Theo Khoản 4 Điều 30 BLTTHS thì tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải
Trang 1NỘI DUNG BÀI THẢO LUẬN TUẦN 3.
*Quy ước:
- Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015: BLTTDS 2015
- Cơ sở pháp lý: CSPL
PHẦN 1 NHẬN ĐỊNH
Câu 1: Vụ lao động có đương sự ở nước ngoài luôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa cấp tỉnh.
Nhận định sai
Vì tại thời điểm thụ lý vụ án mà đương sự ở nước ngoài có mặt ở Việt Nam thì vụ án lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện, còn tại thời điểm thụ lý
vụ án mà đương sự ở nước ngoài không có mặt ở Việt Nam thì thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp tỉnh
CSPL: Khoản 1 Điều 7 NQ 03/2012/NQ- HĐTP
Câu 2: Không phải mọi tranh chấp giữa các thành viên công ty, giữa thành viên công ty với công ty với nhau đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục TTDS.
Nhận định đúng
Theo Khoản 4 Điều 30 BLTTHS thì tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty mới thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục TTDS Tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục TTDS Còn tranh chấp giữa các thành viên công ty mà không liên quan đến những vấn đề quy định thì không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục TTDS
CSPL: Điều 30 BLTTDS 2015
Câu 3: Tòa án chỉ giải quyết việc xác định cha mẹ cho con hoặc xác định con cho cha mẹ khi có tranh chấp.
Nhận định sai
Trang 2Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bên cạnh thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về hôn nhân và gia đình cụ thể việc xác định cha mẹ cho con hoặc xác định con cho cha mẹ được quy định tại Khoản 4 Điều 28 BLTTDS 2015 thì Toà án cũng có quyền giải quyết những yêu cầu (không có tranh chấp) về hôn nhân và gia đình Theo quy định tại Khoản 10 Điều 29 BLTTDS 2015 thì yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
Như vậy, Toà án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ khi có tranh chấp hoặc không có tranh chấp
CSPL: Điều 28, 29 BLTTDS 2015
Câu 4: Trong mọi trường hợp, nguyên đơn chỉ có thể yêu cầu tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết tranh chấp khi đương sự đã có thỏa thuận với nhau bằng văn bản
Nhận định sai
Vì ngoài đã có thỏa thuận thì còn có trường hợp sau nguyên đơn có thể yêu cầu tóa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết tranh chấp như:
Trường hợp bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp cấp dưỡng
Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
CSPL: Điểm c, d Khoản 1 Điều 40 BLTTDS 2015
Câu 5: Tòa án nơi bị đơn cư trú là Tòa án nơi bị đơn có hộ khẩu thường trú.
Nhận định sai
Theo quy định tại Khoản 1, 2 Điều 40 BLDS 2015 về Nơi cư trú của cá nhân thì Nơi
cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó đang sinh sống.
Theo quy định trên thì nơi cư trú của bị đơn có thể là nơi bị đơn có hộ khẩu thường trú hoặc là nơi bị đơn đăng kí tạm trú Như vậy, Toà án nơi bị đơn cư trú không chỉ là Toà
án nơi bị đơn có hộ khẩu thường trú, mà có thể là Toà án nơi bị đơn đăng ký tạm trú CSPL: Điều 40 BLDS 2015
Trang 3PHẦN 2 BÀI TẬP
Bài tập: Ngày 08/3/2012, ông Du Văn Đ (Cư trú tại 2 BAB, E, V3057, Australia) và
Ông Trịnh Quốc P (Cư trú tại đường 19E, khu phố 2, phường B, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chi Minh) có ký Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số 06575 tại Phòng Công Chứng số 2 đối với nhà đất 926 (trệt) Đường Tr1, Phường 7, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, giá chuyển nhượng là 14.500.000.000 đồng Ông đã nhận 10.500.000.000 đồng và đã giao toàn bộ giấy tờ cho ông Ph, số tiền 4.000.000.000 đồng còn lại ông Ph sẽ giao sau khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng theo quy định Ông Ph đã được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Quận 5 cập nhật sang tên đối với nhà đất trên vào ngày 14/3/2012 nhưng đến nay vẫn không chịu trả cho ông Đ số tiền 4.000.000.000 đồng Nay ông Đ khởi kiện ông Ph yêu cầu ông
Ph trả lại cho ông Đ số tiền 4.000.000.000 đồng còn lại và tiền lãi đối với số tiền trên theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng tính từ ngày 14/3/2012 đến khi xét xử sơ thẩm
1 Xác định tư cách đương sự.
Căn cứ Khoản 2 Điều 68 BLTTDS 2015:
- Nguyên đơn: Ông Du Văn Đ, cư trú tại 2 BAB, E, V3057, Australia - là người khởi kiện vì cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm
- Bị đơn: Ông Trịnh Quốc P, cư trú tại đường 19E, khu phố 2, phường B, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chi Minh – bị ông Đ khởi kiện
2 Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp.
Ông Du Văn Đ và Ông Trịnh Quốc Ph có ký Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số 06575 tại Phòng công Cứng số 2 đối với nhà đất 926 (trệtgiá chuyển nhượng là 14.500.000.000 đồng
Ông Đ đã nhận 10.500.000.000 đồng và đã giao toàn bộ giấy tờ cho ông Ph Ông Ph
đã được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Quận 5 cập nhật sang tên đối với nhà đất trên nhưng đến nay vẫn không chịu trả cho ông Đ số tiền 4.000.000.000 đồng
Ông Ph khởi kện yêu cầu ông Ph trả lại cho ông Đ số tiền 4.000.000.000 đồng còn lại
và tiền lãi đối với số tiền trên theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng tính từ ngày 14/3/2012 đến khi xét xử sơ thẩm
=> Vì vậy, căn cứ theo Khoản 3 Điều 26 BLTTDS 2015 ông Ph và ông Đ có tranh chấp về dân sự, cụ thể là Hợp đồng dân sự về mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền
sử dụng đất về Điều khoản liên quan đến nghĩa vụ thanh toán (của ông Ph) theo như đã
Trang 43 Xác định tòa án có thẩm quyền.
- Tranh chấp giữa ông Đ và ông P là tranh chấp về hợp đồng dân sự Theo Khoản 3 Điều 26 BLTTDS 2015 đây là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
- Thẩm quyền theo cấp tòa án: Ông Đ cư trú tại Austrailia, tức đây là tranh chấp có đương sự ở nước ngoài, theo Khoản 3 Điều 35 tranh chấp về hợp đồng dân sự có đương sự ở nước ngoài không thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp huyện Cũng tại Điểm c Khoản 1 Điều 37 BLTTHS, đối với tranh chấp có đương sự ở nước ngoài tại Khoản 3 Điều 35 thì tranh chấp đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh Vậy tranh chấp gữ ông Đ và P thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
CSPL: Khoản 3 Điều 26, Khoản 3 Điều 35, Điều 37 BLTTDS 2015
- Thẩm quyền theo lãnh thổ và sự lựa chọn:
Tòa án nơi ông P cư trú là Tòa án quận Bình Thạnh, TPHCM: Điểm a Khoản 1 Điều
39 BLTTDS 2015
Tòa án Quận 5, TPHCM – nơi thực hiện Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Điểm g Khoản 1 Điều 40 BLTTDS
Trang 5III BẢN ÁN.
* Tóm tắt tình huống:
Nguyên đơn: Ông Trần Minh Hoàng- Đại diện Hộ Kinh doanh Cơ sở Hoa kiểng Bảy
Hương có địa chỉ ở Thuận An, Bình Dương
Bị đơn: Công ty Cổ phần Tập đoàn Khang Thông, có địa chỉ ở Quận 1, Tp Hồ Chí
Minh Người đại diện theo ủy quyền là ông Võ Văn Tú
Người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Ngọc Luận và ông Nguyễn Vũ Lâm.
Nội dung:
Nguyên đơn và bị đơn có ký kết các hợp đồng số 29,41 và 46 về việc mua bán cây ăn trái, cây kiểng và cây cảnh quan
Nguyên đơn đã thực hiện theo hợp đồng 29 là 2.510.000.000 đồng, Bị đơn đã thanh toán 1.000.000.000 đồng, còn nợ 1.510.000.000 đồng theo biên bản thanh lý hợp đồng mua cây số 29/TLHĐMC.2011 ngày 30/3/2011
Nguyên đơn đã thực hiện theo hợp đồng 41 là 4.298.000.000 đồng, Bị đơn đã thanh toán 500.000.000 đồng, còn nợ 3.751.000.000 đồng theo biên bản thanh lý số 41/TLHĐMC.2011 ngày 02/6/2011
Nguyên đơn đã thực hiện theo hợp đồng 46 là 4.770.000.000 đồng, Bị đơn chưa thanh toán, còn nợ 4.770.000.000 đồng theo biên bản nghiệm thu ngày 09/4/2012 và 810.000.000 đồng theo biên bản nghiệm thu ngày 06/5/2013 Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ của 3 hợp đồng trên trong đó có 810 triệu giá trị
89 cây Giáng Hương đạt tăng thêm của hợp đồng 46 và yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán với số tiền trên từ thời điểm nộp đơn kiện đến ngày vụ án đưa ra xét xử, sau đó nguyên đơn rút yêu cầu này Bị đơn yêu cầu Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án do đã hết thời hiệu khởi kiện Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thống nhất với yêu cầu của nguyên đơn
Quyết định của HĐXX: Coi đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận Hợp đồng 29 và 41 đã được các bên thực hiện xong và không tranh chấp về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tại các điều khoản của các hợp đồng này nên Hội
Trang 6cây còn sống là 441 cây có giá trị 3 tỷ 969 triệu đồng, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn về việc yêu cầu Bị đơn trả số tiền: 810.000.000 đồng là giá trị của
89 cây đạt (còn sống) tăng thêm theo biên bản nghiệm thu ngày 06/5/2013 đối với hợp đồng 46 Do đó, TA quyết định chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 9 tỷ 230 triệu đồng của các hợp đồng số 29, 41 và 46, chậm trả theo yêu cầu nguyên đơn thì bị đơn sẽ phải chịu thêm lãi chậm trả Đình chỉ xét xử với yêu cầu cầu lãi do chậm thanh toán mà nguyên đơn đã rút yêu cầu
* Xác định vấn đề pháp lý:
- Mâu thuẫn giữa biên bản nghiệm thu 1000 câu theo hợp đồng số 46 và tính xác thực của hợp đồng
- Quan hệ pháp luật tranh chấp
- Thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện
-Thời hiệu khởi kiện vụ án
Câu 1: Hoạt động mua bán giữa hai bên chịu sự điều chỉnh của văn bản quy phạm pháp luật nào?
Hoạt động mua bán giữa hai bên chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại vì:
+ Hoạt động thương mại: mua bán hàng hóa thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam
+ Được thực hiện giữa các thương nhân (tổ chức đăng ký kinh doanh): Hộ Kinh doanh
Cơ sở Hoa kiểng Bảy Hương và Công ty Cổ phần Tập đoàn Khang Thông
+ Có mục đích lợi nhuận
CSPL: Điều 1, Điều 2, Điều 6 Luật Thương mại 2005
Câu 2 Việc các bên ký kết biên bản thanh lý hợp đồng có làm cho quan hệ hợp đồng chấm dứt không?
Biên bản thanh lý hợp đồng về bản chất là văn bản chấm dứt việc thực hiện thỏa thuận của hai bên đã được thể hiện trong hợp đồng
Trong biên bản này các bên cùng nhau xác định các quyền và nghĩa vụ nào đã thực hiện, các quyền và nghĩa vụ chưa được thực hiện Việc các bên ký vào biên bản thanh
lý này chính là kết thúc quan hệ hợp đồng được thanh lý nên quan hệ hợp đồng kinh tế
đó coi như đã được chấm dứt Riêng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên được xác nhận
Trang 7trong biên bản thanh lý vẫn có hiệu lực pháp luật cho đến khi các bên hoàn thành nghĩa vụ của mình
Câu 3: Phân biệt tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự, tranh chấp quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về hợp đồng kinh doanh thương mại?
Tiêu chí
Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự
Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản
Tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại
Cơ sở pháp lý Khoản 3 điều 26BLTTDS 2015. Khoản 2 điều 26BLTTDS 2015. Điều 30 BLTTDS 2015.
Loại tranh chấp Tranh chấp về
dân sự
Tranh chấp về dân sự
Tranh chấp về kinh doanh thương mại.
Chủ thể
Tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể của luật dân sự (cá nhân, pháp nhân) trong quan
hệ pháp luật dân sự (nhân thân và tài sản).
Tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể của luật dân sự (cá nhân, pháp nhân) trong quan
hệ pháp luật dân sự (nhân thân và tài sản).
Tranh chấp giữa các thương nhân có đăng ký kinh doanh trong hoạt động thương mại, đầu tư, kinh doanh hoặc giữa
cá nhân với thương nhân trong các hoạt động trên lựa chọn áp dụng luật thương mại, luật đầu tư.
Pháp luật điều
chỉnh
Pháp luật dân sự Pháp luật dân sự Luật Thương mại và các
luật chuyên ngành
Câu 4: Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên?
Yêu cầu cuối cùng của Nguyên đơn là: Nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện ban đầu, cụ thể:
+ Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn thanh toán số tiền là: 10.031.000.000 (Mười tỉ không trăm ba mươi mốt triệu) đồng là số tiền Bị đơn còn nợ theo các hợp đồng 29, 41 và 46
mà Nguyên đơn đã hoàn thành theo yêu cầu của Bị đơn
+ Đối với tiền lãi chậm trả, tạm tính là 1.655.115.000 đồng, Nguyên đơn xin rút lại không yêu cầu Bị đơn thực hiện nghĩa vụ này
=> Quan hệ pháp luật tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại về thanh toán nghĩa vụ theo hợp đồng (đòi lại tài sản) (CSPL: Khoản 1 Điều 30
Trang 8Câu 5: Trách nhiệm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp thuộc về chủ thể nào? Người khởi kiện hay Tòa án?
Trách nhiệm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp thuộc về Tòa án Bởi vì khi xác định đúng quan hệ pháp luật thì Tòa án sẽ xem xét vụ việc có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình không và xác định quyền hạn giữa các Tòa án Từ đó sẽ xem xét các điều kiện thụ lý vụ án
Câu 6: Trường hợp quan hệ pháp luật tranh chấp mà người khởi kiện xác định khác với quan hệ pháp luật tranh chấp do Tòa án xác định thì Tòa án sẽ giải quyết như thế nào?
Trường hợp quan hệ pháp luật tranh chấp mà người khởi kiện xác định khác với quan
hệ pháp luật tranh do Tòa án xác định thì Tòa án sẽ dựa vào quan hệ pháp luật tranh chấp do mình xem xét có thuộc thẩm quyền của mình không, nếu thuộc thì tòa án sẽ tiếp tục giải quyết; nếu không thẩm quyền của Tòa dân sự thuộc Tòa án thì sẽ chuyển cho Tòa chuyên trách có thẩm quyền giải quyết
Câu 7: Khi thời hiệu khởi kiện đã hết Tòa án có được quyền đình chỉ giải quyết
vụ án không? Tại sao?
Khi thời hiệu khởi kiện đã hết, tuy từng trường hợp Tòa án mới ra quyết định đình chỉ
vụ án
Trước hết, theo quy định tại khoản 2 Điều 184 BLTTDS 2015: “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với
điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc…”
Điểm e Khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015 quy định : “trường hợp Tòa án ra quyết
định đình chỉ vụ án dân sự khi đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa
án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết.
Với các quy định nêu trên, về cơ bản tất cả các vụ án đều còn thời hiệu khởi kiện nếu các đương sự không yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu tức nếu hết thời hiệu khởi kiện nhưng các bên không có yêu cầu tòa án áp dụng thì Tòa vẫn sẽ giải quyết vụ án bình thường Còn trong trường hợp có một hoặc các bên đương sự trong vụ án yêu cầu áp dụng thời hiệu thì nếu thời hiệu đã hết, Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án
Câu 8: Việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện có ảnh hưởng đến việc xác định thời hiệu khởi kiện hay không?
Trang 9Theo nhận định của Tòa án thì tranh chấp này không xác định thời hiệu khởi kiện:
“Căn cứ các quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; khoản 1 Điều 4 của Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử không áp dụng thời hiệu đối với tranh chấp này
=> Trong vụ án trên nguyên đơn đã thay đổi yêu cầu khởi kiện từ “Tranh chấp hợp đồng MBHH” sang khởi kiện “Tranh chấp đòi lại tài sản” và Tòa án nhận định quan hệ tranh chấp đòi lại tài sản không áp dụng thời hiệu khởi kiện, do đó việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện không ảnh hưởng đến thời hiệu khởi kiện
- Nếu nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu nhưng vẫn thuộc phạm vi khởi kiện ban đầu của vụ án, không phát sinh quan hệ mới thì không ảnh hường xác định thời hiệu khởi kiện
Nếu thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện làm phát sinh quan hệ tranh chấp, vấn đề pháp lý mới so với quan hệ khởi kiện ban đầu thì thời hiệu khởi kiện sẽ khác và sẽ ảnh hưởng đến việc xác định thời hiệu khởi kiện
=> Vì vậy, việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện có thể ảnh hưởng đến việc xác định thời hiệu khởi kiện