1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu lạm phát mục tiêu tại việt nam

58 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 498,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tập trung vào đánh giá ba yếu tố: 1 tính độc lập của Ngân hàng Trung Ương; 2 việc xác định mục tiêu của Ngân hàng Trung Ương; 3 kiểm tra sự tồn tại mối quan hệ giữa lạm phát v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- -

LÊ XUÂN MAI

NGHIÊN CỨU LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI

VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 9 NĂM 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- -

LÊ XUÂN MAI

NGHIÊN CỨU LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM

Mã số : 603.402.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Ngoài ra trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá của các tác giả khác

và đều có chú thích nguồn gốc sau mỗi trích dẫn để dễ tra cứu, kiểm chứng

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2013 Tác giả

Lê Xuân Mai

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Cô Nguyễn Thị Ngọc Trang đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này, cũng như gửi lời cảm ơn đến các Quý thầy cô những người đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong

cả khóa học

Bên cạnh đó tôi xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị, bạn bè cùng học chung với tôi trong khóa học, đặc biệt là ban cán sự lớp, những người luôn động viên và thông tin kịp thời những thông tin cần thiết, bổ ích

Cuối cùng tôi xin cảm ơn cha mẹ, gia đình đã luôn tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Lê Xuân Mai

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG

TÓM TẮT 1

MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG I 6

TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 6

1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan 6

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về lạm phát mục tiêu 6

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước về lạm phát mục tiêu 10

1.2 Kết luận chương 1 12

CHƯƠNG II 13

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

2.1 Mô hình kiểm định 13

2.2 Phương pháp nghiên cứu 14

2.2.1 Phương pháp tự hồi quy Vector 14

2.2.2 Các kiểm định liên quan mô hình 16

2.2.2.1 Kiểm định nghiệm đơn vị 16

2.2.2.2 Kiểm định Granger Causality 16

2.3 Thu thập và mô tả dữ liệu 17

CHƯƠNG III 22

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22

3.1 Đo lường tính độc lập của NHTW 22

3.2 Mục tiêu của NHTW 28

3.3 Kết quả thực nghiệm 29

3.3.1 Kiểm định nghiệm đơn vị 29

Trang 6

3.3.2 Xác định độ dài trễ: 30

3.3.3 Kiểm định Granger Causality 31

3.3.4 Phân tích phản ứng cú sốc 33

3.3.5 Phâ n tích phương sai 37

3.4 Kết luận chương 3 42

CHƯƠNG IV: 44

KẾT LUẬN 44

4.1 Kết luận 44

4.2 Kiến nghị các bước chuẩn bị để tiến tới thực hiện lạm phát mục tiêu 45

4.3 Hạn chế .47 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC VIẾT TẮT

Viết tắt Ý nghĩa Tiếng Anh

GSO Tổng cục thống kê General stataticsorganization IMF Quỹ tiền tệ quốc tế Interational monetary fund LPMT Lạm phát mục tiêu Inflation targeting

NHTW Ngân hàng Trung ương Central bank

NHNN Ngân hàng Nhà nước State bank

TGHĐ Tỷ giá hối đoái Exchange rate

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Tổng sản phẩm quốc nội 18

Hình 2.2: Chỉ số giá 18

Hình 2.3: Cung tiền M2 19

Hình 2.4: Thâm hụt nhân sách 20

Hình 2.5: Lãi suất tiền gửi 20

Hình 2 6: Tỷ giá hối đoái VND/USD 21

Hình 3.1: Phản ứng của CPI đối với các cú sốc 33

Hình 3.2: Phản ứng của các biến chính sách, sản lượng trước cú sốc chỉ số giá CPI 36

DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1: Tính điểm độc lập của NHTW 23

Bảng 3.2: Danh sách thống đốc ngân hàng qua các nhiệm kỳ 27

Bảng 3.3: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị 29

Bảng 3.4: Xác định độ dài trễ của mô hình VAR 30

Bảng 3.5: Kiểm định Granger Causality 31

Bảng 3.6: Phân tích phương sai chỉ số giá 37

Bảng 3.7: Bảng phân tích phương sai GDP 38

Bảng 3.8: Bảng phân tích phương sai BD, IR, ER và M2 39

Trang 9

TÓM TẮT

Bài nghiên cứu tập trung nghiên cứu vấn đề lạm phát mục tiêu tại Việt Nam thông qua việc đánh giá Việt Nam đã sẵn sàng để thực hiện lạm phát mục tiêu hay chưa? Nghiên cứu tập trung vào đánh giá ba yếu tố: 1) tính độc lập của Ngân hàng Trung Ương; 2) việc xác định mục tiêu của Ngân hàng Trung Ương; 3) kiểm tra sự tồn tại mối quan hệ giữa lạm phát và các công cụ chính sách tiền tệ Hai yếu tố đầu tiên được tính toán dựa vào các thông tin sẵn có và thang tính điểm dựa theo nghiên cứu của Alex Cukierman và các cộng sự (1992) Yếu tố thứ 3 được kiểm định dựa vào kiểm định Granger Causality và phương pháp tự hồi quy vector VAR Kết quả cho thấy NHTW chưa có tính độc lập cao, còn phải thực hiện cùng lúc nhiều mục tiêu

và chưa có mục tiêu ưu tiên duy nhất Còn về mối quan hệ giữa lạm phát, sản lượng

và các công cụ chính sách thì còn yếu hoặc không có Do vậy bài nghiên cứu kiến nghị Việt Nam chưa nên thực hiện lạm phát mục tiêu tại thời điểm này

Từ khóa: lạm phát, chính sách tiền tệ, lạm phát mục tiêu

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam luôn ở mức cao Cụ thể lạm phát năm 2007 là 12,7%, năm 2008 là 19.9%, năm 2010 là 11,75%, năm 2011 là 18,13% và năm 2012 là 6.81% Với diễn biến lạm phát như vậy cho thấy nguy cơ lạm phát cao sẽ còn đe dọa đến tình hình tăng trưởng, phát triển kinh tế Việt Nam trong những năm tới Trong những năm qua, Việt Nam đã liên tục áp dụng các biện pháp điều hành chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát Mặc dù các chính sách này

đã phần nào phát huy tác dụng nhưng đó chỉ là các biện pháp ngắn hạn tạm thời, chưa thực sự giải quyết được vần đề lạm phát của Việt Nam Vậy liệu có biện pháp nào Việt Nam có thể áp dụng lâu dài để đảm bảo giải quyết được vấn đề lạm phát

mà vẫn đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế Một trong các biện pháp

mà nhiều nước trên thế giới đã áp dụng thành công là áp dụng chế độ lạm phát mục tiêu Vậy LPMT có thể thực hiện thành công tại Việt Nam không? Các yếu tố nào tác động đến việc thực hiện thành công LPMT tại Việt Nam Đó là lý do tác giả nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu lạm phát mục tiêu tại Việt Nam”

2 Tính cấp thiết của đề tài

Lạm phát là đề tài không chỉ ở Việt Nam mà các nước trên thế giới đều quan tâm bởi nó trực tiếp ảnh hưởng đến tình hình tăng trưởng phát triển kinh tế của một nước Ở nước ta đã có nhiều nghiên cứu về lạm phát, các yếu tố tác động đến lạm phát, tuy nhiên số lượng nghiên cứu về lạm phát mục tiêu vẫn còn giới hạn Đặc biệt các nghiên cứu về lạm phát mục tiêu tại Việt Nam hiện nay chủ yếu là nghiên cứu định tính cho nên một nghiên cứu định lượng về đề tài này để mang đến cái nhìn rõ ràng, cụ thể hơn tại thời điểm này là thực sự cần thiết Đây chính là nguồn động lực thúc đẩy tác giả tìm kiếm và chọn lựa cácbài nghiên cứu học thuật trước đây đã được thực hiện ở các nước trong khu vực và thế giới để kế thừa, ứng dụng, kiểm định lại kết quả khi thực hiện ở Việt Nam Cụ thể là nghiên cứu của Aliyu,

Trang 11

Shehu Usman Rano and Englama, Abwaku (2009) Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu lạm

phát mục tiêu tại Việt Nam ” được tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu trong luận

văn cao học của mình

3 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu khả năng áp dụng lạm phát mục tiêu tại Việt Nam thông qua ba điều kiện:

1 Sự độc lập của Ngân hàng Trung Ương

2 Mục tiêu của Ngân hàng Trung Ương có duy nhất không?

3 Mối quan hệ giữa lạm phát và công cụ chính sách tiền tệ

4 Đối tượng nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nói trên đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm:

- Chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam (CPI)

- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

- Các công cụ tiền tệ bao gồm: Cung tiền mở rộng(M2), thâm hụt ngân sách

(BD), lãi suất tiền gửi (IR), tỷ giá hối đoái VND/USD (ER)

5 Phạm vi nghiên cứu

Các số liệu chỉ số giá CPI, cung tiền M2, thâm hụt ngân sách BD, sản lượng GDP, lãi suất tiền gửi IR, tỷ giá hối đoái ER của Việt Nam được tính toán trong giai đoạn Quý 1 năm 2000 đến Quý 4 năm 2012

Trang 12

6 P hương pháp nghiên cứu

Sử dụng kiểm định đơn biến và đa biến nhân quả Granger Causality để kiểm tra mối quan hệ nhân quả giữa các biến theo chuỗi thời gian Kết quả ở bước này bổ sung thêm cho kết quả chạy hồi quy trong bước tiếp theo sau đây

Hồi quy dữ liệu chuỗi thời gian theo mô hình tự hồi quy Vector (VAR) để kiểm tra phản ứng của của các biến trong mô hình khi xảy ra cú sốc Khi dùng mô hình VAR

ta phân tích phản ứng cú sốc và phân tích phương sai để thấy rõ phản ứng của lạm phát khi xảy ra cú sốc sản lượng và cú sốc chính sách tiền tệ

Các biến nội sinh trong mô hình: Xt = (GDP, CPI, M2, BD, IR, ER)

Trong đó:

GDP là tổng sản phẩm quốc nội đại diện cho mức sản lượng

M2: Cung tiền

BD: thâm hụt ngân sách Nhà nước

IR: lãi suất tiền gửi (% /năm)

ER: tỷ giá hối đoái VND/USD tính trung bình trong Quý

Dữ liệu được lấy từ Quý 1 năm 2000 đến Quý 4 năm 2012

Xử lý dữ liệu:

Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu bằng mô hình Augumented Dickey-Full (ADF)

Kiểm định Granger Causality

Chạy mô hình VAR

Trang 13

7 Dữ liệu nghiên cứu

Trong luận văn tác giả đã sử dụng dữ liệu từ các nguồn: Tổng cục thống kê Việt nam (GSO), website cổng thông tin điện tử Chính Phủ (chinhphu.vn), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2012

8 Bố cục của luận văn

Ngoài lời mở đầu, giới thiệu và tài liệu tham khảo, bố cục luận văn gồm các phần sau:

- Chương I: Tổng quan các nghiên cứu liên quan

- Chương II: Phương pháp nghiên cứu

- Chương III: Kết quả nghiên cứu

- Chương IV: Kết luận và đưa ra những hạn chế

9 Những đóng góp của luận văn

Thứ nhất, luận văn đã lần đầu nghiên cứu lạm phát mục tiêu tại Việt nam theo phương pháp định lượng

Thứ hai, tính độc lập của NHTW trong luận văn được xác định bằng thang điểm chứ không chỉ nhìn nhận một cách định tính

Trang 14

CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về lạm phát mục tiêu

Đầu những năm 90, kể từ sau sự thành công của một số nước phát triển trong việc thực hiện lạm phát mục tiêu (LPMT), chế độ LPMT đã trở nên phổ biến và được nhiều quốc gia lựa chọn làm chính sách tiền tệ của quốc gia mình Không chỉ các nước phát triển mà cả các nước thị trường mới nổi cũng đã lựa chọn LPMT là chế

độ tiền tệ và đến nay trừ hai nước tham gia liên minh tiền tệ châu Âu (Phần Lan và

Tây ban Nha) chưa có quốc gia nào từ bỏ (Loayza và Soto-2002) Vậy LPMT là gì?

Khái niệm lạm phát mục tiêu:

Theo Mishkin (2000 ) LPMT là một chiến lược chính sách tiền tệ bao gồm năm yếu

tố chính: 1) thông báo công khai các mục tiêu lạm phát trung hạn, 2) một thể chế cam kết ổn định giá cả là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ, còn các mục tiêu khác xếp sau về tầm quan trọng, 3) một chiến lược tập trung thông tin, trong đó nhiều biến, mà không chỉ là tổng lượng tiền tệ hoặc TGHĐ, được sử dụng để quyết định việc thiết lập các công cụ chính sách; 4) gia tăng tính minh bạch của các chiến lược chính sách tiền tệ thông qua thông tin liên lạc với công chúng và thị trường về

kế hoạch, mục tiêu, và quyết định của ủy ban tiền tệ, và 5) gia tăng trách nhiệm của NHTW đối với việc đạt được mục tiêu lạm phát của nó

Những thuận lợi và bất lợi khi thực hiện LPMT:

Mục tiêu chính của LPMT là duy trì mức lạm phát thấp Điều này mang đến những thuận lợi, tuy nhiên cũng có những bất lợi cho các nước thực hiện

Thuận lợi: LPMT dễ dàng được hiểu bởi công chúng và do dó tính minh bạch cao

Bởi vì mục tiêu lạm phát rõ ràng nên cũng làm tăng tính chịu trách nhiệm của

Trang 15

NHTW LPMT cũng có tiềm năng giúp giảm khả năng NHTW rơi vào bẫy " không thống nhất thời gian" (time-inconsistency trap) bởi vì LPMT có thuận lợi là tập trung vào những gì NHTW có thể làm trong dài hạn (điều hành lạm phát) hơn là những gì không thể làm (nâng cao sản lượng, giảm thất nghiệp, tăng tính cạnh tranh) thông qua chính sách tiền tệ.(Frederic S Mishkin-2000) Ngoài ra mục tiêu duy trì lạm phát thấp mở đường cho sự ổn định kinh tế vĩ mô, loại bỏ dần những bất

ổn và thúc đẩy các hợp đồng dài hạn (Aliyu Shehu Usman Rano và Englama Abwaku, 2009) LPMT còn mang lại những lợi ích khác cho các nước thực hiện như: giúp làm giảm lạm phát kỳ vọng và xử lý tốt các cú sốc lạm phát, giúp giảm tỷ

lệ đánh đổi và độ bất ổn đầu ra ở các nước áp dụng LPMT ( Frederic S Mishkin and Klaus Schmidt Hebbel, 2001)

Bất lợi: Thứ nhất, sự dao động trong TGHĐ và sự thay đổi trong tỷ lệ lạm phát ở

các nước khác hoặc mức giá nhập khẩu hàng hóa hay dịch vụ có thể đẩy tỷ lệ lạm phát trong nước tăng cao, làm gia tăng lãi suất Mức lãi suất tăng cao sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và việc làm Thứ hai, LPMT có thể làm cho việc điều hành nền kinh tế dưới mức sản lượng tiềm năng của nó trong dài hạn dẫn đến thất nghiệp tăng cao làm ảnh hưởng đến bản thân nền kinh tế và gia tăng các chi phí xã hội Thứ

ba, LPMT quá cứng nhắc, cho phép quá nhiều quyền quyết định Thứ tư, LPMT mặc dù làm tăng trách nhiệm của NHTW nhưng cũng có thể tạo ra tính chịu trách nhiệm yếu của NHTW bởi vì nó quá khó để điều hành và bởi vì độ trễ lớn từ công

cụ chính sách tiền tệ đối với kết quả lạm phát Thứ năm, chế độ LPMT phải đi kèm với TGHĐ linh hoạt, điều này làm gia tăng bất ổn tài chính

Nhìn vào sự thành công trong việc thực hiện LPMT của một số quốc gia tiêu biểu,

ví dụ như Chile, Brazil, ta có thể thấy mặc dù LPMT không phải là phương pháp toàn diện cho tất cả các nước nhưng đối với một số nước thì đây là một chế độ chính sách tiền tệ hữu ích Ở Chile lạm phát ở mức 20% khi bắt đầu thực hiện LPMT đến nay đã giảm còn khoảng 3%, cũng trong thời gian đó tăng trưởng sản lượng rất cao, trung bình 8% năm từ năm 1991 đến năm 1997 Chỉ hai năm 1998 và

Trang 16

1999 do nền kinh tế rơi vào suy thoái nên tăng trưởng sản lượng giảm xuống còn 3.4% và -2.9% (Mishkin, 2000) Còn đối với Brazil từ 1999 khi bắt đầu thực hiện LPMT thì năm 1999 giảm còn 8.9% so với mục tiêu đặt ra nhưng vẫn nằm trong biên độ cho phép, trong năm 2000 lạm phát tiếp tục giảm và lạm phát tại thời điểm cuối năm 2000 đúng bằng mức mục tiêu 6% mà NHTW đã đặt ra vào thời điểm giữa năm 1999 Tuy nhiên, trong năm 2001 lạm phát đã tăng lên mức 7,7%, vượt quá mức mục tiêu là 4% cộng với biên độ dao động 2% cho phép Mặc dù có một số sai lệch nhưng LPMT đã giúp Brazil giảm lạm phát rất nhiều so với trước khi thực hiện LPMT (19%)

Điều kiện để thực hiện thành công LPMT:

Một mô hình LPMT hoàn chỉnh phải đầy đủ 5 yếu tố: 1) NHTW không sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ ( tỷ giá hối đoái, cung tiền ) để làm neo danh nghĩa ; 2) NHTW cam kết ổn định giá cả là mục tiêu ưu tiên hàng đầu; 3) Trong việc điều hành chính sách Chính phủ không được ưu tiên chính sách tài khóa; 4) NHTW phải

có được sự độc lập trong việc sử dụng các công cụ chính sách; 5) tính minh bạch và tính chịu trách nhiệm của NHTW trong việc thực hiện các chính sách (Mishkin -2001) Do đó, để thực hiện thành công LPMT các điều kiện tiên quyết mà các nước cần đạt được là (Nicoletta Batini, Douglas Laxton, 2006):

a) tính độc lập về thể chế (institutional independence): NHTW cần phải có đầy dủ quyền tự chủ pháp lý và không bị áp lực bởi các chính sách tài khóa, chính trị, điều

mà có thể tạo ra sự mâu thuẫn với mục tiêu lạm phát

b) cơ sở hạ tầng kỹ thuật phát triển tốt(well-developed technical infrastructure): NHTW cần phải có khả năng dự báo, mô hình dự báo lạm phát và có dữ liệu để thực hiện điều đó

c) cấu trúc nền kinh tế: Giá cả cần được bãi bỏ kiểm soát hoàn toàn, nền kinh tế không nên quá nhạy cảm với giá hàng hóa và TGHĐ, đôla hóa cần được tối thiểu

Trang 17

d) một hệ thống tài chính khỏe mạnh: để tối thiểu hóa các xung đột tiềm năng với mục tiêu ổn định tài chính và bảo đảm sự chuyển đổi chính sách tiền tệ hiệu quả hệ thống ngân hàng cần phải khỏe mạnh và và thị trường vốn cần phát triển tốt

Tuy nhiên, thực tế cho thấy không phải các quốc gia thực hiện LPMT đều có đầy đủ các yếu tố trên, rất nhiều nước đạt được LPMT mà không thỏa mãn một hoặc nhiều các điều kiện đề cập Ví dụ, Chile và Israel đặt mục tiêu TGHĐ trong suốt hầu hết những năm 1990 Ngân hàng Anh quốc đã bắt đầu chế độ LPMT rất tốt trước khi đạt được tính độc lập trong công cụ chính sách Hầu hết các nước đạt được LPMT trước khi có được tính minh bạch cao trong chính sách (bao gồm giới thiệu ra công

chúng báo cáo lạm phát, dự thảo lạm phát, biên bản họp chính sách tiền tệ) và chịu trách nhiệm đầy đủ (Fredric S Mishkin, Klaus Schmidt-Hebbel, 2001)

Vậy làm sao để biết một quốc gia đã sẵn sàng thực hiện LPMT chưa?

Trong nghiên cứu của Eser Tutar(2002) về khả năng áp dụng LPMT tại Thổ nhĩ Kỳ tác giả đã đưa ra 3 yếu tố cần thiết để tính toán một quốc gia có thể thực hiện LPMT không: 1) tính độc lập của NHTW, 2) có duy nhất một mục tiêu, 3) sự tồn tại của mối quan hệ ổn định và có thể dự báo giữa công cụ chính sách tiền tệ và lạm phát Bài nghiên cứu đã cho thấy rằng mặc dù Thổ Nhĩ Kỳ thỏa mãn điều kiện 2 nhưng không thỏa mãn điều kiện 1 và 3 Bằng thực nghiệm sử dụng phương pháp tự hồi quy vector VAR đã cho thấy không có mối liên kết ổn định và dự báo được giữa công cụ chính sách tiền tệ và lạm phát Vì thế Thổ Nhĩ Kỳ không phải là ứng cử viên tốt đối với chế độ LPMT

Ở Balan, Christofferson, Slok và Wescott (2001) cũng sử dụng ba yếu tố giống như Eser Tutar để kiểm tra tính khả thi của LPMT tại nước này Yếu tố 1) và 2) được cho là thỏa mãn tại Ba Lan Yếu tố 3) cũng được tác giả kiểm định bằng mô hình VAR, và các phân tích thống kê trong nghiên cứu của tác giả đả chỉ ra rằng có mối quan hệ giữa lạm phát và các công cụ chính sách tiền tệ Vì vậy tác giả đã đi đến kết luận Ba lan đã sẵn sàng thực hiện LPMT

Trang 18

Ở Nigeria, mặc dù có 3 điều kiện để thực hiện LPMT nhưng Aliyu, Shehu Usman Rano and Englama, Abwaku (2009) chỉ kiểm tra một điều kiện, đó là sự tồn tại của mối quan hệ có thể dự báo giữa công cụ chính sách tiền tệ và lạm phát (các yếu tố khác: quyền tự chủ của NHTW, tính minh bạch và tính chịu trách nhiệm) Tác giả

đã sử dụng kiểm định Granger Causality và phương pháp tự hồi quy vector VAR để kiểm tra và đã đi đến kết luận: mặc dù NHTW Nigeria đã có quyền tự chủ, các hoạt động của nó ngày càng minh bạch và đã thực sự chịu trách nhiệm nhưng Nigeria không nên theo đuổi mô hình LPMT hoàn chỉnh mà chỉ nên theo đuổi hình thái LPMT (Inflation targating lite) Đó là hình thức thấp của LPMT, do thiếu môi trường kinh tế vĩ mô mạnh mẽ và đáng tin Các nước theo hình thái LPMT thả nổi TGHĐ và đưa ra một mục tiêu lạm phát, nhưng không thể duy trì mục tiêu lạm phát như là mục tiêu chín sách ưu tiên hàng đầu

Ở Georgia, Giorgi Bakradze and Andreas Billmeier (2007) đã sử dụng mô hình VAR để tính toán mối quan hệ giữa công cụ chính sách tiền tệ, lạm phát và sản lượng Tác giả nhận thấy rằng Georgia chưa sẵn sàng để thực hiện LPMT Bởi vì Ngân hàng quốc gia Georgia vẫn còn yếu kém về thể chế, vẫn còn nhiều mục tiêu xung đột nhau và thực tế việc thực hiện rơi vào tình trạng thiếu một môi trường thể chế hợp pháp Hơn nữa, các nhà làm chính sách cũng bị cản trở bởi việc thiếu các

chỉ số đáng tin cậy

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước về lạm phát mục tiêu

Le Anh Tu Packard (2007): Tác giả nghiên cứu tình hình kinh tế xã hội và cơ chế điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam, sau đó liên hệ với các yếu tố cần thiết để thực hiện thành công chế độ LPMT Trên cơ sở đó tác giả cho rằng Việt Nam không phù hợp đề thực hiện chính sách này Lý do là Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, do đó nền kinh tế chứa đựng nhiều bất ổn Trong khi đó các nhà hoạch định chính sách đang phải đối mặt với việc thích ứng linh hoạt, thông

minh với các điều kiện thay đồi của kinh tế toàn cầu Tác giả đề nghị thực hiện

chính sách TGHĐ ổn định và cạnh tranh sẽ thích hợp hơn đối với kinh tế Việt Nam

Trang 19

Tô Thị Ánh Dương và các cộng sự (2012): Trên cở sở nghiên cứu cơ chế điều

hành chính sách tiền tệ cũng như đánh giá hiệu quả của cơ chế điều hành này tại Việt Nam giai đoạn 2000-2010, đồng thời xem xét kinh nghiệm của các nước áp dụng LPMT trên thế giới tác giả cho rằng hiện tại Việt Nam chưa thể áp dụng LPMT hoàn toàn nhưng có thể bắt đầu thực hiện chế độ LPMT ngầm định từ 2012 Bên cạnh đó tác giả cũng đề xuất một số biện pháp đối mới cơ chế điều hành chính sách tiền tệ và xây dựng Ngân hàng Nhà nước đề từng bước tiến gần đến thực hiện LPMT Tác giả đã đưa ra lộ trình thực hiện cho Việt Nam gồm 2 giai đoạn: 3 năm đầu với mức lạm phát 6%, biên độ dao động ± 2%, 2 năm tiếp theo với mức lạm phát 4%, biên độ dao động ± 1% Đề thực hiện được mục tiêu trên tác giả cũng đưa

ra các nhóm giải pháp: nhóm giải pháp đối mới thể chế, nhóm giải pháp kỹ thuật, nhóm giải pháp hỗ trợ (công tác truyền thông, dự báo, cơ chế điều hành chính sách tiền tệ…)

Trang 20

- NHTW cam kết theo đuổi một mục tiêu;

- không ưu tiên chính sách tài khóa;

- khả năng xây dựng, thiết kế mô hình dự báo lạm phát;

- phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và các công cụ chính sách tiền tệ

Ở đây tại Việt Nam, nghiên cứu dựa vào ba yếu tố chính để kiểm tra Việt Nam có

đủ điều kiện để thực hiện LPMT hay không?

1) tính độc lập của NHTW,

2) có duy nhất một mục tiêu,

3) kiểm tra mối quan hệ giữa lạm phát, sản lượng và công cụ chính sách tiền tệ Để tính toán mối quan hệ trên tác giả dựa vào các yếu tố như sau: chỉ số giá tiêu dùng (CPI), sản lượng (GDP), cung tiền (M2), lãi suất tiền gửi (IR), tỷ giá hối đoái (ER), thâm hụt ngân sách (BD) Trong đó CPI được xem như là chỉ số đại diện cho lạm phát, chỉ số GDP đại diện cho mức sản lượng

Trang 21

CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mô hình kiểm định

Dựa vào các nghiên cứu trên, cụ thể là các nghiên cứu Aliyu, Shehu Usman Rano and Englama, Abwaku (2009) tác giả đã kế thừa và có những bổ sung cần thiết cho phù hợp với điều kiện hiện tại cho nghiên cứu LPMT mà tác giả đang thực hiện

Mô hình nghiên cứu của nghiên cứu của đề tài có dạng sau:

Xt = (GDP, CPI, M2, BD, IR, ER)

Trong đó: các biến đo lường trong mô hình tập trung vào xem xét các biến nội sinh

và các nhân tố tác động đến LPMT

GDP tổng sản phẩm quốc nội là giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong một thời kỳ nhất định Ở đây GDP được sử dụng làm đại diện cho mức sản lượng

M2: Cung tiền là toàn bộ lượng tiền đang lưu thông của cá nhân và doanh nghiệp, không kể các tổ chức tín dụng và NHTW Cung tiền M2 tổng lượng tiền M1 và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn Cung tiền M2 phản ánh cầu tiền tệ trong nền kinh tế

BD: thâm hụt ngân sách Nhà nước là tình trạng các khoản chi của Ngân sách nhà nước lớn hơn các khoản thu Thâm hụt NSNN gây nên những tác động tiêu cực đến đời sống người dân và làm mất cân bằng nền kinh tế: thoái lui đầu tư, thâm hụt cán cân thương mại … Bên cạnh đó thâm hụt NSNN còn có mối liên hệ chặt chẽ với lạm phát, nó là một trong các nguyên nhân gây ra lạm phát

IR: lãi suất tiền gửi là tỷ lệ mà theo đó người vay trả cho việc sử dụng tiền mà họ vay từ người cho vay Ở đây lãi suất tiền gửi là lãi suất mà Ngân hàng trả cho người

Trang 22

gửi tiền vào Ngân hàng (% /năm) Lãi suất được xem là công cụ để điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt nó được xem như là công cụ để đối phó với lạm phát

ER: tỷ giá hối đoái VND/USD tính trung bình trong Quý là số đơn vị Việt Nam đồng phải bỏ ra để mua một USD

Với 6 biến được sử dụng trong nghiên cứu này là các chỉ tiêu vĩ mô cơ bản, phản ảnh mức độ lạm phát Qua đó, các nhà lãnh đạo, làm chính sách có thể dựa vào đó

để phục vụ công tác nghiên cứu, hoạch định chính sách kinh tế

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp tự hồi quy Vector

Trong phần này chúng ta tiến hành kiểm tra điều kiện quyết định để thực hiện chế

độ LPMT bằng thực nghiệm Phương pháp sử dụng là phương pháp tự hồi quy vector (VAR) mà nhiều tác giả trước đây (Gottschalk và Moore, 2001; Tutar, 2002; Bakradze và Billmeier 2007; Aliyu, Shehu Usman Rano and Englama, Abwaku, 2009) đã sử dụng Đồng thời chạy kiểm định Granger Causality để kiểm tra mối quan hệ các biến theo thời gian

Mô hình VAR được tính toán thông qua các chỉ số GDP, CPI, M2, BD, IR, ER với các biến nội sinh như sau:

Xt= (DIFGDP2, DIFCPI, DIFM2, DIFBD, DIFIR, DIFER) lần lượt là sai phân bậc hai của biến sản lượng GDP và chuỗi sai phân bậc một của các biến chỉ số giá CPI, cung tiền M2, thâm hụt ngân sách BD, lãi suất tiền gửi IR, tỷ giá hối đoái VND/USD ER

Mỗi một biến trong mô hình đều phụ thuộc chính nó và giá trị hiện tại cũng như giá trị tương lai của các biến khác

Xt = A(L)Xt-1 + B(L)Zt + εt

Trang 23

Trong đó Xt là vector k của biến nội sinh, Zt là vector d các biến ngoại sinh, A và B

là ma trận hệ số rút gọn được tính toán, εt là ma trận các biến đổi hoặc cú sốc

Việc sắp xếp trật tự các biến căn cứ theo những lập luận được đề xuất bởi Ben Bernanke và Mihov (1998): các biến phi chính sách (sản lượng, giá cả) đứng trước

và tiếp đến là các biến liên quan đến chính sách (cung tiền, lãi suất, TGHĐ) Lập luận này cũng phù hợp với nền kinh tế Việt Nam:

Thứ nhất: Sản lượng không bị ảnh hưởng đồng thời bởi các cú sốc của các yếu tố khác Mức giá bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong sản lượng Cả sản lượng và giá cả không bị ảnh hưởng cùng lúc của bất kỳ cú sốc chính sách nào trong một thời

kỳ Bởi vì bất kỳ một chính sách nào khi thực hiện cũng đều có độ trễ Khi các biến chính sách thay đổi, sản lượng và giá cả không thay đổi ngay mà chỉ thay đổi ở kỳ sau, có thể 1 tháng, 2 tháng hoặc dài hơn

Tuy nhiên những thay đổi về sản lượng và giá cả lại làm thay đổi cung, cầu tiền Việt Nam đồng dẫn đến thay đổi lượng cung tiền và ảnh hưởng đến việc thu chi ngân sách của chính phủ cũng chính là ảnh hưởng đến biến thâm hụt ngân sách

Thứ hai: Khi sản lượng và giá cả thay đổi, chính phủ có thể thay đổi lãi suất ngay để điều hành nền kinh tế Như thời điểm hiện nay khi mà giá cả ngày càng tăng, việc sản xuất vẫn trì trệ thì việc hạ lãi suất như là một tín hiệu để ứng phó với tình trạng này nhằm thúc đẩy các nhà đầu tư vay vốn sản xuất Những thay đổi về lãi suất này cũng sẽ làm thay đổi tỷ giá ngay trong thời kỳ đó

Với lập luận trên việc sắp xếp trật tự các biến trong mô hình VAR được xác định như sau: GDP, CPI, M2, BD, IR, ER

Trang 24

2.2.2 Các kiểm định liên quan mô hình

2.2.2.1 Kiểm định nghiệm đơn vị

Sử dụng tiêu chuẩn ADF (Augumented Dickey-Fuller) để kiểm định nghiệm đơn vị nhằm kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu Dữ liệu trong mô hình phải có tính dừng mới đảm bảo tính ổn định của mô hình Xét mô hình:

Yt =ρYt-1 + Ut (Utnhiễu trắng)

Kiểm định giả thiết H0: ρ = 1(chuỗi không dừng), H1: ρ ≠1 (chuỗi dừng)

Ta ước lượng mô hình trên,

( )ˆˆ

se

ρτ

ρ

= phân phối theo quy luật DF, nếu τ τ> α thì bác bỏ giả thiết H0 Trong trường hợp này chuỗi là dừng và ngược lại chuỗi không dừng

Sau khi kiểm định tính dừng của số liệu, nếu chuỗi không dừng ta lấy sai phân bậc 1

và kiểm tra tính dừng của chuỗi sai phân Nếu được chuỗi dừng ta sẽ sử dụng chuỗisai phân này để xử lý mô hình

2.2.2.2 Kiểm định Granger Causality

Kiểm định Granger Causality được thực hiện cả kiểm định đơn biến và đa biến để trả lời cho câu hỏi có hay không có sự thay đổi của lạm phát gây ra sự thay đổi của sản lượng và các yếu tố chính sách tiền tệ và ngược lại Phương trình hồi quy trong kiểm định Granger có dạng:

Trang 25

- Nếuδl khác không và có ý nghĩa thống kê nhưng ρl không có ý nghĩa thống

kê thì chúng ta kết luận rằng sự biến động của X gây ra biến động của Y

- Nếuδl không có ý nghĩa thống kê nhưng ρl khác không và có ý nghĩa thống

kê thì chúng ta kết luận rằng sự biến động của Y gây ra biến động của X

- Nếu cảδl và ρlkhác không và có ý nghĩa thống kê thì X và Y có tác động qua lại lẫn nhau Và ngược lại nếu cả hai đều không có ý nghĩa thống kê thì X và y không có tác động qua lại lẫn nhau

Trong nghiên cứu này kiểm định Granger tác động của từng biến sản lượng, cung tiền, thâm hụt ngân sách, lãi suất, tỷ giá và tác động tổng hợp của các biến này lên biến chỉ số giá CPI nên biến CPI là Y còn các biến khác là X Đối với trường hợp nghiên cứu tác động của các biến chỉ số giá và các biến tiền tệ lên sản lượng GDP thì GDP là Y và các biến kia là X

2.3 Thu thập và mô tả dữ liệu

Phương pháp thu thập dữ liệu: Căn cứ trên mô hình nghiên cứu được chọn, dữ liệu

thu thập được tiếp cận và tổng hợp từ nguồn dữ liệu thứ cấp tại tổng cục thống kê Việt nam (GSO), website cổng thông tin điện tử Chính Phủ (chinhphu.vn), quỹ tiền

tệ quốc tế (IMF) trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2012

Tổng sản phẩm quốc nội GDP: Đây là số liệu thường được dùng để đánh giá mức

độ tăng trưởng, phát triển của đất nước Số liệu GDP được lấy từ Thống kê tài chính quốc tế IFS – IMF tính theo đơn vị tỷ đồng

Trang 26

Hình 2 1: Tổng sản phẩm quốc nội

40000 60000 80000 100000 120000 140000 160000 180000 200000

Chỉ số giá: Đây là số liệu thường dùng để đo lường lạm phát, vì vậy hai thuật ngữ

CPI và lạm phát có thể thay thế cho nhau Số liệu CPI (CPI 2005 = 100) được lấy từ thống kê tài chính quốc tế IFS –IMF

Hình 2 2: Chỉ số giá

40 80 120 160 200 240

00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12

CPI

(Nguồn: IMF)

Trang 27

Chỉ số giá tăng dần qua các năm đặc biệt trong năm 2008 có bước tăng cao đột ngột Đây là thời kỳ lạm phát trong nước tăng cao nhất giai đoạn 2000-2012 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế và các yếu tố cầu kéo, yếu tố chi phí đẩy

Cung tiền M2: Số liệu cung tiền mở rộng M2 có đơn vị là tỷ đồng được lấy từ thông

tin tài chính quốc tế IFS – IMF Biến cung tiền được sử dụng để phản ánh cú sốc tiền

tệ từ phía cầu tiền

Hình 2 3: Cung tiền M2

0 500000 1000000 1500000 2000000 2500000 3000000 3500000

Thâm hụt ngân sách BD: thâm hụt ngân sách nhà nước thể hiện nguyên nhân gây

lạm phát tại Việt nam theo yếu tố cầu kéo Số liệu thâm hụt NSNN được thu thập từ tổng cục thống kê và website cổng thông tin điện tử của chính phủ Đơn vị tính tỷ đồng

Trang 28

Hình 2 4: Thâm hụt nhân sách

0 10000 20000 30000 40000 50000 60000 70000 80000

BD

(Nguồn: GSO, chinhphu.vn và tính toán của tác giả)

Có thể nhận thấy giai đoạn từ 2000 đến 2012 nước ta luôn trong tình trạng bội chi ngân sách, đặc biệt tăng cao trong giai đoạn 2008 trở về sau chủ yếu là do chính sách nới lỏng tiền tệ, kích cầu đầu tư của chính phủ trong giai đoạn này

Lãi suất tiền gửi IR: lãi suất tiền gửi được tính là tỷ lệ phần trăm %/năm lấy từ

thống kê tài chính quốc tế IFS-IMF Lãi suất sử dụng trong nghiên cứu là lãi suất thị trường

Hình 2 5: Lãi suất tiền gửi

(Nguồn: IMF)

2 4 6 8 10 12 14 16 18

IR

Trang 29

Lãi suất tiền gửi năm 2008 và năm 2011 tăng cao so với các năm khác chủ yếu là do chính sách chính phủ thắt chặt tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát trong giai đoạn này năm 2010, 2011 chính phủ có một thời gian dài đưa trần lãi suất tiền gửi lên 14% làm cho lãi suất cho vay cũng vì thế tăng cao Đến năm 2012 lãi suất đã được điều chỉnh giảm dần

Tỷ giá hối đoái ER: tỷ giá hối đoái VND/USD được tính trung bình trong quý, lấy

từ thống kê tài chính quốc tế IFS-IMF

Hình 2 6: Tỷ giá hối đoái VND/USD

13000 14000 15000 16000 17000 18000 19000 20000 21000

00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12

ER

(Nguồn: IMF)

Do NHNN có sự can thiệp nhất định vào thi trường ngoại hối nên tỷ giá giai đoạn

2000 – 2006 không có nhiều sự biến đổi, nhưng từ năm 2007 tỷ giá có biến động lớn, chủ yếu do chính sách điều chỉnh của chính phủ, đặc biệt là việc điều chỉnh phá giá đồng tiền năm 2011 làm cho Việt nam đồng bị mất giá cao nhất từ trước tới nay (9,3%)

Ngày đăng: 17/09/2020, 08:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w