Tuy nhiên, tác giả chỉ mới dừng lại ở việc thảo luận về các quy tắc của CSTT trong việc theo đuổi mục tiêu lạm phát nhằm hỗ trợ tăng trưởng mà chưa đề cập trực tiếp đến việc làm thế nào
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN ANH KHOA
TÁC ĐỘNG LẠM PHÁT ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ
LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU
TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201 Người hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG VĂN DÂN
TP Hồ Chí Minh – Năm 2015
Trang 2TÓM TẮT
Lạm phát và tăng trưởng kinh tế vẫn luôn là mối quan tâm hàng đầu đối với
sự ổn định và phát triển của mọi quốc gia Nếu lạm phát cao không đem lại những kết quả tốt cho tăng trưởng kinh tế thì ngược lại, lạm phát quá thấp cũng không phải
là yếu tố thuận lợi để phát triển Theo đó, chính lạm phát mục tiêu – Inflation Targeting Policy đã được lựa chọn áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới và đã cho thấy những kết quả tích cực khi lạm phát được kiểm soát ở mức thấp hợp lý đồng thời, chất lượng tăng trưởng kinh tế cũng được cải thiện hơn rất nhiều
Trên cơ sở phân tích thực trạng điều hành chính sách tiền tệ kiểm soát lạm phát tại Việt nam, kết quả cho thấy việc áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu là một hướng đi rất cần thiết cũng như nền kinh tế hiện nay nên công bố chuyển đổi từng bước trước khi áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu hoàn toàn Tuy nhiên, song song việc hoàn thiện các điều kiện tiên quyết chính sách lạm phát mục tiêu thì việc trả lời câu hỏi khung lạm phát mục tiêu Việt Nam bao nhiêu là hợp lý cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc hoạch định chính sách cho giai đoạn chuyển tiếp Trên nền tảng nghiên cứu của Sarel (1995), Khan & Senhadji (2000), Mubarik (2005), Leshoro (2012), Vinayagathasan (2013) về mối quan hệ giữa lạm phát - tăng trưởng, tác giả đã sử dụng bộ dữ liệu chuỗi thời gian các biến số kinh tế vĩ mô tại Việt Nam từ QI/2004 – Q4/2014 để ước lượng mức lạm phát tối ưu hay ngưỡng lạm phát bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) và các kỹ thuật hồi quy hai giai đoạn tối thiểu (2SLS) hay mô-men tổng quát (GMM) Kết quả cho thấy, mức ngưỡng lạm phát của Việt Nam là 7% và khi lạm phát vượt quá ngưỡng này sẽ gây ra các tác động bất lợi lên tăng trưởng kinh tế, ngược lại nếu lạm phát dưới ngưỡng sẽ có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng Theo đó, kết luận này đã giúp ích rất nhiều trong việc đề xuất khung lạm phát mục tiêu cho lộ trình chuyển đổi tại Việt Nam trước khi thực hiện áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu hoàn toàn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: Nguyễn Anh Khoa
Sinh ngày: 05 tháng 10 năm 1991 – tại: Bình Định
Quê quán: TP Quy Nhơn, Bình Định
Hiện đang công tác tại: Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – CN Thủ Đức, số 01 Võ Văn Ngân, P.Trường Thọ, Q Thủ Đức, TPHCM
Là học viên cao học khóa 15 trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh
Mã học viên: 020115130047
Cam đoan đề tài: Tác động lạm phát đến tăng trưởng kinh tế và lộ trình áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng Mã số: 60340201
Người hướng dẫn khoa học: TS Đặng Văn Dân
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả của quá trình nghiên cứu học tập
và làm việc với tinh thần nghiêm túc Số liệu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng
và đáng tin cậy Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của tôi
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 12 năm 2015
Người cam đoan
Nguyễn Anh Khoa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời trước tiên, tôi xin thể hiện tấm lòng biết ơn lớn nhất đến cha mẹ, những người đã luôn giúp đỡ tôi bằng những lời động viên tình cảm cũng như lời chúc tốt đẹp vào những khi tôi cảm thấy gặp nhiều khó khăn nhất để tôi có thể tiếp tục cố gắng cho đến ngày hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tiếp đến, tôi xin thể hiện lòng cảm ơn chân thành đến TS Đặng Văn Dân, người đã nhiệt tình giúp đỡ tôi với những lời chỉ bảo cũng như lời khuyên hữu ích
và tận tình để tôi có thể từng bước hoàn thiện kể từ lúc khởi đầu cho đến khi đạt được thành quả nghiên cứu sau cùng
Và tôi cũng xin cảm ơn tất cả các thầy cô khoa Sau đại học trường Đại học Ngân hàng TP.HCM, những người đã luôn truyền đạt cho tôi những kiến thức nền tảng quý báu cũng như những người bạn cùng lớp cao học đã chia sẻ kinh nghiệm
và giúp đỡ lẫn nhau cho đến ngày hoàn thành xong chương trình cao học này
Một lần nữa, tôi xin chân thành biết ơn!
Thành phồ Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 12 năm 2015
Nguyễn Anh Khoa
Trang 5MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU/BIỂU ĐỒ/HÌNH
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT, TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH LẠM
PHÁT MỤC TIÊU 1
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT 1
1.1.1 Định nghĩa 1
1.1.2 Đo lường lạm phát 1
1.1.3 Phân loại lạm phát 2
1.1.4 Các nguyên nhân lạm phát .3
1.1.4.1 Lạm phát do cầu kéo .3
1.1.4.2 Lạm phát do chi phí đẩy 4
1.1.5 Một số quan điểm về lạm phát .4
1.1.5.1 Lạm phát theo quan điểm lượng tiền 4
1.1.5.2 Lạm phát theo quan điểm kỳ vọng 5
1.1.5.3 Lạm phát theo quan điểm cơ cấu 6
1.2 PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG LẠM PHÁT ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 6
1.2.1 Một số nghiên cứu lý thuyết 6
1.2.2 Các mô hình nghiên cứu thực nghiệm 10
1.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU 13
1.3.1 Chính sách tiền tệ 13
1.3.1.1 Mục tiêu của chính sách tiền tệ 13
1.3.1.2 Công cụ của chính sách tiền tệ 16
1.3.2 Chính sách lạm phát mục tiêu 17
1.3.2.1 Khái niệm 17
1.3.2.2 Các nguyên tắc của chính sách lạm phát mục tiêu 19
1.3.2.3 Điều kiện tiên quyết để áp dụng thành công chính sách lạm phát mục tiêu 20
1.3.2.4 Đánh giá ưu nhược điểm của chính sách lạm phát mục tiêu 21
1.4 KINH NGHIỆM MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG VIỆC ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU 22
1.4.1 Kinh nghiệm của New Zealand 22
Trang 61.4.2 Kinh nghiệm của Mexico 24
1.4.3 Kinh nghiệm của Brazil 25
1.4.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 27
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH LẠM PHÁT, TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ KIỂM SOÁT
LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 - 2014 30
2.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 - 2014 30
2.2 THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 - 2014 36
2.2.1 Mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ 36
2.2.1.1 Mục tiêu cuối cùng 36
2.2.1.2 Mục tiêu trung gian 37
2.2.1.3 Mục tiêu hoạt động 40
2.2.2 Thực trạng sử dụng công cụ chính sách tiền tệ kiềm chế lạm phát 41
2.2.2.1 Giai đoạn 2000 - giữa 2007 41
2.2.2.2 Giai đoạn từ giữa 2007 - 2010 45
2.2.2.3 Giai đoạn 2011 - 2014 49
2.2.3 Đánh giá hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam 54
2.2.3.1 Những mặt tích cực 54
2.2.3.2 Những mặt hạn chế 55
2.2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế 58
2.3 NGHIÊN CỨU CÁC ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM 59
2.3.1 Lý do nên áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam 59
2.3.2 Thực trạng đáp ứng các điều kiện chính sách lạm phát mục tiêu 61
2.3.2.1 Ổn định giá cả là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ 61
2.3.2.2 Sự độc lập của Ngân hàng Trung ương 62
2.3.2.3 Thị trường tài chính ổn định và phát triển 63
2.3.2.4 Năng lực dự báo lạm phát 65
2.3.2.5 Sự lành mạnh của chính sách tài khóa 66
2.3.3 Đánh giá các điều kiện áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu 67
Trang 7CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH ƯỚC LƯỢNG MỨC LẠM PHÁT TỐI ƯU (NGƯỠNG LẠM PHÁT) ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT
NAM 70
3.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 70
3.1.1 Mô hình ước lượng ngưỡng lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế 70
3.1.2 Mô tả dữ liệu 72
3.1.3 Phương pháp nghiên cứu 72
3.1.3.1 Kiểm định tính dừng 72
3.1.3.2 Ước lượng bước trễ tối ưu với mô hình VAR 73
3.1.3.3 Kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger 74
3.1.3.4 Phương pháp hồi quy với OLS, 2SLS và GMM 74
3.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 77
3.2.1 Mô tả dữ liệu nghiên cứu 77
3.2.2 Kiểm định tính dừng của các biến trong mô hình 77
3.2.3 Lựa chọn bước trễ tối ưu bằng mô hình VAR 78
3.2.4 Kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger 79
3.2.5 Ước lượng ngưỡng lạm phát với OLS, 2SLS và GMM 79
3.2.6 Đánh giá kết quả mô hình 83
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THEO LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM 86
4.1 NHÓM GIẢI PHÁP ƯU TIÊN TRONG VIỆC ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ GIAI ĐOẠN 2015 - 2016 86
4.2 NHÓM GIẢI PHÁP ĐỊNH HƯỚNG ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM 89
4.2.1 Nâng cao tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước 89
4.2.2 Tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình 90
4.2.3 Hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ 90
4.2.4 Nâng cao năng lực dự báo lạm phát 93
4.2.5 Cắt giảm thâm hụt ngân sách 93
4.3 LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU 94
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 92.7 Hệ số ICOR của các khu vực đầu tư (1996-2014) 67
3.2 Kiểm định Augmented Dickey - Fuller và Phillips – Perron 77
3.4 Kiểm định Granger giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế 79 3.5 Kết quả ước lượng ngưỡng lạm phát tại INF*=7% 79 3.6 Kiểm định độ tin cậy của ước lượng tại ngưỡng INF*=7% (OLS) 81
3.7 Kiểm định độ tin cậy của ước lượng tại ngưỡng INF*=7%
Danh mục biểu đồ
Trang 101.1 Tăng trưởng GDP và lạm phát New Zealand (1962-2004) 23
2.4 Diễn biến lạm phát so tháng 12 năm trước (2011-2014) 34 2.5 Tăng trưởng tổng sản lượng tiềm năng (1999-2014) 35
2.8 Tăng trưởng tín dụng thực tế và kế hoạch (2000-2014) 40 2.9 Diễn biến điều hành công cụ lãi suất (2008-2010) 45 2.10 Lượng tiền cung ứng ròng qua thị trường mở (2008-2010) 48
2.12 Diễn biến điều hành công cụ lãi suất (2011-2014) 51 2.13 Diễn biến lãi suất bình quân liên ngân hàng (2011-2013) 51 2.14 Bơm hút tiền trên thị trường mở sáu tháng đầu năm 2011 51 2.15 Diễn biến bơm hút tiền trên thị trường mở năm 2013 52
Trang 112.16 Diễn biến tỷ giá điều hành và tỷ giá ngân hàng (2011-2014) 53 2.17 Diễn biến tình trạng đô la hóa Việt Nam (2000-2014) 54 2.18 Quy mô tổng tài sản có hệ thống TCTD (2012-2014) 63 2.19 Một số chỉ tiêu an toàn hệ thống tài chính (2012-2014) 64 2.20 Cân đối thu chi Ngân sách Nhà nước (2000-2014) 67 3.1 Tổng phần dư bình phương ước lượng OLS, 2SLS và GMM 80
Danh mục hình vẽ
1.5 Quy trình thực thi chính sách lạm phát mục tiêu 19
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Thời gian qua, lạm phát và tăng trưởng kinh tế vẫn luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu đối với các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam, nhất là kể từ khi quá trình hội nhập và tự do hóa tài chính diễn ra mạnh mẽ trong khi những nền tảng vĩ
mô còn lỏng lẽo khiến việc kiểm soát lạm phát nhiều lúc vượt khỏi tầm kiểm soát của NHNN Nếu thời gian trước năm 2011, Việt Nam luôn là một quốc gia có tỷ lệ lạm phát thuộc hàng cao nhất trong khu vực đi cùng tốc độ tăng trưởng có chiều hướng suy giảm thì kể từ năm 2012 trở lại đây, lạm phát lại liên tục giảm dần Theo
đó, dễ thấy rằng trong điều kiện lạm phát quá thấp cũng có thể gây ra những khó khăn nhất định đối với tình hình kinh tế trong nước
Với việc chuyển hướng điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) sang tập trung mục tiêu ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát hay nói cách khác thực thi chính sách lạm phát mục tiêu (CSLPMT), nhiều quốc gia áp dụng chính sách này trên thế giới
đã cho thấy những kết quả đáng kể khi lạm phát được giữ ở mức thấp trong thời gian dài đồng thời chất lượng tăng trưởng cũng được cải thiện rất tốt Theo đó, tại Việt Nam đến nay cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, điển hình:
Phí Trọng Hiển (2005), “Lạm phát mục tiêu: Kinh nghiệm thế giới và giải pháp cho Việt Nam” [7] Dựa trên kinh nghiệm các quốc gia áp dụng CSLPMT, tác
giả đã làm rõ một số các vấn đề quan trọng về CSLPMT như: Lý do lựa chọn, đặc tính cơ bản và khả năng vận dụng tại các nước đang phát triển Nhìn chung, nghiên cứu cho rằng việc áp dụng chính sách này tại Việt Nam là chưa khả thi và dừng lại
ở việc đề xuất một số gợi ý nhằm điều chỉnh lạm phát cho phù hợp trong khi vẫn chưa làm rõ được sự cấp thiết của việc điều hành CSTT kiểm soát lạm phát cũng như lộ trình chuyển đổi áp dụng CSLPMT
Le Anh Tu (2006), “Moneytary in Viet Nam: Alternatives to Inflation Targeting” [58] Nghiên cứu chủ yếu xem xét khả năng áp dụng CSLPMT trong
mối tương quan với cơ chế điều hành tỷ giá và đã chỉ ra rằng việc áp dụng
Trang 13CSLPMT có thể giúp nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam giảm bớt sự phụ thuộc vào các biện pháp bảo hộ hay sự nâng đỡ hành chính, tuy nhiên tác giả cho rằng việc duy trì cơ chế tỷ giá ổn định vẫn là điều cần thiết hơn trước khi hướng đến
áp dụng chính sách này trong tương lai Theo đó, việc chuyển đổi khuôn khổ CSLPMT chỉ được xem xét một cách sơ lược và chưa cập nhật được những vấn đề thực trạng của nền kinh tế hiện nay, nhất là khi quá trình tự do hóa dòng vốn diễn ra rất mạnh mẽ
Phạm Thế Anh (2011), “Lạm phát và các quy tắc của chính sách tiền tệ” [5]
Tác giả đã tiếp cận vấn đề dựa trên cơ sở phân tích các thành tố biến động của lạm phát cũng như xem xét các phản ứng của NHNN trong việc điều hành các công cụ CSTT Nghiên cứu đã cho thấy rằng, luôn có sự chậm trễ và thiếu nhất quán trong việc điều hành các công cụ CSTT nhằm kiểm soát lạm phát xuất phát từ sự mâu thuẫn trong hệ thống mục tiêu Tuy nhiên, tác giả chỉ mới dừng lại ở việc thảo luận
về các quy tắc của CSTT trong việc theo đuổi mục tiêu lạm phát nhằm hỗ trợ tăng trưởng mà chưa đề cập trực tiếp đến việc làm thế nào để giải quyết gốc rễ sự mâu thuẫn giữa các mục tiêu để định hướng cho công tác điều hành CSTT tại Việt Nam
Nguyễn Đức Thành và Nguyễn Thị Thu Hằng (2011), “Nguồn gốc lạm phát
ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2011 phát hiện mới từ những bằng chứng mới” [6]
Nghiên cứu đã chỉ ra được yếu tố kỳ vọng lạm phát có sự chi phối quan trọng đối với tình hình giá cả hiện tại đồng thời uy tín của NHNN hay Chính phủ trong các chính sách thường đóng vai trò quyết định Vì vậy, tác giả chỉ tập trung chủ yếu vào hai khía cạnh là nâng cao uy tín cơ quan điều hành và các giải pháp ngăn ngừa với mục tiêu lạm phát rõ ràng nhằm hướng đến sự cân bằng vĩ mô, tăng trưởng kinh tế dài hạn, trong khi cốt lõi để giải quyết các vấn đề trên là việc hướng đến áp dụng khuôn khổ CSLPMT vẫn chưa được xem xét một cách tổng thế
Nguyễn Thị Kim Thanh (2013), “Chính sách tiền tệ: Hiệu quả của tính linh hoạt và đồng bộ” [24] Tác giả đã tập trung phân tích về sự phối hợp của một số các
giải pháp thực thi CSTT mà NHNN thực hiện như: Kiểm soát cung tiền, chính sách lãi suất, quản lý ngoại hối, an toàn hệ thống tài chính Dựa trên cơ sở phân tích diễn
Trang 14biến tình hình kinh tế trong nước, nghiên cứu đã cho thấy rằng mục tiêu điều hành CSTT hướng đến kiểm soát lạm phát vẫn đóng vai trò quan trọng hàng đầu Đồng thời, công tác điều hành CSTT chỉ thực sự hiệu quả nếu các giải pháp đều tập trung vào một mục tiêu duy nhất là kiểm soát lạm phát Tuy nhiên, việc áp dụng khuôn khổ CSLPMT vẫn chưa được tác giả đề cập trực tiếp
Nguyễn Văn Nghiến và cộng sự (2014), “Thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam từ kinh nghiệm quốc tế”[8] Trên cơ sở phân tích tổng quan một số
điều kiện kinh tế Việt Nam, theo đó các tác giả đề xuất một số gợi ý nhằm hướng đến áp dụng CSLPMT như: Nâng cao tính minh bạch đi cùng trách nhiệm NHTW,
ổn định thị trường tài chính, phát triển năng lực dự báo lạm phát và xây dựng tính
kỷ luật chi tiêu công Tuy nhiên, xét về cơ bản thì nghiên cứu vẫn chưa đánh giá được những vấn đề nào là quan trọng mà Việt Nam cần ưu tiên giải quyết trước mắt cũng như chưa đưa ra một lộ trình chuyển đổi cụ thể hướng đến áp dụng CSLPMT
Tóm lại, mặc dù có những đóng góp vô cùng quan trọng, nhưng nhìn chung,
phần lớn các nghiên cứu vẫn còn mang tính khái quát và chưa cập nhật được các vấn đề thực trạng trong nước hiện nay, do đó vẫn chưa làm rõ sự cần thiết của việc
áp dụng khuôn khổ CSLPMT Hơn nữa, việc thiết lập một khung lạm phát mục tiêu định lượng phù hợp cho lộ trình chuyển đổi CSLPMT cũng là yêu cầu cấp thiết mà chưa có hoặc rất ít các nghiên cứu nào đã làm trước đây Vì vậy, để trả lời các câu hỏi như: Làm thể nào để vừa có thể đạt được sự ổn định vĩ mô đồng thời vừa đảm bảo mục tiêu tăng trưởng? Vì sao Việt Nam nên công bố chuyển đổi CSLPMT? Lộ trình áp dụng như thế nào cho phù hợp? Khung lạm phát mục tiêu nên là bao nhiêu?
Tác giả chọn lựa đề tài “Tác động lạm phát đến tăng trưởng kinh tế và lộ trình áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về lạm phát, tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế và chính sách lạm phát mục tiêu
Trang 15- Phân tích tình hình lạm phát, tăng trưởng kinh tế và thực trạng điều hành CSTT kiểm soát lạm phát Từ đó, đánh giá những mặt tích cực, hạn chế để tìm ra nguyên nhân và chỉ rõ sự cần thiết áp dụng CSLPMT
- Xây dựng mô hình hồi quy tổng quát nhằm ước lượng mức lạm phát tối ưu (ngưỡng lạm phát) đối với tốc độ tăng trưởng, từ đó làm cơ sở cho việc thiết lập khung lạm phát mục tiêu và lộ trình áp dụng CSLPMT tại Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lạm phát, tăng trưởng kinh tế và chính sách lạm phát mục tiêu
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung chủ yếu vào mối quan hệ giữa lạm phát - tăng trưởng và công tác điều hành CSTT kiểm soát lạm phát tại Việt Nam giai đoạn
2000 - 2014, ngoài ra tác giả còn đề cập đến một số quốc trên thế giới đã áp dụng thành công chính sách lạm phát mục tiêu
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả vận dụng các phương pháp so sánh tổng hợp, thống kê mô tả, phân tích định tính để nhằm làm rõ những vấn đề cơ bản liên quan đến lạm phát, tăng trưởng kinh tế và khuôn khổ điều hành CSTT kiểm soát lạm phát Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng các phương pháp phân tích định lượng như bình phương tối thiểu (OLS), kỹ thuật hồi quy hai giai đoạn tối thiểu (2SLS) và mô-men tổng quát (GMM) để ước lượng mức lạm phát tối ưu đối với tăng trưởng tại Việt Nam để làm cơ sở cho việc đề xuất chính sách
5 Đóng góp của nghiên cứu
Nhìn chung, luận văn có một số đóng góp mới sau:
Thứ nhất, xác định được tầm quan trọng của việc kiềm chế lạm phát, đảm
bảo ổn định vĩ mô là nền tảng cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Đồng thời, dựa trên kinh nghiệm các nước áp dụng CSLPMT để rút ra một số bài học cần thiết cho công tác điều hành CSTT Việt Nam
Trang 16Thứ hai, chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế và các nguyên nhân hạn chế từ
công tác điều hành CSTT kiểm soát lạm phát trong mối tương quan với tốc độ tăng trưởng Từ đó, cho thấy sự cấp thiết của việc áp dụng CSLPMT cũng như những điều kiện nào cần phải hoàn thiện để áp dụng thành công CSLPMT tại Việt Nam
Thứ ba, chứng minh lạm phát có mối liên hệ khá chặt chẽ đối với tăng
trưởng, thể hiện qua một điểm ngưỡng mà khi lạm phát dưới ngưỡng sẽ có tác động tích cực lên tốc độ tăng trưởng, ngược lại khi vượt quá ngưỡng thì lạm phát sẽ tác động tiêu cực lên tốc độ tăng trưởng Ngoài ra, tác giả còn làm rõ mối liên hệ giữa yếu tố chi tiêu Chính phủ và tổng đầu tư toàn xã hội đối với tăng trưởng kinh tế
Thứ tư, đề xuất các giải pháp ưu tiên và một số gợi ý mang tính định hướng
nhằm nâng cao hiệu quả điều hành CSTT, từ đó làm tiền đề áp dụng CSLPMT tại Việt Nam theo lộ trình đề ra
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm bốn chương và được trình bày như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về lạm phát, tác động của lạm phát đến tăng trưởng
kinh tế và chính sách lạm phát mục tiêu
Chương 2: Tình hình lạm phát, tăng trưởng kinh tế và thực trạng điều hành
chính sách tiền tệ kiểm soát lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2000 - 2014
Chương 3: Mô hình ước lượng mức lạm phát tối ưu (ngưỡng lạm phát) đối
với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Chương 4: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ
theo lộ trình áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam
Trang 17là hiện tượng giá cả tăng nhanh và liên tục trong một khoảng thời gian dài” [41]
Theo đó, một sự tăng giá tạm thời có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau song chỉ có nguyên nhân tiền tệ mới dẫn đến giá cả tăng cao và kéo dài Nhưng Paul Samuelson lại cho rằng “lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí gia tăng”, như vậy chỉ cần mức giá chung tăng lên dù chỉ một đợt cũng có nghĩa là xảy
ra lạm phát Còn dựa trên luận thuyết về giá cả thì quan điểm của J Luthering, L Chandeler và D Cliner lại xác định “bất cứ thời kỳ nào mà giá cả tăng không kể lâu hay mau, có tính chất chu kỳ hay đột xuất đều là thời kỳ lạm phát”[3]
Như vậy, về cơ bản vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau nhưng định nghĩa được phần lớn các nhà kinh tế hiện nay ủng hộ: “Lạm phát là sự tràn ngập tiền thừa trong lưu thông dẫn đến mức giá chung (hay mức giá trung bình) của hàng hóa tăng cao và liên tục trong một thời gian dài” Theo đó, khi mức giá chung tăng vững chắc khoảng từ vài tháng trở lên thì có thể được xem là xảy ra lạm phát
Ngoài ra, còn có hai khái niệm liên quan đến lạm phát là thiểu phát và giảm phát Theo đó, giảm phát là sự giảm xuống trong mức giá chung của hàng hóa, khi tốc độ tăng chỉ số giá ở mức âm, còn thiểu phát là sự sụt giảm tỷ lệ lạm phát ở mức rất thấp tức là mức giá chung vẫn tăng lên nhưng với tốc độ tăng trở nên chậm lại
1.1.2 Đo lường lạm phát
Để đo lường lạm phát, các quốc gia sử dụng các chỉ số đo lường mức giá chung để phản ánh xu hướng biến động của các loại giá khác nhau Có nhiều
Trang 18phương pháp để tính mức giá chung như: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số tổng sản phẩm quốc nội (GDP Deflator), chỉ số giá sản xuất (PPI), chỉ số giá hàng hoá bán buôn (WPI), chỉ số giá hàng hoá bán lẻ (RPI) hay chỉ số giá sinh hoạt (CLI) Mặc
dù, tùy thuộc vào các mục đích nghiên cứu mà người ta có thể sử dụng các chỉ số đo lường khác nhau Tuy nhiên, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) vẫn là chỉ số được sử dụng rất phổ biến để đo lường mức giá chung của nền kinh tế nhờ vào ưu điểm nổi bật là trực tiếp biểu hiện sức mua của người dân và thường được công bố với độ trễ ngắn Theo đó, để tính toán CPI thì người ta dựa trên một giỏ hàng hóa gồm một số mặt hàng tiêu dùng và dịch vụ nhất định trên thị trường mà một người dân bình thường hay mua để tính giá cả toàn giỏ hàng hóa đó, công thức tính như sau:
∑
∑ (1.1)
Trong đó: N là số mặt hàng tiêu dùng; là sản lượng hàng hóa i ở năm gốc; ; là giá cả của sản phẩm i ở năm t và năm gốc Như vậy, tỷ lệ lạm phát ( ) được tính dựa trên chỉ số giá tiêu dùng là:
(1.2)
1.1.3 Phân loại lạm phát
Thông thường, dựa vào tốc độ và tác động thì lạm phát được chia làm 3 loại:
- Lạm phát vừa phải: Được giới hạn ở mức một con số một năm Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối chậm Trong thời kì này nền kinh tế hoạt động một cách bình thường, đời sống người dân ổn định
- Lạm phát phi mã: Xảy ra khi giá cả gia tăng với tỷ lệ hai đến ba con số một năm Và nếu kéo dài sẽ gây ra các bất ổn kinh tế nghiêm trọng như: Giá trị đồng nội
tệ suy giảm, tâm lý đầu cơ do tiền nhiều - hàng hoá ít, niềm tin xã hội sụt giảm,
- Siêu lạm phát: Vượt xa lạm phát phi mã với tốc độ tăng của chỉ số giá hàng hóa ở mức từ bốn con số trở lên một năm khiến tình hình kinh tế - xã hội bị phá hoại và suy sụp nhanh chóng, tuy nhiên loại lạm phát này hiếm khi xảy ra
Trang 191.1.4 Các nguyên nhân lạm phát
1.1.4.1 Lạm phát do cầu kéo
Lạm phát xảy ra do tổng cầu hàng
hóa dịch vụ tăng nhanh vượt quá khả
năng cung ứng hay sản lượng tiềm năng
của nền kinh tế, làm mức giá cả tăng lên
Theo đó, các nhà kinh tế theo trường phái
Keynes coi lạm phát là sự dịch chuyển
sang phải của đường tổng cầu phát sinh từ
sự gia tăng của một thành tố nào đó trong
tổng chi tiêu Kết quả, đường tổng cầu
dịch chuyển từ AD0 đến AD1 với mức giá tăng từ P0 lên P1 Như vậy, lạm phát cầu kéo thường do các nguyên nhân sau:
- Tiêu dùng và đầu tư gia tăng: Khi xuất hiện một sự gia tăng mạnh mẽ trong nhu cầu tiêu dùng, mua sắm của người dân hay nhu cầu của các nhà đầu tư sẽ khiến giá cả các mặt hàng tăng lên, từ đó gây ra lạm phát
- Chi tiêu Chính phủ tăng: Nếu Chính phủ gia tăng sức mua hàng hóa hay tăng cường đầu tư vào các công trình công cộng sẽ khiến tổng cầu nền kinh tế tăng lên vượt quá mức sản lượng tiềm năng, từ đó dẫn đến làm tăng giá cả
- Xuất khẩu ròng tăng trong nền kinh tế mở: Tỷ giá hối đoái hoặc mức thu
nhập của dân chúng nước ngoài tăng lên có có thể làm gia tăng nhu cầu hàng hóa xuất khẩu, kéo theo tổng cầu gia tăng
- Chính sách tiền tệ nới lỏng: Khi NHTW thực hiện nới lỏng tiền tệ đều nhằm làm tăng mức cung tiền danh nghĩa Nếu giá cả không đổi thì có nghĩa là mức cung tiền thực tế tăng trong khi cầu tiền không đổi sẽ làm lãi suất thị trường giảm, qua đó mở rộng tiêu dùng và đầu tư Kết quả là giá cả và sản lượng đều tăng lên
Trang 201.1.4.2 Lạm phát do chi phí đẩy
Trong trường hợp năng suất không
tăng hay tăng ít trong khi chi phí tăng
nhanh vượt quá mức tăng của năng suất lao
động sẽ tạo áp lực đẩy giá bán sản phẩm
tăng lên hoặc làm giảm cung ứng hàng hóa
xã hội Khi đó, đường tổng cung dịch
chuyển sang trái từ AS0 đến AS1 với mỗi
mức sản lượng (Q) được sản xuất với chi
phí cao hơn Dư cầu hàng hóa xuất hiện
dẫn đến sự tăng lên mức giá chung từ P0 đến P1 Như vậy, lạm phát do chi phí đẩy thường do những nguyên nhân:
- Tiền lương nhân công tăng lên không tương xứng mức tăng năng suất lao
động Trong ngắn hạn chi phí nhân công ổn định do bị hạn chế bởi các hợp đồng lao động, nhưng về dài hạn do áp lực từ công đoàn, sự khan hiếm nhân công, thuế thu nhập,…khiến cho người lao động đòi nâng giá tiền lương trong khi năng suất lao động không đổi, làm gia tăng chi phí sản xuất và nâng giá bán hàng hóa
- Chi phí nguyên vật liệu tăng lên do sự hạn chế của nguồn cung, giá thành nhập khẩu hoặc thuế suất hàng hóa trong nước cao hơn cũng làm ảnh hưởng đến mức sinh lời của các nhà đầu tư, do vậy đẩy mức giá cả tăng lên
1.1.5 Một số quan điểm về lạm phát
1.1.5.1 Lạm phát theo quan điểm lượng tiền
Mô hình được các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển sử dụng để giải thích về lạm phát theo lý thuyết lượng tiền tệ dựa trên biểu thức sau [41]:
MV = PY (1.3)
Trong đó: M là khối lượng cung tiền, V là vòng quay tiền, P là mức giá chung, Y là tổng sản lượng của nền kinh tế Và dựa trên giả định tổng cung (AS)
Trang 21luôn ở trạng thái toàn dụng AS = Y (1.4), với Y được thiết lập bởi hàm sản xuất trong dài hạn và tổng cẩu (AD) được xác định bởi AD = MV/P (1.5) Như vậy, thị trường hàng hóa cân bằng khi tổng cầu bằng tổng cung hay nói cách khác là tổng giá trị hàng hóa mua bán (PY) bằng tổng lượng tiền cần thiết giao dịch (MV)
Theo đó, Fisher lập luận rằng trong ngắn hạn thì V là một hằng số bởi nó phụ thuộc vào sự phát triển hệ thống tài chính trong dài hạn, hơn nữa trong thời gian ngắn mức sản lượng thực tế (Y) cũng không đổi Và với giả thiết trên thì bất cứ sự thay đổi nào trong cung tiền cũng dẫn đến sự thay đổi tương ứng của mức giá cả [2] Như vậy, lý thuyết lượng tiền hàm ý rằng giá cả tỷ lệ thuận với lượng cung ứng tiền tệ trong lưu thông mà Friedman (1970) cũng đã khẳng định lại điều này khi cho rằng “Lạm phát lúc nào và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ”
1.1.5.2 Lạm phát theo quan điểm kỳ vọng
Lạm phát kỳ vọng có thể được hiểu là tỷ lệ lạm phát hiện tại mà mọi người
dự kiến sẽ tiếp tục trong tương lai và theo đó, nó được đưa vào các hợp đồng, kế hoạch, thỏa thuận,…và chính vì các chủ thể trong nền kinh tế đều đưa tỷ lệ lạm phát này vào các hoạt động của mình nên cuối cùng nó trở thành hiện thực
Tại Hoa Kỳ những năm 1970, Robert Lucas trong mô hình nghiên cứu của mình tại FED đã nhấn mạnh rằng chính yếu tố kỳ vọng có thể dẫn đến sự hạn chế
về mặt thông tin trong việc giải thích những biến động về tình hình lạm phát [63];
và các nghiên cứu sau này đã tiếp tục cung cấp nhiều bằng chứng về tác động của yếu tố kỳ vọng đến tỷ lệ lạm phát khi Erceg và Levin (2003) [35] đã cho thấy chi phí của quá trình cắt giảm lạm phát phụ thuộc rất nhiều vào sự phản ứng của kỳ vọng lạm phát trước các động thái CSTT, hay Bernanke (2007) [30] cũng tái khẳng định rằng việc neo giữ yếu tố kỳ vọng lạm phát của công chúng sẽ giúp cho tỷ lệ lạm phát ít nhạy cảm hơn trước các biến động về tổng cầu Đồng thời, nhiều mô hình nghiên cứu thực nghiệm ở các quốc gia như: Canada, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam cũng đã cho thấy sự kỳ vọng lạm phát của công chúng góp phần không nhỏ trong việc quyết định các biến động giá cả thực tế diễn ra trên thị trường
Trang 221.1.5.3 Lạm phát theo quan điểm cơ cấu
Trong những năm 1960 và 1970, giữa những quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề lạm phát, cũng nổi lên những lập luận riêng biệt bởi các nhà kinh tế đại diện trường phái cơ cấu như: P Streeten (1962), W Baumol (1967), J Olivera (1977) Theo đó, quan điểm của trường phái này cho rằng nguyên nhân lạm phát là
do cơ cấu nền kinh tế chứa đựng nhiều sự mất cân đối, thoát khỏi cơ cấu tự nhiên của phát triển nhu cầu hay do mâu thuẫn trong vấn đề phân phối hàng hóa - của cải
Ví dụ, sự mất cân đối giữa cung cầu lương thực khi có sự khác nhau giữa tốc độ chuyển dịch trong công nghiệp và nông nghiệp Do đó, dẫn đến tính cứng nhắc về phía cung theo nghĩa là cầu tăng lên không tương thích với sự cung ứng của khu vực chậm phát triển từ đó gây áp lực lên lạm phát Hơn nữa, sự mất cân đối còn có thể xuất phát từ sự bất hợp lý trong hoạt động xuất nhập khẩu hay do sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế cũng là những nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát
1.2 PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG LẠM PHÁT ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.2.1 Một số nghiên cứu lý thuyết
Trong nhiều thập kỷ qua, có rất nhiều quan điểm của các trường phái khác nhau về sự tác động lạm phát đến tăng trưởng kinh tế:
Nền tảng của mô hình tăng trưởng Cổ điển được xây dựng bởi Adam Smith với hàm sản xuất Y = f(L, K, T), với (Y) sản lượng, (L) lao động, (K) tư bản và (T) đất đai Theo đó, Adam Smith [67] cho rằng tăng trưởng tự nó vận động biểu hiện qua sự gia tăng lợi nhuận tương ứng với quy mô, đồng thời, tiết kiệm là yếu tố tạo lập nên đầu tư và làm nền tảng thúc đẩy tăng trưởng Do vậy, vấn đề phân phối nguồn thu nhập là một trong những yếu tố quyết định một quốc gia sẽ phát triển nhanh hay chậm Và, ông còn lập luận rằng một sự sụt giảm trong lợi nhuận không phải do sự giảm xuống của năng suất biên mà do xuất phát từ sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản bởi việc người lao động đòi tăng lương Tuy nhiên, mối quan hệ giữa lạm phát và những tác động như “thuế” của nó lên lợi nhuận và tổng sản lượng không được đề cập rõ ràng trong lý thuyết, nhưng quan điểm trường phái này vẫn
Trang 23hàm ý rằng mối quan hệ lạm phát - tăng trưởng là ngược chiều do sự cắt giảm lợi nhuận của công ty bởi lạm phát khiến cho chi phí tiền lương cao hơn Ngoài ra, dựa trên quan điểm Adam Smith về yếu tố phân phối trong thu nhập, Gylfason (1991)
đã chỉ ra rằng một sự gia tăng trong lạm phát sẽ làm sụt giảm tỷ lệ tiết kiệm do lãi suất thực tiền gửi thấp hơn khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế trở nên chậm lại [49]
Lý thuyết trường phái Keynes dựa trên sự phân tích giữa đường tổng cung (AS) và tổng cầu (AD) Điểm chính lý thuyết này cho rằng, trong dài hạn đường tổng cung là đường thẳng đứng thì mọi cú sốc từ phía cầu chỉ tác động lên mức giá
cả Nhưng trong ngắn hạn thì đường tổng cung dốc lên và khi đó, một sự thay đổi trong tổng cầu sẽ dẫn đến sự thay đổi về giá cả và tổng sản lượng Đây là kết quả của sự vận động cân bằng trong ngắn hạn giữa đường cong AS và AD, tức là có một
sự điều chỉnh giữa giá cả và tổng sản lượng dựa trên mối quan hệ cùng chiều Tuy nhiên, mối quan hệ này sau đó sẽ chuyển sang ngược chiều Như vậy, sự tương tác cùng chiều trước tiên được lý giải bởi sự xuất hiện của vấn đề không nhất quán về thời gian biểu hiện bởi một số nhà sản xuất cho rằng giá bán của họ tăng lên trong khi một số khác vẫn giữ nguyên thúc đẩy họ sản xuất nhiều hơn từ đó làm gia tăng tổng sản lượng [37] Sau đó, dựa trên các hợp đồng hay thỏa thuận, những công ty này vẫn tiếp tục sản xuất hàng hóa đã được ấn định với mức giá cao hơn trong tương lai dẫn đến giá cả vẫn tiếp tục tăng lên trong khi tốc độ tăng trưởng tổng sản lượng ngày càng chậm lại hay sụt giảm, khiến mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế chuyển thành ngược chiều [31]
Theo trường phái Tiền tệ, lạm phát và tăng trưởng không có sự liên hệ trong dài hạn nhưng có sự tương tác cùng chiều trong ngắn hạn và được giải thích chủ yếu dựa trên lý thuyết lượng tiền và tính trung lập của tiền [37] Friedman (1956) đã nhấn mạnh vai trò của yếu tố cung tiền là nguyên nhân của lạm phát dựa trên lý thuyết lượng tiền khi cho rằng “lạm phát là sản phẩm của việc gia tăng cung tiền hay tốc độ cung tiền cao hơn tốc độ tăng trưởng tổng sản lượng” [41] Như vậy, giá
cả bị tác động bởi cung tiền chứ không ảnh hưởng đến tăng trưởng tổng sản lượng trong dài hạn Hơn nữa, Friedman cũng không đồng ý với các khái niệm của
Trang 24Phillips Curve về sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp khi lập luận dựa trên nền tảng trong nền kinh tế nếu chi phí mọi thứ đều tăng gấp đôi nhưng các cá nhân không hề quan tâm vì tiền lương cũng tăng lên tương tự do họ đã dự đoán và đưa các hiệu ứng lạm phát vào hành vi của mình Theo đó, việc làm và tổng sản lượng đều không bị ảnh hưởng và các nhà kinh tế gọi khái niệm này là sự trung hòa của tiền tệ [37] Nghĩa là sự cân bằng trong giá trị của các biến thực - bao gồm cả tốc độ tăng trưởng GDP, độc lập với tốc độ tăng trưởng cung tiền lẫn lạm phát trong dài hạn Tóm lại, quan điểm trường phái Tiền tệ cho rằng lạm phát và tăng trưởng là hai biến số độc lập nhau Nhưng trên thực tế, trường phái này vẫn thừa nhận sự tồn tại của mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn thông qua việc mở rộng CSTT có thể làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, mở rộng đầu tư nhưng mối quan hệ này chỉ mang tính chất tạm thời
Trường phái Tân cổ điển mà điển hình là Robert Mundell (1963) [65] đã đưa
ra cơ chế mô tả mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế khi cho rằng lạm phát có quan hệ tỷ lệ thuận với tăng trưởng Theo đó, khi lạm phát tăng lên sẽ luôn xuất hiện một độ trễ thời gian giữa giá bán sản phẩm đầu ra và chi phí sản phẩm đầu vào do độ trễ tăng giá tiền lương Kết quả là lợi nhuận và các khoản đầu tư sẽ tăng lên khi công ty có thể tự tăng giá mà không cần tăng chi phí tương ứng, từ đó có tác dụng khích lệ đầu tư và năng lực sản xuất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, Mundell còn cho rằng lạm phát tăng lên còn kéo theo việc phân phối lại thu nhập theo hướng mang lợi ích nhiều hơn cho nhóm có thu nhập cao vốn sở hữu tài sản có lợi nhuận lớn và không lệ thuộc vào tiền lương, đồng thời nhóm thu nhập này có xu hướng tiết kiệm cận biên cao hơn các tầng lớp xã hội khác dẫn đến tổng tiết kiệm và nguồn vốn đầu tư tăng lên, làm giảm lãi suất và kích thích tăng trưởng
Ủng hộ quan điểm Mundell, Tobin (1965) [74] cũng lập luận rằng khi lạm phát tăng lên sẽ thúc đẩy công chúng chuyển đổi việc nắm giữ tiền với lợi ích thấp sang các tài sản sinh lời khác, tạo ra sự tích lũy vốn lớn hơn từ đó kích thích tăng trưởng Tuy nhiên, Stockman (1981) [71] lại cho rằng một sự gia tăng trong tỷ lệ lạm phát sẽ làm sụt giảm tổng sản lượng một cách đáng kể Trong mô hình nghiên
Trang 25cứu của mình, Stockman giả định rằng tiền là yếu tố bổ sung trong tư bản, ví dụ như việc các công ty sử dụng tiền mặt tài trợ trực tiếp trong các dự án đầu tư Theo đó, khi lạm phát tăng lên sẽ làm xói mòn sức mua của tiền tệ dẫn đến việc tích lũy tư bản hay mua sắm tài sản, hàng hóa sụt giảm, từ đó khiến tăng trưởng trở nên thấp hơn Mở rộng nghiên cứu của Stockman, Cooley và Hansen (1989) [36] còn cho rằng sản lượng biên của vốn có liên hệ với lực lượng lao động Khi đó, một sự tăng lên lạm phát sẽ khiến hoạt động SXKD bị thu hẹp, tích lũy tư bản giảm sút dẫn đến
sự giảm xuống trong lao động lẫn sản lượng biên trên một đồng vốn tăng thêm và kết quả là tốc độ tăng trưởng suy giảm Nhìn chung, quan điểm của các nhà kinh tế thuộc trường phái Tân cổ điển vẫn tồn tại sự bất đồng về mối tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Lý thuyết trường phái Tăng trưởng kinh tế nội sinh cho rằng tăng trưởng kinh tế được tạo nên bởi các yếu tố trong quá trình sản xuất Lấy ví dụ như: Sự gia tăng lợi nhuận, thay đổi về công nghệ, vốn con người, Theo đó, lý thuyết trường phái này nhấn mạnh rằng tốc độ tăng trưởng chỉ phụ thuộc vào một biến duy nhất là
tỷ suất sinh lời của đầu tư, và các biến như lạm phát sẽ làm sụt giảm tỷ suất sinh lời, dẫn đến sự cắt giảm tích lũy trong tư bản và kết quả là tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại [46] Ngoài ra, Lucas và Stokey (1987) [60] hay McCallum và Goodfriend (1987) [61] trong mô hình tăng trưởng nội sinh còn giải thích rằng tốc độ tăng trưởng còn dựa trên yếu tố vốn con người tương tự như các nguồn vốn khác và việc đánh “thuế lạm phát” lên bất cứ loại vốn nào cũng làm suy giảm hoạt động tích lũy vốn cũng như khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế bị sụt giảm
Như vậy, có thể thấy rằng tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế là rất phức tạp cũng như vẫn còn tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về mối quan
hệ này Tuy nhiên, vẫn có điểm chung được phần lớn các nhà kinh tế hiện nay thống nhất theo nghiên cứu của Samuelson và Nordhaus (1997) đó là “một sự ổn định ở mức thấp và dự đoán được hay chỉ tăng nhẹ trong giá cả là môi trường tốt nhất cho tăng trưởng kinh tế lành mạnh tại một quốc gia” [1] Hay Gylfason (1998) cũng thừa nhận “khi giá cả ổn định ở mức vừa phải sẽ giúp nâng cao hiệu suất sử
Trang 26tiêu cực sẽ xảy ra khi lạm phát tăng cao bất
thường, hay nói cách khác là tồn tại một mối quan hệ phi tuyến giữa hai biến số này biểu hiện qua một ngưỡng lạm phát đối với mỗi nền kinh tế khác nhau (Hình 1.3)
1.2.2 Các mô hình nghiên cứu thực nghiệm
Fischer (1993) là người đầu tiên sử dụng bộ số liệu về các chỉ tiêu kinh tế vĩ
mô của 93 nước từ 1979 - 1993 để thực hiện hồi quy nhằm xem xét tác động các yếu tố vĩ mô đến tăng trưởng Dựa trên phương pháp chia dữ liệu mẫu bởi các ngưỡng lạm phát lựa chọn trên cơ sở nghiên cứu Greene và William (1993) là dưới 15%, từ 15% - 40%, và lớn hơn 40% Qua đó, Fischer đã tìm ra mối quan hệ nghịch chiều giữa lạm phát - tăng trưởng trong cả 3 dãy nghiên cứu và kết luận rằng ảnh hưởng lạm phát là phi tuyến thể hiện khi lạm phát gia tăng từng điểm % thì mối quan hệ giữa lạm phát, tăng trưởng và các yếu tố quyết định của nó yếu đi một cách bình quân [40]
Sarel (1996) [62] cũng kiểm tra mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế dựa trên ngưồn dữ liệu của 87 quốc gia trong thời gian 20 năm (1970 - 1990) Theo đó, tác giả tập trung vào ba vấn đề chính: (i) Liệu có tồn tại một điểm gẫy cấu trúc trong mối quan hệ giữa lạm phát - tăng trưởng; (ii) Tại mức lạm phát nào sẽ xuất hiện điểm gẫy cấu trúc; (ii) Điểm gẫy có ý nghĩa như thế nào đối với tăng trưởng Để trả lời các câu hỏi này, Sarel sử dụng kỹ thuật đơn giản với:
EXTRA = ) )) (1.6) Trong đó: là tỷ lệ lạm phát mà tại đó điểm gẫy cấu trúc xảy ra Biến giả
DD = 1 nếu và bằng 0 nếu ngược lại Sau đó, tác giả thực hiện hồi quy theo phương pháp bình phương tối thiểu (Odinary Least Square – OLS) để ước lượng
Trang 27dựa trên hai biến log(π) và đồng thời kết hợp với các biến giải thích gồm thu nhập bình quân đầu người năm đầu tiên (LY), chi tiêu chính phủ (GOV), tỷ lệ tăng dân số (N) và tỷ lệ thay đổi tỷ giá thương mại (TOT) Như vậy, khi lạm phát thấp ( ), EXTRA = 0 thì tác động của lạm phát đến tăng trưởng là hệ số của log( ) Ngược lại khi lạm phát cao ( ), thì tác động của lạm phát đến tăng trưởng là tổng của hai hệ số log( ) và EXTRA Theo đó, hệ số EXTRA sẽ chỉ ra sự khác biệt trong tác động của lạm phát tới tăng trưởng giữa hai phía điểm gẫy cấu trúc, còn giá trị t-stastic sẽ cho biết liệu điểm gẫy cấu trúc có ý nghĩa hay không Ước lượng sẽ được lặp lại với các giá trị và điểm gẫy sẽ được chọn lựa tại giá trị nào mà tại đó tổng phần dư bình phương – RSS là bé nhất Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng là phi tuyến tính, cụ thể xuất hiện điểm gẫy cấu trúc tại ngưỡng lạm phát 8% và dưới tỷ lệ này, lạm phát tác động không đáng kể hoặc cùng chiều với tăng trưởng ngược lại, khi tỷ lệ lạm phát cao hơn 8% thì mối quan hệ này là ngược chiều và đáng kể
Khan và Senhadji (2001) [64] đã sử dụng tập hợp bộ dữ liệu bao gồm 140 quốc gia từ giai đoạn 1960 - 1998 để xem xét mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế cho các nước phát triển và các nước đang phát triển một cách riêng biệt dựa mô hình ước lượng như sau :
) ) [ ) )]
{
(1.7) Trong đó: ) là tốc độ tăng trưởng GDP, là tác động cố định, là tác động thời gian, là tỷ lệ lạm phát được tính dựa trên thay đổi của CPI, là ngưỡng lạm phát; là biến giả, nhận giá trị 1 khi và nhận giá trị 0 khi
; là vecto các biến giải thích gồm: Tổng vốn đầu tư so GDP (igdp), tốc
độ tăng trưởng dân số (dlog(pop)), logarit bình quân thu nhập đầu người năm đầu tiên (log( )), tốc độ tăng trưởng tỷ giá thương mại (dlog(tot)) và là sai số ngẫu nhiên Theo đó, mô hình được ước lượng nhiều lần với các giá trị khác nhau của
Trang 28log( ) để ước tính ngưỡng lạm phát ứng với trường hợp giá trị RSS của hàm hồi quy là nhỏ nhất Kết quả cho thấy có sự tồn tại của ngưỡng mà khi vượt quá ngưỡng này thì lạm phát sẽ tác động tiêu cực lên tăng trưởng và ngược lại, nếu lạm phát dưới ngưỡng sẽ không có ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng
Cụ thể, ngưỡng lạm phát của các nước đang phát triển nằm trong khoảng từ 11 - 12% và từ 1 - 3% cho các nước phát triển
Theo sau các nghiên cứu nền tảng, một loạt các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy các kết quả tương đồng trong mối quan hệ giữa lạm phát – tăng trưởng như Mubarik (2005) [76] với số liệu hàng năm từ năm 1973 – 2000 chỉ ra sự tồn tại một ngưỡng lạm phát tại Pakistan là 9% Li (2006) [59] tìm thấy ngưỡng lạm phát 14%
từ bộ số liệu 90 quốc gia đang phát triển 1961-2004 Fabayo và Ajilore (2006) [39] dựa trên bộ số liệu Nigeria từ 1970 - 2003 đã ước lượng ngưỡng lạm phát cho quốc gia này là 6% Kremer và cộng sự (2009) [56] với bộ dữ liệu 63 nước công nghiệp
và đang phát triển đã xác định ngưỡng lạm phát đối với các nước công nghiệp và đang phát triển lần lượt là 2% và 17% Sergii (2009) [70] thông qua bộ dữ liệu giai đoạn 2001 – 2008 tại Cộng đồng các quốc gia độc lập (Commonwealth Independent States), đã sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu phi tuyến (Non Linear Least Squared) và tìm thấy ngưỡng lạm phát là 8% Espinoza và cộng sự (2010) [38] sử dụng mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn (Smooth Transiton Model) dựa trên bộ dữ liệu bảng của 165 quốc gia (bao gồm cả các nước xuất khẩu dầu mỏ) giai đoạn 1960 – 2007 đã cho thấy ngưỡng lạm phát là 10% và khi lạm phát cao hơn 13% sẽ cắt giảm tổng sản lượng thực tế của các nước phi xuất khẩu dầu mỏ khoảng 2,7% mỗi năm Leshoro (2012) [73] dựa trên dữ liệu chuỗi thời gian Nam Phi từ năm 1980 -
2010 đã sử dụng phương pháp ước lượng OLS và 2SLS để xem xét sự tồn tại điểm gẫy cấu trúc của lạm phát đối với tăng trưởng, theo đó tìm được ngưỡng lạm phát là 4% Vinayagathasan (2013) [75] sử dụng phương pháp GMM đối với bộ dữ liệu của
32 quốc gia khu vực châu Á giai đoạn 1980 - 2009 cũng chỉ ra mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát - tăng trưởng biểu hiện qua ngưỡng lạm phát 5,43% và nếu lạm phát trên ngưỡng thì về lâu dài sẽ dần loại bỏ các hiệu ứng tích cực lên tăng trưởng
Trang 29Tóm lại, các nghiên cứu đều cho thấy mối quan hệ giữa hai biến số này là
phi tuyến tính mặc dù trước thập niên 70, lạm phát vẫn được nhìn nhận là một yếu
tố có ảnh hưởng tích cực và tuyến tính đối với tăng trưởng Sarel (1996) cũng đã từng đề cập lý giải điều này khi mà các nền kinh tế không có nhiều thời kỳ lạm phát cao trong giai đoạn trước, nhưng kể từ thập niên 70 thì tình trạng lạm phát khắc nghiệt đã xảy ra tại nhiều nước, vì vậy, các bộ dữ liệu sau này đã tái khẳng định lạm phát có ảnh hưởng tiêu cực lên tăng trưởng Như vậy, kết luận này cũng đặt ra câu hỏi là nếu mối quan hệ giữa lạm phát - tăng trưởng là phi tuyến tính thì điều này có ảnh hưởng gì đến các quyết định ưu tiên về mặt chính sách? Liệu Việt Nam có tồn tại ngưỡng lạm phát hay không? Nếu có, thì ngưỡng lạm phát đó là bao nhiêu? Do vậy, việc nghiên cứu xoay quanh mối quan hệ giữa lạm phát - tăng trưởng tại Việt Nam dựa trên các bằng chứng điểm gẫy cấu trúc để làm cơ sở cho việc thiết lập
khung lạm phát mục tiêu là rất cần thiết
1.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU
1.3.1 Chính sách tiền tệ
1.3.1.1 Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Thông thường khuôn khổ điều hành CSTT bao gồm việc NHTW sử dụng các công cụ CSTT nhằm tác động đến mục tiêu hoạt động, sau đó tác động đến mục tiêu trung gian, và tác động đến mục tiêu cuối cùng của CSTT
Hình 1.4: Quy trình thực thi chính sách tiền tệ
Mục tiêu cuối cùng
Thông thường, tùy theo các điều kiện kinh tế khác nhau mà NHTW các nước
thường điều hành CSTT theo đuổi các mục tiêu chủ yếu:
Công cụ
của CSTT
Mục tiêu hoạt động trung gian Mục tiêu
Mục tiêu cuối cùng
Trang 30- Kiểm soát lạm phát, ổn định tiền tệ: Trong điều hành CSTT, NHTW một
nước có thể tác động đến sự tăng hay giảm giá trị đối nội hoặc đối ngoại của nội tệ thông qua việc kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô Như đã đề cập thì bên cạnh các tác động tiêu cực mà lạm phát gây ra cho nền kinh tế thì ngược lại, một tỷ
lệ lạm phát nhất định lại chính là yếu tố kích thích tăng trưởng Theo đó, lạm phát
đã trở thành công cụ điều tiết quan trọng mà phần lớn NHTW các nước hiện nay đều xem việc ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát là mục tiêu chủ yếu và dài hạn của CSTT, tức là kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý từ đó lan tỏa ra các mục tiêu khác như tăng trưởng kinh tế hay việc làm
- Toàn dụng lao động: Để đảm bảo ổn định tình hình xã hội và thúc đẩy kinh
tế phát triển, mà NHTW một nước có thể theo đuổi mục tiêu duy trì tỷ lệ thất nghiệp thấp, tạo ra nhiều công ăn việc làm Theo đó, thông qua nới lỏng CSTT, NHTW một nước có thể góp phần tạo ra nhiều cơ hội việc làm, thu hút nhiều lao động dựa trên việc mở rộng hoạt động sản xuất và đầu tư Nhưng ngược lại, nếu tổng cầu được kích thích quá mức sẽ gây ra lạm phát Theo đó, điều này hàm ý rằng mục tiêu công ăn việc làm cao không phải là làm cho tỷ lệ thất nghiệp bằng không
mà là hướng đến việc giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp, tức là chấp nhận tỷ lệ thất nghiệp ở một mức nhất định được các nhà kinh tế gọi là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
- Tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu đầu tiên hoặc
sau cùng của mọi quốc gia trong việc hoạch định các chính sách vĩ mô nhằm giữ cho nhịp độ tăng trưởng ổn định, sản lượng gia tăng từ đó góp phần đảm bảo công
ăn việc làm, ổn định giá trị đồng tiền, và khẳng định vị thế quốc gia đối với quốc tế Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng kinh tế cần phải được hiểu cả về mặt khối lượng lẫn chất lượng Theo đó, mục tiêu tăng trưởng sẽ là không đạt được kể cả khi nền kinh tế đang ở mức tăng trưởng rất cao song nếu đi kèm theo đó là sự mất cân đối trong cơ cấu, bất ổn vĩ mô hay suy giảm năng lực cạnh tranh Vì vậy, để đạt được mục tiêu này cần thiết phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các mục tiêu ổn định giá trị đồng nội tệ và công ăn việc làm trong ngắn hạn lẫn dài hạn
Trang 31Nhìn chung, xét trong dài hạn các mục tiêu trên không xảy ra xung đột, nhưng trong ngắn hạn thì các mục tiêu trên có sự mâu thuẫn hay thậm chí triệt tiêu lẫn nhau Lấy ví dụ, khi NHTW thực thi CSTT thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát sẽ làm lãi suất tăng lên dẫn đến cắt giảm các nhân tố cấu thành tổng cầu, từ đó khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại và thất nghiệp có xu hướng tăng lên Ngược lại, khi NHTW thực thi CSTT mở rộng nhằm giảm thấp tỷ lệ thất nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng sẽ dẫn đến rủi ro bất ổn về giá cả Do vậy, việc lựa chọn mục tiêu nào là rất quan trọng, quyết định hiệu quả điều hành CSTT trong từng thời kỳ
Mục tiêu trung gian
Thông qua các hệ thống công cụ của mình, NHTW không thể trực tiếp tác động ngay đến mục tiêu cuối cùng của CSTT mà luôn có khoảng cách nhất định về thời gian Do đó, nếu NHTW đợi các dấu hiệu về giá cả, thất nghiệp mới điều chỉnh các công cụ CSTT sẽ không kịp thời Vì vậy, để khắc phục hạn chế này, NHTW các nước thường lựa chọn theo đuổi các mục tiêu trung gian qua đó để đạt được mục tiêu cuối cùng Về cơ bản, mục tiêu trung gian được lựa chọn trên các tiêu chí sau: (i) Có thể đo lường chính xác và nhanh chóng để NHTW điều chỉnh hướng tác động khi cần thiết; (ii) Có thể kiểm soát được; (iii) Có mối liên hệ chặt chẽ đến mục tiêu cuối cùng Theo đó, các mục tiêu trung gian thường được lựa chọn là các khối cung tiền (M1, M2, M3) hay lãi suất thị trường (ngắn hạn hay dài hạn)
Trang 321.3.1.2 Công cụ của chính sách tiền tệ
- Công cụ trực tiếp: Công cụ trực tiếp là các công cụ tác động trực tiếp đến
các mục tiêu trung gian (cung tiền, lãi suất, tỷ giá) và được áp dụng phổ biến ở các nước trong thời kỳ hoạt động thị trường tài chính chưa phát triển, hay các yếu tố nền tảng của các công cụ CSTT gián tiếp chưa hiệu quả Thông thường, NHTW sử dụng các công cụ này thông qua các biện pháp hành chính như:
+ Quy định hạn mức tín dụng: Đây là công cụ được NHTW sử dụng nhằm
khống chế mức dư nợ tín dụng tối đa mà các TCTD cho vay ra nền kinh tế Theo đó công cụ này thường được sử dụng khi nền kinh tế có lạm phát cao để kiểm soát trực tiếp và nhanh chóng lượng tín dụng cung ứng dựa trên cơ sở các TCTD không được phép vi phạm các giới hạn tín dụng đã được NHTW quy định cụ thể
+ Khống chế trực tiếp lãi suất thị trường: Theo đó, NHTW sẽ ấn định mức
trần lãi suất tiền gửi, cho vay hay quy định khung dao động theo lãi suất điều hành
+ Khống chế trực tiếp tỷ giá thị trường: Để sử dụng công cụ này thì NHTW
sẽ ấn định trực tiếp các mức tỷ giá mua bán của các NHTM trên thị trường
- Công cụ gián tiếp: Công cụ gián tiếp là những công cụ tác động trước tiên
đến mục tiêu hoạt động của CSTT và tiếp tục truyền dẫn ảnh hưởng đến các mục tiêu trung gian như cung tiền hay lãi suất theo cơ chế thị trường Bao gồm:
+ Dự trữ bắt buộc: là một phần vốn huy động tiền gửi mà các TCTD bắt
buộc dự trữ theo luật và được xác định bằng một mức tỷ lệ nhất định trên tổng số dư tiền gửi căn cứ vào thời hạn tiền gửi hay loại tiền gửi trong các thời kỳ khác nhau Đây là công cụ có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến khối lượng tiền cung ứng đồng thời vẫn đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các TCTD Theo đó, khi tỷ lệ DTBB tăng lên sẽ làm giảm khả năng cho vay của các TCTD, dẫn đến giảm hệ số tạo tiền
và mức cung vốn, từ đó hạn chế lượng cung tiền ra nền kinh tế Ngược lại, nếu tỷ lệ DTBB giảm sẽ tác động làm tăng lượng tiền cung ứng trên thị trường
Trang 33+ Chính sách chiết khấu: (hay còn gọi là công cụ tái cấp vốn) bao gồm các
quy định hay các điều kiện của NHTW về cho vay đối với các NHTM trên cơ sở chiết khấu các GTCG ngắn hạn chủ yếu là tín phiếu kho bạc và thương phiếu, theo
đó nhằm điều hòa khối cung tiền tệ trong nền kinh tế Đây thực chất là biện pháp cho vay của NHTW đối với các NHTM để qua đó nhằm kiểm soát chất lượng tín dụng, khối lượng tín dụng, hay lãi suất cho vay Thông thường, một sự tăng giảm của lãi suất tái chiết khấu và tái cấp vốn được xem như tín hiệu thông báo tới thị trường của NHTW trong việc thực thi CSTT nới lỏng hay thắt chặt, từ đó có tác dụng hướng dẫn hành vi của thị trường Mặc dù, công cụ này có khả năng điều tiết một cách linh hoạt các mục tiêu trung gian, tuy nhiên mức độ hiệu quả của công cụ này còn căn cứ vào mức độ phụ thuộc vốn của các TCTD đối với NHTW
+ Nghiệp vụ thị trường mở: là hoạt động của NHTW trong việc mua bán
giấy tờ có giá ngắn hạn (tín phiếu, trái phiếu, thương phiếu, chứng chỉ tiền gửi ) trên thị trường tiền tệ nhằm tác động trực tiếp đến dự trữ các NHTM và ảnh hưởng gián tiếp đến mức lãi suất, qua đó làm thay đổi cơ sở tiền tệ (MB) và lượng tiền cung ứng (MS) ra nền kinh tế Theo đó, nếu muốn bơm tiền vào nền kinh tế thì NHTW sẽ mua các GTCG trên TTM, ngược lại NHTW sẽ bán các loại GTCG nhằm rút về lượng tiền đang lưu thông Do tính linh hoạt và chủ động nên đây là công cụ điều tiết các mục tiêu trung gian rất hiệu quả, nhất là đối với các quốc gia
Trang 34thiết lập các cơ chế để tăng cường trách nhiệm của NHTW trong việc đạt được mục tiêu đề ra [29] Mishkin (2007) cũng định nghĩa lạm phát mục tiêu theo cách tương
tự nhưng bổ sung thêm yếu tố - lạm phát mục tiêu là một chiến lược thông tin toàn diện trong đó bao gồm nhiều biến ngoài các biến như tổng cung tiền hay tỷ giá, được sử dụng để quyết định việc thiết lập các công cụ chính sách [42]
Như vậy, một cách chung nhất thì có thể hiểu nội hàm chính sách lạm phát
mục tiêu gồm:
Thứ nhất, NHTW thiết lập và công bố mục tiêu lạm phát được thể hiện bằng
một con số hay khoảng giá trị cụ thể, đóng vai trò như một neo cơ sở cho CSTT trong trung dài hạn Đồng thời, cam kết và chỉ rõ cho công chúng thấy rằng mục tiêu ổn định giá cả là mục tiêu cao nhất và chủ yếu của CSTT
Thứ hai, NHTW xây dựng mô hình định lượng hay phương pháp cụ thể để
dự báo tỷ lệ lạm phát trong tương lai dựa trên dữ liệu các biến cung tiền, tỷ giá, lãi suất, lạm phát kỳ vọng và các biến quan trọng khác có liên quan Đồng thời, công khai các thông tin dự báo này đến các chủ thể thị trường
Thứ ba, NHTW thực hiện điều hành CSTT theo hướng tỷ lệ lạm phát thực tế
tiệm cận với tỷ lệ lạm phát mục tiêu thông qua sử dụng các công cụ CSTT tác động đến mục tiêu hoạt động (thường là lãi suất ngắn hạn) mà không cần thiết phải đề ra một mục tiêu trung gian nào rõ ràng1
(Hình 1.5)
Thứ tư, NHTW đánh giá hoạt động của CSTT và dựa trên kết quả đó để xây
dựng CSTT thời kỳ tiếp theo Theo đó, quá trình này sẽ phản ánh tính minh bạch
của CSTT, đồng thời giúp đặt nền tảng cho việc ổn định giá cả trong dài hạn từ đó
lan tỏa đến các mục tiêu khác như tăng trưởng kinh tế, việc làm
Hình 1.5: Quy trình thực thi chính sách lạm phát mục tiêu
1
Khác với việc điều hành CSTT trước đây là thường sử dụng các mục tiêu cung tiền, tỷ giá, tín dụng làm mục tiêu trung gian để tác động đến mục tiêu cuối cùng
Trang 351.3.2.2 Các nguyên tắc của chính sách lạm phát mục tiêu
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) [32] thì việc thiết kế, thực hiện và đánh giá CSLPMT thường dựa trên sáu nguyên tắc sau:
Thứ nhất, việc lựa chọn các mục tiêu khác trong CSLPMT phải phù hợp với
việc cung cấp một neo danh nghĩa cho lạm phát và các kỳ vọng lạm phát Theo đó NHTW không thể theo đuổi các mục tiêu như tăng trưởng hay việc làm vốn mâu thuẫn với việc kiểm soát lạm phát trong ngắn hạn mà bỏ qua mục tiêu ổn định giá
cả trong dài hạn
Thứ hai, một CSLPMT hiệu quả sẽ cho thấy những ảnh hưởng ích lợi trước
tiên đến phúc lợi dựa trên việc loại bỏ sự không chắc chắn, neo đậu các kỳ vọng lạm phát và giảm thiểu phạm vi cũng như tính chất nghiêm trọng của chu kỳ bùng
nổ và suy thoái nhanh chóng của nền kinh tế
Thứ ba, các chính sách kinh tế khác có ảnh hưởng rất nhiều đến sự thành
công của CSLPMT nhất là khi các chính sách này giúp cho nhiệm vụ của CSTT trở nên dễ dàng và đáng tin cậy hơn Theo đó, một mức chi tiêu công quá lớn hay một chính sách thuế bất hợp lý có thể dẫn đến việc kiếm soát lạm phát của NHTW trở nên vô hiệu
Thứ tư, do độ trễ trong kênh truyền dẫn tiền tệ, hay những mối quan tâm về
chênh lệch sản lượng thực tế so với tiềm năng và sai lệch giữa lạm phát thực tế so với mục tiêu, khi đó trên thực tế thì CSLPMT đơn thuần chỉ còn là việc hướng đến
dự báo lạm phát cũng như rất khó để giữ lạm phát đúng với kế hoạch đề ra Theo đó hàm ý sự cần thiết phải đảm bảo tính linh hoạt tối thiểu của CSLPMT
Thứ năm, do khả năng xảy ra xung đột giữa mục tiêu lạm phát và các mục
tiêu khác là rất dễ xảy ra, vì vậy nhiệm vụ của NHTW cần được xác định rõ ràng và độc lập tương đối so với các yếu tố mang tính chính trị
Công cụ CSTT
Mục tiêu hoạt động
Mục tiêu cuối cùng
Trang 36Thứ sáu, cần phải có một cơ chế giải trình và giám sát hiệu quả để đảm bảo
rằng các thành viên của NHTW đang ứng xử một cách phù hợp so với các mục tiêu
cơ bản đã công bố và CSTT đang dựa trên những hành động hợp lý
1.3.2.3 Điều kiện tiên quyết để áp dụng thành công chính sách lạm phát mục tiêu
Dựa vào kinh nghiệm các quốc gia đã chuyển đối CSLPMT, Batini, Kuttner
& Laxtons (2005) [68] và Angeriz & Arestis (2005) [26] trong các nghiên cứu của mình đã cho thấy năng lực của các quốc gia nhất là các thị trường mới nổi nếu có thể thực hiện và duy trì một số các điều kiện nhất định sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc áp dụng CSLPMT thành công Các điều kiện tiên quyết bao gồm:
Thứ nhất, ổn định giá cả là mục tiêu hàng đầu và dài hạn của CSTT:
Theo đó, việc theo đuổi nhiều mục tiêu song song, sẽ khiến NHTW không rõ ràng
và thiếu nhất quán trong hoạt động điều hành CSTT, nhất là trong trường hợp xảy
ra các xung đột giữa các mục tiêu
Thứ hai, mức độ độc lập tương đối của Ngân hàng Trung ương: Đây được
xem là điều kiện quan trọng nhất trong việc áp dụng CSLPMT vì trong một số tình huống, việc kiểm soát lạm phát có thể làm tốc độ tăng trưởng kinh tế hay số lượng việc làm thấp hơn khiến các Chính phủ luôn có xu hướng can thiệp vào hoạt động của NHTW Do đó, điều kiện này đòi hỏi sự độc lập tương đối của NHTW theo nghĩa ít bị can thiệp về chính trị và được tự do lựa chọn các công cụ CSTT để theo đuổi mức lạm phát mục tiêu đề ra
Thứ ba, thị trường tài chính ổn định và phát triển: Một thị trường tài
chính ổn định và phát triển sẽ tạo thuận lợi trong việc truyền tải các tác động tiền
tệ đến mục tiêu lạm phát, cũng như có đủ độ sâu cần thiết để hấp thụ các công cụ
nợ từ khu vực Chính phủ hay tư nhân nhằm tránh làm xói mòn tính hiệu quả CSTT
Thứ tư, năng lực dự báo lạm phát ở trình độ nhất định: Nền tảng áp dụng
CSLPMT là xây dựng mức lạm phát mục tiêu phù hợp trong trung hạn, nhưng các công cụ CSTT thường chỉ tác động đến lạm phát sau một thời kỳ nhất định, do đó một chính sách tối ưu nên hướng vào dự báo lạm phát Khác biệt giữa lạm phát dự
Trang 37báo và mục tiêu sẽ giúp NHTW đưa ra các quyết định về mức độ điều chỉnh các công cụ CSTT
Thứ năm, chính sách tài khóa đảm bảo tính lành mạnh: Điều này hàm ý
rằng CSLPMT sẽ khó thành công nếu tồn tại sự chi phối của CSTK lên các hoạt động điều hành kinh tế vĩ mô Theo đó, nếu CSTK liên tục được mở rộng một cách thiếu kiểm soát và không hợp lý thì việc NHTW sử dụng công cụ CSTT theo hướng thắt chặt sẽ khó làm giảm được áp lực của lạm phát
1.3.2.4 Đánh giá ưu nhược điểm của chính sách lạm phát mục tiêu
- Ưu điểm
+ Tăng cường tính hiệu lực CSTT đi kèm trách nhiệm NHTW: Việc khẳng
định mục tiêu cao nhất của CSTT là ổn định giá cả sẽ giúp giảm bớt gánh nặng của NHTW đối với các mục tiêu như tăng trưởng, việc làm, tỷ giá, Đồng thời, đi kèm theo đó là yêu cầu giải trình của NHTW trước các cơ quan giám sát và công chúng trong quá trình theo đuổi mục tiêu kiểm soát lạm phát như giải thích nguyên nhân, giải pháp đề xuất, cơ chế xử lý, Điều này sẽ giúp nâng cao trách nhiệm cũng như thúc đẩy sự nỗ lực của NHTW trong việc hoàn thành mục tiêu đề ra
+ Tăng cường tính minh bạch của NHTW: Trong cơ chế này, công cụ lãi suất
đóng vai trò quan trọng trong việc phát tín hiệu về chính sách trong tương lai nhằm tác động đến kỳ vọng lạm phát, nên việc giao tiếp thường xuyên giữa NHTW với công chúng đi cùng với sự minh bạch trong hoạt động sẽ giúp nâng cao tính hiệu quả cũng như góp phần làm giảm độ bất định của mục tiêu chính sách
+ Linh hoạt trong việc đối phó với các cú sốc: Cơ chế này đòi hỏi sự cần
thiết nâng cao tính độc lập của NHTW trong điều hành CSTT nhờ đó giúp NHTW
chủ động hơn nhằm ứng phó trước các cú sốc từ bên trong lẫn bên ngoài nước
+ Cho phép cân bằng giữa mục tiêu sản lượng và lạm phát: Theo đó, ổn
định giá cả trong trung hạn vẫn được duy trì trong khi lạm phát có thể tăng giảm
trong ngắn hạn thuộc phạm vi cam kết sẽ giúp những biến động về sản lượng ít hơn
Trang 38- Nhược điểm
+ Độ trễ của các công cụ CSTT đối với mục tiêu lạm phát: Từ khi công cụ
CSTT được thực hiện đến khi có hiệu lực lên lạm phát có thể kéo dài từ 1 - 2 năm, điều này có thể khiến NHTW gặp những khó khăn nhất định trong việc kiểm soát lạm phát cũng như dễ dẫn đến giảm sút uy tín của NHTW trong việc thực thi CSTT
+ Sụt giảm tốc độ tăng trưởng hay tỷ lệ việc làm trong ngắn hạn: Điều này
có thể dẫn đến sự can thiệp và các phản ứng tiêu cực mang tính chính trị đến hoạt động của NHTW
+ Rủi ro trong chuyển đổi cơ chế tỷ giá: Cơ chế này đòi hỏi một quốc gia
phải thực thi cơ chế tỷ giá linh hoạt, do đó những bất ổn tài chính hoàn toàn có thể xảy ra trong quá trình chuyển đổi cơ chế tỷ giá
1.4 KINH NGHIỆM MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG VIỆC ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU
1.4.1 Kinh nghiệm của New Zealand
Từ những năm 70, New Zealand là một trong các quốc gia có tỷ lệ lạm phát thuộc hàng cao nhất trong các công nghiệp phát triển (OECD) khi lạm phát thường xuyên ở mức hai con số song đi kèm theo đó là tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn không có nhiều cải thiện và các bất ổn thường xuyên xảy ra Nhận thấy được điều
đó, kể từ năm 1985, quốc gia này đã quyết định thả nổi đồng nội tệ để tập trung vào mục tiêu ổn định giá cả và đến năm 1989 thì mục tiêu này được Quốc hội New Zealand quy định trong cụ thể trong hiến pháp Theo đó, Ngân hàng dự trữ New Zealand (NHDT) được độc lập trong việc sử dụng các công cụ nhằm theo đuổi mục tiêu ổn định giá cả, hay thậm chí có quyền quyết định đối với các điều kiện tiền tệ như các khối cung tiền, lãi suất, tỷ giá, trên cơ sở một thỏa ước được ký kết giữa
Bộ tài chính và Thống đốc (Policy Targets Agreement - PTA) nhằm giữ cho lạm phát mục tiêu nằm trong khoảng 0 - 2% hàng năm Và khung lạm phát mục tiêu này tiếp tục được nâng lên 0 - 3% (năm 1996) và 1 - 3% (năm 2002) nhằm mang lại lợi ích lớn hơn cho tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng như tạo thêm công ăn việc làm
Trang 39Dựa trên thỏa thuận PTA, vì là cơ quan chịu trách nhiệm cao nhất đối với mục tiêu lạm phát đề ra, theo đó định kỳ sáu tháng một lần thì NHDT New Zealand
có trách nhiệm phát hành công khai bản tuyên bố CSTT và kế hoạch hoạt động của mình Theo đó, bản tuyên bố này sẽ được hội đồng CSTT xem xét và so sánh với những gì NHDT New Zealand đạt được trên thực tế Và nếu NHDT New Zealand không thực hiện đúng như những gì cam kết đề ra thì Thống đốc có thể bị bãi nhiệm
bởi bộ trưởng Bộ tài chính Do vậy, để kiểm soát lạm phát, NHDT New Zealand đã
hướng vào việc điều tiết chỉ số điều kiện tiền tệ (MCI) - bình quân gia quyền giữa tỷ giá và lãi suất ngắn hạn như là mục tiêu trung gian CSTT, đồng thời tiến hành dự báo tình hình lạm phát thường xuyên và công bố công khai kể cả các biến động lạm phát dự tính để có thể kịp thời đưa ra các điều chỉnh về mặt chính sách
Kết quả cho thấy, kể từ sau khi thực hiện cơ chế LPMT từ 1989 thì tỷ lệ lạm phát của New Zealand đã giảm từ 7,6% (cao hơn mức trung bình của các quốc gia công nghiệp là 5,6%) trong giai đoạn từ năm 1955 - 1988 xuống còn 2,7% trong thời từ năm 1989 - 2004, đồng thời tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng trở nên ổn định hơn so với trước khi chuyển đổi Nhìn chung, sự thành công trong việc áp dụng CSLPMT của New Zealand được quyết định bởi nhiều yếu tố khác nhau nhưng có thể thấy rằng chính yếu tố độc lập của NHTW trong việc theo đuổi mục tiêu ổn định giá cả là mấu chốt thành công trong việc kiểm soát lạm phát mặc dù thời gian trước đây thì NHDT New Zealand chỉ hoạt động với vai trò cố vấn cho Bộ tài chính
Biểu đồ 1.1: Tăng trưởng GDP và lạm phát New Zealand (1962-2004)
Trang 40Nguồn: Alan Bollard & Ozer Karagedikli, NHTW New Zealand [27]
1.4.2 Kinh nghiệm của Mexico
Kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế Mexico năm 1995, dưới chế độ tỷ giá thả nổi thì một trong những mục tiêu hàng đầu của kinh tế là ổn định trở lại một cách nhanh chóng, đồng thời đảm bảo rằng một sự áp chế tài chính sẽ không tái diễn Theo đó, thách thức đầu tiên mà NHTW Mexico phải đối mặt là cần thiết lập CSTT như một neo danh nghĩa của nền kinh tế trong thời điểm mà niềm tin của công chúng đối với các cam kết cũng như năng lực của NHTW trong việc đạt được cả hai mục tiêu ổn định giá cả và bình ổn tài chính
là rất thấp Theo đó, chiến lược NHTW Mexico đề ra bao gồm ba yếu tố chính: (i) Tăng cường tính minh bạch trong việc thực thi CSTT; (ii) Kiên trì với quan điểm cắt giảm lạm phát nhằm đưa tỷ lệ lạm phát về mức ổn định trong dài hạn; và (iii) Phản ứng một cách hợp lý trước các cú sốc lạm phát Ngoài ra, nhiệm vụ duy trì sự cân bằng tài khoản thanh toán của các NHTM tại NHTW (gọi là “corto”) cũng được thiết lập và sử dụng như một công cụ chủ yếu để tác động đến lãi suất Theo đó, một vài điểm chính trong chiến lược này chính là nền tảng của việc thực thi CSLPMT tại Mexico trong tương lai Kết quả cho thấy lạm phát đã giảm từ mức 52% xuống còn 3% chỉ sau một vài năm
Biểu đồ 1.2: Diễn biến lạm phát của Mexico (1995-2008)
Nguồn: Banco de México [48]