Phương pháp nghiên cứu

Một phần của tài liệu Nghiên cứu lạm phát mục tiêu tại việt nam (Trang 22 - 25)

2.2.1 Phương pháp tự hồi quy Vector

Trong phần này chúng ta tiến hành kiểm tra điều kiện quyết định để thực hiện chế độ LPMT bằng thực nghiệm. Phương pháp sử dụng là phương pháp tự hồi quy vector (VAR) mà nhiều tác giả trước đây (Gottschalk và Moore, 2001; Tutar, 2002;

Bakradze và Billmeier 2007; Aliyu, Shehu Usman Rano and Englama, Abwaku, 2009) đã sử dụng. Đồng thời chạy kiểm định Granger Causality để kiểm tra mối quan hệ các biến theo thời gian.

Mô hình VAR được tính toán thông qua các chỉ số GDP, CPI, M2, BD, IR, ER với các biến nội sinh như sau:

Xt= (DIFGDP2, DIFCPI, DIFM2, DIFBD, DIFIR, DIFER) lần lượt là sai phân bậc hai của biến sản lượng GDP và chuỗi sai phân bậc một của các biến chỉ số giá CPI, cung tiền M2, thâm hụt ngân sách BD, lãi suất tiền gửi IR, tỷ giá hối đoái VND/USD ER.

Mỗi một biến trong mô hình đều phụ thuộc chính nó và giá trị hiện tại cũng như giá trị tương lai của các biến khác.

Xt = A(L)Xt-1 + B(L)Zt + εt

Trong đó Xt là vector k của biến nội sinh, Zt là vector d các biến ngoại sinh, A và B là ma trận hệ số rút gọn được tính toán, εt là ma trận các biến đổi hoặc cú sốc.

Việc sắp xếp trật tự các biến căn cứ theo những lập luận được đề xuất bởi Ben Bernanke và Mihov (1998): các biến phi chính sách (sản lượng, giá cả) đứng trước và tiếp đến là các biến liên quan đến chính sách (cung tiền, lãi suất, TGHĐ). Lập luận này cũng phù hợp với nền kinh tế Việt Nam:

Thứ nhất: Sản lượng không bị ảnh hưởng đồng thời bởi các cú sốc của các yếu tố khác. Mức giá bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong sản lượng. Cả sản lượng và giá cả không bị ảnh hưởng cùng lúc của bất kỳ cú sốc chính sách nào trong một thời kỳ. Bởi vì bất kỳ một chính sách nào khi thực hiện cũng đều có độ trễ. Khi các biến chính sách thay đổi, sản lượng và giá cả không thay đổi ngay mà chỉ thay đổi ở kỳ sau, có thể 1 tháng, 2 tháng hoặc dài hơn.

Tuy nhiên những thay đổi về sản lượng và giá cả lại làm thay đổi cung, cầu tiền Việt Nam đồng dẫn đến thay đổi lượng cung tiền và ảnh hưởng đến việc thu chi ngân sách của chính phủ cũng chính là ảnh hưởng đến biến thâm hụt ngân sách.

Thứ hai: Khi sản lượng và giá cả thay đổi, chính phủ có thể thay đổi lãi suất ngay để điều hành nền kinh tế. Như thời điểm hiện nay khi mà giá cả ngày càng tăng, việc sản xuất vẫn trì trệ thì việc hạ lãi suất như là một tín hiệu để ứng phó với tình trạng này nhằm thúc đẩy các nhà đầu tư vay vốn sản xuất. Những thay đổi về lãi suất này cũng sẽ làm thay đổi tỷ giá ngay trong thời kỳ đó.

Với lập luận trên việc sắp xếp trật tự các biến trong mô hình VAR được xác định như sau: GDP, CPI, M2, BD, IR, ER

2.2.2 Các kiểm định liên quan mô hình.

2.2.2.1 Kiểm định nghiệm đơn vị.

Sử dụng tiêu chuẩn ADF (Augumented Dickey-Fuller) để kiểm định nghiệm đơn vị nhằm kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu. Dữ liệu trong mô hình phải có tính dừng mới đảm bảo tính ổn định của mô hình. Xét mô hình:

Yt =ρYt-1 + Ut (Utnhiễu trắng).

Kiểm định giả thiết H0: ρ = 1(chuỗi không dừng), H1: ρ ≠1 (chuỗi dừng).

Ta ước lượng mô hình trên,

( )ˆˆ

se τ ρ

= ρ phân phối theo quy luật DF, nếu τ τ> α thì bác bỏ giả thiết H0 . Trong trường hợp này chuỗi là dừng và ngược lại chuỗi không dừng.

Sau khi kiểm định tính dừng của số liệu, nếu chuỗi không dừng ta lấy sai phân bậc 1 và kiểm tra tính dừng của chuỗi sai phân. Nếu được chuỗi dừng ta sẽ sử dụng chuỗi sai phân này để xử lý mô hình.

2.2.2.2 Kiểm định Granger Causality.

Kiểm định Granger Causality được thực hiện cả kiểm định đơn biến và đa biến để trả lời cho câu hỏi có hay không có sự thay đổi của lạm phát gây ra sự thay đổi của sản lượng và các yếu tố chính sách tiền tệ và ngược lại. Phương trình hồi quy trong kiểm định Granger có dạng:

0

1 1

1

1 1

{

k k

t l t l l t l t

l l

k k

t l t l l t l t

l l

Y X

X Y

Y

X v

β δ

φ ρ

α ε

α

− −

= =

− −

= =

= + + +

= + + +

∑ ∑

∑ ∑

- Nếuδl khác không và có ý nghĩa thống kê nhưng ρl không có ý nghĩa thống kê thì chúng ta kết luận rằng sự biến động của X gây ra biến động của Y.

- Nếuδl không có ý nghĩa thống kê nhưng ρl khác không và có ý nghĩa thống kê thì chúng ta kết luận rằng sự biến động của Y gây ra biến động của X

- Nếu cảδl và ρlkhác không và có ý nghĩa thống kê thì X và Y có tác động qua lại lẫn nhau. Và ngược lại nếu cả hai đều không có ý nghĩa thống kê thì X và y không có tác động qua lại lẫn nhau.

Trong nghiên cứu này kiểm định Granger tác động của từng biến sản lượng, cung tiền, thâm hụt ngân sách, lãi suất, tỷ giá và tác động tổng hợp của các biến này lên biến chỉ số giá CPI nên biến CPI là Y còn các biến khác là X. Đối với trường hợp nghiên cứu tác động của các biến chỉ số giá và các biến tiền tệ lên sản lượng GDP thì GDP là Y và các biến kia là X.

Một phần của tài liệu Nghiên cứu lạm phát mục tiêu tại việt nam (Trang 22 - 25)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(58 trang)