1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài thảo luận số 02 TTDS chủ thể

10 117 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 27,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó: • Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm; • Bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện; • Người có nghĩa vụ và quyền lợi

Trang 1

NỘI DUNG BÀI THẢO LUẬN TUẦN 2.

*Quy ước:

- Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015: BLTTDS 2015

- Cơ sở pháp lý: CSPL

Phần 1 NHẬN ĐỊNH.

Câu 1: Bị đơn là người gây thiệt hại cho nguyên đơn và bị nguyên đơn khởi kiện.

Nhận định sai

CSPL: Khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015

Vì bị đơn phải thỏa các điều kiện:

Họ có tranh chấp, bị nguyên đơn cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị

người đó xâm hại

• Bị khởi kiện

• Được Tòa án thụ lý

 Một người tuy chưa gây ra thiệt hại trên thực tế nhưng nguyên đơn có căn cứ cho rằng họ

đã xâm phạm tới lợi ích của mình và khởi kiện và phải được Tòa án thụ lý thì mới trở thành bị đơn

Câu 2 Tư cách tố tụng của đương sự có thể bị thay đổi tại phiên tòa sơ thẩm.

Nhận định đúng

CSPL: Điều 68, Điều 245 BLTTDS 2015

Căn cứ Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có quy định Tư cách tố tụng của đương sự được hình thành khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự Trong đó:

• Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm;

• Bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện;

• Người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ

Trang 2

Theo Điều 245 BLTTDS 2015: Nếu nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn; nếu trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện; bị đơn rút toàn

bộ yêu cầu phản tố nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn và người có nghĩa vụ với yêu cầu độc lập là bị đơn

Như vậy, tư cách tố tụng của đương sự có thể bị thay đổi tại phiên tòa sơ thẩm

Câu 3: Một người có thể đại diện cho nhiều đương sự trong vụ án dân sự.

Nhận định đúng

CSPL: Điểm b Khoản 1 Điều 87 BLTTDS 2015

Vì quy định nếu người đại diện mà đang là người đại diện theo pháp luật cho đương sự khác mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại đại diện trong cùng một vụ việc là thuộc trường hợp không được làm người đại diện Do đó, người đại diện theo pháp luật có thể cùng làm đại diện cho nhiều đương sự trong vụ án dân sự nếu quyền và lợi ích của các đương sự này không đối lập nhau

Câu 4: Việc thay đổi người tiến hành tố tụng có thể do Chánh án quyết định.

Nhận định đúng

CSPL: Khoản 2 Điều 56, Khoản 1, 2 Điều 368 BLTTDS 2015

Vì quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa thuộc thẩm quyền của Chánh án tòa án Còn tại phiên tòa thì quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử quyết định theo đa số

Còn đối với việc dân sự thì: Trước khi mở phiên họp, việc thay đổi Thẩm phán, Thư ký phiên họp do Chánh án của Tòa án quyết định Tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì

Trang 3

 Trước khi mở phiên tòa/phiên họp thì quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng do Chánh án quyết định

Câu 5: Phó Chánh án TAND có thể trở thành người tiến hành tố tụng trong TTDS.

Nhận định sai

CSPL: Khoản 2 Điều 46 BLTTDS 2015

Vì theo quy định tại Khoản 2 Điều 46 BLTTDS 2015 thì những người tiến hành tố tụng dân sự là Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án; Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên thôi chứ không bao gồm chức danh Phó Chánh án tòa án nhân dân Vậy phó Chánh án tòa án nhân dân không thể trở thành người tiến hành tố tụng trong tố tụng dân sự nên nhận định này là sai

Câu 6: Cá nhân có năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy đủ phải là người đủ 18 tuổi trở lên.

Nhận định sai

CSPL: Khoản 2 Điều 69 BLTTDS 2015

Căn cứ Khoản 2 Điều 69 BLTTDS thì năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự

Căn cứ Khoản 6 Điều 69 BLTTDS 2015 thì đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân

sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó Vậy cá nhân chưa đủ 18 tuổi vẵn có năng lựa hành vi tố tụng dân sự đầy đủ nếu tham gia lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình

Ngoài ra, người đủ 18 tuổi trở lên vẫn có thể là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Trang 4

Câu 7: Người làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là đương sự.

Nhận định sai

CSPL: Khoản 1 Điều 68, Điều 85 BLTTDS 2015

Quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là quan hệ giữa tòa án,VKS,cơ quan thi hành án ,đương

sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người định giá tài sản và những người liên quan phát sinh trong tố tụng dân sự và được quy phạm pháp luật tố tụng dân sự điều chỉnh Vậy không chỉ đương sự mới là người làm phát sinh QHPLTTDS

VD: Căn cứ theo Điều 85 trong điều kiện đương sự không khởi kiện được có thể yêu cầu người đại diện thực hiện, trong trường hợp này thì người đại diện cũng có thể làm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS

Câu 8: Người chưa thành niên có thể tự mình tham gia tố tụng khi xét thấy cần thiết.

Nhận định sai

CSPL: Khoản 6 Điều 69 BLTTDS 2015

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 21 BLDS 2015 thì người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi, là người chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần của con người

Căn cứ theo Khoản 6 Điều 69 BLTTDS 2015 thì người chưa thành niên nếu là người từ

đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch

dân sự bằng tài sản riêng của mình thì có thể được tự mình tham gia tố tụng nhưng chỉ đối

với những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó với tư cách là đương sự chứ không phải khi xét thấy cần thiết Còn các trường hợp khác người chưa thành niên vẫn phải tham gia tố tụng thông qua người đại diện của họ

Câu 9: Luật sư tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho đương sự thì được phép thực hiên các quyền và nghĩa vụ tố tụng thay cho đương sự.

Trang 5

định tại Điều 76 BLTTDS 2015 chứ không đương nhiên được thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng thay cho đương sự

VD: + Đương sự có quyền thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hòa giải

do Tòa án tiến hành

+ Nhận thông báo hợp lệ để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình

+ Tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình

Câu 10: Thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu là người thân thích của người đại diện đương sự.

Nhận định sai

CSPL: Điều 52, 53 BLTTDS 2015

Căn cứ Điều 52, 53 BLTTDS 2015 trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi người tiến hành tố tụng (cụ thể là Thẩm phán) thì không có trường hợp trên Người đại diện đương sự có thể là người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền Nếu người thân thích của người đại diện đương sự không phải người thân thích đương sự hay không thuộc trường hợp tại Điều 52, 53 thì Thẩm phán không phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi

Trang 6

Phần 2 BÀI TẬP.

TAND thành phố Y thụ lý một vụ án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà T (nguyên đơn) và bà H (bị đơn) và Chánh án đã phân công cho một Thẩm phán B giải quyết Sau đó, Thẩm phán B đã ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án Một thời gian sau, Thẩm phán B được điều chuyển công tác về TAND tỉnh P, nên Chánh án TAND thành phố Y đã giao vụ án cho Thẩm phán khác giải quyết

Sau phiên xử sơ thẩm của TAND thành phố Y, đương sự kháng cáo Thẩm phán B được phân công xét xử phúc thẩm vụ án này Tại phiên tòa, đương sự yêu cầu thay đổi Thẩm phán B Hội đồng xét xử tuyên bố hoãn phiên tòa để thực hiện việc thay đổi Thẩm phán B

Anh/chị hãy nhận xét hành vi tố tụng trên của Tòa án phúc thẩm?

- Hành vi tố tụng trên của Tòa án phúc thẩm là chưa đúng

- Căn cứ trường hợp thay đổi Thẩm phán thì đáp ứng các điều kiện:

Đã tham gia giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ việc dân sự đó là đã tham gia giải quyết nhiều lần cùng một vụ án

Đã ra bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, quyết định giải quyết việc dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, trừ trường hợp là thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao thì vẫn được tham gia giải quyết vụ việc đó theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

- Trường hợp này tuy Thẩm phán B đã tham gia xét xử sơ thẩm vụ án nhưng chưa ra quyết định hay bản án làm chấm dứt việc giải quyết vụ án như luật định (quyết định tạm đình chỉ giải quyết VA chưa làm chấm dứt việc giải quyết VA) Nên Thẩm phán B trong trường hợp trên khi được phân công xét xử phúc thẩm vụ án này không thuộc các trường hợp phải thay đổi Thẩm phán

CSPL: Khoản 3 Điều 53 BLTTDS 2015

Trang 7

* Tóm tắt bản án 135/2017/DS-PT:

- Nguyên đơn: ông Diệp Thanh S, bà Diệp Minh N

- Bị đơn: Bà Ngũ Trung T

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Võ Văn T, bà Nguyễn Thị L, ông Ngũ Tuấn

A, bà Nguyễn Thị Phương, bà Huỳnh Thị L, Tổ Đình L T (Chùa L T)

Nội dung vụ án:

Ông S khởi kiện bà T đòi lại nhà đất mà cha mẹ ông gửi giữ dùm Theo đơn khởi kiện thì nguồn gốc diện tích đất và nhà tranh chấp là của cha mẹ ông S được chùa L T cho mướn

và sau đó giao toàn quyền sử dụng đất Sau đó cha mẹ ông S xuất cảnh sang Pháp, nhờ bà Ngũ Trung T giữ giùm đất nhưng thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhằm hợp thức hoá thủ tục xuất cảnh Bà T cũng đã làm tờ cam kết thừa nhận đứng tên dùm theo Giấy chứng nhận QSH nhà và QSDĐ cho mẹ ông S Tuy nhiên, bà T đã sử dụng đất và nhà mà không có sự đồng ý của ông S, bà N Sau nhiều lần hoà giải không thành, ông S và bà N khởi kiện yêu cầu bà T hoàn lại giá trị quyền sử dụng đất và giá trị căn nhà

Bị đơn cho rằng nguồn gốc đất là do cha mẹ bà thuê của chùa, và cho cha mẹ ông S mượn

để xây nhà Diện tích đất nêu trên do cha bà để lại, căn nhà của cha mẹ ông S được bà mua lại và bà được cấp GCN QSH nhà Còn bà làm Tờ cam kết là vì ông S có ý định mua lại căn nhà Bà T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Quyết định TA sơ thẩm: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “Đòi lại tài sản”; buộc bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán lại giá trị tài sản nhà và đất cho ông Diệp Thanh S và bà Diệp Minh N

Quyết định của TA phúc thẩm: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn là bà Ngũ Trung T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông T Huỷ toàn bộ Bản án sơ thẩm dân sự

* Vấn đề pháp lý:

Ông S và Bà N khởi kiện bà T đòi lại tài sản là nhà và đất từ bà T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Gía trị pháp lý hợp đồng mua bán nhà giữa ông L (cha ông S) với bà T

Câu 1: Yêu cầu phản tố là gì? Yêu cầu độc lập là gì?

Trang 8

- Yêu cầu phản tố được hiểu là quyền của bị đơn trong vụ án dân sự đưa ra yêu cầu đối với nguyên đơn hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập (tức là bị đơn kiện ngược lại với yêu cầu của nguyên đơn hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập)

- Yêu cầu độc lập là yêu cầu khởi kiện khi cho rằng quyền lợi của mình bị xâm phạm đối với yêu cầu của nguyên đơn hoặc bị đơn hoặc cả nguyên đơn và bị đơn

Câu 2: Có phải mọi yêu cầu của bị đơn đưa ra đều là yêu cầu phản tố hay không? Hãy cho biết các điều kiện để một yêu cầu được coi là yêu cầu phản tố?

* Không phải mọi yêu cầu của bị đơn đưa ra đều là yêu cầu phản tố Vì khi bị khởi kiện trong một vụ án dân sự, bị đơn có quyền đưa ra ý kiến phản đối hoặc yêu cầu phản tố của mình Khi đó, trong văn bản ghi ý kiến của bị đơn nộp cho Tòa án có thể là những yêu cầu của bị đơn đưa ra để phản đối lại yêu cầu khởi kiện nhưng không phải là yêu cầu phản

tố vì không thỏa điều kiện luật định

* Điều kiện để một yêu cầu được coi là yêu cầu phản tố: Căn cứ theo quy định tại Điều

200 BLTTDS 2015

Yêu cầu phản tố của bị đơn chỉ phát sinh khi có việc nguyên đơn kiện bị đơn và Toà án có thẩm quyền thụ lý vụ việc đối với yêu cầu của nguyên đơn, sau đó bị đơn cũng cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm và có đơn yêu cầu toà án giải quyết những vấn đề

có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong cùng một vụ án dân sự

- Thứ nhất, về chủ thể:

Chủ thể thực hiện yêu cầu phản tố: Theo quy định tại Khoản 3 Điều này thì yêu cầu phản

tố được thực hiện bởi bị đơn

Chủ thể bị yêu cầu phản tố đó là: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập

Trang 9

+ Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;

+ Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một

vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn

- Thứ ba, về thời điểm thực hiện quyền yêu cầu phản tố là trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải

Câu 3: Có phải mọi yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra đều là yêu cầu độc lập hay không? Hãy cho biết các điều kiện để một yêu cầu được coi là yêu cầu độc lập?

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: vì họ có quyền và lợi ích

độc lập với nguyên đơn và bị đơn nên yêu cầu họ đưa ra hoàn toàn độc lập, không phụ thuộc vào yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn, có thể chống lại yêu cầu nguyên đơn, bị đơn hoặc cả hai chủ thể này

Căn cứ theo Điều 73 BLTTDS 2015 thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu độc lập Trường hợp yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khởi kiện vụ án khác Không phải mọi yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra đều là yêu cầu độc lập mà phải đáp ứng các điều kiện

Trong bản án, yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là yêu cầu độc lập: “Bị đơn bà Ngũ Trung T: Nhà thì mua của vợ chồng ông Diệp L, đất có nguồn gốc của cha là ông Ngũ M để lại, sau đó mẹ bà làm giấy cho; nhà có sửa chữa khoảng 500.000.000 đồng Ông Võ Văn T (chồng bà T) đồng ý như kháng cáo của bà T, nhà là tài sản chung của vợ chồng, ông T không ký tên vào Tờ cam kết năm 2009 Ông Ngũ Tuấn A kháng cáo về việc không đưa con của ông A tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” Như vậy, yêu cầu của ông T là tài sản của ngôi nhà là tài sản chung của vợ chồng, yêu cầu độc lập là xác nhận lại tài sản ngôi nhà đang tranh chấp

Còn ông A yêu cầu đưa ông A vào tham gia với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không được chấp nhận Vì thời điểm yêu cầu độc lập là trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Thời điểm ông A yêu cầu là sau khi xét xử sơ thẩm nên không được chấp nhận

Vì vậy, không phải mọi yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra đều là

Trang 10

* Điều kiện để một yêu cầu được coi là yêu cầu độc lập: Căn cứ theo Điều 201 BLTTDS

2015:

+ Thứ nhất, về chủ thể:

Chủ thể yêu cầu: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập

Chủ thể bị yêu cầu độc lập: Nguyên đơn hoặc bị đơn hoặc cả nguyên đơn và bị đơn

+ Thứ hai, về nội dung:

Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ;

Yêu cầu độc lập của họ độc lập với các yêu cầu khác trong vụ án và có liên quan đến vụ

án đang được giải quyết;

Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ

án được chính xác và nhanh hơn

+ Thứ ba, về thời điểm: Trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải

Câu 4 Giả sử tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu phản tố thì Tòa

án có bắt buộc phải chấp nhận hay không?

Quyền được đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn được quy định tại Khoản 1 Điều 200 của BLTTDS năm 2015 thì sau khi nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án hoặc sau khi nhận được thông báo về việc thụ lý đơn yêu cầu độc lập của Tòa án, bị đơn

có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn hoặc đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập

Tuy nhiên theo Khoản 1 Điều 244 BLTTDS 2015 thì bị đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu phản tố tại phiên tòa sơ thẩm mà việc sửa đổi, bổ sung yêu cầu phản tố đó không vượt quá phạm vi yêu cầu cầu phản tố ban đầu thì Tòa án sẽ chấp nhạn yêu cầu đó Ngược lại, tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu phản tố mà việc sửa đổi, bổ sung vượt

Ngày đăng: 15/11/2020, 16:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w