Ông đã đư r định nghĩ rõ ràng về IT, gồm 5 yếu tố chính: i công bố ra công chúng mục tiêu lạm phát định lượng trung hạn; ii cam kết th chế nhằm ổn định giá cả như một mục tiêu chủ yếu củ
Trang 1MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục tiêu nghiên cứu 7
3 Phương pháp nghiên cứu 7
4 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Kết cấu bài nghiên cứu 8
B NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 8
CHƯƠNG 2: CÁC ĐIỀU KIỆN CẦN VÀ ĐỦ ĐỂ ÁP DỤNG LẠM PHÁT MỤC TIÊU 21
2.1 Ưu tiên lạm phát hơn các mục tiêu khác 21
2.2 Không có sựthống trị tài khóa 24
2.3 Tính độc lập của NHTW 29
2.3.1 Kinh nghiệm của Ngân hàng Dự trữ New Zealand 30
2.3.2 Thành công của Ngân hàng Dự trữ New Zealand 33
2.4 Mức độ i m soát th ng qu c ng cụ chính sách 35
2.5 Phương pháp dự báo hợp lý 38
2.6 Các Tổ chức tài chính và thị trường vững chắc và sự ứng phó với th y đổi trong tỉ giá và lãi suất 42
2.6.1 Hệ thống tài chính và thị trường kém hiệu quả tác động đến việc thực hiện IT như thế nào: 42
2.6.2 Bằng chứng hệ thống tài chính và thị trường vững chắc là một điều kiện quan của IT- bài học từ Argentina 44
2.6.3 Hệ thống tài chính và thị trường vững mạnh có phải là một điều kiện tiên quyết không? 46
Trang 22.6.4 Tại sao các quốc gia mới lại sợ thả nổi tỷ giá 47
2.6.4.1 Mối quan tâm thứ nhất 47
2.6.4.2 Mối quan tâm thứ hai 49
2.6.4.3 Mối quan tâm thứ ba 50
2.6.4.4 Bài học từ việc quản lý tỷ giá ở Chile 52
2.6.4.5 Chính sách tiền tệ và quản lý dự trữ ngoại hối của NHTW Chilê 52
2.6.4.6 Khả năng Việt Nam chuy n s ng điều hành CSTT theo cơ chế lạm phát mục tiêu 56
2.6.5 Tại sao IT không th song hành với tỷ giá hổi đoái cố định khi tài khoản vốn được tự do 59
2.6.6 Một số bằng chứng thực nghiệm 60
CHƯƠNG 3: MỞ RỘNG VỀ THỰC TRẠNG CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ ÁP DỤNG LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM 1
3.1 Thực trạng về sự độc lập của NHTW Việt Nam 65
3.1.1 Tổng quan về sự độc lập của NHTW 65
3.1.2 Tính độc lập của NHNN Việt Nam 67
3.1.3 Cơ chế điều hành CSTT của NHNN Việt Nam 68
3.2 Mục tiêu cuối cùng của CSTT 68
3.3 Mục tiêu trung gian của CSTT 68
3.3.1 Tổng phương tiện thanh toán (M2) 68
3.3.2 Ki m soát đầu tư tín dụng đối với nền kinh tế 70
3.4 Một số nhận xét về điều hành các công cụ CSTT hiện nay 71
3.5 Mức độ áp chế tài chính của chính sách tài khóa của Việt Nam 73
3.6 Hạn chế củ chính sách tài hó và tác động củ nó đến lạm phát trong những năm gần đây 79
3.7 Đánh giá về mức độ thống trị của chính sách tài khóa 80
KẾT LUẬN 82
HẠN CHẾ 82
Trang 3DANH MỤC THUẬT NGỮ KINH TẾ
1 Sự thống trị tài khóa (fiscal
dominance)
Chính sách mà ngân hàng trung ương lu n mu vào trái phiếu chính phủ, khi thâm hụt ngân sách, nguồn bù đắp là từ ngân hàng trung ương và hệ thống ngân hàng
2 Công cụ chính sách của
ngân hàng trung ương
Các công cụ giúp ngân hàng trung ương đạt được các mục tiêu của mình Các công cụ này bao gồm: công cụ tái cấp vốn, công cụ nghiệp vụ thị trường mở, công cụ tỷ lệ dữ trữ bắt buộc, công cụ lãi suất tín dụng, hạn mức tín dụng và tỷ giá hối đoái
3 Bảng cân đối kế toán của
ngân hàng trung ương
Theo phân loại của Mishkin (2004):
Phần tài sản củ ngân hàng trung ương bao gồm: chứng khoán, vay chiết khấu, vàng và SDR-quyền rút vốn đặt biệt, tiền đúc và tiền giấy
đ ng thu hồi, các tài sản khác của ngân hàng trung ương
Phần nguồn vốn bao gồm tiền giấy đ ng lưu th ng, dự trữ, các khoản kí gửi, tiền giấy chờ
Trang 4th nh toán, các nghĩ vụ nợ và các tài khoản vốn khác của ngân hàng trung ương
4 Lãi suất chính sách Lãi suất mà ngân hàng trung ương có th trực tiếp
ki m soát được, ví dụ như Fed Fund R te ở Mĩ hay lãi suất cơ bản ở Việt Nam
5 Chênh lệch Embi (Embi
spread)
Chỉ số EMBI củ JP Morg n đo lường khoảng chênh lệch giữa lãi suất trái phiếu của chính phủ
Mỹ và của các nền kinh tế mới nổi
6 Sự ràng buộc ngân sách liên
thời gian của chính phủ
7 Những nền kinh tế mới nổi
(emerging economies)
Những quốc gia châu Á và châu Mỹ Latinh có nền kinh tế đ ng phát tri n và có nhiều biến động Họ hứa hẹn nhiều tiềm năng to lớn về sự tăng trưởng, nhưng cũng đối mặt với những rủi ro
về chính trị, tiền tệ và xã hội
8 Cú sốc cầu (demand shock) Là một sự kiện đột ngột tăng hoặc giảm nhu cầu
đối với hàng hóa và dịch vụ tạm thời một cú sốc tích cực làm tăng như cầu và một cú sốc tiêu cực làm giảm nhu cầu
9 Hàm tổn thất (Loss
function)
Hàm đo lường sự sai lệch giữa giá trị ước tính và giá trị thực tế của dữ liệu mà một nhà lập chính sách muốn tối thi u hóa
10 Lỗ hỏng sản lượng (Output
gap)
Độ chênh lệch, thường tính bằng %, giữa sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng của một nền kinh tế (Sản lượng tiềm năng – potential
Trang 5output hoặc natural GDP là mức sản lượng mà nền kinh tế có th phát tri n bền vững trong dài hạn)
11 Lạm phát kỳ vọng (inflation
expectations)
Là một tỉ lệ lạm phát mà người dân, các nhà doanh nghiệp và các nhà đầu tư kỳ vọng trong tương lai, từ đó nó sẽ ảnh hưởng vào quyết định của họ
12 Policy horizon (chính sách
đường chân trời)
Mức kỳ vọng về thời gian lạm phát quay trở lại mục tiêu của nó sau sự kết hợp của một cú sốc và phản ứng thích hợp của một chính sách tiền tệ
13 Cơ chế truyền dẫn
(transmission mechanic)
Cơ chế tác động đến các chỉ tiêu tiền tệ như: cung tiền M2, tín dụng, lãi suất và tỷ giá hối đoái, mà mục tiêu cuối cùng củ c ng tác điều hành chính sách tiền tệ là tác động đến thị trường tiền tệ, hoạt động kinh tế và mức giá cả trong nền kinh tế
16 Con rắn tiền tệ (crawing
DANH MỤC VIẾT TẮT
IT Lạm phát mục tiêu NHTW Ngân hàng trung ương
M1 Tổng khối lượng tiền theo nghĩ hẹp M2 Tổng phương tiện thanh toán
VND Việt N m Đồng
Trang 6USD Dolar Mỹ CSTT Chính sách tiền tệ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
2.3 Mô tả sự biến động mức lạm phát qu các gi i đoạn 31 2.3 Th y đổi tính độc lập của NHTW mỗi quốc gi trong 2 gi i đoạn 31 2.3 Khảo sát mối quan hệ giữ tính độc lập của NHTW với tỷ lệ lạm phát 32 2.6 Điều kiện tiên quyết và điều kiện hiện tại ở các thị trường mới nổi 63 2.6 Điều kiện tiên quyết và điều kiện hiện tại ở thị trường mới nổi
và các nước công nghiệp 64 2.6 Điều kiện b n đầu và điều kiện hiện tại khi quốc gia áp dụng IT 65 3.3 Diễn biến mức tăng M2, tăng trưởng và lạm phát 70
2.4 Ảnh hưởng lãi suất đến tổng cầu 37 2.4 Từ lãi suất đến lạm phát và tăng trưởng kinh tế 38 2.6 Biến động tỷ giá từ 1-2005 đến tháng 4-2008 48 2.6 lạm phát củ Việt N m so với những nước trong hu vực 49
TRANG
Trang 7quốc gi và nhược đi m của nó tạo nên sự căng thẳng về chính trị và xã hội Việt Nam cũng h ng nằm ngoài quy luật đó
Bắt đầu xuất hiện từ cuối những năm cuối cùng của thập niên 80, và phát tri n mạnh mẽ vào những năm 90, đến nay khái niệm lạm phát mục tiêu (Inflation Targeting-IT) đã trở thành một trong những lựa chọn hàng đầu trong quá trình hoạch định chính sách tiền tệ của những quốc gia phải đối mặt với việc ki m soát tỷ lệ lạm phát c o, đặc biệt là những quốc gia có nền kinh tế đ ng phát tri n Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu đ tìm hi u xem: IT là gi? IT bao gồm các yếu tố nào? Và đặc biệt là một quốc gia cần có những điều kiện tiên quyết nào đ có th áp dụng thành công IT? Tuy nhiên, các bài nghiên cứu đều cho những kết quả rất khác nhau về những yếu tố này Do đó nhóm chúng t i muốn tìm hi u, nghiên cứu xem thật sự thì các quốc
gia, cụ th là các nền kinh tế mới nổi, cần đáp ứng những điều kiện tiên quyết nào?
2 Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu của nhóm tập trung vào các vấn đề quan trọng như s u:
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề cơ bản của IT, báo cáo và trình bày những điều kiện quan trọng hình thành nên IT của những nền kinh tế mới nổi.Từ đó, nhận định được cơ chế gây ra rủi ro 2 chiều trên thị trường ngoại hối khi vừa kết hợp khuôn khổ chính sách tiền tệ IT cùng với một cơ chế tỷ giá thả nổi
Trả lời cho câu hỏi liệu rằng phải cần hội tụ tất cả các điều kiện thì mới có th
áp dụng khuôn khổ IT hoàn toàn ở các nền kinh tế mới nổi h y h ng?Đâu là điều kiện tiên quyết đ áp dụng chính sách tiền tệ IT?
Nêu ra thực trạng về chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa ở Việt Nam cho thấy rằng Việt Nam cần một nỗ lực lớn đ có th áp dụng IT
Một số bài học rút ra từ kinh nghiệm của một số nền kinh tế mới nổi như Chile, Achentin , Mexico… trong việc đư r và thực hiện IT
3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 8Nghiên cứu sử dụng phương pháp quy nạp, diễn giải, đi từ hái quát chung đến vấn đề cụ th Gắn lý luận với thực tiễn.Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng sử dụng các phương pháp ho học như thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp
Nghiên cứu chủ yếu dùng phương pháp phân tích định tính, trên cơ sở các dữ liệu thu thập được, các tài liệu, bài báo khoa học, kinh tế có liên qu n đ làm rõ thêm nội dung củ đề tài nghiên cứu
4 Phạm vi nghiên cứu
Bài nghiên cứu tập trung vào những nền tảng lý thuyết được đư r trong bài nghiên cứu gốc “Import nt Elements of Infl tion T rgeting for Emerging Economies” của hai tác giả Chalres Freemand and Inci Otker-Robe và s u đó mở rộng ra nghiên cứu sâu về các điều kiện đ thực hiện IT Bài nghiên cứu dừng lại ở phạm vi nghiên cứu những lý thuyết nền căn bản đ hi u được một cách rõ ràng nhất về cơ chế IT và các điều kiện của nó
5 Kết cấu bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu gồm 3 phần chính:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước đây về lạm phát mục tiêu
Chương 2: Các điều kiện cần và đủ đ áp dụng lạm phát mục tiêu
Chương 3: Mở rộng về thực trạng các điều kiện đ áp dụng lạm phát mục tiêu tại Việt Nam
B NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
1.1 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài
K từ hi được giới thiệu vào những năm cuối cùng của thập niên 80, và phát tri n mạnh mẽ vào những năm 90, đã có nhiều công trình nghiên cứu về khuôn khổ chính sánh tiền tệ lạm phát mục tiêu- IT Các công trình này tập trung làm rõ khái niệm, định nghĩ huôn khổ IT; những yếu tố cơ bản của nó; lợi ích cũng như hó hăn hi áp dụng IT ở các nước công nghiệp phát tri n cũng như các nước thị trường
Trang 9mới nổi; những điều kiện tiên quyết đ áp dụng khuôn khổ này… S u đây chúng t i sẽ trình bày một vài bài nghiên cứu nói về các khía cạnh trên
1.1.1 Khái niệm, các yếu tố chủ yếu của lạm phát mục tiêu
Mishkin (2000, 2001) trình bày về tình hình thực hiện IT ở các nền kinh tế mới nổi và đ ng chuy n đổi, đề cập đến những lợi ích và bất lợi khi thực hiện IT và cho rằng IT là một chiến lược chính sách tiền tệ ( monet ry policy str tegy) được sử dụng thành công ở các nước công nghiệp và đ ng trở thành một sự lực chọn hấp dẫn cho các nước có thị trường mới nổi như Chile, Br zil, Séc, B l n, N m Phi
Ông đã đư r định nghĩ rõ ràng về IT, gồm 5 yếu tố chính: (i) công bố ra công chúng mục tiêu lạm phát định lượng trung hạn; (ii) cam kết th chế nhằm ổn định giá cả như một mục tiêu chủ yếu của chính sách tiền tệ; (iii) Chiến lược thông tin bao gồm nhiều biến số (không chỉ có tổng cung tiền hay tỷ giá hối đoái) được sử dụng cho việc thiết lập công cụ chính sách; (iv) Tăng tính minh bạch của chiến lược chính sách tiền tệ thông qua việc thông báo với công chúng và thị trường về kế hoạch, mục tiêu, những quyết định của ngân hàng trung ương (NHTW); và (v) Tăng trách nhiệm giải trình
Takatoshi Ito và Tomoko Hayashi (2003) cho rằng IT cần đảm bảo kết hợp th chế và điều hành: (i) Mục tiêu lạm phát phải được công bố công khai; (ii) Cần có cam két ổn định tỷ giá; (iii) Điều hành chính sách tiền tệ sử dụng dự báo lạm phát làm mục tiêu hoạt động; (iv) Cần có sự giải thích rõ ràng về mục tiêu chính sách tiền tệ; (v) Xác định rõ ràng trách nhiệm của NHTW
Andrea Schaechter, Mark Stone và Mark Zelmer (2000) lại cho rằng IT chủ yếu
sử dụng dự báo lạm phát như một hướng dẫn trung gian của chính sách tiền tệ và vận hành chính sách trong một khuôn khổ minh bạch đ tăng tính trách nhiệm
Klass Schmidt-Hebbel Mitias Tapia (2002) quan niệm rằng khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu phụ thuộc vào 4 yếu tố: (i) Mục tiêu lạm phát là cái neo cho chính sách tiền tệ; (ii) Sự độc lập của NHTW lấy lạm phát làm mục tiêu; (iii) Khả năng dự báo và đối phó với lạm phát; (iv) Mức độ minh bạch và tính chịu trách nhiệm về chính sách tiền tệ
Trang 10Alina Car re và Mr.Tone ,“Infl tion t rget regimes”, bài viết này chi các quốc
gi thành nhiều loại lạm phát mục tiêu hác nh u Có 3 loại lạm phát mục tiêu Kết luận tổng quát củ bài nghiên cứu này: Sự qu n trọng củ việc phát tri n phát tri n tài chính th liên qu n chặt chẽ với chính sách tỷ giá hối đoái Chính sách tỷ giá hối đoái được phân loại s o cho phù hợp với từng thời đi m: sự đ l hoá, chính sách tiền tệ rõ ràng, tỷ giá hối đoái ỳ vọng, EIT, ITL, FFIT Cuối cùng, chính sách lạm phát mục tiêu ở những thị trường mới nổi là một vấn đề qu n trọng, rất cần được nghiên cứu trong tương l i Chính sách tài hoá ổn định cần là mục tiêu chủ yếu củ NHTW và phải t m cách nào đ c n thiệp vào thị trường ngoại hối đ duy tr sự ổn định củ thị trường
Sherwin (2000), kinh nghiệm đối với IT đã được 10 năm và trải qua với các quốc gia với các tình huống hác nh u Nó đã chứng tỏ rằng lạm pháy mục tiêu là một khuôn khổ hiệu quả của chính sách tiền tệ và khuôn khổ này đặc biệt thích hợp với những nền kinh tế nhỏ, mở có tỷ giá hối đoái linh hoạt Những đặc tính cốt lõi của IT liên qu n đến việc công bố ra công chúng về mục tiêu của lạm phát, thừa nhận lạm phát thấp và ổn định là mục tiêu dài hạn quan trọng của chính sách tiền tệ, tính minh bạch về mục tiêu của chính sách và tính hợp lí cho những quyết định chính sách tiền tệ,
và trách nhiệm giải trình cho việc đạt được mục tiêu của chính sách
Fredman, C và Laxton (2009b), ki m tra một số yếu tố trong việc thiết kế một khuôn khổ IT, cho rằng việc tổ chức một khuôn khổ IT đòi hỏi các quyết định về một
số các biến kế hoạch chủ yếu Chúng bao gồm: (i) Định nghĩ của biến mục tiêu; (ii)
Sử dụng các phương pháp đo lường lạm phát cơ bản (core inflation); (iii) Sử dụng
đi m mục tiêu cùng hoặc không cùng với một dãi băng (b nd) h y vùng mục tiêu; (iv) Việc lựa chọm giá trị định lượng cho mục tiêu lạm phát dài hạn; (v) Mục tiêu chân trời; (vi) Chính sách đường chân trời mà được dựa vào hàm tổn thất phù hợp với cấu trúc nền kinh tế
Các biến kế hoạch dần trở nên phức tạp hơn theo inh nghiệm đạt được với các phiên bản IT hác nh u B n đầu việc mô tả và giải thích các biến kế hoạch há đơn giản, nó tạo ra các vấn đề thông tin và sự nhầm lẫn tiềm ẩn Ví dụ, không có gì là bất thường
Trang 11đối với các nhà qu n sát đ kết luận rằng NHTW áp dụng IT (NHTW IT) sư dụng một chính sách đường chân trời cố định trong việc mang lạm phát trở lại mục tiêu và thực
tế là nhiều nhà qu n sát đã m tả điều này như một sự khác biệt cơ bản giữa khuôn khổ
IT và các khuôn khổ chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt hác Điều này thật đáng rủi
ro, bởi vì việc thực hiện chính sách đường chân trời chư b o giờ được cố định đối với NHTW IT, nhưng lại phụ thuộc vào loại và tính dai dẳng của cú sốc mà NHTW phải đối mặt Mặt hác vài nhà qu n sát đã có ấn tượng rằng NHTW IT cố gắng giữ lạm phát trong dải băng của họ trong mọi thời đi m Trong hi điều này có th là đáng mơ ước trong một thế giới không có những cú sốc đáng , thật quan trọng đ nhận ra rằng một chính sách tiền tệ tốt sẽ liên qu n đến các th y đổi lạm phát đ i hi vượt ra ngoài dải băng Một vài lạo vấn đề th ng tin này đã được khắc phục trong thời gian gần đây bằng cách các NHTW công bố rộng rãi ra công chúng các dự báo trung hạn với các dải băng riêng biệt rõ ràng bao gồm những kênh dẫn truyền nội sinh cho tỷ lệ lãi suất chính sách và lỗ hỏng sản lượng, và/hoặc các mô tả rõ ràng hơn về các dự tính phát tri n kinh tế và lạm phát trong tương l i và hàm ý của họ đối với các hoạt động chính sách th ng qu chính sách đường chân trời
Theo định nghĩ của IMF thì: chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu là một bản thông báo ra công chúng về chỉ tiêu trung hạn của lạm phát cũng như uy tín của cơ quan có thẩm quyền về tiền tệ đ đạt mục tiêu này Các yếu tố khác bao gồm phổ biến thông tin về các kế hoạch và mục tiêu của nhà hoạch định chính sách tiền tệ tới công chúng và thị trường, cũng như trách nhiệm củ NHTW đ đạt được các chỉ tiêu lạm phát của mình Các quyết định về chính sách tiền tệ sẽ dự trên độ lệch dự báo lạm phát (một cách rõ ràng h y hoàn toàn) đóng v i trò là chỉ tiêu trung gian của chính sách tiền tệ
1.1.2 Lợi ích và khó khăn khi áp dụng IT
B tini, N., K.Kuttner và D.L xton (2005) đã cho thấy rằng: IT xuất hiện có liên
qu n đến lạm phát thấp hơn, vọng lạm phát thấp hơn và biến động lạm phát thấp hơn tương đối so với những nước không áp dụng nó Không có những ảnh hưởng xấu tiềm
ẩn, đồng thời những biến động của lạm phát, tỷ giá, và dự trữ ngoại hối cũng nằm
Trang 12trong mức an toàn Tất cả điều này có th giải thích vì sao IT luôn là một chiến lược hấp dẫn đối với những nền kinh tế mới nổi và không một quốc gia nào bỏ rơi nó Hơn nữa bài viết cũng chỉ ra rằng, đ áp dụng thành công IT không nhất thiết các quốc gia
có thị trường mới nổi phải đáp ứng đầy đủ một bộ những điều kiện nghiêm ngặt về th chế, ĩ thuật,…Th y vào đó tính hả thi và sự thành công của IT lại phụ thuộc nhiều hơn vào những cam kết của chính quyền, khả năng thiết lập và ki m soát chính sách khi giới thiệu IT
Mishkin, F S và K Schmidt-Hebbel (2001) Bài nghiên cứu về hiện tượng IT nổi lên trong hơn 10 năm qu - một bước phát tri n đáng phấn khởi trong việc tiến hành chính sách tiền tệ củ ngân hàng trung ương Một thập kỉ áp dụng IT trên thế giới
đã đúc ết những bài học về thiết kế và thi hành IT và kết quả đạt được sau khi áp dụng Bài nghiên cứu còn cho thấy IT đã i m soát khá thành công lạm phát và cải thiện chất lượng nền kinh tế Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều cần phải bàn đến đ làm thế nào điều hành chế độ IT một cách tốt nhất
Hasan Ersel (2007) nghiên cứu những bài học từ áp dụng IT của Thổ Nhĩ Kỳ một lần nữa cho thấy rằng việc lựa chọn thời đi m chính xác cho sự th y đổi một cách triệt đ trong việc thực hiện chính sách tiền tệ,…tức chuy n sang áp dụng IT, là rất quan trọng cho sự thành công của chính sách mới này Tuy nhiên cũng có một lưu ý rằng, cầu toàn quá nhiều sẽ phản tác dụng, vì không bao giờ có khái niệm “ thời đi m chính xác hoàn toàn” (right time) Sẽ có yếu tố thiếu sót, nhưng chúng t nên t m iếm một sự cân bằng giữa những yếu tố thiếu sót và những yếu tố đã sẵn sàng đ sử dụng Trong quá trình áp dụng IT, nếu có sự phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ thì kết quả đạt được sẽ tốt hơn
Freedm n, C nd I Ot er-Robe (2009) giới thiệu những inh nghiệm củ những thị trường mới nổi về việc giới thiệu và thực hiện lạm phát mục tiêu Tài liệu này thảo luận về những động lực đ giúp từng quốc gi đạt được mẫu h nh lạm phát mục tiêu Những quốc gi đã thiết lập những điều iện cần thiết như thế nào (một số điều iện vẫn còn đ ng tr nh cãi là có thật sự cần thiết h y h ng); họ đã chuy n đổi đến làm phát mục tiêu hoàn toàn như thế nào; và cách mà họ hợp tác tốt với những th y đổi
Trang 13chính sách cũng như những cải cách củ những nước hác Cuối cùng là những lợi ích, những thách thức và những bài học được rút r từ việc thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu ở các quốc gi
Ch rles Fredm n và Dougles L xton (2009 ) đề cập đến những vấn đề cốt lõi của việc tại sao các NHTW lại lại lựa chọn tỷ lệ lạm phát thấp làm mục tiêu chính sách của mình và tại sao có nhiều nước như vậy lại lựa chọn IT là khuôn khổ đẻ đạt mục tiêu đó Các tác giả đi sâu phân tích các cho phí của lạm phát , bao gồm vai trò của chúng trong việc tạo ra chu kì bùng nổ-suy thoái Tỷ lệ lạm phát cao và biến động tại
đ số các nướic trong gi i đoạn trước đây đã được nối tiếp bởi sự biến động cao về sản lượng tiềm năng M i trường lạm phát cao làm tổn hại rất nhiều đối với hoạt động kinh
tế
Trong vòng hai thập kỉ qua nhiều nước công nghiệp và những nền kinh tế mới nổi áp dụng IT như là một khuôn khổ chính sách tiền tệ của mình Tác giả cho rằng kí do chung đ các nuớc áo dụng IT là do các nước gặp hó hăn trong việc sử dụng neo
d nh nghĩ hác (mục tiêu tỷ giá và mục tiêu tiền tệ), cũng như mong muốn giảm tỷ lệ lạm phát và neo kì vọng lạm phát thông qua một mục tiêu đơn giản có th quan sảt thấy
Mishkin (2000,2001) cho rằng lợi ích của khuôn khổ IT bao gồm: (i) cho phép NHTW tập trung vào những khía cạnh trong nước và phản ứng với các cú sốc tác động lên nền kinh tế; (ii) khuôn khổ này có th hoạt đ ng tốt mà không cần có mối quan hệ
ổn định giữa cung tiền và lạm phát; (iii)công chúng và thị trường có th hi u rõ hơn về mục tiêu mầ NHTW theo đuổi, do đó tính minh bạch và trách nhiệm giải trình sẽ tăng Ông cũng nêu r bất lợi của IT: (i) khuôn khổ này quá khắt khe, chỉ tập trung vào một mục tiêu và có th làm tăng tính bất ổn của nền kinh tế qua việc h ng hướng đến mục tiêu tăng trưởng và việc làm; (ii) khuôn khổ IT càng làm cho trách nhiệm giải trình
ém đi v lạm phát rất khó ki m soát và độ trễ của chính sách dài; (iii) khuôn khổ IT không giúp loại bỏ được tinh lấn át của chính sách tài khóa; và (iv) khuôn khổ này đòi hỏi tính linh hoạt trong tỷ giá hối đoái, thế nhưng tỷ giá hối đoái linh hoạt có th làm tăng tính bất ổn tài chính
Trang 14Habermeier và các cộng sự (2009) cho rằng một trong những thách thức lớn nhất củ các nước thị trường mới nổi k từ hi đư r áp dụng IT là việc tăng mạnh giá lương thực và nhiên liệu vào giữ năm 2007 tới giữ năm 2008 Việc tăng mạnh áp lực lạm phát được coi như là một cuộc ki m tr đáng đầu tiên vào lòng tin vào cơ chế
IT ở các thị trường mới nổi Kết quả cho thấy là tại các nước áp dụng IT với cơ chế thả nổi tỷ giá thả nổi có tỷ lệ lạm phát tăng ít hơn so với các nước không áp dụng IT
Kh ng có nước áp dụng IT nào (trừ Thổ Nhĩ K ) điều chỉnh mục tiêu lạm phát đã c ng
bố chính thức trước đây trong bối cảnh lạm phát nhằm tránh đổ vỡ niềm tin vào các cam ổn định giá cả và giảm những rủi ro về lạm phát kì vọng
Charles Fredman và Inci Otker-Robe (2010) nhận định rằng một trong những lợi ích của việc điều hành một khuôn khổ chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu cùng với một cơ chế tỷ giá thả nổi là làm cho các thành viên trong nền kinh tế nhận thức rõ hơn
về rủi ro hai chiều trên thị trường ngoại hối, và IT bởi vậy dẫn tới việc sử dụng và phát tri n các công cụ tự phòng ngừa (hedging facilities) và tạo r các động lực cho việc giảm các sai lệch về ngoại tệ trên bảng tổng kết tài sản Thị trường ngoại hối phát tri n hơn cũng sẽ giúp các nền kinh tế mới nổi điều hành chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu giải quyết các vấn đề tỷ giá
Armando Baqueiro, Alejandro Díaz de León and Alberto Torres (2003), xem xét mức độ dẫn truyền tỷ giá hối đoái như thế nào đ có được một trường lạm phát thấp và ổn định Mục đích là đ ki m tra xem liệu trong m i trường lạm phát thấp và
ổn định có dẫn đến một mức độ dẫn truyền ỷ giá hối đoái thấp từ đó góp phần làm suy yếu cái goại là “nổi sợ thả nổi” của những nền kinh tế mới nổi hay không Kết quả cho thấy kết luận giống như giả định Đối với nhóm các nền kinh tế nhỏ mở đã vừa trải qua một quá trình giảm lạm phát, kết quả chỉ ra rằng mức độ dẫn truyền tỷ giá hối đoái bị yếu đi hi mức độ lạm phát giảm Vì thế, điều này ngụ ý rằng một khi các biến danh nghĩ là ổn định, “nổi sợ lạm phát” mà các NHTW cần phải có không còn ngụ ý một
“nỗi sợ thả nổi” nữa Bài báo cho rằng, đối với việc cân nhắc giữa neo cố định và thả nổi, tính ổn định của các biến d nh nghĩ cần đóng một vai trò chủ chốt v nó tác động
Trang 15đến độ mạnh dẫn truyền tỷ giá và do đó là lợi ích ngay lập tức của việc lựa chọn tỷ giá hối đoái linh hoạt
Calvo và Reinhart (2002), sự dùng dằng của một số nước mới nổi khi chuy n từ chế độ neo tỉ giá sang chế độ tỉ giá thả nổi được quy cho cái gọi là “nỗi lo sợ thả nổi tỉ giá” (fe r of flo ting) Tác giả đã lập luận rằng nỗi lo sợ thả nổi tỉ giá xuất phát từ các
lí do như lo lắng về việc mất tín nhiệm chính sách, lo sợ về hiệu ứng „bệnh Hà L n‟ (Dutch disease) nếu như đồng tiền tăng giá mạnh, và lo sợ về lạm phát và tăng nợ nước ngoài (currency mismatches) trong trường hợp đồng tiền mất giá mạnh Việc áp dụng một số các biện pháp can thiệp như i m soát nguồn vốn, sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối nhằm đạt mức tỉ giá mục tiêu (ngầm định) đ hạn chế các tác động do thả nổi tỉ giá thường xuyên được các quốc gia mới nổi áp dụng khi rời bỏ chế độ neo tỉ giá
Goldstein,M., 2002,”M n ged flo ting plus”, ở chế độ thả nổi có quản lí này,
h ng có nghĩ là thả nổi hoàn toàn, nghĩ là chính phủ có th sử dụng một số c ng cụ
c n thiệp vào thị trường Sự c n thiệp vào thị nhằm mục đích cuối cùng là thực hiện thành c ng lạm phát mục tiêu Thêm vào đó, chế độ thả nổi ở đây có nghĩ là: chính phủ h ng được th ng báo cho c ng chúng biết được tỷ giá hối đoái mục tiêu, mà chính là thị trường mới là người quyết định tỷ giá hối đoái này Tiếp tục, từ “plus” trong từ hí cạnh củ m n ged flo ting plus, chế độ này gồm có 2 thành phần: chính sách tiền tê trong lạm phát mục tiêu và một tập hợp những phương thức đo lường hiệu quả đ giảm thi u sự bất cân xứng dòng tiền trong nền inh tế Bài viết này chứng
m nh rằng “m n ged flo ting plus” là một chính sách thực sự hi u quả trong việc quản
lý tỷ giá hối đoái (Họ chỉ r những huyến đi m củ những chinh sách hác và nêu lên
ưu đi m tại s o “m n ged flo ting plus” trong việc giải quyết những huyết đi m này
Trang 16thực hiện chính sách IT Tuy nhiên, nếu tập trung hơn vào tỷ giá hối đoái có th gây ra một số nhầm lẫn về sự cam kết của NHTW đ đạt được mục tiêu lạm phát và cũng có
th phức tạp trong việc thực hiện chính sách
Mollic , Torres, và C rneiro (2008) xem xét tác động củ IT vào tăng trưởng sản lượng của các nền kinh tế công nghiệp và mới nổi trong gi i đoạn 1986-2004 với mẫu khoảng 22 nước công nghiệp và 33 nước thị trường mới nổi Các tác giả sử dụng công cụ kinh tế lượng đẻ xem xét tác động này (tách ra những ác động củ độ mở cửa nền kinh tế và dòng vốn vào ra) và phát hiện ra rằng cơ chế lạm phát mục tiêu một phần hay toàn phần (FFIT) có tác động dài hạn tích cực vào tăng trưởng trong các nước công nghiệp; và trong các nước thị trường mối nổi, chỉ chính sách lạm phát mục tiêu toàn phần mới tác động dài hạn đến tăng trưởng
Blanchard, O., (2005) bằng mô hình và nghiên cứu thực nghiệm đem đến một kết luận rõ ràng: khi những điều kiện tài khóa có vấn đề (nợ cao, nợ dollar lớn, mức độ
lo ngại rủi ro cao), nếu đ chống lại lạm phát, ngân hàng trung ương gi tăng lãi suất,
và việc gi tăng lãi suất sẽ dẫn đến mất giá đồng tiền, và điều này sẽ làm gi tăng, chứ không phải là giảm đi lạm phát NHTW càng gi tăng lãi suất, th càng làm tăng hả năng h ng trả được nợ của chính phủ, và càng làm mất giá tiền tệ, càng gi tăng lạm phát
Jean-Francois Segalotto, Marco Arnone, Bernard Laurens (2006) dựa trên một cuộc khảo sát các tài liệu về đo lường mức độ tự chủ NHTW Tổng quan cho thấy rằng bằng chứng thực nghiệm về những tác dụng có lợi của quyền tự chủ NHTWlà đáng , mặc dù một có số vấn đề kỹ thuật vẫn còn tồn đọng cần phải nghiên cứu thêm Cụ th , quyền tự chủ củ NHTW đã làm gi tăng việc chỉ đạo điều hành chính sách tiền tệ, tạo nên mối liên kết giữa quyền tự chủ và trách nhiệm cũng như sự minh bạch của NHTW
Favero,Giavazzi (2005) giải thích làm thế nào rủi ro mặc định là trung tâm của cơ chế mà qu đó ngân hàng trung ương của một thị trường mới nổi dùng IT
có th mất ki m soát lạm phát – nền kinh tế có th di chuy n từ một chế độ của "sự thống trị tiền tệ" sang một chế độ "sự thống trị tài khóa" Bài báo còn cho thấy sự hiện
Trang 17diện của rủo ro mặc định củng cố khả năng rằng một vòng tròn lẩn quẩn có th phát sinh làm cho hạn chế tài chính lên chính sách tiền tệ nghiêm ngặt hơn
Stone , M, R., (2003)cho rằng nhiều nước có thị trường mới nổi đ ng sử dụng IT
đ xác định khuôn khổ chính sách tiền tệ của họ không th duy tr IT như là chính sách mục tiêu quan trọng nhất Chính sách tiền tệ này gọi là “Infl tion T rgeting Lite” (ITL), Các quốc gia sử dụng chinh sách ITL không sữ dụng tỷ giá hối đoái cố định bởi
vì nó sẽ làm cho nền kinh tế dễ bị tấn công và bị tổn thương bởi đầu cơ, trong hi mục tiêu tiền tệ là không thực tế do sự bất ổn định trong nhu cầu tiền Ngoài ra, ITL không tuân theo mô hình lý thuyết mà hầu như lu n lu n dựa trên một mục tiêu tiền tệ Xác định các vấn đề chính trong chính sách chủ yếu dự trên cơ cấu và th chế ở những nước ITL
1.1.3 Các điều kiện được đư r hi áp dụng IT
Masson P R., M A Savastano và S Sharma (1997), đã m ng lại những phân
tích một cách cơ bản về khuôn khổ chính sách tiền tệ IT áp dụng như thế nào ở các nước phát tri n Tác giả xác nhận rằng có 2 điều kiện trước tiên cho việc thông qua khuôn khổ IT: mức độ độc lập của chính sách tiền tệ, đặc biệt là về sự thống trị tài khóa; và sự vắng mặt của những cam kết về mức tỷ giá Họ kết luận rằng quốc gia nào
có th thỏa mãn cả 2 điều kiện trên thì có th thông qua chính sách tiền tệ mức IT (IT) cho tương l i, èm theo c m ết rằng mức mục tiêu đư r là qu n trọng hơn hết, đó là
ki u mẫu cho dự báo lạm phát và đ điều chỉnh các công cụ tiền tệ trong trường hợp mức lạm phát dự báo không giống với mức IT
Andrea Schaechter, Mark R.Stone, và Mark Zelmer (2002), nghiên cứu kinh nghiệm áp dụng khuôn khổ IT củ các nước công nghiệp và các nước thị trường mới nổi và đư r nhận định là những nền tảng đ IT hoàn toàn (FFIT – Full Fledged Infl tion T rgeting) được thiết lập thành công bao gồm: Một vị thế tài chính vững mạnh và ổn định kinh tế vĩ m vững chắc; Một hệ thống tài chính phát tri n tốt; Độc lập về công cụ ngân hàng trung ương và một tuyên bố nhằm đạt ổn định giá cả; Sự am
hi u cơ chế truyền tải các hoạt động tiền tệ và lạm phát; và Một phương pháp luận hợp
lý xây dựng dự báo lạm phát; và tính minh bạch của chính sách tiền tệ nhằm thiết lập
Trang 18trách nhiệm giải trình và sự tín nhiệm Nhiều yếu tố trên đây, đặc biệt là vị thế tài chính vững mạnh là cần thiết cho một chính sách tiền tệ phù hợp Hơn nữa, những yếu
tố này không cần phải được thiết lập tất cả trước hi các nước bắt đầu chuy n đổi sang khuôn khổ IT hoàn toàn
Mishkin (2004) xem xét những khía cạnh củ các nước có nền kinh tế chuy n đổi và mới nổi đ IT có th thực hiện, những hó hăn mà các nước này gặp phải và do
đó là những khác biệt giữa các nền kinh tế chuy n đổi với các nước phát tri n những
hó hăn và hác biệt bao gồm: (i) các định chế tài khóa yếu kém; (ii) mức độ tin cậy thấp củ các định chế tài chính; (iii)tình trạng đ l hó ; và (v) tính dêc bị tổn thương
củ các nước này trước sự dừng lại đột ngột của dòng vốn vào Theo tác giả, các quốc gia có nền kinh tế chuy n đổi và mới nổi nên tập trung vào phát tri n những th chế này đ đảm bảo chiến lượ chính sách tiền tệ hướng về lạm phát mục tiêu tạo r được các kết quả vĩ m tốt hơn Trong nghiên cứu này tác giả lấy h i trường hợp Chilê và
Br zil, h i nước này có những kinh nghiệm quý trong việc giảm lạm phát và duy trì ổn định vĩ m từ mức lạm phát cao thông qua thực hiện khuôn khổ chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu
B tini, Kutter và L xton (2005) đư r qu n đi m rằng kinh nghiệm thực chứng cho thấy cho dù các điều kiện hác nh u có được thỏa mãn hay không thì việc áp dụng
IT lúc đầu đều ít mang lại một kết quả tốt Hai tác giả đánh giá t nh h nh của 21 nền kinh tế áp dụng IT và 10 nước trên cơ sở phỏng vấn được thực hiện bởi NHTW nước
đó Nghiên cứu đư r bốn nhóm điều kiện: (i) Hạ tầng ĩ thuật; (ii) Sức khỏe hệ thống tài chính; (iii) tính độc lập th chế và cơ cấu kinh tế Cụ th :
Hạ tầng ĩ thuật bao gồm các yếu tố tính sẵn có dữ liệu, khả năng dự báo mang tính hệ thống, khả năng m h nh hó các điều kiện dự báo
Sức khỏe hệ thống tài chính bao gồm 6 chỉ số chuẩn theo hẹ thống tài chính củ vương quốc Anh: vốn pháp định như là % của tài sản có rủi ro; mức độ vốn hóa thị trường chứng hón; độ sau của thị trường trái phiếu tư nhân; do nh thu của thị trường chứng khoán; mức sai lệch tiền tệ tại các ngân hàng nội địa; và thời hạn các trái phiếu có th
tr o đổi linh hoạt
Trang 19Sự độc lập về th chế: không có trác nhiệm tài chính trong việc thực hiện tài trợ thâm hụt cho ngân sách chính phủ; độc lập về công cụ h y độc lập về họ động; cho dù có chỉ thị pháp lí hay không vẫn tập trung vào lạm phát; chức năng giám sát của thồn đốc; cán cân tài chính thuận lợi; nợ công thấp; và một thước đo chung về sự độc lập của NHTW
Cơ cấu kinh tế: sự truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tỷ giá thấp; độ nhạy cảm với giá hàng hóa thấp; mức độ đ l hó ; mức độ mở cử thương mại
Freedm n, C và Ot er-Robe, 2010 “Import nt elements of infl tion t rgeting for emerging economises”.Trong hi tất cả những điều iện cận được thực hiện trước
hi lạm phát mục tiêu có th được chập nhận tại các thị trường mới nổi (ưu tiên củ IT: mục tiêu củ chính sách tiền tệ; thiếu vắng củ sự thống trị tài chính (fisc l domin nce), c ng cụ độc lập cho ngân hàng trung ương), nhưng hầu hết những điều iện và nhận tố được đề nghị là cần thiệt cho mẫu h nh lạm phát mục tiêu th có th được giới thiệu như là một ết quả hi đã chấp nhận lạm phát mục tiêu S u cùng, cấu trúc củ m h nh dự đoán lạm phát, làm cho những vấn đề s u h ng còn chính xác
nữ : bằng chứng thực nghiệm củ cơ chế truyền dẫn;đư r báo cáo tiền tệ hoặc báo cáo lạm phát; cấu trúc củ sự th y đổi đ giảm thi u sự tăng giá, và tăng cường hệ thống tài chính bằng cách cải thiện những đạo luật và sự giám sát củ những tổ chức tài chính, và việc huyến hách sự phát tri n củ thị trường dòng trái phiếu nội đị Mặc dù, nền inh tế và những tổ chức trong thị trường inh tế mới nổi h ng thật sự hoàn hảo hi bất đầu, nhưng lợi ích từ việc áp dụng lạm phát mục tiêu là có thật Và đây chắc chắn là inh nghiệm củ những nước c ng nghiệp hoá và những nền inh tế mới nổi hi chấp nhận lạm phát mục tiêu
Trang 201.2 Tổng quan nghiên cứu trong nước
Trong nước có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về chính sách tiền tệ Các tác giả đi sâu phân tích vào các hí cạnh liên qu n đến chính sách tiền tệ như: mối liên hệ giữa chính sách tiền tệ và các chính sách kinh tế vĩ m và đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ (Dương Thu Hương, 2005); mối liên hệ giữa các tài khoản vĩ m và việc xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ (Nguyễn Thị Kim
Th nh, 2004); điều hành chính sách tiền tệ trong điều kiện tự do hóa các giao dịch vốn (Nguyễn Ngọc Bảo, 2008)
Một số công trình nghiên cứu về việc sử dụng và hoàn thiện các công cụ chính sách tiền tệ, cơ chế truyền tải tác động của chính sách tiền tệ (Nguyễn Thị Kim Thanh, 2005; Trần Thị Lộc, 2002) Nguyễn Thọ Đạt và các cộng sự (2010), Hà Quỳnh Hoa (2008, 2010), Võ Trí Thành (1996) nghiên cứu về cầu tiền trong hoạch định chính sách tiền tệ ở Việt N m Trong hi đó, một số tác giả nghiên cứu về cung tiền, mối liên hệ giữ cán cân th nh toán và điều hành cung tiền tại Ngân hàng Nhà nước (Nguyễn Đồng Tiến, 2001)
Một số công trình nghiên cứu đề cập tới vấn đề cải cách Ngân hàng Nhà nước nhằm nâng c o tính độc lập củ Ngân hàng Trung ương đ thực thi chính sách tiền tệ hiệu quả hơn (Vũ Thị Liên và các cộng sự, 2007; Nguyễn Đại L i, 2005) Đề xuất giải pháp hoàn thiện
địa vị pháp lý củ Ngân hàng Nhà nước đ trở thành một Ngân hàng Trung ương hiện đại (Vũ Thế Vậc, 2006)
Tuy nhiên, vẫn chư có nhiều công trình nghiên cứu về lạm phát mục tiêu ở Việt Nam Có một số bài viết đề cập đến khuôn khổ chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu, phân tích các điều kiện đ có th đư r áp dụng cơ chế điều hành chính sách tiền
tệ này tại Việt N m Đ số tác giả đều cho rằng, hiện tại Việt N m chư áp dụng được
cơ chế điều hành chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu hoàn toàn, tuy nhiên, cần có các bước, có lộ tr nh đ chuẩn bị các điều kiện cho việc áp dụng khuôn khổ chính sách tiền
tệ lạm phát mục tiêu (Nguyễn Hữu Nghĩ , 2005; Đỗ Thị Đức Minh, 2005)
Trang 21Phí Trọng Hi n (2005); Nguyễn Văn Tiến, Vũ Hoàng Phương Quế (2005) so sánh kinh nghiệm áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu của một số nước (New Zealand, Canada, ECB) và đư r một số gợi ý cho Việt Nam Theo các tác giả: (i) lựa chọn chính sách lạm phát mục tiêu phải trên cơ sở sau một thời kỳ kiềm chế lạm phát thành công; (ii) chỉ số CPI và chỉ số lạm phát cơ bản phải sử dụng song song đ đo lường lạm phát; (iii) chính sách lạm phát mục tiêu phải có tính linh hoạt cao; và (iv) chính sách lạm phát mục tiêu phải đảm bảo sự công khai minh bạch và gắn liền với trách nhiệm cao
củ Ngân hàng Trung ương
CHƯƠNG 2: CÁC ĐIỀU KIỆN CẦN VÀ ĐỦ ĐỂ ÁP DỤNG LẠM PHÁT MỤC
TIÊU 2.1 Ưu tiên lạm phát hơn các mục tiêu khác
Trên thế giới hầu hết các nước đều lấy khối lượng tiền (M2 hay M3) hoặc tỷ giá làm mục tiêu trung gi n trong điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) quốc gia.Tuy nhiên, vào những năm 1990, có một số nước công nghiệp phát tri n đã th y đổi trong việc xây dựng các mục tiêu trung gi n tương tự mà tập trung tâm đi m vào chỉ số lạm phát.Từ
đó, lạm phat mục tiêu r đời và trở thành khuôn khổ tài chính của chính sách tiền tệ
NHTW hiện đại có công cụ chính sách lãi suất với mục tiêu mang tỷ lệ lạm phát
về với tỷ lệ mục tiêu và neo giữ nó gần với tỷ lệ mục tiêu
Các NHTW chỉ có th đi đặt ra một mục tiêu cuối cùng khi hoạch định chiến lược cho chính sách tiền tệ của mình, tức là các NHTW phải chấp nhận một sự đánh đổi trong mục tiêu cuối cùng.Không thề cùng một lúc đồng chọn cả 2 mục tiêu là tỷ giá hối đoái và lạm phát
Thực tế chỉ ra rằng việc m u chóng đạt được một vài mục tiêu (tạo thêm việc làm và tăng trưởng kinh tế) với sự trợ giúp của chính sách tiền tệ mở rộng sẽ không tránh khỏi lạm phát gi tăng, dẫn đến xung đột nguyên tắc ổn định giá cả Ổn định giá
cả mới là yếu tố tiên quyết thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mục tiêu cơ bản nhất của chính sách tiền tệ là ổn định giá cả, bên cạnh đó cần tập trung đến các mục tiêu kinh tế
Trang 22hác như tạo thêm việc làm, tạo sự nhịp nhàng giữ d o động của sản xuất và việc làm trong ngắn hạn nhưng h ng được xung đột mục tiêu cơ bản nhất - ổn định giá cả Nhà kinh tế học nổi tiếng - F.Mish in đã phát bi u: ''Tập trung phát tri n sức mạnh kinh tế
sẽ đến sau khi thực hiện các phương pháp iềm chế lạm phát, đối với những nước tiến hành kế hoạch hóa lạm phát…có th đư r ết luận rằng lạm phát mục tiêu sẽ củng cố quá trình phát tri n kinh tế và thêm vào đó i m soát được lạm phát''
Các nền kinh tế mới nổi thường chọn cả mục tiêu lạm phát và tỷ giá khi thực thi chính sách tiền tệ, nhưng thực tế khi việc này xảy ra, những kết quả đem lại hoàn toàn
h ng như mong đợi Theo lý thuyết bộ ba bất khả thi, một quốc gia phải lựa chọn giữa việc giảm thi u sự th y đổi tỷ giá hoặc điều hành một chính sách tiền tệ độc lập
ổn định Nó không th có đồng thời cả hai Nếu nguồn vốn được tự do lưu chuy n thì
hi đó có 2 trường hợp xảy ra: vốn đổ vào quá nhiều hoặc quá ít T xét trường hợp dòng vốn chảy vào trong nước nhiều, hi đó, đồng nội tệ có sức ép lên giá Đ cố định
tỷ giá, NHTW buộc phải mua ngoại tệ vào, bơm nội tệ r Hành động này của NHTW làm cho đồng tiền chảy vào h ng được đư vào đầu tư mà cất vào dự trữ không tạo ra giá trị gi tăng cho nền kinh tế và theo thời gian sẽ không tạo ra tài sản đủ đ trả cho người đầu tư nước ngoài, đồng thời bơm tiền vào nền kinh tế sẽ làm cho lạm phát tăng Trong bối cảnh như cảnh như vậy, tính độc lập của chính sách tiền tệ hay nói cách hác điều hành chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu sẽ không th đảm bảo vì cung tiền không phải dựa vào diễn biến giá cả trong nền kinh tế mà do tỷ giá hay dòng tiền
ra vào quyết định Nếu NHTW muốn có một chính sách tiền tệ độc lập vì lạm phát mục tiêu thì buộc phải từ bỏ mục tiêu cố định tỷ giá khi tài khoản vốn đã được tự do
Tóm lại, khi thực hiện lạm phát mục tiêu thì các NHTW chỉ theo đuổi một mục tiêu cuối cùng duy nhất Khi theo đuồi một mục tiêu có những ưu thế nhất định sau:
Do chỉ có một mục tiêu nên các NHTW sẽ có th lựa chọn những công cụ có hiệu quả nhất đ tác động và hoàn thành mục tiêu đó
Các NHTW không bị mất phương hướng cũng như có th tập trung hơn vào hi thực hiện một 1 mục tiêu, do đó có th dùng hết mọi khả năng đ hoàn thành mục tiêu duy nhất đó
Trang 23 Truyền đạt được rõ ràng mục tiêu vả nhiệm vụ cho dân chúng, từ đó tạo được lòng tin nhiều hơn trong dân chúng với các bước khi tiến hành thực hiện mục tiêu đó
và ít gây tâm lý lo sợ hơn
Bên cạnh mục tiêu cuối cùng, các NHTW thường cũng đặt ra một hệ thống các mục tiêu mang tính chất ngắn hạn Bởi vì ảnh hưởng của mục tiêu cuối cùng thường mang một độ trễ nhất định tác dụng lên nền kinh tế, nên việc đề ra những chỉ tiêu cần đạt được trước mắt trước hi đạt được mục tiêu cuối cùng và đ lèo lái nền kinh tế đi đến cái đích cuối cùng mà NHTW đã đề r trước đó Các chỉ tiêu này trở thành mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động.Nhưng các mục tiêu này h ng được qu y ngược lại với mục tiêu cuối cùng mà chúng mang tính chất hỗ trợ nhằm thực hiện mục tiêu cuối cùng đã r Do đó, các mục tiêu này phải lu n hướng về mục tiêu cuối cùng là ổn định giá cả, đư lạm phát về với lạm phát mục tiêu
NHTW vẫn quan tâm đến sự phát tri n của các bộ phận khác trong nền kinh tế (mục tiêu cơ bản là tỷ lệ lạm phát) Các ứng phó củ ngân hàng trung ương đối với 1
cú sốc tới nền kinh tế sẽ phụ thuộc vào vấn đề như ưu tiên củ đất nước đ ổn định lạm phát liên qu n đến sự ổn định sản lượng, ki u cú sốc đ mà ngân hàng trung ương đ ng phản ứng lại (cầu hoặc cung), phải xem xét nền kinh tế là đã ở mức lạm phát mục tiêu chư h y vẫn đ ng trong quá tr nh giảm phát, và sự tín nhiệm NHTW
Một sự gi tăng về sản lượng cung ứng kéo theo một chính sách horizon dài hơn và một tỷ lệ lãi suất yếu hơn tác động đến cú sốc trong nhu cầu thứ hai, chính sách horizon cũng thường dài hơn s u một cú sốc cung cấp hơn là cú sốc nhu cầu Thứ ba, chính sách horizon nói chung nên là dài hơn cho những nước đ ng giảm lạm phát khi
độ tin cậy thấp hơn những nước đã thành c ng trong việc giữ mức lạm phát dài hạn ở mức lạm phát kì vọng dài hạn
Chính sách horizon ngắn đạt mục tiêu lạm phát nhanh s u cú shoc nhưng đánh đổi bằng biến đổi lớn hơn trong sản lượng và tài chính.Và ngược lại đối với chính sách horizon dài hạn.Tuy nhiên phải mang tỷ lệ lạm phát về với mục tiêu trong thời gian quy định
Trang 24Tỷ giá hối đoái có v i trò qu trọng, là một trong h i ênh chính mà qu đó NHTW tác động đến cầu và lạm phát.NHTW phải tính đến sự th y đổi của tỷ giá hối đoái Nhưng như đã nói ở trên, các NHTW phải quyết đoán trong việc lựa chọn mục tiêu cuối cùng, bởi vì rất dễ s đà vào việc điều chính tỷ giá khi và lệch khỏi mục tiêu cuối cùng là ổn định lạm phát
2.2 Không có sự thống trị tài khóa (fiscal dominance)
Một yếu tố hác đã nhận được sự chú ý đáng trong các bài nghiên cứu về lạm phát mục tiêu-IT ở những nền kinh tế mới nổi là sự có hay không của chính sách tài khóa thống trị Sự thống trị tài khóa(fiscal dominance) được hi u là một chính sách
mà NHTW luôn mua vào trái phiếu chính phủ, khi thâm hụt ngân sách, nguồn bù đắp
là từ NHTW và hệ thống ngân hàng Nếu NHTW bị yêu cầu tài trợ cho thâm hụt của chính phủ bằng cách cho vay trực tiếp cho chính phủ hoặc bằng cách mua tất cả các trái phiếu chính phủ phát hành mới mà công chúng không muốn mua, nó sẽ không còn
có th nhắm đến mục tiêu tỷ lệ lạm phát đã c ng bố trước Điều đó có nghĩ , nếu các ngân hàng trung ương cố gắng sử dụng duy nhất công cụ chính sách củ nó đ nhắm vào hai mục tiêu, thứ nhất liên qu n đến tài trợ thâm hụt của chính phủ và thứ hai là đạt được các một mục tiêu lạm phát, đơn giản nó sẽ không có khả năng đ thành công trong việc đạt được cả hai mục tiêu chỉ với một công cụ này Xét nhiều hơn về mặt kỹ thuật, nếu NHTW đã tài trợ cho thâm hụt của chính phủ, nó sẽ không có quyền ki m soát ích thước bảng cân đối kế toán riêng củ m nh Do đó, sẽ không có khả năng dùng một mức độ ảnh hưởng đầy đủ lên tỷ lệ lãi suất chính sách (lãi suất mà NHTW có
th trực tiếp ki m soát được, ví dụ như Fed Fund R te ở Mĩ h y lãi suất cơ bản ở Việt
N m) đ thúc đẩy các ảnh hưởng cần thiết lên cơ chế truyền dẫn phản ứng lại với tỷ lệ lạm phát quá cao hoặc quá thấp Một số nền kinh tế mới nổi đã giải quyết vấn đề tiềm tàng này bằng cách cấm việc tài trợ chính trực tiếp cho thâm hụt ngân sách của chính phủ bởi NHTW
Một ứng dụng khác của chính sách tài khóa thống trị, đã được áp dụng bởi một
số nhà bình luận với tình huống ở Thổ Nhĩ Kỳ và Br zil, h ng liên qu n đến yêu cầu NHTW tài trợ thâm hụt ngân sách chính phủ, nhưng đúng hơn là mối liên kết giữa các
Trang 25hành động lãi suất mà NHTW cần phải th m gi vào đ đạt được mức lạm phát mục tiêu và những nhận thức trong thị trường tài chính về khả năng của chính phủ đ thanh toán các nghĩa vụ
Trong trường hợp củ Br xin, F vero và Gi v zzi (2005) đã rằng giải thích làm thế nào rủi ro mặc định (default risk) là trung tâm củ cơ chế mà qu đó NHTW của một thị trường mới nổi dùng IT có th mất ki m soát lạm phát – nền kinh tế có th di chuy n từ một chế độ của "sự thống trị tiền tệ" sang một chế độ "sự thống trị tài khóa" Bài báo còn cho thấy sự hiện diện của rủi ro mặc định củng cố khả năng rằng một vòng tròn luẩn quẩn có th phát sinh, làm hạn chế tài chính lên chính sách tiền tệ nghiêm ngặt hơn
Bl nch rd, O., năm 2005 bằng mô hình và nghiên cứu thực nghiệm đem đến một kết luận rõ ràng: khi những điều kiện tài khóa có vấn đề (nợ cao, nợ dola lớn, mức
độ lo ngại rủi ro cao), nếu đ chống lại lạm phát, NHTW gi tăng lãi suất, và việc gia tăng lãi suất sẽ dẫn đến mất giá đồng tiền, và điều này sẽ làm gi tăng, chứ không phải
là giảm đi lạm phát NHTW càng gi tăng lãi suất, th càng làm tăng hả năng h ng trả được nợ của chính phủ, và càng làm mất giá tiền tệ, càng gi tăng lạm phát
Hãy xem xét một cú sốc cầu đồng biến với những hậu quả lạm phát tiềm tàng đòi hỏi phải có sự gi tăng lãi suất bởi NHTW Do tính chất ngắn hạn của nợ công trong nhiều nền kinh tế mới nổi, điều này có th dẫn đến sự lo ng i gi tăng trong thị trường tài chính về khả năng trả nợ và do đó, dẫn đến một sự gi tăng phí (phần bù) rủi ro (risk premium) lên nợ quốc gi Điều này lần lượt có th dẫn đến sự mất giá của tiền tệ (hơn là sự đánh giá b nh thường liên quan với sự gi tăng tỷ lệ lãi suất chính sách), có xu hướng gây áp lực lên lạm phát, cả trực tiếp và gián tiếp.Như vậy, phản ứng củ các NHTW đối với cú sốc lạm phát về mặt lý thuyết có th dẫn đến một kết quả kinh tế tăng cường áp lực lạm phát, chứ không phải ngược lại Không rõ ràng rằng vấn đề này quan trọng như thế nào ở các nền kinh tế mới nổi hiện n y Nhưng điều đó
sẽ th hiện rằng sự r đời của IT sẽ có ích trong việc phá vỡ mối liên kết phác thảo ở trên, bởi vì ảnh hưởng của sự giảm giá (tiền tệ) lên lạm phát có khả năng bị làm suy yếu đáng trong một mô hình IT.Ngoài ra, báo cáo của Chính phủ tái khẳng định
Trang 26cam kết của nó với một chính sách tài chính bền vững sẽ là hữu ích trong việc phá vỡ các liên kết tiềm tàng giữa các biến động lãi suất và phí rủi ro
Trong bài báo của mình, Favero và Giavazi cho rằng: Vai trò của chính sách tài
hó trong nước trong việc xác định phản ứng của các chênh lệch Embi (Embi spread) -Chỉ số EMBI củ JP Morg n đo lường khoảng chênh lệch giữa lãi suất trái phiếu của chính phủ Mỹ và của các nền kinh tế mới nổi - đối với những cú sốc quốc tế cho thấy hiệu quả của lạm phát mục tiêu có th phụ thuộc vào khuôn khổ chính sách tài khóa Xem xét những tác động của một cú sốc lên phí rủi ro-làm giảm tỷ giá hối đoái và làm tăng lạm phát kỳ vọng Khi thặng dư cơ bản (primary surplus) liên tục điều chỉnh đ mức độ củ nó lu n lu n là đủ lớn đ giữ tỷ lệ nợ ổn định, lạm phát mục tiêu hoạt động: một sự gi tăng trong Selic (lãi suất cơ bản thường niên củ Br xin) bù đắp cho
sự sụt giảm tỷ giá b n đầu, ít nhất một phần Với một nửa của khoản nợ bằng USD, ổn định một phần của tỷ giá hối đoái giới hạn tác động của lãi suất ngắn hạn c o hơn lên chi phí dịch vụ nợ: sự gi tăng thặng dư cơ bản cần thiết đ ổn định nợ do đó nhỏ tương ứng
Th y vào đó, trong một khuôn khổ chính sách tài khóa giữ nguyên mức độ của các thặng dư cơ bản, cú sốc tài chính quốc tế có th đư đến tỷ lệ nợ vay theo lối không ổn định: trong tình hình nền kinh tế có th rơi vào một trạng thái cân bằng “xấu” làm cho chính sách tiền tệ có tác dụng ngược
Động lực trong trạng thái cân bằng xấu có th được mô tả như s u Với một thời hạn ngắn của các khoản nợ công, sự gi tăng trong Selic làm tăng chi phí của nợ: nếu thặng dư cơ bản vẫn h ng th y đổi, mức nợ tăng lên, và v vậy chênh lệch Embi tăng lên Sự gi tăng trong mức chênh lệch này cộng thêm vào sự gi tăng b n đầu trong
nợ, đặc biệt là k từ hi nó được đi èm bởi sự giảm tỷ giá, điều này làm tăng giá trị của trái phiếu bằng đồng đ l trong GDP nội địa Giảm tỷ giá hối đoái cũng ảnh hưởng đến kỳ vọng lạm phát và cuối cùng là lạm phát Điều này buộc NHTW tăng Selic hơn nữ , mà tăng hơn nữ làm tăng chi phí nợ, và cứ tiếp tục như vậy
Những hó hăn của chính sách tiền tệ trong một m i trường mà thị trường tài chính cho rằng chính sách tài khóa là không bền vững trong ý nghĩa rằng nó vi phạm
Trang 27các điều kiện cho sự bền vững của nợ công thì phổ biến Sargent và Wallace (1981) là những người đầu tiên chỉ ra rằng việc giảm trong tốc độ gi tăng của tiền có th đư đến kết quả lạm phát c o hơn th y v thấp hơn nếu chính phủ dựa trên thuế đúc tiền (seignior ge) như là một nguồn doanh thu và thặng dư ngân sách h ng được điều chỉnh sau khi sự sụt giảm trong doanh thu thuế đúc tiền Đ i hi,t nh h nh này đã được gọi là một chế độ "thống trị tài khóa", thường thấy ở các nước châu Mỹ Latinh Gần đây hơn, nhưng trong cùng một mạch, “lý thuyết tài chính” của các mức giá (lần đầu tiên được thảo luận trong Woodford, 1994) đã lập luận rằng, nếu thặng dư ngân sách
cơ bản là ngoại sinh, mức giá là biến duy nhất có th làm cân bằng sự ràng buộc ngân sách liên thời gian của chính phủ (government‟s intertempor l budget constr int – yêu cầu tổng chi tiêu của một cá nhân, công ty, hoặc chính phủ phải nằm trong các quỹ sẵn
có cho nó qua một số gi i đoạn dài – theo từ đi n Oxford kinh tế): đư r một chuỗi thặng dư ngân sách ngoại sinh, chỉ có một mức giá làm cho dự trữ trái phiếu danh nghĩ được kế tục từ quá khứ phù hợp với giá trị hiện tại của những thặng dư cơ bản này Như vậy, sau một cú sốc làm tăng chi phí nợ, nếu chuỗi thặng dư cơ bản không
th y đổi, mức giá sẽ phải tăng đối với giới hạn ngân sách liên thời gian của chính phủ
đ giữ được cân bằng: điều này có th dẫn đến sự không thống nhất giữa lạm phát mục tiêu và chính sách tài khóa (một đi m được tr nh bày trong Uribe, năm 2003)
Một số nhà bình luận còn đi x hơn so với cái nhìn ở trên rằng không có chính sách tài khóa thống trị là cần thiết cho mức lạm phát mục tiêu và đã lập luận rằng, ngay
cả trong trường hợp không có chính sách tài khóa thống trị, một quốc gia cần phải có một chính sách tài khóa lành mạnh trước khi nó thông qua IT Trong thực tế, tài chính yếu kém là một vấn đề trong tất cả các mô hình chính sách tiền tệ và h ng có lý do đ tin rằng sẽ gây hó hăn nhiều hơn hi dùng IT so với các mô hình khác
Điều thú vị là, trong một số các nước công nghiệp, bao gồm Canada, việc thông
qu IT đến trước việc cải thiện vị thế tài chính của chính phủ.Tuy nhiên không có câu hỏi rằng vị thế tài chính yếu kém làm cho công việc của một NHTW hó hăn hơn dưới IT cũng như trong các m h nh chính sách khác
Trang 28Có h i trường hợp cần phải được phân biệt.Trong trường hợp đầu tiên, sự kết hợp của một chính sách tiền tệ thắt chặt và một chính sách tài khóa quá mở rộng đạt được kết quả lãi suất thực cao và tỷ giá hối đoái thực tế c o nhưng tỷ lệ lạm phát giảm
Ví dụ,ở Hoa Kỳ vào đầu những năm 1980, chính sách tài hó mở rộng của chính quyền Reagan có mục đích trái ngược với chính sách tiền tệ của cục dự trữ liên bang
Mĩ FED-nhắm đến một quá trình giảm lạm phát rõ rệt Kết quả là một quá trình giảm lạm phát rõ rệt, nhưng nó được đi èm với mức lãi suất thực cao và một tỷ giá hối đoái thực cao, làm cho quá trình thành một khối hó hăn hơn và hó chịu hơn so với trường hợp chính sách tài chính đã hỗ trợ chính sách tiền tệ Tương tự như vậy, những mức lãi suất thực cao ở C n d liên qu n đến các mức lãi suất ở Hoa Kỳ trong nử đầu những năm 1990 có th được qui cho sự vắng mặt của sự tín nhiệm tài chính trong phạm vi đáng Tuy nhiên, Ngân hàng quốc gi C n d đã thành c ng trong việc đư
về một tỷ lệ lạm phát thấp
Trong trường hợp thứ hai, sự kết hợp của một chính sách tiền tệ thắt chặt và một chính sách tái khóa mở rộng thái quá dẫn đến kết quả gi tăng trong tỷ lệ lạm phát Điều này xảy ra phần lớn bởi vì vị trí tài chính yếu ém làm tăng mối lo ngại trong thị trường tài chính về khả năng lưu hành tiền tệ tương l i T nh trạng này có th phát sinh trong nền kinh tế mới nổi có một lịch sử lạm phát rất cao hoặc siêu lạm phát, và nền kinh tế đó cũng có một thị trường vốn phát tri n kém hiệu quả đ tài trợ cho thâm hụt ngân sách chính phủ, sự sợ hăi củ lưu hành tiền tệ sẽ lớn hơn nhiều so với ở các nước công nghiệp hóa
Thực tế, những gì phân biệt h i trường hợp là nhận thức của thị trường và công chúng về khía cạnh liệu chính sách tài khóa có bền vững trong thời gian dài hay không Nếu nó được cho là bền vững, chính sách tài khóa thắt chặt sẽ cho kết quả ít hơn so với các kết quả lý tưởng khi có sự kết hợp của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ dẫn đến tỷ lệ lãi suất cao và tỷ lệ hối đoái thực tế cao tuy nhiên lạm phát giảm Ngược lại, nếu người ta tin rằng chính sách tài khóa là không bền vững trong lâu dài, thị trường sẽ mong đợi sự lưu hành tiền tệ tương l i cho những thâm hụt tài chính, và chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ không có khả năng đ vượt qua những ảnh hưởng lên lạm phát kỳ
Trang 29vọng của các chính sách tài khóa mở rộng thái hó và do đó sẽ không th ki m soát được lạm phát
2.3 Tính độc lập của NHTW
Trong suốt những năm 90 của thế kỷ XX, tính độc lập củ NHTW được xem như là nền tảng của những cải cách về mặt th chế đ giảm sự can thiệp bất hợp lý của chính trị đến quá trình xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) nhằm đạt được mục tiêu ổn định giá cả Lý do dẫn đến cuộc cải tổ này đó là việc xây dựng và điều hành CSTT mà có sự can thiệp chính trị thường chỉ đạt được những mục tiêu ngắn hạn Điều này sẽ làm gi tăng tính tạm thời và không bền vững của kinh tế vĩ m , đặt biệt là nguy cơ bùng nổ lạm phát và theo đó hạn chế tăng trưởng kinh tế và làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp
Tính độc lập củ NHTW được th hiện thông qua việc xác định rõ cơ chế hoạch định CSTT là như thế nào, NHTW có được toàn quyền quyết định việc sử dụng các công cụ đ thực thi CSTT h y h ng cũng như nêu rõ trách nhiệm của NHTW nói chung và Thống đốc nói riêng trong trường hợp mục tiêu h ng đạt được như đã đặt
ra
Thứ nhất, NHTW cần có một mức độc lập tương đối đ thực thi CSTT, mặc dù không có một NHTƯ nào có th hoàn toàn độc lập khỏi sự ảnh hưởng của chính phủ.NHTW cần phải, trong giới hạn cho phép, được tự do lựa chọn các công cụ đ đạt được tỷ lệ lạm phát mục tiêu Đ thực hiện yêu cầu này, quốc gi đó cần từ bỏ nguyên tắc ''ngân sách chi phối'', cũng như các vấn đề thuộc chính sách tài hoá h ng được gây bất cứ ảnh hưởng nào đến CSTT Sự thoát khỏi ngân sách chi phối ngụ ý rằng các khoản vay từ NHTW của chính phủ phải ở mức thấp nhất (hoặc tốt nhất bằng 0) và các thị trường tài chính trong nước có đủ độ sâu đ ''nuốt chửng'' các đợt phát hành nợ của chính phủ
Hơn nữa, sự thoát khỏi ngân sách chi phối cũng ngụ ý rằng chính phủ phải có
cơ sở nguồn thu rộng rãi và không phải đư một cách có hệ thống vào nguồn thu từ in tiền Nếu chi phối về mặt tài khoá tồn tại thì chính sách thuế khoá sẽ gây áp lực đến lạm phát và thổi bay hiệu quả của CSTT Trên thực tế, điều này được th hiện qua việc
Trang 30chính phủ không muốn làm mếch lòng công chúng bằng việc yêu cầu NHTW, ví dụ, giảm lãi suất đ tăng thuế
Thứ hai, NHTW phải có khả năng thực hiện lạm phát mục tiêu cũng như h ng
có trách nhiệm với các mục tiêu hác như: tiền lương, mức thất nghiệp hay tỷ giả Ví
dụ, nếu một quốc gia duy trì chế độ tỷ giá cố định, trong điều kiện các luồng vốn dịch chuy n mạnh như hiện nay thì không thề cùng một lúc thực hiện được lạm phát mục tiêu Hơn nữa là khi NHTW duy trì cùng lúc hai hay nhiều mục tiêu thì thị trường không hi u trong trường hợp xấu đi, mục tiêu nào sẽ được ưu tiên thực hiện Ví dụ, khi xuất hiện mối đe doạ đến tỷ giá, NHTW buộc phải lựa chọn: hoặc duy trì tỷ giá cố định, từ bỏ mục tiêu lạm phát; hoặc bảo vệ chỉ tiêu lạm phát kế hoạch, hy sinh tỷ giá cố định
2.3.1 Kinh nghiệm của Ngân hàng Dự trữ New Zealand
Tạp chí Khoa học Kinh tế Economic Commentary (thuộc Ngân hàng Dự trữ New Zealand - NHTW của New Zealand)
Công trình nghiên cứu của Economic Commentary có th được tóm tắt như s u: Hoạt động nghiên cứu khảo sát ở 2 gi i đoạn, gi i đoạn thứ nhất 1955-1988 và
gi i đoạn thứ hai 1988-2000
Đối tượng nghiên cứu là hầu hết các quốc gia thuộc Tổ chức hợp tác và phát tri n kinh tế OECD Sự phát tri n kinh tế đã tăng số lượng các quốc gia Công nghiệp,
vì vậy độ rộng của mẫu nghiên cứu ở gi i đoạn sau là lớn hơn nhiều
Công trình nghiên cứu lấy New Zealand (cụ th là Ngân hàng Dự trữ New Zealand) làm trung tâm đ xem xét, so sánh và đánh giá Kh ng phải ngẫu nhiên mà người ta lấy New Zealand làm trung tâm nghiên cứu Lịch sử cho thấy New Zealand là một trong số các quốc gi đầu tiên và thành công nhất của OECD trong việc bình ổn giá cả, thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu và là quốc gia có những bước cải cách căn bản đầu tiên trong hoạt động của NHTW
Trang 31Bi u đồ 1: Mô tả sự biến động mức lạm phát qu các gi i đoạn
Bi u đồ 2: Th hiện sự th y đổi tính độc lập của NHTW mỗi quốc gia trong 2
gi i đoạn hác nh u Đ đo lường tính độc lập, ở 2 khoảng thời gian này các nhà nghiên cứu đã lựa chọn một vài nhân tố chung bao gồm: độc lập về mặt nhân sự (Personnel independence), độc lập về mặt tài chính (Fin nci l independence) và độc lập về mặt chính sách (Policy independence), riêng độc lập về mặt chính sách bao gồm độc lập về mục tiêu (Go l independence) và độc lập trong sử dụng các công cụ (Instrument independence) Từ đó, họ lượng hó tính độc lập này th ng qu Đi m số độc lập (Independence Score)
Trang 32Bi u đồ 3: Khảo sát mối quan hệ giữ tính độc lập của NHTW với tỷ lệ lạm phát Trục hoành bi u diễn Đi m số độc lập, trục tung phản ánh tỷ lệ lạm phát
Hầu hết những quốc gia Công nghiệp đều đã đạt được một sự giảm lạm phát rõ rệt: tỷ lệ giảm hàng năm trung běnh từ 5,6% trong gi i đoạn 1955-1988 xuống còn 2,7% trong gi i đoạn 1988-2000 (xem bi u đồ 1) Một trong những câu chuyện thành
c ng hác thường nhất là New Zealand, với 7,6% trong khoảng thời gi n đầu xuống còn 2,7% trong gi i đoạn sau Nhiều học giả đã quy sự cải tiến này cho IT mà New
Ze l nd đã thực hiện vào năm 1989, nhưng điều này sẽ là phiến diện nếu chỉ tin vào một mình sự ảnh hưởng của IT
Quay trở lại thời đi m năm 1989, hoạt động của Ngân hàng Dự trữ New
Ze l nd đã có bước đột phá với 2 cải cách lớn: thứ nhất, Ngân hàng Dự trữ được độc lập nhiều hơn với Chính phủ Thứ h i, đã thiết lập được một chính sách lạm phát mục tiêu rõ ràng mà sau này nhiều quốc gi đã lần lượt áp dụng Xét về sự độc lập tối thi u của một NHTW, Ngân hàng Dự trữ New Zealand lúc bấy giờ đứng vào tốp đầu tiên
Trang 33Các chuyên gia của Tạp chí Economic comment ry đã cho rằng chính sự độc lập c o hơn của Ngân hàng Dự trữ New Zealand là chìa khóa cho thành công trong quản lý lạm phát ở New Zealand
2.3.2 Thành công của Ngân hàng Dự trữ New Zealand
Trước năm 1989, Ngân hàng Dự trữ New Zealand là một “đại lý” của Chính phủ và được trao rất ít sự độc lập NHTW này chỉ hoạt động với tư cách là cố vấn cho Chính phủ New Zealand, vì vậy CSTT củ nó như là một công cụ hoạt động theo ý muốn của Bộ Tài chính
Lịch sử cho thấy, New Ze l nd đã được xếp vào loại những quốc gi có Đi m
số độc lập của NHTW thấp nhất và tỷ lệ lạm phát củ nó đứng vào loại cao nhất trong thế giới các nước Công nghiệp Suốt thập niên 70, mức độ lạm phát của New Zealand luôn ở ngưỡng 2 con số, đ i lúc lên đến 18% Đáp lại điều đó, đ ổn định giá cả, từ những năm 1989, Ngân hàng Dự trữ New Ze l nd đã có một sự chuy n mình mạnh mẽ trong điều hành Điều này th hiện qua việc Quốc hội New Zeal nd đã nh nh chóng
sử đổi các đạo luật có liên quan, xây dựng và hoàn thiện các đạo luật mới trong đó khẳng định tiên quyết rằng “Chức năng chủ yếu của Ngân hàng Dự trữ New Zealand là trực tiếp xây dựng và hoàn thiện Chính sách tiền tệ hướng vào việc đạt được các mục tiêu kinh tế và duy trì sự ổn định giá cả ”
Bên cạnh đó, có th k ra một số những th y đổi căn bản trong hoạt động điều hành CSTT của Ngân hàng Dự trữ New Zealand:
Đ ổn định giá cả, Quốc hội New Ze l nd đã đư Chính sách lạm phát mục tiêu vào trong hiến pháp.Việc lượng hóa mục tiêu lạm phát là kết quả của sự tr o đổi “c ng bằng, nghiêm túc” giữa Chính phủ và NHTW
NHTW New Ze l nd được phép xem xét tác động và đề xuất những kiến nghị
đ giải quyết những tình huống có th ảnh hưởng đến sự ổn định giá, như sự biến động của kim ngạch xuất nhập khẩu, các loại thuế
NHTW New Ze l nd được thực sự độc lập trong việc theo đuổi mục tiêu CSTT
mà không bị hạn chế về mặt kỹ thuật, ngoại trừ trường hợp là việc thực hiện CSTT phải cân nhắc đến tính hiệu quả và sự ổn định của hệ thống tài chính Đặc biệt, ngân
Trang 34hàng này được toàn quyền quyết định các điều kiện tiền tệ (như các hối tiền M1, M2, M3, lãi suất, tỷ giá,…) trên cơ sở một thỏ ước với Bộ Tài chính và sự cân nhắc các ý kiến đóng góp củ các cơ qu n chức năng hác
Trong quá trình quản lý ổn định giá, Ngân hàng Dự trữ đã rút r một số kết luận
s u đây:
“Việc làm giảm lạm phát và duy trì mức lạm phát mong muốn thấp là tương đối
dễ dàng so với việc ki m soát chặt chẽ mức lạm phát trong phạm vi khung lạm phát”
Việc theo đuổi quá nhiều mục tiêu sẽ hạn chế năng lực và tính chủ động của một NHTW, h y nói cách hác, “việc NHTW tập trung giải quyết quá nhiều trách nhiệm đối với Chính phủ sẽ làm giảm sút tính linh hoạt củ nó”
Những chủ trương mới này đã cho phép NHTW đề r được chính sách lạm phát mục tiêu tương ứng với từng thời kỳ và có được những địa vị pháp lý cũng như tính chủ động c o hơn trong giải quyết các mục tiêu ở trên Ngoài r , nó cũng giới hạn đầy nghiêm khắc những tình huống, những hoàn cảnh mà một Thống đốc có th bị xa thải, hay nói cách khác, việc th y đổi nhiệm kỳ của Nội Các Chính phủ không ảnh hưởng đến hoạt động củ B n lãnh đạo NHTW
Bi u đồ 2 chỉ ra rằng Đi m số độc lập của Ngân hàng Dự trữ New Ze l nd đã
có sự tăng tốc mạnh mẽ, từ 25 đi m gi i đoạn 1955-1988 lên đến 89 ở gi i đoạn
1989-2000 và được xem như là một bước ngoặt lớn Có th thấy rõ, trong thời kỳ thứ nhất Ngân hàng Dự trữ New Zealand có số đi m thấp nhất trong số các quốc gia Công nghiệp được nghiên cứu, tuy nhiên ở giai đoạn sau, nó bức phá lên tốp những NHTW
có sự độc lập cao nhất Bi u đồ 2 cũng cho thấy, hầu hết những quốc gia Công nghiệp
đ ng nghiên cứu đều nằm ở nửa trên của tuyến 45 độ, ngụ ý rằng tính độc lập được xem như là một xu hướng chung trong những khoảng thời gian càng tiến gần đến hiện tại
Chúng t cũng nhận thấy rằng tỷ lệ lạm phát củ New Ze l nd đã giảm từ 7,6% (c o hơn mức trung bình của các quốc gia Công nghiệp) trong gi i đoạn thứ nhất xuống còn 2,7% (dưới mức trung bình) trong thời kỳ sau Vậy thì một câu hỏi được đặt
Trang 35ra là bao nhiêu sự thành công trong kết quả này có sự đóng góp của sự tăng lên trong mức độ độc lập của NHTW New Zealand?
Bi u đồ 3 cho thấy trong thời kỳ thứ nhất đã có một mối quan hệ khắng khít giữ tính độc lập của NHTW và mức lạm phát (trong nhóm các quốc gia nghiên cứu), hay nói cách khác, khi NHTW của những nước này có quá ít tính độc lập thì mức lạm phát chung thường rất c o và ngược lại Gi i đoạn thứ hai cho thấy mối quan hệ này đã trở nên ém rõ ràng hơn, tuy nhiên bi u đồ 3 vẫn cho thấy có mối quan hệ rất mật thiết giữ tính độc lập và tỷ lệ lạm phát b nh quân Hơn nữa, sự tác động củ tính độc lập của NHTW vào mức lạm phát là xuyên suốt mọi thời gian, và kết quả này không chỉ đúng với New Zealand mà còn phù hợp với các quốc gia còn lại
Từ những kết quả ở bi u đồ 3, chúng ta có th khẳng định chắc chắn rằng sự giảm xuống trong tỷ lệ lạm phát ở New Zealand (trung bình 4,2%) nhờ chủ yếu vào sự tăng lên mạnh mẽ tính độc lập của Ngân hàng Dự trữ New Ze l nd Và người ta tính toán rằng nếu như New Ze l nd trong gi i đoạn thứ nhất có Đi m số độc lập của NHTW c o như ngày n y th mức lạm phát sẽ chỉ là 3,4% th y v 7,6% như đã tồn tại
Bi u đồ 3 cũng hiến các nhà kinh tế đi đến một sự tổng kết rằng nếu có sự tăng lên trong tính độc lập của NHTW thì mức lạm phát chung trên toàn thế giới sẽ giảm từ 5,6% xuống còn 3,8% Thực tế, tỷ lệ lạm phát bình quân trên toàn thế giới là 5,6% (gi i đoạn 1955-1988) và 2,7% (gi i đoạn 1988-2000)
Như vậy, với những bằng chứng đư r cho thấy rằng đã có một mối quan hệ về mặt nguyên tắc hết sức rõ ràng giữ tính độc lập của một NHTW và mức độ lạm phát trong dài hạn Một NHTW độc lập là cách thức hữu hiệu nhất đ đảm bảo duy trì một mức lạm phát thấp và hợp lý
2.4 Mức độ kiểm soát thông qua công cụ chính sách
chính củ phần này là NHTW phải có hả năng điều hành hoặc có ảnh hưởng một cách mạnh mẽ đến tỷ lệ lãi suất Điều này chủ yếu thực hiện qu những cơ chế truyền dẫn hác nh u, miễn s o tác động lên lãi suất
Trước hết chúng t cần hi u được tại s o phải dùng c ng cụ chính sách h ng ảnh hưởng lên một yếu tố nào hác mà phải ảnh hưởng lên chính sách lãi suất:
Trang 36Về phương diện lý thuyết, lãi suất d nh nghĩ và lạm phát có mối quan hệ cùng chiều Khi lạm phát tăng th lãi suất d nh nghĩ tăng đ đảm bảo mức lãi suất thực được chấp nhận bởi các chủ th trong nền kinh tế Tri n vọng của lãi suất thực có ảnh hưởng đến các kỳ vọng và hoạt động chi tiêu và đầu tư S u hi xác định được các kỳ vọng lạm phát, nếu người tiêu dùng tin rằng lãi suất tiết kiệm sẽ h ng th y đổi hoặc tăng rất thấp, nghĩ là lãi suất thực sẽ âm thì họ sẽ có huynh hướng rút tiền gửi tiết kiệm và đầu tư vào bất động sản hoặc chứng hoán đ bảo vệ sức mu Điều này sẽ tạo nên bong bóng trên thị trường bất động sản và ngay lập tức sẽ làm cho CPI có xu hướng gi tăng, v thế, lãi suất thực sẽ là một biến số quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định tiêu dùng, đầu tư của các chủ th trong nền kinh tế, đồng thời cũng là biến số tác động đến kỳ vọng lạm phát Do vậy, NHTƯ các nước thường ki m soát kỳ vọng lạm phát th ng qu xu hướng của lãi suất thực Th ng thường, NHTƯ sẽ bắt đầu tăng tỷ lệ lăi suất dần dần khi lạm phát tiến gần tới lăi suất tiền gửi d nh nghĩ Điều này phát đi một tín hiệu là NHTƯ sẽ có huynh hướng duy trì chính sách lãi suất thực dương Dấu hiệu này cũng sẽ làm suy yếu các kỳ vọng của thị trường về lãi suất thực
âm và tăng giá của tài sản
Mối quan hệ giữa lãi suất và lạm phát được hình thành dựa trên sự ảnh hưởng của lãi suất lên tổng cầu, và đó cũng là đi m mấu chốt đ sử dụng lãi suất trong việc quản lý kinh tế Trong cấu phần của tổng cầu có hai yếu tố sẽ chịu tác động trực tiếp của việc th y đổi lãi suất là tiêu dùng và đầu tư Trong đó, tiêu dùng sẽ giảm xuống khi lãi suất tăng lên là do giá cả của việc v y mượn cho nhu cầu tiêu dùng trở nên đắt đỏ hơn Đối với đầu tư, chi phí v y mượn tăng làm cho hả năng sinh lời của các khoản đầu tư trở nên thấp hơn.V thế mà việc tăng lãi suất cũng sẽ làm giảm mức độ đầu tư, tuy nhiên, mức độ đầu tư giảm còn phụ thuộc vào sự co dãn của cầu đầu tư so với lãi suất Ngược lại, khi lãi suất giảm xuống thì hành vi củ người tiêu dùng và nhà đầu tư
th y đổi theo hướng ngược lại Sự th y đổi đó được th hiện bằng sự dịch chuy n của đường tổng cầu (xem Bi u đồ 1)
Trang 37Bi u đồ 1: Ảnh hưởng lãi suất đến tổng cầu
Chính vì mối quan hệ trên nên lãi suất đã trở thành công cụ được lựa chọn đ
ki m soát lạm phát mục tiêu và ki m soát các kỳ vọng lạm phát hữu hiệu Cơ chế truyền dẫn của lãi suất đến lạm phát thường được mô tả như s u: (xem Bi u đồ 2)
Trang 38Bi u 2: Từ lãi suất đến lạm phát và tăng trưởng kinh tế
2.5 Phương pháp dự báo hợp lý
Các nhà nghiên cứu đã lập luận rằng điều quan trọng là các NHTW phải có được một phương pháp hợp lý, bao gồm một m h nh đ đư r dự báo về lạm phát Điều này đ i hi được hi u như là một yêu cầu đối với NHTW là phải hi u biết rõ ràng
về cơ chế truyền dẫn của quốc gia.Trong khi một phương pháp tinh vi đ đư r dự báo
có th được phát tri n và cải thiện theo thời gi n, đi m khởi đầu của IT không phải là cốt yếu Điều cốt yếu cho một quốc gia IT là một khuôn khổ hợp lý đ dự báo tỷ lệ lạm phát trong tương l i M h nh cơ bản cho khuôn khổ này có th há đơn giản lúc đầu, ngày càng trở nên phức tạp và dần dần thực tế qua thời gian Khuôn khổ này nên sử dụng bất cứ hình thức quan hệ thực nghiệm đã được chứng minh trong quá khứ, bất cứ biến số và các chỉ số có chứa thông tin về tỷ lệ lạm phát trong tương l i có th đạt được
Trang 39Như trường hợp đi n hình của Thái Lan, quốc gi Đ ng N m Á đã áp dụng rất thành c ng chính sách LPMT Định kỳ hàng năm, NHTW Thái L n đư r mức LPMT
cụ th và công bố ra công chúng Lãi suất chính sách được coi là công cụ hàng đầu trong việc điều hành CSTT của NHTW Thái Lan và lu n được công bố rõ ràng với vai trò là tín hiệu của chính sách và công cụ định hướng thị trường Theo cơ chế này, nhiệm vụ chủ yếu và mục tiêu quan trọng nhất của CSTT là ổn định giá cả, tức là kiềm chế lạm phát ở mức thấp và ổn định, việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế chỉ là mục tiêu thứ yếu, không phải là nhiệm vụ và mục tiêu trọng tâm của NHTW Thái Lan Các nội dung này được quy định rõ trong Luật NHTW Thái Lan Từ năm 2000 đến năm 2008, LPMT mà NHTW Thái L n đề ra là tốc độ tăng trưởng bình quân theo quý của lạm phát cơ bản phải được giữ trong khoảng từ 0 - 3,5% Tuy nhiên, k từ năm 2009, NHTW Thái L n đã điều chỉnh mục tiêu này ở mức 0,5 - 3% nhằm tránh nguy cơ giảm phát và thu hẹp khoảng d o động của mục tiêu Trong đó, NHTW Thái L n xây dựng
dự báo lạm phát theo hai cách tiếp cận:
Một là, Dự báo dựa trên dữ liệu chuỗi thời gi n đ tiên lượng những biến động ngắn hạn trên cơ sở hàng tháng
Hai là, mô hình dự báo lạm phát theo quý gắn kết dự báo lạm phát với điều kiện kinh tế vĩ m chung
Mặc dù, còn những cách hi u khác nhau về khuôn khổ chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu, song có th khái quát chung rằng lấy lạm phát làm mục tiêu chính sách tiền tệ là khuôn khổ điều hành và đánh giá chính sách tiền tệ bao gồm 4 yếu tố chủ yếu sau: (1) Ổn định giá cả hay lạm phát là mục tiêu chủ yếu hoặc duy nhất của chính sách tiền tệ Các mục tiêu này phải chỉ ra rõ ràng cho công chúng thấy mục tiêu lạm phát được ưu tiên hơn so với các mục tiêu khác của chính sách tiền tệ; (2) Lạm phát mục tiêu được xác định rõ ràng về mặt định lượng bằng một con số hoặc một khoảng giá trị xác định Ngân hàng Trung ương cần thiết lập m h nh h y phương pháp dự báo lạm phát thông qua sử dụng một số các chỉ số chứ đựng các thông tin về lạm phát trong tương l i; (3) Lộ trình thực hiện - khoảng thời gi n đ có th đạt được mục tiêu lạm
Trang 40phát; và (4) Đánh giá việc thực hiện mục tiêu lạm phát của NHTW - đặc trưng này phản ánh tính minh bạch hơn trong chính sách tiền tệ
Theo cách tiếp cận như vậy, NHTW dự báo lộ trình lạm phát trong tương lai, lạm phát dự báo được so với lạm phát mục tiêu - mức lạm phát mà Chính phủ cho rằng phù hợp với nền kinh tế.Sự khác biệt giữa lạm phát dự báo và lạm phát mục tiêu sẽ quyết định mức độ điều chỉnh chính sách tiền tệ.Theo phương pháp tiếp cận này, lấy lạm phát làm mục tiêu của chính sách tiền tệ thực sự là khuôn khổ điều hành và đánh giá chính sách tiền tệ, h ng đơn giản chỉ là việc lựa chọn mục tiêu cuối cùng Theo
đó, người ta nhấn mạnh v i trò đặc biệt quan trọng của dự báo lạm phát do dự báo lạm phát quyết định chính sách tiền tệ nên phản ứng như thế nào
Nói chung, lạm phát mục tiêu có th được mô tả như một cơ chế điều hành chính sách tiền tệ dựa trên nền tảng sử dụng việc dự báo lạm phát làm chỉ số mục tiêu trung gian NHTW sẽ dự báo xu hướng lạm phát năm tới đ đư chỉ số lạm phát mục tiêu (định hướng bằng một chỉ số hoặc một khoảng biên độ) cho năm ế hoạch.Trong giới hạn của mình, NHTW có th linh hoạt lựa chọn và sử dụng các công cụ đ đạt một mục tiêu duy nhất - đó là chỉ số lạm phát mục tiêu
Tuy nhiên, nhược đi m củ cơ chế lạm phát mục tiêu là hi năng lực điều tiết của chính sách tiền tệ không cao sẽ đẩy NHTW vào vòng luẩn quẩn trong việc lựa chọn ưu tiên giữ các cơ chế điều hành (tỷ giá, lãi suất và khối lượng tiền) của chính sách tiền tệ Mặt khác, khi áp dụng lạm phát mục tiêu, NHTW sẽ phải chịu trách nhiệm chính thức và v điều kiện trong việc thực hiện chính sách tiền tệ đ đạt được chỉ số mục tiêu dựa trên chỉ số dự báo lạm phát do chính Ngân hàng Trung ương đư r Khi
đó, dự báo lạm phát được xem như là mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ, vì vậy, h ng ít người đã h ng đề cập đến lạm phát mục tiêu mà chỉ nói đến dự báo lạm phát mục tiêu (targeting inflation forecast)
Nếu một m h nh đóng một vai trò qua trọng trong việc đư ra dự báo về lạm phát, nó cần thiết phải có các chức năng phản ứng giúp NHTW có những phản ứng thích hợp đ tạo áp lực lên lạm phát.Đó là, các NHTW nên có phản ứng tăng hoặc giảm trong chính sách lãi suất d nh nghĩ nhiều hơn so với một sự th y đổi của tỉ lệ