1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài thảo luận số 04 TTDS thẩm quyền

12 160 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 27,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 thì nếu các đương sự tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn giải quyết và căn cứ Điểm c, d Kh

Trang 1

GOOK LUCKY!

NỘI DUNG BÀI THẢO LUẬN TUẦN 4.

*Quy ước:

- Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015: BLTTDS 2015

- Cơ sở pháp lý: CSPL

PHẦN 1 NHẬN ĐỊNH

Câu 1: Trong mọi trường hợp, nếu mọi tranh chấp không liên quan đến bất động sản đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc.

Nhận định sai

Vì căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 thì nếu các đương sự tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn giải quyết và căn

cứ Điểm c, d Khoản 1 Điều 40 BLTTDS 2015 thì vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết hoặc nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết

Vậy tranh chấp không liên quan đến bất động sản cũng có thể thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc hoặc nơi khác chứ không phải đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc

CSPL: Điều 39, Điều 40 BLTTDS 2015

Câu 2: Các tranh chấp về quốc tịch đều thuộc thẩm quyền giải quyết về dân sự của Tòa

án nhân dân

Nhận định sai

Vì theo quy định tại Khoản 1 Điều 26 BLTTDS 2015 thì tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân về quốc tịch là tranh chấp về quốc tịch của Việt Nam và chỉ giữa cá nhân với cá nhân mà thôi Như vậy, nếu là tranh chấp về quốc tịch mà

Trang 2

không phải là quốc tịch Việt Nam hoặc tuy là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam nhưng không phải giữa các cá nhân với nhau mà là giữa cá nhân với cơ quan, tổ chức hay giữa

cơ quan, tổ chức với nhau thì đều không thuộc thẩm quyền giải quyết về dân sự của Tòa

án nhân dân Vậy không phải mọi tranh chấp về quốc tịch đều thuộc thẩm quyền giải quyết về dân sự của Tòa án nhân dân

CSPL: Khoản 1 Điều 26 BLTTDS 2015

Câu 3 Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án cấp huyện luôn do Chánh án Tòa

án nhân dân cấp tỉnh giải quyết.

Nhận định sai

Vì tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án nhân dân cấp huyện trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết Còn đối với tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án nhân dân cấp huyện mà thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác nhau thuộc thẩm quyền giải quyết theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp cao thì do Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao giải quyết Đối với tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác nhau thuộc thẩm quyền giải quyết theo lãnh thổ của các Tòa án nhân dân cấp cao khác nhau thì do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giải quyết

Như vậy không phải tranh chấp về thẩm quyền giữa các tòa án cấp huyện luôn do Chánh

án tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết , mà còn do Chánh án Tòa án nhân dân cấp và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giải quyết

CSPL: Khoản 2, 3, 4 Điều 41 BLTTDS 2015

Câu 4: Trong mọi trường hợp, Tòa án có quyền giải quyết tranh chấp vụ kiện ly hôn đều thuộc thẩm quyền nơi cư trú; làm việc của bị đơn.

Nhận định sai

Căn cứ theo Điểm a Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 thì Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tranh chấp về hôn nhân và gia đình

Trang 3

Tuy nhiên, theo Điểm b khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 thì các đương sự có quyền tự

thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn để

giải quyết tranh chấp vụ kiện ly hôn Ngoài ra, theo Điểm c Khoản 1 Điều 40 BLTTDS

2015 thì nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết

Như vậy, Tòa án nơi cư trú làm việc của nguyên đơn cũng có thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp vụ kiện ly hôn, chứ không phải mọi trường hợp Tòa án có quyền giải quyết tranh chấp vụ kiện ly hôn đều thuộc thẩm quyền nơi cư trú; làm việc của bị đơn CSPL: Điều 39, Điều 40 BLTTDS 2015

Câu 5: Việc nhập hoặc tách vụ án có thể diễn ra trước khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ

án dân sự.

Nhận định đúng

Hiện nay, BLTTDS 2015 cũng không có quy định cụ thể là Tòa án được quyền nhập hoặc tách vụ án dân sự khi nào

Tuy nhiên có quan điểm cho rằng, Tòa án chỉ được quyền tách vụ án dân sự trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử Vì thẩm quyền riêng biệt nhập hoặc tách vụ án dân sự là của Chánh án Nhưng cũng có quan điểm cho rằng, tại phiên tòa có căn cứ để tách một yêu cầu trong vụ án ra giải quyết thành một vụ án khác, nếu yêu cầu này chưa đảm bảo về mặt chứng cứ để có thể xét xử thì Hội đồng xét xử, cũng có quyền quyết định tách vụ án dân sự Do đó, thời điểm quyết định tách vụ án dân sự là trước khi có quyết định đưa vụ

án ra xét xử hoặc tại phiên tòa

Căn cứ theo Điều 42 BLTTDS thì việc nhập hoặc tách vụ án để giải quyết phải bảo đảm đúng pháp luật và khi nhập hoặc tách vụ án quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, Tòa án đã thụ lý vụ án phải ra quyết định và gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương

sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan Không có quy định về thời điểm nhập hoặc tách vụ án có thể diễn ra trước khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án dân sự

Như vậy, việc nhập hoặc tách vụ án có thể diễn ra trước khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án dân sự nhưng phải bảo đảm việc giải quyết vụ án đúng pháp luật

Trang 4

II BÀI TẬP

Bài tập 1: Công ty TNHH Long Hải ra quyết định sa thải chị Trần Thị L (nhân viên kế

toán) với lý do chị tự ý nghỉ việc 5 ngày liên tiếp trong một tháng không lý do chính đáng

và sa thải anh Trần Thành T (nhân viên bảo vệ) với lý do anh T đã tự ý bỏ trực một đêm dẫn đến Công ty bị trộm 10 tỷ đồng

Ngày 12/04/2019, chị L làm đơn khởi kiện Công ty đến Tòa án quận 2 với yêu cầu: Công

ty phải thu hồi, hủy bỏ quyết định sa thải, nhận chị trở lại làm việc, xin lỗi công khai đối với chị, trả đầy đủ lương và phụ cấp trong thời gian chị nghỉ việc theo quyết định sa thải Ngày 15/05/2019, anh T làm đơn khởi kiện đến Tòa án quận 2 với yêu cầu giống như chị

L Chị L và anh T đều nêu trong đơn khởi kiện là đã điện thoại xin phép Trưởng phòng nhân sự cho nghỉ phép, được Trưởng phòng nhân sự đồng ý Hỏi:

1 Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp.

- Chị L làm đơn khởi kiện Công ty với yêu cầu: Công ty phải thu hồi, hủy bỏ quyết định

sa thải, nhận chị trở lại làm việc, xin lỗi công khai đối với chị, trả đầy đủ lương và phụ cấp trong thời gian chị nghỉ việc theo quyết định sa thải Ngày 15/05/2019, anh T làm đơn khởi kiện với yêu cầu giống như chị L

- Chị L và anh T là người lao động, Công ty TNHH Long Hải là người sử dụng lao động Chị L và anh T khởi kiện công ty vì công ty sa thải chị L và anh T trái quy định, tức xâm phạm tới quyền và lợi ích của chị L và anh T

=> Vì vậy theo Khoản 7 Điều 3 Bộ luật lao động 2012: ” Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động” Quan

Trang 5

hệ pháp luật tranh chấp nêu trên là tranh chấp lao động cụ thể là tranh chấp lao động về kỉ luật lao động theo hình thức sa thải

2 Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trên.

- Thẩm quyền theo vụ việc: Chị L, anh T khởi kiện Công ty yêu cầu Công ty thu hồi, hủy

bỏ quyết định sa thải và những vấn đề liên quan Đây là tranh chấp giữa cá nhân người lao động là chị L, anh T với người sử dụng lao động là Công ty TNHH Long Hải về quyết định xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải

Theo Điểm a Khoản 1 Điều 32 BLTTDS 2015 thì đây là tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án

- Thẩm quyền theo cấp Tòa án: Theo Điểm c Khoản 1 Điều 35 BLTTDS thì thuộc thẩm quyền TAND cấp huyện

- Thẩm quyền theo lãnh thổ và sự lựa chọn: Theo Điểm b Khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi có trụ sở của nguyên đơn là Công ty Long Hải giải quyết

Theo Điểm a Khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc là TAND

có thẩm quyền giải quyết

=> Vậy nếu TAND Quận 2 là Tòa án cấp huyện nơi có trụ sở của nguyên đơn hoặc Tòa án cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc thì TAND Quận 2 có thểm quyền giải quyết

3 Tòa án thụ lý có được quyền nhập 02 vụ án nêu trên thành 01 vụ án để xét xử không? Tại sao?

Tòa án thụ lý có quyền nhập 02 vụ án thành 01 vụ án để xét xử chỉ cần thực hiện đúng PL

và đáp ứng các điều kiện:

- Đây là hai vụ án độc lập: Chị L và anh T độc lập khởi kiện Công ty Long Hải

- Đảm bảo phạm vi khởi kiện: Chị L và anh T cùng khởi kiện Công ty Long Hải Cùng quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về lao động cụ thể là giữa chị L, anh T với Công ty TNHH Long Hải về quyết định xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải

- Không ảnh hưởng kết quả giải quyết vụ án: Chị L và anh T cùng yêu cầu khởi kiện, cùng đối tượng khởi kiện và cùng vấn đề tranh chấp, cả hai cũng nói là khi nghỉ đã có thông báo cho Trưởng phòng Cônc ty nên việc nhập vụ án có thể giúp giải quyết vu án của chị L

và anh N nhanh hơn và chính xác hơn

Trang 6

=> Tòa án có quyền quyết định nhập hai vụ án trên nếu thấy các điều kiện thỏa mãn đúng pháp luật Khi nhập vụ án Tòa án đã thụ lý vụ án phải ra quyết định và gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, chị L, anh T và Công ty Long Hải

Bài tập 2: Anh T (cư trú quận 5 TP Hồ Chí Minh) khởi kiện yêu cầu bà N (cư trú TP.

Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) bồi thường cho anh số tiền 50 triệu đồng do cháu M 14 tuổi là con của bà N chạy xe gắn máy va chạm giao thông làm anh T bị tai nạn phải điều trị tại bệnh viện và hư hỏng xe gắn máy Tại thời điểm anh T nộp đơn khởi kiện bà N đang công tác tại Nhật Bản Hỏi:

1 Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp.

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 584 BLDS 2015 căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”

Do cháu M chạy xe gắn máy va chạm giao thông làm anh T bị tai nạn phải điều trị tại bệnh viện và hư hỏng xe gắn máy Hành vi này đã xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng và gây thiệt hại tài sản cho anh T nên anh T khởi kiện bà N là mẹ của cháu M yêu cầu bồi thường

=> Căn cứ theo Khoản 6 Điều 26 BLTTDS 2015 đây là quan hệ pháp luật tranh chấp là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND

2 Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trên.

- Căn cứ Khoản 2 Điều 68 BLTTDS 2015 thì nguyên đơn là anh T, là người khởi kiện yêu

cầu BTTH vì cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm

Căn cứ Khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015 thì bị đơn là bà N, là người bị anh T khởi kiện

- Thẩm quyền theo vụ việc: Đây là tranh chấp chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Khoản 6 Điều 26 BLTTDS 2015 thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết

- Thẩm quyền theo cấp Tòa án: Theo Điểm b Khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP thì đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở nước ngoài có mặt hoặc không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự là đương

Trang 7

sự ở nước ngoài Vậy nếu bị đơn là bà N đang công tác ở Nhật Bản vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ án thì dù bà có mặt hoặc không có mặt tại Việt Nam cũng xác định bà là đương

sự ở nước ngoài

Căn cứ theo Điểm a Khoản 1, Khoản 3 Điều 35, Điểm c Khoản 1 Điều 37 BLTTDS 2015 thì tranh chấp dân sự có đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh

- Thẩm quyền theo lãnh thổ và lựa chọn:

Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 thì anh T và bà N có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú của nguyên đơn là anh T là Tòa án Nhân dân Tp HCM giải quyết

Căn cứ theo Điểm a Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 thì có thể khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn là bà N cư trú là Tòa án Nhân dân tỉnh Đồng Nai

Căn cứ theo Điểm d Khoản 1 Điều 40 BLTTDS 2015 thì anh T có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú là Tòa án Nhân dân Tp HCM giải quyết

=> Như vậy, Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án Nhân dân cấp tỉnh nơi nguyên đơn cư trú là Tòa án nhân dân Tp HCM hoặc Tòa án Nhân dân cấp tỉnh nơi bị đơn cư trú là Tòa án Nhân dân tỉnh Đồng Nai

3 Giả sử trong quá trình giải quyết vụ án, bà N về Việt Nam sinh sống, thẩm quyền của Tòa án có thay đổi không? Tại sao?

Giả sử trong quá trình giải quyết vụ án, bà N về Việt Nam sinh sống thì thẩm quyền của Tòa án thay đổi

Qúa trình giải quyết vụ án là Tòa án đã thụ lý đơn, bà N là người VN về VN sinh sống thì

có mặt ở VN nên bà N không còn là đương sự ở nước ngoài

Theo Điểm a Khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015 thì tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết TAND cấp huyện

Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 thì anh T và bà N có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú của nguyên đơn là Tòa án Nhân dân Quận 5 Tp HCM giải quyết

Căn cứ theo Điểm a Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 thì có thể khởi kiện tại tòa án nơi bị đơn cư trú là Tòa án Nhân dân TP Biên Hòa tỉnh Đồng Nai

Trang 8

Căn cứ theo Điểm d Khoản 1 Điều 40 BLTTDS 2015 thì anh T có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú là Tòa án Nhân dân Quận 5 Tp HCM giải quyết

=> Như vậy, Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án Nhân dân cấp huyện nơi nguyên đơn cư trú là Tòa án nhân dân Quận 5 Tp HCM hoặc Tòa án Nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú là Tòa án Nhân dân TP Biên Hòa tỉnh Đồng Nai

Vậy thẩm quyển Tòa án thay đổi là TAND cấp huyện có thẩm quyền

III PHÂN TÍCH ÁN

* Tóm tắt tình huống:

- Nguyên đơn: Công ty A

Đia chi: Đường D, phường E, quận F, thành phố Hải Phòng

-Bị đơn:

1 Công ty B

Đia chi: đường G, quận H, thành phố Hồ Chí Minh

2 Ngân hàng C

Địa chỉ: Phố M, phường N, Quận P, thành phố Hà Nội

- Người kháng cáo:

1 Công ty B - Bị đơn;

2 Ngân hàng C - Bị đơn

Nội dung vụ án: Ngày 12/4/2016, Công ty A đã ký kết Hợp đồng thương mại số

1016/KNV- CLVN/2016 với Công ty B (bị đơn) với nội dung : Công ty A đồng ý mua của Công ty B số lượng 3.000 tấn phân bón Urea hạt trong, đóng bao, có xuất xứ từ Liên Bang Nga với tổng trị giá hợp đồng là 15.300.000.000 đồng Địa điểm giao hàng tại Cảng Hải Phòng Thực hiện hợp đồng đã ký, ngày 12/04/2016 Công ty A đã chuyển số tiền 3.060.000.000 VND tại Ngân hàng C theo chứng từ để đóng tiền ký quỹ/tạm ứng theo nội dung hợp đồng

Ngày 09/5/2016, Công ty B không có hàng giao theo nội dung hợp đồng nên Công ty A

Trang 9

đã có Công văn gửi Ngân hàng C Chi nhánh BD hoàn trả số tiền tạm ứng nêu trên nhưng Ngân hàng từ chối Ngày 24/02/2017, tại phiên hoà giải Công ty A thay đổi yêu cầu khởi kiện: Buộc Ngân hàng C - Chi nhánh BD phải hoàn trả nguyên đơn số tiền ứng trước còn thiếu và buộc Công ty B phải trả cho nguyên đơn số tiền phạt vi phạm hợp đồng và tiền lãi của số tiền phạt vi phạm hợp đồng theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường

Công ty B cho rằng Công ty không vi phạm hợp đồng vì ngày 15/4/2016 Công ty A mới gửi tiền tạm ứng vào tài khoản của bị đơn nhưng thời hạn cuối giao hàng phải là ngày 27/5/2016, ngày 9/5/2016 Công ty A đã có công văn gửi Ngân hàng C để hoàn trả tiền tạm ứng là một hình thức đơn phương chấm dứt hợp đồng Tuy nhiên Công ty B cùng với Công ty A thống nhất thanh lý hợp đồng, Công ty B cam kết trả Công ty A số tiền tạm ứng

ký quỹ sau khi đã trừ đi 76 triệu đồng tiền môi giới thuê tàu và các bên đã thoả thuận về phương thức thanh toán Sau đó Công ty B đã thanh toán trả cho Công ty A được 1.450.000.000 đồng Ngân hàng C cho rằng đã phát hành bảo lãnh đúng theo quy định của pháp luật, còn không hoàn trả tiền cho Công ty A với lý do ngân hàng không nhận được bản gốc trong thời hạn có hiệu lực của chứng thư bảo lãnh

Công ty A và Công ty B thỏa thuận khi phát sinh tranh chấp thì Tòa án kinh tế hải Phòng giải quyết Sau đó, Công ty A đã thay đổi là Tòa án Quận Ngô Quyền TP Hải Phòng có thẩm quyền giải quyết

* Xác định vấn đề pháp lý có liên quan:

- Thoả thuận giữa bên A và B trong vấn đề lựa chọn toà án giải quyết tranh chấp khi có tranh chấp xảy ra tại hợp đồng số 1016/KNV-CLVN/2016

- Quan hệ tranh pháp luật tranh chấp giữa các bên

- Vấn đề thay đổi toà án giải quyết tranh chấp giữa các bên

- Việc bảo lãnh trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá

* Trả lời câu hỏi tình huống:

Câu 1: Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp?

Theo Điều 3 Luật thương mại 2005: Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.

Trang 10

Tranh chấp kinh doanh, thương mại là những xung đột chủ yếu về quyền và nghĩa vụ liên quan đến lợi ích kinh tế phát sinh giữa các thương nhân trong hoạt động kinh doanh, thương mại

Tranh chấp trên là tranh chấp về Hợp đồng mua bán hàng hóa và bảo lãnh hoàn trả tiền tam ứng trước giữa nguyên đơn là Công ty A, bị đơn là Công ty B và Ngân hàng thương mại C

Vậy quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp kinh doanh, thương mại

Câu 2: Trong hợp đồng mua bán hàng hoá số 1016/KNV-CLVN/2016, hai bên có thoả thuận chọn Toà án giải quyết tranh chấp không? Toà án nào?

Trong hợp đồng mua bán hàng hoá số 1016/KNV-CLVN/2016 hai bên đã có thỏa thuận lựa chọn toà án giải quyết tranh chấp

“Hai bên thống nhất trong Hợp đồng nếu xảy ra tranh chấp sẽ giải quyết tại Tòa án kinh tế Hải Phòng.”

Câu 3: Tại sao Tòa án thụ lý giải quyết không phải là Tòa án được hai bên ban đầu thỏa thuận lựa chọn trong Hợp đồng?

- Hợp đồng 2 bên thống nhất “Nếu xảy ra tranh chấp sẽ giải quyết tại Tòa án kinh tế Hải Phòng” Nhưng tòa án thụ lý giải quyết là Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền thành phố

Hải Phòng

Tuy nhiên, theo Điểm b Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 thì các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi có trụ sở của nguyên đơn giải quyết những tranh chấp Nhưng Tòa án kinh tế Hải Phòng không phải Tòa án nơi có trụ sở của nguyên đơn nên hai bên ban đầu thỏa thuận lựa chọn tòa án này là không phù hợp

- Tranh chấp trên được giải quyết tại Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền vì nguyên đơn lựa chọn Tòa án Quận Ngô Quyền, TP Hải Phòng để giải quyết tranh chấp là phù hợp quy định pháp luật tại Điểm g Khoản 1 Điều 40 BLTTDS

Đây là tranh chấp về kinh doanh thương mại cụ thể là tranh chấp phát sinh trong hoạt động mua bán hàng hóa giữa nguyên đơn là Công ty A, bị đơn là Công ty B và Ngân hàng

C Theo Khoản 1 Điêu 30 BLTTHS, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa

án và theo Điểm b Khoản 1 Điêu 35, tranh chấp kinh doanh, thương mại trên thuộc thẩm

Ngày đăng: 15/11/2020, 16:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w