Thỏa ước lao động tập thể là văn bản thoả thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể.1 Thỏa ước
Trang 1Lời mở đầu.
Trong mối quan hệ với người sử dụng lao động, người lao động luôn ở vị trị yếu thế hơn, có sự phụ thuộc và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động Do đó, muốn tạo ra quan hệ lao động được bình đẳng hơn, pháp luật lao động đã có những quy định để bảo vệ người lao động, qua đó hạn chế sự lạm quyền của người sử dụng lao động, bảo vệ người lao động được hiểu là ngăn chặn mọi sự xâm hại có thể xảy ra đối người lao động khi tham gia quan hệ lao động Thỏa ước lao động tập thể là một sự tiến bộ xã hội, thừa nhận quyền của mọi người làm công ăn lương, được thông qua người đại diện của mình là công đoàn để xác định một cách tập thể những điều kiện lao động, đặc biệt là những điều kiện có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật lao động,
đó là một trong những tiêu chí cơ bản của vấn đền nhân quyền Thông qua thỏa ước lao động tập thể sẽ thống nhất hóa được chế độ lao động đối với những người lao động cùng một ngành nghề, công việc, trong cùng một doanh nghiệp, một vùng, một ngành (nếu là thỏa ước vùng, ngành) Như vậy sẽ loại trừ được
sự cạnh tranh không chính đáng, nhờ sự đồng hóa các đảm bảo phụ xã hội trong các bộ phận doanh nghiệp, trong các doanh nghiệp cùng loại ngành nghề, công việc (nếu là thỏa ước ngành) Vậy thỏa ước lao động là gì? pháp luật quy định những gì về thỏa ước lao động tập thể?
Bài tiểu luận sẽ viết về vấn đề “Bình luận các quy định của luật lao động về những vấn đề liên quan đến thỏa ước lao động tập thể” để làm rõ cho
những vẫn đề trên
Trang 2Nội dung.
1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thỏa ước lao động tập thể.
Thỏa ước lao động tập thể là văn bản thoả thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể.1
Thỏa ước lao động tập thể là sản phẩm của quá trình thương lượng tập thể thành công, là kết quả cuối cùng các bên đạt được khi cuộc thương lượng kết thúc Theo định nghĩa tại điều luật này, thỏa ước lao động tập thể được xác lập bằng văn bản, thông qua quá trình thương lượng giữa hai bên chủ thể: tập thể lao động và người sử dụng lao động,
Nội dung thỏa ước lao động tập thể chứa đựng các quy định về điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể Vì vậy, nội dung của thỏa ước lao động tập thể không hoàn toàn trùng với các nội dung thương lượng tập thể quy định tại Điều 70 BLLĐ, mà chỉ bao gồm những nội dung các bên đã thương lượng thành Tức là, nội dung thỏa ước lao động tập thể phải bảo đảm được 3 điều kiện:
Thuộc các nội dung thương lượng tập thể
Không được trái với quy định của pháp luật và phải có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật
Nội dung này phải có đa số (trên 50%) số người của tập thể lao động (đối với thỏa ước doanh nghiệp) hoặc số đại diện Ban chấp hành công đoàn (đối với thỏa ước ngành) biểu quyết tán thành
So với các văn bản nội bộ khác, thỏa ước lao động tập thể có ưu thế vượt trội trong việc đảm bảo hài hòa lợi ích, ngăn ngừa mâu thuẫn, giúp cho quan hệ các bên hài hòa và ổn định
1 Điều 73 – Bộ luật lao động 2012.
Trang 3Ngoài việc đưa ra định nghĩa và yêu cầu của nội dung thỏa ước lao động tập thể, Điều 73 còn quy định các loại thỏa ước lao động tập thể Theo đó, thỏa ước lao động tập thể gồm ba loại: thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành và hình thức thỏa ước lao động tập thể khác
Thỏa ước lao động tập thể là một sự tiến bộ xã hội, thừa nhận quyền của mọi người làm công ăn lương, được thông qua người đại diện của mình là công đoàn để xác định một cách tập thể những điều kiện lao động, đặc biệt là những điều kiện có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật lao động,
đó la một trong những tiêu chí cơ bản của vấn đền nhân quyền Đặc điểm của thỏa ước lao động tập thể thể hiện qua ba mặt:
Tính hợp đồng: Thể hiện thỏa ước được hình thành trên cơ sở sự thương
lượng, thỏa thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động Hay nói cách khác, yếu tố thương lượng là yếu tố quan trọng nhất, quyết định việc ra đời thỏa ước lao động tập thể
Tính quy phạm: Về trình tự, thoả ước được ký kết phải tuân theo trình tự
nhất định do pháp luật quy định
Về nội dung, thỏa ước là sự cụ thể hóa các quy định của pháp luật cho phù hợp với điều kiện, khả năng thực tế của đơn vị Vì vậy, nội dung của thỏa ước thường được xây dựng dưới dạng các quy phạm, theo từng điều khoản thể hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong quan hệ lao động như việc làm, tiền lương….Khi thỏa ước có hiệu lực thì các quy định khác trong doanh nghiệp phải sửa đổi bổ sung cho phù hợp
Về hiệu lực, thỏa ước có hiệu lực trpng toàn bộ đơn vị sử dụng lao động Khi đã có thỏa ước thì các bên bắt buộc phải thực hiện Do mang tính quy phạm như vậy nên thỏa ước lao động được coi là luật doanh nghiệp hay luật nghành
Tính tập thể: Tính tập thể của thỏa ước lao động tập thể được thể hiện ở
chủ thể đại diện thương lượng tập thể, đại diện kí kết thỏa ước lao động tập thể
và nội dung thỏa ước lao động tập thể Về chủ thể, một bên của thỏa ước bao giờ
Trang 4cũng là đại diện của tập thể lao động Pháp luật nước ta thừa nhận tổ chức công đoàn là đại diện chính thức cho tập thể lao động trong tham gia thương lượng và
ký kết thỏa ước với người sử dụng lao động Về nội dung, các thỏa thuận trong thỏa ước bao giờ cũng liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của tập thể lao động trong đơn vị
Thỏa ước lao động tập thể có ý nghĩa vô cùng quan trọng thể hiện ở những khía cạnh như:
Cơ sở pháp lý chủ yếu để từ đó hình thành nên mối quan hệ lao động có tính tập thể
Cơ sở ràng buộc các bên tập thể lao động, người sử dụng lao động trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động
Cơ sở giải quyết tranh chấp lao động
Là nguồn bổ sung cho các nguồn của Luật lao động
2 Các loại thỏa ước lao động tập thể.
Theo quy định pháp luật hiện hành, thỏa ước lao động tập thể bao gồm thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành và hình thức thỏa ước lao động khác do Chính phủ quy định
2.1 Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp
Thỏa ước tập thể doanh nghiệp là văn bản thỏa thuận giữa đại diện tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở và người lao động hoặc đại diện của người sử dụng lao động trong doanh nghiệp về các các điều kiện lao động mà các bên đã thỏa thuận được thông qua thương lượng tập thể ở phạm vi doanh nghiệp
Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp chỉ được kí kết khi thỏa mãn những điều kiện nhất định Về nội dung, nội dung thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp thuộc các nội dung thương lương tập thể, bảo đảm không được trái với quy định pháp luật Đặc biệt, phải có lợi cho người lao động hơn quy định pháp luật Về thủ tục, các bên thương lượng tập thể phải đạt được thỏa thuận tại phiên họp thương lượng tập thể và và có trên 50% số người của tập thể lao động
Trang 5tập thể biểu quyết tán thành nội dung thương lượng tập thể Về chủ thể, chủ thể phải có đủ điều kiện tại Điều 83 BLLĐ Khi thỏa ước có hiệu lực, các bên kể cả người lao động vào sau cũng có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các quy định trong thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp Người sử dụng lao động, người lao động, kể cả người lao động vào làm việc sau ngày thỏa ước lao động tập thể có hiệu lực có trách nhiệm thực hiện đầy đủ thoả ước lao động tập thể.Các quy định của người sử dụng lao động về lao động chưa phù hợp với thỏa ước lao động tập thể, thì phải được sửa đổi cho phù hợp với thoả ước lao động tập thể trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thỏa ước lao động tập thể có hiệu lực Khi một bên cho rằng bên kia thực hiện không đầy đủ hoặc vi phạm thoả ước lao động tập thể, thì
có quyền yêu cầu thi hành đúng thoả ước và hai bên phải cùng nhau xem xét giải quyết, nếu không giải quyết được, mỗi bên đều có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể theo quy định của pháp luật
Về thời hạn, thỏa ước tập thể doanh nghiệp có 2 loại: Từ 01 đến 03 năm
và dưới 1 năm đối với doanh nghiệp lần đầu tiên ký kết thoả ước lao động tập thể
2.2 Thỏa ước lao động tập thể ngành.
Thỏa ước tập thể ngành là văn bản thỏa thuận giữa đại diện tổ chức công đoàn ngành và đại diện của tổ chức đại diện người sử dụng lao động ngành về các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể ở phạm vi nghành
Để kí kết thỏa ước lao động tập thể ngành cần đáp ứng những điều kiện pháp luật nhất định Về nội dung, phải thuộc các nội dung thương lượng tập thể, không thể trái với quy định pháp luật Về thủ tục, phải có trên 50% số đại diện Ban chấp hành cơ sở hoặc công đoàn cấp trên cơ sở biểu quyết tán thành Về chủ thể phải tuân theo quy định tại Điều 87 BLLĐ Khi thỏa ước lao động tập thể có hiệu lực thì những nội dung của thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp hoặc quy định của người sử dụng lao động trong doanh nghiệp thấp hơn những
Trang 6nội dung tương ứng của thỏa ước lao động nghành thì phải sửa dổi, bổ sung thỏa ước lao động tập tập thể doanh nghiệp trong vòng 3 tháng
Khác với thỏa ước tập thể doanh nghiệp, thỏa ước tập thể ngành chỉ có 1 loại áp dụng thời hạn là 1 đến 3 năm Vì thỏa ước này được áp dụng trên phạm
vi rộng, nếu thời gian ngắn thì không phù hợp cho việc triển khai thực hiện.
3 Ký kết thỏa ước thỏa ước lao động tập thể.
3.1 Điều kiện ký kết.
Để thỏa ước lao động tập thể ra đời và đảm bảo đúng đắn về mặt pháp lí, trong quá trình thương lượng tập thể và ký kết thỏa ước tập thể tập thể, các bên phải tuân theo các quy định của pháp luật
Điều 74 quy định các điều kiện ký kết thỏa ước lao động tập thể Theo đó, thỏa ước lao động tập thể chỉ được ký kết khi có đủ 3 điều kiện sau đây:
Về chủ thể ký kết, điều luật này quy định điều kiện chủ thể ký kết cho mọi loại thỏa ước lao động tập thể, gồm đại diện tập thể lao động và người sử dụng lao động hoặc đại diện người sử dụng lao động Tức là người đại diện cho chủ thể đại diện thương lượng tập thể, có quyền và trách nhiệm trong việc bảo đảm thực hiện các nội dung của thỏa ước lao động tập thể Theo đó, tùy thuộc vào loại thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp hay thỏa ước lao động tập thể ngành hay loại thỏa ước tập thể khác mà pháp luật quy định riêng về chủ thể ký kết
Về nội dung, thỏa ước lao động tập thể chỉ được ký kết khi các bên đã đạt được thỏa thuận tại phiên họp thương lượng tập thể Có nghĩa là nội dung của thỏa ước lao động tập thể đáp ứng được 3 điều kiện đã phân tích ở Điều 73 nêu trên
Về thủ tục ký kết, trước khi ký kết thỏa ước lao động tập thể, các bên phải tiến hành thương lượng tập thể Thủ tục thương lượng tập thể phải tuân theo các quy trình chặt chẽ quy định tại Điều 71 BLLĐ Ngoài ra, nội dung đạt được trong quá trình thương lượng tập thể phải được đa số người lao động hoặc đại diện của người lao động được lấy ý kiến biểu quyết tán thành Tùy vào loại thỏa
Trang 7ước lao động tập thể mà pháp luật quy định cụ thể số người của tập thể lao động hoặc số đại diện tham gia biểu quyết Quy định như vậy không chỉ nhằm bảo đảm sự dân chủ trong đơn vị, bảo đảm nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, mà còn thể hiện ý chí chung của tập thể lao động về các vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của tập thể lao động
Nhìn chung, điều luật quy định như vậy là chặt chẽ Tuy nhiên, do Điều
69 đã quy định cụ thể về đại diện thương lượng ở cả phạm vi doanh nghiệp và phạm vi ngành, còn chủ thể ký kết thỏa ước doanh nghiệp được quy định cụ thể
ở khoản 1 Điều 83 và chủ thể ký kết thỏa ngành được quy định cụ thể ở khoản 1 Điều 87, thì ở điều luật này không cần quy định về chủ thể ký kết thỏa ước lao động tập thể nữa Tương tự, nội dung của thỏa ước lao động tập thể đã được quy định trong khoản 2 Điều 73 BLLĐ, không cần quy định: “Thỏa ước lao động tập thể chỉ được ký kết khi các bên đã đạt được thỏa thuận tại phiên họp thương lượng tập thể” trong khoản 2 Điều 74 Điều 74 chỉ cần quy định về kết quả lấy ý kiến biểu quyết của tập thể lao động về các nội dung đã thỏa thuận Và khi có trên 50% số người được lấy ý kiến tán thành nội dung thương lượng thì các bên tiến hành ký kết thỏa ước lao động tập thể
Khi thoả ước lao động tập thể được ký kết, người sử dụng lao động phải công bố cho mọi người lao động của mình biết, để người lao động thực hiện các nghĩa vụ cũng như được hưởng các quyền lợi theo quy định của thỏa ước lao động tập thể
3.2 Thời điểm có hiệu lực của thỏa ước lao động tập thế.
Thời điểm có hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể hoàn toàn do người
sử dụng lao động cùng với đại diện tập thể lao động tập thể tự động quyết định, không phụ thuộc vào thủ tục đăng kí với cơ quan có thẩm quyền như nội quy lao động Cụ thể tại Điều 76 BLLD, các bên có thỏa thuận thời điểm có hiệu lực và ghi trong thỏa ước lao động tập thể Trường hợp không thỏa thuận ghi ngày có hiệu lực trong thỏa ước lao động tập thể tính từ ngày kí kết Việc pháp luật trao
Trang 8quyền cho người sử dụng lao động và đại diện tập thể lao động tự lựa chọn và quyết định thời điểm có hiệu lực chính là tạo điều kiện tốt nhất để các bên thực hiện thỏa ước được thuận lợi và đạt được hiệu quả cao nhất
4 Thỏa ước lao động tập thể vô hiệu và cách xử lí.
Một thỏa ước lao động tập thể phải đáp ứng rất nhiều quy định của pháp luật từ trình tự, thủ tục xác lập, hình thức đến nội dung thỏa ước Trong đó, một
số quy định của pháp luật đã trở thành điều kiện có hiệu lực mà thỏa ước tập thể buộc phải tuân thủ Nếu vi phạm những quy định đó, thỏa ước tập thế sẽ không phát sinh hiệu lực Như vậy, thỏa ước tập thể vô hiệu được hiểu là những thỏa ước vi phạm các quy định mà pháp luật xác định đó là những trường hợp một thỏa ước tập thể bị coi là vô hiệu Căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm của thỏa ước mà thỏa ước tập thể vô hiệu được chia làm 2 trường hợp là vô hiệu một phần và vô hiệu toàn bộ
Thỏa ước tập thể vô hiệu một phần: Thoả ước lao động tập thể vô hiệu từng phần khi một hoặc một số nội dung trong thoả ước trái pháp luật.1 Ví dụ: Thỏa ước tập thể vô hiệu một phần nếu trong thỏa ước có điều khoản quy định
về tiền lương thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định
Thỏa ước tập thể vô hiệu toàn bộ: Thoả ước lao động tập thể vô hiệu toàn
bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có toàn bộ nội dung trái pháp luật, Người ký kết không đúng thẩm quyền, Việc ký kết không đúng quy trình thương lượng tập thể
Xử lý thỏa ước tập thể vô hiệu: Phụ thuộc vào từng trường hợp mà cơ quan có thẩm quyền tuyên bố thỏa ước tập thể vô hiệu một phần hay toàn bộ Việc xử lý thỏa ước vô hiệu do vậy cũng tùy từng trường hợp mà được giải quyết khác nhau và để lại những hậu quả pháp lý nhất định: Xử lý thỏa ước tập thể vô hiệu một phần: những nội dung nào trong thỏa ước bị tuyên bố vô hiệu thì quyền, nghĩa vụ lợi ích của các bên được giải quyết theo các nội dung tương ứng
1 Điều 78 – Bộ luật lao động 2012.
Trang 9quy định trong pháp luật hiện hành Xử lý thỏa ước tập thể vô hiệu toàn bộ: Về mặt nguyên tắc, khi thỏa ước tập thể bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì thỏa ước đó
sẽ lập tức bị hủy bỏ Tuy nhiên để đảm bảo lợi ích cho người lao động, trừ trường hợp thỏa ước vô hiệu do toàn bộ nội dung trái pháp luật ra, đối với 2 trường hợp thỏa ước vô hiệu toàn bộ còn lại, nếu nội dung của thỏa ước có lợi cho người lao động thì pháp luật lao động cho phép cơ quan quản lý nhà nước
về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hướng dẫn để các bên làm lại cho đúng quy định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hướng dẫn, nếu không làm lại thì mới bị tuyên bố vô hiệu và xử lý như thông thường
Nếu rơi vào các trường hợp quy định tại Điều 78 BLLĐ 2012 thì thỏa ước lao động tập thể bị coi là vô hiệu Trong trường hợp này thì phần quyền, nghĩa
vụ và lợi ích của các bên ghi trong thỏa ước bị vô hiệu thì sẽ được giải quyết theo quy định pháp luật về những nội dung tương đương Ví dụ trong trường hợp thỏa ước lao động tập thể có nội dung trái pháp luật là “ người lao động phải làm việc 11 tiếng một ngày” thì phần nội dung của thỏa ước sẽ không còn giá trị về mặt pháp lí Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên trong trường hợp này sẽ được thực hiện theo quy định pháp luật về thời giờ làm việc quy định tại điều 104 BLLĐ 2012
quan đến thỏa ước lao động tập thể.
1 Các loại thỏa ước lao động tập thể.
Việc quy định các loại thỏa ước lao động tập thể vẫn mang tính chung chung, chủ yếu bao gồm thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao
động tập thể ngành và “hình thức thỏa ước lao động khác” do Chính phủ quy
định Tuy nhiên, trong thực tế ở các tổng công ti có các công ti con đã thành lập
tổ chức công đoàn cơ sở thành viên đã kí kết loại thoả ước tập thể bộ phận doanh nghiệp Để kịp thời phục vụ cho thực tế phát triển các loại hình tập đoàn kinh tế, khu công nghiệp, các vùng kinh tế… Vì vậy cần bổ sung thêm trong
Trang 10BLLĐ hai loại thoả ước là thoả ước tập thể bộ phận doanh nghiệp và thoả ước tập thể vùng để có thể có sự điều chỉnh tốt nhất
2 Nội dung của thỏa ước lao động tập thể.
Quy trình xây dựng thỏa ước tập thể ở một số doanh nghiệp vẫn còn hình thức, chưa đi sâu vào bản chất thương lượng, chất lượng thương lượng chưa được cải thiện, kỹ năng thương lượng của đa số cán bộ công đoàn còn nhiều hạn chế Trong một số doanh nghiệp, bộ phận nhân sự chủ động xây dựng nội dung thỏa ước, còn công đoàn cơ sở không thực hiện quá trình thương lượng tập thể
mà chỉ tham gia ý kiến cho đầy đủ quy trình Nhiều bản thỏa ước lao động tập thể tại các doanh nghiệp đã hết hạn nhưng chưa được quan tâm sửa đổi, bổ sung Các nội dung đối thoại, thương lượng, thỏa ước lao động tập thể, tranh chấp lao động và đình công có mối quan hệ liên kết chặt chẽ với nhau, cùng xây dựng quan hệ lao động tại doanh nghiệp Vì vậy khi tiến hành đối thoại tại doanh nghiệp, những vấn đề liên quan đến quyền lợi của người lao động và các điều kiện lao động mà chưa được giải quyết thống nhất thì sẽ được đưa vào các nội dung để tiến hành thương lượng tập thể Quy trình xây dựng thỏa ước lao động tập thể ở một số doanh nghiệp vẫn còn hình thức, chưa đi sâu vào bản chất thương lượng, chất lượng thương lượng chưa được cải thiện, kỹ năng thương lượng của đa số cán bộ công đoàn còn nhiều hạn chế Trong một số doanh nghiệp, bộ phận nhân sự chủ động xây dựng nội dung thỏa ước, còn công đoàn
cơ sở không thực hiện quá trình thương lượng tập thể mà chỉ tham gia ý kiến cho đầy đủ quy trình
3 Quy định về việc sửa đổi, bổ sung thỏa ước lao động tập thể.
Theo quy định tại Điều 77 của BLLĐ thì: “Sau 3 tháng thực hiện, kể từ ngày có hiệu lực đối với thoả ước tập thể thời hạn dưới 1 năm và 6 tháng đối với thoả ước tập thể thời hạn từ 1 đến 3 năm, các bên mới có quyền yêu cầu sửa đổi,
bổ sung thoả ước” Như vậy, trong quá trình thực hiện thoả ước, thì cả hai bên trong quan hệ lao động đều được quyền yêu cầu sửa đổi, bổ sung thoả ước Quy