3.3 Kết quả thực nghiệm
3.3.4 Phân tích phản ứng cú sốc
Hình 3.1: Phản ứng của CPI đối với các cú sốc.
-3 -2 -1 0 1 2 3
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Response of DIFCPI to DIFBD
-3 -2 -1 0 1 2 3
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Response of DIFCPI to DIFCPI
-3 -2 -1 0 1 2 3
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Response of DIFCPI to DIFER
-3 -2 -1 0 1 2 3
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Response of DIFCPI to DIFGDP2
-3 -2 -1 0 1 2 3
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Response of DIFCPI to DIFIR
-3 -2 -1 0 1 2 3
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Response of DIFCPI to DIFM2
Response to Cholesky One S.D. Innovations ± 2 S.E.
Một cách khác để giải thích mối quan hệ giữa các công cụ chính sách tiền tệ và biến CPI khi sử dụng VAR là dùng hàm phản ứng đẩy. Một phản ứng đẩy cho thấy tác động của cú sốc một thời điểm lên giá trị hiện tại và cả tương lai của các biến nội sinh. Vì vậy nếu có mối liên hệ chặt chẽ giữa các biến trong mô hình với CPI trong
tương lai thì có thể kết luận rằng các biến công cụ chính sách tiền tệ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến CPI trong tương lai. Nghiên cứu kiểm tra hàm phản ứng đẩy và phân tích phương sai trong thới gian 12 quý với độ tin cậy là 95%.
Ở hình 3.1 trên đây, hàm phản ứng cú sốc cho thấy các biến chính sách tiền tệ tác đông đến CPI như thế nào. Hay nói cách khác hình cho thấy biến CPI phản ứng như thế nào khi có cú sốc của các biến nội sinh trong mô hình.
Phản ứng của CPI đối với cú sốc của chính nó xảy ra ngay khi xảy ra cú sốc và thời gian sau đó với mức trung bình từ 1%-1.3%, nhưng giảm dần trong trung hạn và dài hạn. Riêng đối với biến lãi suất IR và cung tiền M2, chỉ số giá CPI có phản ứng ngay sau cú sốc nhưng không đáng kể, với mức trung bình khoảng 0.5%. Và tác động này bắt đầu thấy rõ trong trung hạn do tác động của các biến này đến chỉ số giá có độ trễ. Trong trung hạn biến lãi suất IR và biến cung tiền M2 có tác động mạnh đến biến chỉ số giá, đặc biệt là biến cung tiền M2 có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn. Điều này phù hợp với các nghiên cứu trước đây về tác động của cung tiền đến lạm phát và có thể thấy rõ nhất ở thời kỳ năm 2005-2007. Mức tăng cung tiền thời kỳ này là 91.93% gấp 3.6 lần mức tăng trưởng GDP (25.1%), riêng năm 2008 để mua lại 10 tỷ USD ngoại tệ NHNN đã bỏ ra hơn 180,000 tỷ đồng (khoảng 14%
GDP), điều này góp phần lý giải tại sao lạm phát tăng cao trong năm 2007 (12.7%) và năm 2008 (22.3%). Về dài hạn cả biến lãi suất và biến cung tiền M2 đều giảm dần ảnh hưởng lên chỉ số giá CPI, nhưng lãi suất giảm nhiều hơn và giàm dần tới mức gần 0. Nhưng ngược lại, khi có cú sốc lạm phát xảy ra, biến lãi suất có phản ứng ngay tại thời điểm xảy ra cú sốc và kéo dài trong trung hạn và dài hạn, riêng cung tiền trong ngắn hạn và trung hạn không có sự thay đổi gì nhưng trong dài hạn đã có sự ảnh hưởng (hình 3.2). Điều này thể hiện sự thích ứng của nền kinh tế khi xảy ra lạm phát, thường là chính sách thắt chặt tiền tệ.
Đối với các biến thâm hụt ngân sách BD sản lượng GDP hầu như chỉ số giá CPI không có phản ứng gì trước cú sốc của hai biến này, chỉ có chút dao động nhỏ khi
xảy ra cú sốc. Phản ứng này tương tự với kết quả kiểm định ở bảng 3.5. Phản ứng như vậy cũng hợp lý đối với tình hình Việt Nam trong giai đoạn này. Ví dụ như từ năm 2008 đến năm 2011 do tình hình kinh tế rơi vào khó khăn, lạm phát tăng cao, nhằm khuyến khích sản xuất và kích cầu của người dân chính phủ đã thực hiện các biện pháp như miễn thuế thu nhập cá nhân, miễn giảm, gia hạn thuế thu nhập doanh nghiệp và các gói cho vay lãi suất thấp. Việc này làm giảm nguồn thu ngân sách, tăng bội chi ngân sách nhà nước nhưng lạm phát các năm này vẫn duy trì ở mức cao, việc sản xuất vẫn trì trệ.
Quan sát phản ứng của GDP đối với cú sốc chỉ số giá ta thấy nay khi thời điểm cú sốc xảy ra sản lượng không có thay đổi đáng kể. Nhưng càng về sau trong dài hạn mức phản ứng càng tăng lên. Điều này có thể giải thích khi cú sốc lạm phát xảy ra tình hình sản xuất và hoạt động của nền kinh tế chưa phản ứng ngay lập tức, các ảnh hưởng có xảy ra nhưng chưa thấy rõ, nhưng về lâu dài lạm phát sẽ ảnh hưởng đến sản xuất làm cho sản xuất trì trệ, phát triển kinh tế sẽ bị chậm lại. Kết quả trên cho thấy giữa chỉ số giá và biến thâm hụt ngân sách không có nhiếu mối liên quan, còn giữa chỉ số giá và biến sản lượng mặc dù có mối liên kết nhưng chỉ là mối liên kết yếu, chưa chặt chẽ.
Phản ứng của chỉ số giá CPI có xảy ra sau cú sốc tỷ giá ER nhưng chỉ một thời điểm ngắn thể hiện rõ nhất ở kỳ thứ 3, thời gian còn lại hầu như không bị ảnh hưởng gì.
Điều này cũng phù hợp với kiểm định Granger Causality, tỷ giá không có ảnh hưởng đến chỉ số giá. Đối với nền kinh tế Việt Nam giai đoạn từ 2008 trở về trước tỷ giá được giữ tương đối cứng nhắc, chỉ đến năm 2008 mới có đợt điều chỉnh biên độ tỷ giá lớn, cụ thể lần phá giá gần đây nhất năm 2011 là 9.3%. Do vậy mà tác động tỷ giá lên lạm phát mới không lớn như kết quả trên. Tương tự, tỷ giá ER cũng không có phản ứng khi có cú sốc về lạm phát( hình 3.2). Điều này được giải thích là do cơ chế điều hành tỷ giá của nước ta trong giai đoạn này. Kết quả này cho thấy giữa tỷ giá và lạm phát không có mối quan hệ chặt chẽ.
Hình 3.2: Phản ứng của các biến chính sách, sản lượng trước cú sốc chỉ số giá CPI
-20000 -10000 0 10000 20000
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Response of DIFBD to DIFCPI
-2 -1 0 1 2 3
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Response of DIFCPI to DIFCPI
-200 -100 0 100 200
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Response of DIFER to DIFCPI
-2000 -1000 0 1000 2000
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Response of DIFGDP2 to DIFCPI
-1.5 -1.0 -0.5 0.0 0.5 1.0 1.5 2.0
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Response of DIFIR to DIFCPI
-60000 -40000 -20000 0 20000 40000 60000
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Response of DIFM2 to DIFCPI
Response to Cholesky One S.D. Innovations ± 2 S.E.