả lại 200m2 Bà Hồng khai hai thủa đất đã được bán và cụ Oản và Vấu chia nhau rồi Oản mua lại mảnh đất nay là thửa 304, 305 nhưng không đủ chứng cứ Bà yêu cầu gia đình anh Toàn trả lại GCNQSDĐ và sổ hộ khẩu của cụ Oản đã đưa anh Toàn để anh
đi tách 200m2 Tòa án quyết định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện mà là Toàn được tặng cho QSDĐ nhưng biên bản không thỏa mãn về hình thức hợp đồng tặng cho QSDĐ
- Xác định vấn đề pháp lý liên quan.
+ Đây là vụ án tranh chấp QSDĐ phần diện tích 200m2 (hiện còn 180,7m2) thuộc thửa đất số 304, 305 giữa anh Toàn và bà Hồng Vấn đề pháp lý vụ án
Trang 7dân sự nêu trên là diện tích 200m2 (hiện còn 180,7m2) thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Toàn hay bà Hồng
+ Quyền quyết định cụ Oản đối với tài sản chung vợ chồng và tài sản thừa kế đối với con chung cụ Oản và cụ Bé, cụ Chi
+ Yêu cầu của bà Hồng tuyên bố bà Chi mất tích và Tòa án tuyên bố bà Chi đã chết
+ Hình thức và nội dung Biên bản họp gia đình
+ Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và thay đổi yêu cầu khởi kiện
Trong quá trình xét xử, Tòa sơ thẩm và phúc thẩm đều theo hướng không chấp nhận yêu cầu của phía bị đơn và cho rằng anh Toàn không phải là chủ sở hữu hợp pháp mảnh đất 200m2:
- Theo Biên bản họp gia đình ngày 20/5/2008 thì anh Toàn trình bày là biên bản này do cụ Phạm Oản, cụ Phạm Thị Cặn, bà Phạm Thị H và anh Phạm T cùng họp, cùng ký tên thống nhất chia tách cho cháu được toàn quyền sử dụng 200m2 (trong đó có 46m2 đất vườn) về phía giáp nhà bà Năm Nhưng bà Hồng không đồng ý và cho rằng thời điểm lập Biên bản họp gia đình cụ Phạm Oản đã
95 tuổi, nên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vì vậy không thể lập Biên bản họp gia đình theo nội dung trong biên bản, bà không tham gia và không ký vào Biên bản Tuy nhiên theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết luận của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an; cung cấp của UBND xã Đ Cấp sơ thẩm xác định chữ ký của bà Hồng trong Biên bản họp gia đình ngày 20/5/2008 là do bà Hồng ký là có căn cứ
- Theo lời khai của anh Toàn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đều khẳng định: Diện tích đất 200m2 (theo sơ đồ hiện trạng là 180,7m2 ) mà anh Phạm T được phân chia theo Biên bản họp gia đình ngày 20/5/2008 thuộc thửa đất số
304, 305 do cụ cố Xã và cụ cố Xiển để lại Tuy nhiên chưa có bất kỳ văn bản hoặc thỏa thuận phân chia khối di sản này cho cá nhân cụ Oản nên cụ Oản
Trang 8không phải là người đương nhiên hưởng thừa kế toàn bộ di sản của cụ cố Xã và
cụ cố Xiển để lại; do vậy cụ Oản không phải đương nhiên là chủ sử dụng toàn
bộ thửa đất số 304, 305 là di sản của cụ cố Xã và cụ cố Xiển để lại Như vậy cụ Oản không phải là chủ sử dụng toàn bộ thửa đất số 304, 305 do vậy cụ không
có quyền định đoạt khối di sản thừa kế chưa chia này
- Ngoài ra cụ Oản có kết hôn với cụ Bé thì kỷ phần của cụ Oản trong khối di sản thừa kế (nếu được chia) là tài sản chung vợ chồng với cụ Bé theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 , có nghĩa là kỷ phần của cụ Oản có phần của cụ Bé Cụ Bé chết không để lại di chúc Cụ Bé và cụ Oản có một người con chung là bà Hồng, bà Hồng và cụ Oản được hưởng thừa kế theo pháp luật di sản của cụ Bé
- Và sau khi cụ Bé chết, cụ Oản tiếp tục kết hôn với cụ Chỉ có người con chung
là bà Chi, cụ Chỉ chết, không để lại di chúc Cụ Chỉ và cụ Oản có một người con chung là bà Phạm Thị Chi Phần di sản của cụ Chỉ trong khối tài sản chung với cụ Oản do bà Chi và cụ Oản được hưởng thừa kế Tại thời điểm lập “Biên bản họp gia đình” ngày 20/5/2008, người thừa kế phần di sản của cụ Chỉ là bà Chi không tham gia và không ký vào Biên bản họp gia đình ngày 20/5/2008
Cụ Oản không được toàn quyền quyết định di sản do cụ Chỉ để lại
Căn cứ theo Điều 650 BLDS 2015 thì do khối tài sản này không có di chúc cũng như không có bất kỳ văn bản hoặc thỏa thuận phân chia khối di sản này cho cá nhân cụ Oản nên khối tài sản này sẽ được phân chia theo pháp luật, cụ Oản chỉ có quyền định đoạt đối với phần tài sản của mình
Và căn cứ theo Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết thì các vợ của ông Oản chết và không có di chúc nên ông Oản sẽ quản lý tài sản chung của vợ chồng
Và khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi
Trang 9Phần tài sản của vợ ông Oản chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế Do bà Chi với bà Hồng đều là người được hưởng thừa kế do mẹ mình
để lại nên ông Oản không có quyền quyết định chia cho anh Toàn được toàn quyền sử dụng 200m2
Trả lời câu hỏi:
1 Anh (chị) hiểu như thế nào là “thay đổi yêu cầu”, “thay đổi vượt quá yêu cầu”, “thay đổi trong phạm vi yêu cầu” Cho ví dụ minh họa.
- “Thay đổi yêu cầu” là việc đương sự đưa ra một yêu cầu khác với yêu cầu ban đầu của họ để Tòa án xem xét giải quyết trong cùng vụ án Việc thay đổi này không làm phát sinh thêm quan hệ pháp luật tranh chấp mà chỉ là thay đổi quan
hệ pháp luật tranh chấp này sang quan hệ pháp luật tranh chấp khác
+ Ví dụ: Theo đơn khởi kiện ban đầu nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại tài sản
đã mượn trước đó nhưng vì tài sản này không còn hoặc không còn giá trị sử dụng được nữa nên nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện là yêu cầu bị đơn trả lại giá trị của tài sản mà nguyên đơn cho bị đơn mượn
- “Thay đổi vượt quá yêu cầu” là khi người khởi kiện yêu cầu thêm, “lớn hơn”,
“rộng hơn” , “nhiều hơn” so với yêu cầu khởi kiện cụ thể từ ban đầu
+ Ví dụ: A khởi kiện B cho rằng B lấn chiếm của A 20m2 đất, trong quá trình giải quyết vụ án, A cho rằng B lấn chiếm diện tích lớn hơn nên thay đổi yêu cầu khởi kiện, đòi B phải trả lại diện tích 25m2
- “Thay đổi trong phạm vi yêu cầu” là việc đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập nhưng không làm phát sinh thêm quan hệ pháp luật tranh chấp khác ngoài một hoặc nhiều quan hệ pháp luật mà Tòa án đang xem xét giải quyết trong cùng một vụ án hoặc không làm tăng thêm giá trị tranh chấp trong cùng quan hệ pháp luật tranh chấp mà Tòa án đang xem xét giải quyết
Trang 10+ Ví dụ: A khởi kiện B yêu cầu trả 500 triệu mà A cho B mượn trong vòng 1 tháng Nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, vì nhận thấy B không thể xoay
xở kịp thời số tiền 500 triệu đồng trong vòng 1 tháng như yêu câu ban đầu nên
A thay đổi yêu cầu khởi kiện là yêu câu B hoàn trả số tiền 500 triệu đồng trong vòng 2 tháng kể từ ngày có quyết định của tòa án
2 Trường hợp nào thì chấp nhận hay không chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn?
- Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm chỉ được Hội đồng xét xử chấp nhận nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu được thể hiện trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn phản tố của bị đơn, đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Tuy nhiên quy định này chưa thể hiện rõ ràng cụ thể mốc thời điểm xe xét việc chấp nhân hoặc không chấp nhận việc thay đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Vì vậy căn cứ theo công văn số 01/2017/GĐ - TANDTC ngày
07/4/2017quy định: “Tòa án chấp nhận việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi, bổ sung được thực hiện trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Tại phiên họp và sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì Tòa án chỉ chấp nhận việc đương sự thay đổi yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu”.
Như vậy:
- Trường hợp nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện trước thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì sẽ được chấp nhận