1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

tiểu luận sỡ hữu châu

21 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 47,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phẩm hay quy trình” nêu tại Điều 27 Hiệp định TRIPs mà còn dường như qua đóthể hiện cách tiếp cận nghiêng về quan điểm không bảo hộ độc quyền sáng chế chotính năng sử dụng mới của một sả

Trang 1

MỤC LỤC

Lời mở đầu 2

Nội dung 3

I Khái quát chung về sáng chế và bảo hộ sáng chế 3

1 Khái niệm sáng chế 3

2 Vai trò, ý nghĩa việc bảo hộ sáng chế 4

II Điều kiện bảo hộ sáng chế 6

1 Tính mới 7

2 Có trình độ sáng tạo 9

3 Có khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế 10

III Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế 11

IV Liên hệ thực tiễn 14

1 Những tác động tiêu cực có thể nảy sinh từ hệ thống bảo hộ sáng chế 14

2 Thực trạng hiện nay 15

3 Kiến nghị - Cân bằng lợi ích 17

Kết luận 20

Tài liệu tham khảo 21

1

Trang 2

Lời mở đầu.

Trong xã hội hiện đại cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao,cùng với đó nhu cầu của con người ngày càng đòi hỏi cao hơn Nhờ áp dụng khoahọc và kĩ thuật nên những nhu cầu đó không những trở thành sáng tạo đơn thuầncủa con người mà còn trở thành bộ phận cấu thành lực lượng sản xuất quyết điịnhđến năng suất Tuy nhiên, sản phẩm của khoa học, kĩ thuật không giống như nhữngvật phẩm của con người – hữu hình và dễ kiểm soát, chúng vô hình mà người tạo rachúng không thể chiếm hữu cho riêng mình cho riêng mình và chúng rất dễ bịchiếm đoạt, lợi dụng Trong các đối tượng đó sáng chế là một trong những đốitượng quan trọng và phổ biến nhất Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sảnphẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng cácquy định tự nhiên Các sáng chế cần được Nhà nước bảo hộ để đảm bảo quyền vàlợi ích của chủ sở hữu sáng chế Vậy những sáng chế nào sẽ được Nhà nước bảohộ? Những sáng chế nào không được bảo hộ? Thực trạng bảo hộ sáng chế hiện naynhư thế nào?

Bài viết sẽ làm rõ hơn vấn đề “Điều kiện bảo hộ sáng chế theo quy định Luật

sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và một số kiến nghị” để trả lời chonhững câu hỏi trên

2

Trang 3

kĩ thuật và thể hiện bước tiến trong bảo hộ các sáng tạo trí tuệ của con người ápdụng trong các ngành công nghệ cũng như các nghành khác Lịch sử Hoa Kỳ đãchứng minh rằng bảo hộ sáng chế là một trong những yếu tố then chốt, có ý nghĩaquyết định trong việc đưa nước này trở thành cường quốc kinh tế, thương mại, khoahọc – kĩ thuật hang đầu thế giới.2

Tầm quan trọng bậc nhất của bảo hộ sáng chế dẫn đến là việc thực tế là cácđiều khoản sáng chế trong Hiệp định TRIPs luôn là tâm điểm tranh chấp Sự khácbiệt quá lớn trong quan điểm về bảo hộ sáng chế giữa các quốc gia dẫn đến Hiệpđịnh TRIPs không đưa ra được định nghĩa sáng chế Tại điều 27 Hiệp định TRIPs,điều luật đầu tiên quy định về sáng chế, Hiệp định TRIPs chủ yếu đề cập 3 tiêuchuẩn là tính mới, thể hiện bước tiến sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp củasáng chế

Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia đưa ra khái niệm sáng chế (Nhật,Meehico, ) được quy định tại khoản 12 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2013 như sau:

“Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyếtmột vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên.” Với định nghĩa nàyViệt Nam không chỉ bảo đảm yêu cầu bảo hộ mọi sáng chế bất kể “dưới dạng sản

1 Xem thêm: Chstopher Arup, The World Trade Organization Knowledge Agreements, Second Edition, Cambridge University Press, Cambridge, 2008, 299-315.

2 Xem thêm: Stephen A.Merrill, Paten System for the 21 st century, National Academy Press, Washington, 2004.

3

Trang 4

phẩm hay quy trình” nêu tại Điều 27 Hiệp định TRIPs mà còn dường như qua đóthể hiện cách tiếp cận nghiêng về quan điểm không bảo hộ độc quyền sáng chế chotính năng sử dụng mới của một sản phẩm đã biết hoặc một sản phẩm được sản xuấttheo sáng chế đang được bảo hộ (new use of a known product ỏ a patentedproduct), đăch biệt khi thực tế thường không thể chứng minh tính năng mới của sảnphẩm trong các trường hợp này đáp ứng điều kiện tính mới và trình độ sáng tạo để

có thể cấp bằng sáng chế độc quyền.1

2 Vai trò, ý nghĩa việc bảo hộ sáng chế.

Sáng chế phải là một giải pháp kỹ thuật, hay nói cách khác phải thuộc mộthoặc một số lĩnh vực kỹ thuật nhất định, tuy nhiên người tạo ra sáng chế không đòihỏi phải được đào tạo trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng, do vậy cho dù bạn khôngphải là một kỹ sư bạn vẫn có thể tạo ra một sáng chế nào đó nhằm phục vụ điều màbạn mong muốn, ví dụ công việc của bạn là trồng lúa, và sau một khoảng thời gianvật lộn với nắng mưa bạn nhận ra rằng nếu tiếp tục làm theo cách thông thường củacông đoạn gieo hạt thì sẽ mất rất nhiều thời gian, và vì vậy bạn đã nghĩ ra việc chếtạo một cái máy gieo hạt nhằm làm thay thế mình làm công việc này; sau khi hoànthành việc chế tạo và đưa vào sử dụng, máy gieo hạt đã giúp bạn rút ngắn thời giangieo hạt xuống mức đáng kể, hay nói cách khác bạn đã thành công trong việc tạo ramột sáng chế

Việc tạo ra một sáng chế không đơn giản, nó đòi hỏi phải bỏ ra một khốilượng thời gian, công sức và tiền bạc đáng kể, tuy nhiên việc bắt chước sau đó lạiquá dễ dàng, do vậy ngay sau khi tạo ra thành công một sáng chế việc phải làm tiếptheo là xác lập quyền sở hữu trí tuệ cho sáng chế đó, việc làm này sẽ giúp người tạo

ra sáng chế có thể nhận được sự công nhận và bảo hộ của nhà nước, nhờ vậy mà

1 Nội dung đã nêu cũng là vấn đề được bỏ ngỏ trong quy định của Hiệp định TRIPs nêu về nguyên tắc thành viên có quyền tự quyết định có ghi nhận về chúng trong luật của mình hay không và cách tiếp cận vấn đề này giữa các thành viên tương đối khác biệt Xem thêm: UNCTAD & ICTSD, Resource book on TRIPs and Development, Cambridge University Press, Cambridge, 2005, 356-367.

4

Trang 5

chủ sở hữu sáng chế có thể khai thác và thu được lợi ích từ sáng chế của mìnhthông qua việc khai thác công dụng hoặc trực tiếp sản xuất sản phẩm được sản xuấttheo sáng chế hoặc chuyển quyền sử dụng sáng chế đó cho người khác

Tóm lại có thể hiểu bảo hộ sáng chế là việc Nhà nước thông qua hệ thốngpháp luật, xác lập quyền của các chủ thể đối với sáng chế và bảo vệ quyền đóchống lại những hành vi xâm phạm của chủ thể khác

Việc bảo hộ sáng chế có lịch sử rất lâu đời, từ khoảng thế kỉ 17-18 tại châu

Âu sau cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ nhất để bảo hộ những sáng tạo,những phát minh mới Việc bảo hộ sáng chế không chỉ đem lại lợi ích cho chủ sởhữu sáng chế mà còn mang lại lợi ích cho cả xã hội Việc bảo hộ sáng chế có một

số vai trò tiêu biểu như:

 Thúc đẩy đổi mới

Hệ thống bảo hộ sáng chế giúp giảm bớt rủi ro đến từ những hành vi "ăncắp" công nghệ đó và nhờ vậy khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhânđưa ra các quyết định đầu tư cho phát triển công nghệ mới

 Thúc đẩy công bố các công nghệ mới

Đơn sáng chế hoặc bằng độc quyền sáng chế và toàn bộ các tài liệu liên quan sẽđược công bố sau những thời hạn nhất định (trừ sáng chế mật) Do vậy, tất cả mọingười đều có cơ hội tiếp cận các giải pháp công nghệ được đề cập trong các đơnhoặc bằng độc quyền sáng chế đó

 Hạn chế việc bảo hộ các giải pháp kỹ thuật dưới dạng bí mật

Nếu không có luật sáng chế thì xu hướng là các thành quả sáng tạo thườngđược giữ bí mật để tránh bị sao chép Tuy nhiên, luật bảo hộ bí mật thương mại có

5

Trang 6

những hạn chế nhất định Do vậy, hệ thống sáng chế mang lại hình thức bảo hộ ưathích hơn cho các nhà sáng chế.

 Thúc đẩy cạnh tranh

Cuộc đua sáng chế sẽ tạo ra cho thị trường hàng loạt các sản phẩm thay thế

để xã hội có thể lựa chọn Hệ thống bảo hộ sáng chế mang lại lợi ích cho xã hội ở

cả việc thúc đẩy giảm giá và thúc đẩy liên tục tạo ra các công nghệ và

 Công nhận quyền tư hữu tài sản trí tuệ

Việc pháp luật công nhận và coi quyền sở hữu trí tuệ là quyền tài sản chophép tài sản này có thể được chuyển giao, để thừa kế v.v Điều này cũng đặc biệtquan trọng trong hoạt động kinh tế hiện nay khi tài sản trí tuệ được sử dụng làm đốitượng cho một quan hệ bảo đảm về tài chính (thế chấp, cầm cố)

II Điều kiện bảo hộ sáng chế

Về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế: Theo điều 27 Hiệp định TRIPs thì:Bằng sáng chế có thể được cấp cho bất cứ sáng chế nào, bất kể là sản phẩm hayquy trình, trong tất cả các lĩnh vực công nghệ với điều kiện sáng chế đó là mới, cótrình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp Tại Việt Nam, điều kiện bảo

hộ sáng chế được quy định tại khoản 1 Điều 58: “Sáng chế được bảo hộ dưới hình

6

Trang 7

thức cấp Bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: có tính mới,

có trình độ sáng tạo có khả năng áp dụng công nghiệp.”

Trước ngày ưu tiên của đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ sáng chế chưa bịbộc lộ công khai ở trong và ngoài nước dưới hình thức sử dụng mô tae trong bất kìnguồn thông tin nào dưới đây tới mức mà căn cứ vào đó người có trình độ trungbình trong lĩnh vực tương ứng có thể thực hiện giải pháp đó:

- Các nguồn thông tin liên quan đến sáng chế ở nước ngoài, tính từ ngày công

bố bao gồm các nguồn thông tin với bất kì vật mang tin nào (ấn phẩm, phimảnh, băng đĩa, ) tính từ ngày công bố tin, vật mang tin bắt đầu được lưuhành

- Các nguồn thông tin đại chúng: Các báo cáo khoa học, các bài giảng, nếuđược ghi lại bằng bất cứ phương tiện nào tính từ ngày báo cáo hoặc giảngbài, các triển lãm tính từ ngày hiện vật được trưng bày

Tuy nhiên pháp luật còn quy định các trường hợp nhằm loại trừ khả năng làmmất tính mới của sáng chế như:

Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu sáng chế bị người khác do đượcbiết thông tin đó tự ý công bố nhưng không được phép của người nộp đơn và ngày

7

Trang 8

người đó công bố nằm trong thời hạn 6 tháng trước ngày nộp đơn yêu cầu cấp Vănbằng bảo hộ sáng chế;

Sáng chế được người có quyền đăng kí theo quy định của pháp luật công bốdưới dạng báo cáo khoa học trong thời hạn 6 tháng trước ngày nộp đơn yêu cầu cấpvăn bằng bảo hộ sáng chế;

Sáng chế được người có quyền đăng kí theo quy định của pháp luật trưngbày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chínhthức hoặc được thừa nhận là chính thức trong thời hạn 6 tháng trước ngày nộp đơnyêu cầu cấp văn bằng bảo hộ sáng chế

Một thông tin chưa bị coi là bộc lộ công khai nếu chỉ có một số lượng ngườixác định có liên quan được biết đến thông tin đó Những người có liên quan có thểđược hiểu là những người cùng tham gia vào quá trình để tạo ra giải pháp kĩ thuật

đó hoặc là những người đã cung cấp tư liệu hay đã có những giúp đỡ nhất định đểchủ văn bằng tạo ra sáng chế đó Số lượng những người nắm được thông tin vềsáng chế này nằm trong sự kiểm soát của chủ sáng chế hay nói cách khác chủ sángchế, biết rõ về nhũng người này và cũng biết rõ họ đã nắm được các thông tin gìliên quan đến sáng chế và mức độ đến đâu

Như vậy, sự bộc lộ công khai trên toàn thế giới trước ngày nộp đơn đăng kísáng chế hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng kí là yếu tố quyết định sáng chế đó

có đáp ứng tiêu chuẩn về tính mới ở Việt Nam hay không1 Nội dung này trongtrong luật sáng chế Việt Nam tương đồng với quy định tương ứng trong luật sángchế của hầu hết các nước khác, nhưng khác biệt so với luật sáng chế của Hoa Kỳ,

1 Sự bộc lộ công khai sáng chế trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế luôn được gắn với khả năng đáp ứng tính tiêuchuẩn mới nhìn chung bắt nguồn từ cách tiếp cận xem việc cấp bằng độc quyền sáng chế là một quan hệ mang tính “khế ước” thể hiện sự “trao đổi cân bằng” giữa một bên là nhà nước, một bên

là chủ sỡ hữu Do vậy, trường hợp chủ sỡ hữu sáng chế không đáp ứng yêu cầu bộc lộ một điều gì mới trong lĩnh vực kĩ thuật tương ứng , hậu quả chắc chắn là việc cấp bằng đọc quyền sáng chế trở nên không thể thwucj hiện được hoặc nếu đã thực hiện thì bằng độc quyền đó cũng có thể bị thu hồi hay hủy bỏ Xem thêm: UNCTAD & ICTSD, Resource book on TRIPs and Development, Cambridge University Press, Cambridge, 2005, 359.

8

Trang 9

nơi sáng chế không bị coi mất đi tính mới nếu bộc lộ bên ngoài lãnh thổ Hoa Kỳdưới hình thức phi văn bản, bao gồm việc sử dụng hoặc bán1

2 Có trình độ sáng tạo.

Theo chú thích Khoản 5 của Điều 27 Hiệp định TRIPs thì “trình độ sáng tạo

” có thể được mỗi thành viên coi là đồng nghĩa với thuật ngữ “không hiển nhiên

Sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kĩthuật đã được bộc lộ công khai dưói hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặcdưới bất kì hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơnhoặc trước ngày ưu tiên của đơn đãng kí sáng chế trong trường hợp đơn đăng kísáng chế được hưởng quyền ưu tiên, sáng chế đó là một bước sáng tạo, không thểđược tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kĩthuật tương ứng (Điều 61 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009)

Như vậy, sáng chế phải được tạo ra từ quá trình đầu tư sáng tạo nhất định,phải là thành quả của ý tưởng sáng tạo nổi trội, có thể nhận biết rõ ràng Giữa tìnhtrạng kĩ thuật đã được biết trước đó và sáng chế yêu cầu bảo hộ phải tạo ra bướctiến sáng tạo rõ rệt và đó được coi là bản chất của sáng chế Hay theo cách giảithích của Hiệp định TRIPs về trình độ sáng tạo của sáng chế đó là tính “không hiểnnhiên” Dựa trên mặt bằng sáng tạo đã có, giải pháp kĩ thuật đó không thể được tạo

ra một cách quá dễ dàng đối với người có trình độ trung bình trong lĩnh vực kĩ thuậttương ứng, hơn thế chúng còn tạo ra bước tiến sáng tạo vượt trội hơn hẳn so với cácgiải pháp kĩ thuật trước đây thì được coi là đáp ứng được tiêu chí “không hiểnnhiên”

Việc đánh giá tính sáng tạo của đối tượng yêu cầu bảo hộ so với các giảipháp đã biết được thực hiện theo các trình tự như: Vấn đề đặt ra, giải pháp cho vấn

1 Xem thêm: Carlos M,Correa Ittellectual Property Rights, the WTO and Developing Countries: The TRÍP

Agreements and Policy Options, Zed Books, London, 2000, 58.

9

Trang 10

đề này, kết quả thu được nhờ thực hiện giải pháp nêu trong đơn Nếu một chuyêngia trung bình mà có thể đặt vấn đề, giải quyết vấn đề theo cách thức đã nêu, cũngnhư có thể đảm bảo hiệu quả thu được nhờ giải pháp đó thì sáng chế không đáp ứngđược tiêu chuẩn tính sáng tạo.

Về mặt thực tiễn, yêu cầu về tính mới và trình độ sáng tạo ở các nước đangphát triển nếu được đặt ra với tiêu chí quá cao sẽ tạo rào cản cho quá trình cách tân,nhưng với tiêu chuẩn thấp sẽ dẫn đến tình trạng cản trở cạnh tranh chính đáng khibằng độc quyền được cấp một cách dễ dàng cho sáng chế nhỏ mọn, tầm thường1.Hơn nữa, thực tế trình độ kĩ thuật và công nghệ thường chưa cao ở các nước đangphát triển, việc thẩm định có nhiều khó khăn cho các cơ quan sáng chế, khi đó các

cơ quan sáng chế có thể lựa chọn công nhận kết quả thẩm định sáng chế có uy tín,

ví dụ bộ ba Cơ quan Sáng chế Hoa kỳ (USPTO), Cơ quan Sáng chế Liên hiệp châu

Âu (EUPO), Cơ quan Sáng chế Nhật Bản (JPO)2

3 Có khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế.

Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu: a) Các thông tin

về bản chất của giải pháp cùng với chỉ dẫn về điều kiện kĩ thuật cần thiết được trìnhbày một cách rõ ràng và đầy đủ đến mức cho phép người có trình độ hiểu biết trungbình trong lĩnh vực kĩ thuật tương ứng có thể tạo ra, sản xuất ra hoặc có thể sửdụng, khai thác hoặc tiến hành được giải pháp đó; b) Việc tạo ra, sản xuất ra, sửdụng, khai thác hoặc tiến hành giải pháp đó có thể được lặp đi lặp lại với kết quảgiống nhau và giống với kết quả được nêu trong đơn Đây là đặc điểm khác biệtgiữa sáng chế với phát minh khoa học Phát minh khoa học được quy định trongHiệp định Giơnevơ (1978) là sự phát hiện ra những hiện tượng, những tính chấthoặc quy luật của thế giới vật chất mà trước đó chưa được phát hiện và có khả năngxác minh được Các phát minh khoa học chủ yếu thể hiện dưới góc độ lí thuyết

1 Xem thêm: UNCTAD & ICTSD, Resource book on TRIPs and Development, Cambridge University Press, Cambridge,

2005, 360.

2 Xem thêm: Peter Drahos, Trust Me; Patent Office in Developing Countries.

10

Ngày đăng: 02/10/2020, 09:22

w