1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

châu tiểu luận hôn nhan

17 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 31,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn

Trang 1

Mục lục

Lời mở đầu 2

I Khái quát chung về kết hôn trái pháp luật theo Luật hôn nhân gia đình năm 2014 3

II Căn cứ xác định là kết hôn trái pháp luật 4

III Biện pháp xử lí kết hôn trái pháp luật 7

1 Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật 7

2 Công nhận hoặc hủy việc kết hôn trái pháp luật 8

3 Căn cứ vào tính chất và mức độ hành vi vi phạm để xác định xử lý hành chính hoặc xử lý hình sự 10

IV Hậu quả pháp lí khi hủy kết hôn trái pháp luật 11

V Liên hệ thực tiễn 13

1 Nguyên nhân kết hôn trái pháp luật 13

2 Thực trạng hiện nay 14

3 Giải pháp 15

VI Kết luận 17

Tài liệu tham khảo 18

Trang 2

Lời mở đầu.

Gia đình không chỉ là “tế bào” tự nhiên mà còn là một đơn vị kinh tế của

xã hội Gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ đất nước Gia đình có vai trò quyết định đối với

sự hình thành và phát triển của xã hội Những chuẩn mực giá trị tốt đẹp của gia đình được tiếp nhận, phát triển góp phần xây dựng, tô thắm, làm rạng rỡ thêm bản sắc văn hóa dân tộc Hôn nhân là bắt nguồn của gia đình, là sự liên kết đặc biệt giữa một người nam và một người nữ, liên kết đó phải được Nhà nước thừa nhận bằng sự phê chuẩn dưới hình thức pháp lý, đó là đăng kí kết hôn Như vậy, đăng kí kết hôn làm xác lập quan hệ hôn nhân và là cơ sở để hình thành gia đình Hôn nhân là cơ sở của gia đình và gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì

xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt Trong thực tế hiện nay, có rất nhiều trường hợp kết hôn trái pháp luật như thiếu sự tự nguyện của một trong hai bên hoặc hai bên nam nữ khi kết hôn, kết hôn khi chưa đủ tuổi,… Nhằm góp phần làm rõ hơn về vấn đề kết hôn trái pháp luật em xin lựa chọn đề tài:

“Kết hôn trái pháp luật theo Luật hôn nhân gia đình năm 2014 Căn cứ xác định

và biện pháp xử lí.”

Trang 3

I Khái quát chung về kết hôn trái pháp luật theo Luật hôn nhân gia đình năm 2014

Khi kết hôn, các bên nam nữ phải tuân thủ các điều kiện được pháp luật quy định, không vi phạm các trường hợp cấm thì hôn nhân mới được coi là hợp pháp Điều đó có nghĩa là, chỉ khi tuân thủ các điều kiện kết hôn, thì cuộc hôn nhân mới có giá trị pháp lý, giữa các bên mới phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng đúng nghĩa Nếu các bên nam, nữ quyết định kết hôn mà không tuân thủ các quy định của pháp luật thì hôn nhân sẽ không được cơ quan có thẩm quyền công nhận Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Căn cứ tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện kết hôn sau:

Thứ nhất, về độ tuổi thì nam từ đủ 20 tuổi trở lên và nữ từ đủ 18 tuổi trở lên Độ tuổi kết hôn được xác định như sau: từ đủ 20 tuổi và từ đủ 18 tuổi là tính sau ngày sinh nhật lần thứ 20 đối với nam giới và sau ngày sinh nhật lần thứ 18 đối với nữ giới Có nghĩa là, nếu nam mới bước sang tuổi 20, nữ mới bước sang tuổi 18 mà kết hôn là chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật Có thể thấy so với Luật Hôn nhân và gia đình 2000 là nam từ 20 tuổi và nữ từ 18 tuổi là

đã đủ điều kiện kết hôn, thì độ tuổi này đã được nâng lên

Thứ hai, việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc lừa dối, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở việc kết hôn Nếu thuộc vào một trong các trường hợp sau đây sẽ bị coi là vi phạm điều kiện kết hôn tại điểm b khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: Một bên ép buộc (ví dụ: đe doạ dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần hoặc dùng vật chất…) nên buộc bên bị ép buộc đồng ý kết hôn Một bên lừa dối (ví dụ: lừa dối là nếu kết hôn sẽ xin việc làm phù hợp hoặc nếu kết hôn sẽ bảo lãnh ra nước ngoài;

Trang 4

không có khả năng sinh lý nhưng cố tình giấu; biết mình bị nhiễm HIV nhưng cố tình giấu…) nên bên bị lừa dối đã đồng ý kết hôn Một bên hoặc cả hai bên nam

và nữ bị người khác cưỡng ép (ví dụ: bố mẹ của người nữ do nợ của người nam một khoản tiền nên cưỡng ép người nữ phải kết hôn với người nam để trừ nợ; do

bố mẹ của hai bên có hứa hẹn với nhau nên cưỡng ép con của họ phải kết hôn với nhau…) buộc người bị cưỡng ép kết hôn trái với nguyện vọng của họ

Thứ ba, không bị mất năng lực hành vi dân sự Căn cứ theo Điều 22 Luật Dân sự 2015 quy định về mất năng lực hành vi dân sự, những người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình mà Toà án đã ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ

sở kết luận của tổ chức giám định Theo đó, những người bị Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự sẽ không đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014

Thứ tư, việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật Hôn nhân và gia đình

2014

II Căn cứ xác định là kết hôn trái pháp luật

Phải dựa trên những căn cứ sau:

Một là, kết hôn trái pháp luật do vi phạm độ tuổi kết hôn

Độ tuổi là một trong số những điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 với nội dung như sau: "Nam từ

đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ đủ mười tám tuổi trở lên" Theo đó, vi phạm về

độ tuổi kết hôn là trường hợp một trong hai bên hoặc cả hai bên nam nữ chưa đạt đến độ tuổi quy định, trường hợp kết hôn vi phạm về độ tuổi còn được gọi là tảo hôn Ngày nay, xã hội đã có những bước phát triển lớn, cách nhìn nhận của con người về hôn nhân, gia đình đã đúng đắn hơn rất nhiều, hiện tượng vi phạm điều

Trang 5

kiện kết hôn về độ tuổi phần lớn chỉ còn tồn tại ở một số dân tộc miền núi, thiểu

số Đường lối xử lý cũng hết sức mềm dẻo, căn cứ vào tình trạng thực tế của cuộc hôn nhân mà có trường hợp xử hủy kết hôn trái pháp luật, có trường hợp không hủy kết hôn

Hai là, kết hôn trái pháp luật do vi phạm về sự tự nguyện.

Kết hôn là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân giữa hai chủ thể nam nữ được pháp luật Hôn nhân và gia đình ghi nhận và quy định những điều kiện riêng Một trong số những điều kiện đó là sự tự nguyện của các bên nam nữ khi kết hôn, theo đó " Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định" Trái ngược với sự tự nguyện đó chính là những hành vi ép buộc, lừa dối hoặc "cưỡng ép, cản trở" các bên nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân là những hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình Kết hôn vi phạm sự tự nguyện là một hiện tượng diễn ra khá phổ biến trong xã hội phong kiến, nhất là đối với những gia đình có địa vị thấp kém trong xã hội Ngày nay, hiện tượng này chủ yếu tồn tại ở một số dân tộc miền núi điển hình như tục "cướp vợ" của người H’Mông

Ba là, người mất năng lực hành vi dân sự nhưng vẫn kết hôn.

Tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 quy định về những trường hợp cấm kết hôn đã nêu rõ: Cấm những người mất năng lực hành

vi dân sự kết hôn Như vậy, có thể nói quy định cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn là một quy định hết sức cần thiết, phù hợp với quy luật tự nhiên của quan hệ hôn nhân, đảm bảo hạnh phúc thực sự của gia đình

Bốn là, người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác.

Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 đã khẳng định một trong những nguyên tắc của hôn nhân đó là hôn nhân một vợ - một chồng Do

đó, người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác hoặc người chưa

Trang 6

có vợ, chưa có chồng mà kết hôn với người đã có chồng hoặc đã có vợ là kết hôn trái pháp luật Đây chính là bản chất tạo nên sự khác biệt cơ bản giữa pháp luật về Hôn nhân và gia đình của nước ta - một nước xã hội chủ nghĩa so với nhà nước phong kiến hoặc tư sản

Năm là, những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc những người có

họ trong phạm vi ba đời kết hôn với nhau.

Xét về mặt khoa học, việc cấm kết hôn giữa những người có quan hệ huyết thống để nhằm đảm bảo cho sự phát triển khỏe mạnh của con cái, sự phát triển bền vững và hạnh phúc của gia đình Xét về yếu tố phong tục, tập quán và những quy định về chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực văn hóa theo xã hội Việt Nam, thì việc cấm những người có quan hệ huyết thống kết hôn với nhau còn có tác dụng làm lành mạnh các mối quan hệ trong gia đình, phù hợp với đạo đức và truyền thống từ xưa đến nay của dân tộc Việt Nam

Sáu là, cha mẹ nuôi kết hôn với con nuôi; những người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng mà lại kết hôn với nhau.

Bảy là, hai người cùng giới tính kế hôn với nhau.

Một trong những chức năng không thể thiếu được của gia đình đó chính là chức năng sinh sản Mà chức năng này chỉ có thể được thực hiện bởi hai chủ thể khác nhau về giới tính Luật Hôn nhân và gia đình 2014 bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” Luật Hôn nhân và gia đình 2014 bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” nhưng có quy định cụ thể:

“không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (khoản 2 Điều 8) III Biện pháp xử lí kết hôn trái pháp luật

Khi xem xét, giải quyết yêu cầu có liên quan đến việc hủy kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào yêu cầu của đương sự và điều kiện kết hôn,

Trang 7

điều kiện công nhận quan hệ hôn nhân quy định tại Điều 8 và Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình để quyết định Vừa qua, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký ban hành Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 Thông tư liên tịch này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2016 Vụ việc hôn nhân và gia đình đã được Tòa án thụ lý trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực nhưng kể từ ngày Thông tư liên tịch này

có hiệu lực mới xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng Thông tư liên tịch này để giải quyết Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực thì không áp dụng hướng dẫn tại Thông tư liên tịch này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

1 Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

Quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật được quy định cho các đối tượng tại Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình 2014 Theo đó bao gồm: Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân

sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân

sự Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha,

mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật

So với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Hôn nhân gia đình

2014 không trao quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật cho Viện Kiểm sát nhân dân nữa Hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 sửa đổi, bổ sung năm

2011 không quy định quyền khởi kiện vụ án dân sự cho Viện kiểm sát nhân dân,

do đó Viện kiểm sát không có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

Trang 8

Việc bỏ quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của Viện Kiểm sát nhân dân là phù hợp và thống nhất với các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự

Hơn nữa, Luật Luật Hôn nhân gia đình 2014 cũng không chỉ rõ Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em (nay là Ủy ban Dân số, gia đình và trẻ em) là cơ quan

có quyền như trước đây mà chỉ quy định chung thẩm quyền cho “Cơ quan quản

lý nhà nước về gia đình”, “Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em” Điều này khiến cho quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật không chỉ bó hẹp ở một

cơ quan mà nhiều cơ quan khác có nhiệm vụ tương tự, qua đó đảm bảo hơn quyền lợi cho người dân cũng như ngăn chặn, hạn chế các trường hợp kết hôn trái pháp luật

2 Công nhận hoặc hủy việc kết hôn trái pháp luật

Trường hợp tại thời điểm kết hôn, hai bên kết hôn không có đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình thì Tòa án xử lý như sau:

 Nếu hai bên kết hôn cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án quyết định công nhận quan hệ hôn nhân đó kể từ thời điểm các bên kết hôn có đủ điều kiện kết hôn

 Nếu một hoặc hai bên yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc có một bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia không có yêu cầu thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật Trường hợp có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thì quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn đến thời điểm hủy việc kết hôn trái pháp luật được giải quyết theo quy định tại Điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình

 Trường hợp hai bên cùng yêu cầu Tòa án cho ly hôn hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án giải quyết cho ly hôn Trường hợp này, quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con

Trang 9

từ thời điểm kết hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo quy định

về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn; quan hệ tài sản, nghĩa vụ

và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn đến trước thời điểm đủ điều kiện kết hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình

 Trường hợp hai bên đã đăng ký kết hôn nhưng tại thời điểm Tòa án giải quyết hai bên kết hôn vẫn không có đủ các điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình thì thực hiện như sau: Nếu có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật Nếu một hoặc cả hai bên yêu cầu ly hôn hoặc yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án bác yêu cầu của họ và quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật Trường hợp quyết định theo hướng dẫn tại điểm a và điểm b khoản này thì Tòa án áp dụng quy định tại Điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật

Khi xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình có hiệu lực tại thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân để xác định việc kết hôn có trái pháp luật hay không Trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu xử lý việc kết hôn trái pháp luật được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật tố tụng dân sự có hiệu lực tại thời điểm giải quyết

3 Căn cứ vào tính chất và mức độ hành vi vi phạm để xác định xử lý hành chính hoặc xử lý hình sự

Việc xử lý hành chính sẽ theo Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24/09/2013 (có hiệu lực từ 11/11/2013) Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành

Trang 10

án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Tùy hành vi vi phạm mà mức phạt tiền thấp nhất là 300.000 đồng và cao nhất là 30.000.000 đồng (Điều 28 và Điều 48) Hiện nay, Bộ Tư pháp đang được giao để chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP để đảm bảo phù hợp hơn với một số Luật mới có hiệu lực từ 01/01/2015, trong đó có Luật hôn nhân và gia đình 52/2014/QH13

Nếu hành vi kết hôn trái pháp luật có đủ yếu tố cấu thành tội phạm sẽ bị

xử lý hình sự theo các tội danh tương ứng của Bộ luật hình sự: Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện (Điều 181 BLHS 2015) “Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành

hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị

xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm” Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182 BLHS 2015) “Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm” Tội tổ chức tảo hôn,…

IV Hậu quả pháp lí khi hủy kết hôn trái pháp luật

Về quan hệ nhân thân thì bên cạnh ly hôn, thì hủy kết hôn trái pháp luật cũng dẫn đến chấm dứt quan hệ hôn nhân Bởi vì, khi hôn nhân bị coi là trái pháp luật, thì Nhà nước không thừa nhận hai người trong quan hệ hôn nhân đó là

vợ chồng, do đó, kể từ thời điểm các bên bắt đầu chung sống với nhau cho đến khi tòa hủy việc kết hôn trái pháp luật thì hai người chưa từng phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng hợp pháp Kể từ ngày quyết định hủy kết hôn trái pháp luật

Ngày đăng: 02/10/2020, 09:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w