Căn cứ vào tính chất cân đối ngân sách...6 III Các nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách Nhà nước và nguyên tắc thiết lập hệ thống thu NSNN...7 1.. Thu ngân sách Nhà nước là hệ thống các q
Trang 1MỤC LỤC
A NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 3
I) Khái niệm và vai trò của thu Ngân sách Nhà nước 3
1 Khái niệm 3
2 Vai trò của ngân sách Nhà nước 3
II) Phân loại thu ngân sách Nhà nước 4
1 Căn cứ vào nội dung kinh tế của các nguồn thu 4
a) Thu thuế 4
b) Lệ phí 5
c) Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước 5
d) Các khoản thu từ hoạt động sự nghiệp 5
e) Thu từ vay nợ 6
f) Thu khác 6
2 Căn cứ vào tính chất phát sinh của khoản thu 6
3 Căn cứ vào tính chất cân đối ngân sách 6
III) Các nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách Nhà nước và nguyên tắc thiết lập hệ thống thu NSNN 7
1 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách Nhà nước 7
2 Các nguyên tắc thiết lập hệ thống thu ngân sách Nhà nước 7
B ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ TỚI THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 8
I) Thực trạng thu, chi NSNN trong những năm 2006 – 2011 8
1 Thực trạng thu, chi và cân đối NSNN năm 2006 8
2 Thực trạng thu, chi và cân đối NSNN năm 2007 8
3 Thực trạng thu, chi và cân đối NSNN năm 2008 9
4 Thực trạng thu, chi và cân đối NSNN năm 2009 9
5 Thực trạng thu, chi và cân đối NSNN năm 2010 10
6 Thực trạng thu, chi và cân đối NSNN năm 2011 10
II) Ảnh hưởng của các nhân tố tới thu NSNN 10
1 GDP bình quân đầu người 10
Trang 22 Tài nguyên thiên nhiên 12
3 Tỷ suất doanh lợi 14
4 Mức độ trang trải chi phí của Nhà nước 14
5 Tổ chức bộ máy thu nộp 15
C XU HƯỚNG THAY ĐỔI THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC KHI VIỆT NAM ĐÃ GIA NHẬP WTO 16
I Những yêu cầu cơ bản của WTO 16
II Thực trạng thu NSNN khi Việt Nam gia nhập WTO 17
III Cam kết và tác động của những cam kết khi gia nhập WTO ảnh hưởng tới thu, chi NSNN 20
Trang 3A NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU NGÂN SÁCH
và phân phối nguồn lực tài chính quốc gia, để hình thành quỹ tập trung của Nhà nước
nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình.
Thu ngân sách Nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với cácchủ thể trong xã hội phát sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trungquan trọng nhất của Nhà nước (quỹ ngân sách) nhằm đẳm bảo thực hiện các chức năngcủa Nhà nước về mọi mặt
2 Vai trò của ngân sách Nhà nước.
Ngân sách Nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu và thực hiện sự cân đối thu chi tài chính của Nhà nước Đây là vai trò truyền
thống của NSNN trong mọi thời đại, mọi chế độ xã hội kể từ khi Nhà nước ra đời Vaitrò này xuất phát từ sự cần thiết khách quan của sự ra đời và tồn tại Nhà nước, nó gắnchặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trình tồn tại và thực hiện nhiệm vụ củamình, nó quyết định đến sức mạnh của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử
Ngân sách Nhà nước là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội.
- NSNN là công cụ định hướng phát triển kinh tế, hình thành cơ cấu kinh tế mới và
kích thích tăng trưởng kinh tế Đây là một công cụ chủ yếu để tác động và hướng các
hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế theo quỹ đạo mà Nhà nước hoạch định, từ đógóp phần hình thành nền cơ cấu kinh tế mới, đồng thời góp phần thực hiện các mục tiêutăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững
- NSNN là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát Về
nguyên lý, mọi sự biến động giá cả đều có nguyên nhân từ sự mất cân bằng cung cầu
Trang 4Bằng việc sử dụng các công cụ thuế và chi tiêu NSNN, Nhà nước có thể tác động vàotổng cung hoặc tổng cầu để điều tiết thị trường và bình ổn giá cả.
- NSNN là công cụ điều tiết thu nhập và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội.
Hiện nay, xã hội loài người luôn đặt ra những vấn đề cần giải quyết như đảm bảo côngbằng xã hội, hạn chế và giải quyết sự đói nghèo, lạc hậu, điều kiện sống khó khăn củamột bộ phận dân cư… Để thực hiện các mục tiêu này, chính sách thuế và chi tiêu NSNN
được xem là những công cụ quan trọng và cần thiết
Ngân sách Nhà nước là công cụ kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế - xã hội.
Nhà nước sử dụng NSNN làm công cụ để kiểm tra, giám sát quá trình hình thành, phânphối và sử dụng quỹ NSNN theo những mục đích đã định Việc kiểm tra, giám sát củaNSNN luôn dựa trên quyền lực Nhà nước và mang tính đơn phương theo phân cấp của
hệ thống bộ máy hành chính Nhà nước
II) Phân loại thu ngân sách Nhà nước.
1 Căn cứ vào nội dung kinh tế của các nguồn thu.
- Thuế mang tính chất bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp Thuế được Nhà nước
áp đặt bằng quyền lực chính trị được thể chế hóa bằng luật pháp cho nên mọi tổ chức và
cá nhân đều phải nghiêm chỉnh chấp hành nếu không thực hiện sẽ phải bị xử lý theo luậtpháp
- Thuế được thiết lập dựa trên nguyên tắc luật định Nguyên tắc này bắt buộc mọi
sự thiết lập các sắc thuế hay sửa đổi các điều khoản thuế phải do đạo luật quy định
- Thuế làm chuyển đổi quyền sở hữu từ tập thể và cá thể thành sở hữu toàn dân.Việc chuyển quyền sở hữu này được quy định bởi chức năng quản lý toàn bộ nền kinh tế
Trang 5quốc dân của Nhà nước và biểu hiện sự thống nhất lợi ích giữa Nhà nước với các thànhphần kinh tế, các cá nhân trong xã hội
- Trong nền kinh tế thị trường thuế được coi là công cụ quan trong để điều tiết kinh
tế vĩ mô
b) Lệ phí.
Lệ phí là khoản thu của NSNN vừa mang tính chất bù đắp chi phí cho việc thực hiệnmột số thủ tục hành chính của Nhà nước, vừa mang tính chất động viên đóng góp choNSNN Lệ phí cũng là khoản thu mang tính bắt buộc và chỉ những người được hưởngnhững lợi ích từ hoạt động quản lý hành chính của Nhà nước mới phải nộp lệ phí
Lệ phí là những khoản thu của NSNN mang tính bắt buộc, có tính chất đối giá vàmang tính hoàn trả trực tiếp
c) Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước.
Thu từ vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế: cổ tức được chia từ công ty cổphần, lãi được chia từ doanh nghiệp liên doanh…
Tiền thu hồi vốn của Nhà nước từ các cơ sở kinh tế: tiền thu từ bán đấu giá cổ phầnkhi cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, tiền thu từ bán doanh nghiệp Nhà nước…Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước: khi Nhà nước tiến hành hoạt động cung cấp tíndụng theo các chương trình khác nhau như tín dụng hỗ trợ phát trển, cho vay ưu đãi đốivới các đối tượng chính sách xã hội,… khoản thu hồi vốn và lãi phát sinh cũng là nhữngkhoản thu của NSNN
Tiền thu bán hoặc cho thuê tài sản, tài nguyên quốc gia: cho thuê tài nguyên thiênnhiên như đất chuyên dùng, đất rừng; cho thuê mặt nước, vùng trời, mặt biển; bán tàinguyên, khoáng sản;…
d) Các khoản thu từ hoạt động sự nghiệp.
Nhà nước cấp kinh phí cho các tổ chức sự nghiệp công lập trong các lĩnh vực xã hội
Để bù đắp một phần chi phí này, các tổ chức côn lập tiến hành thu một số khoản phí nhưhọc phí, viện phí, thủy lợi phí… Đây là những khoản thu của NSNN vừa mang tính chất
Trang 6phục vụ cho người dân được thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động sự nghiệp công lập, vừamang tính chất động viên, đóng góp cho NSNN.
e) Thu từ vay nợ.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, khi vay nợ trong nước, Nhà nước thường sử dụnghình thức phát hành các loại trái phiếu Nhà nước như trái phiếu kho bạc, tín phiếu khobạc, trái phiếu đầu tư… để huy động vốn rộng rãi từ công chúng
Khi vay nợ nước ngoài, Nhà nước có thể ký hiệp định vay nợ với Chính phủ nướccung cấp tín dụng hoặc ký hiệp định vay nợ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế nhưNgân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á…
f) Thu khác.
Thu NSNN còn bao gồm các khoản tiền khác mà Nhà nước thu được như các khoảnviện trợ không hoàn lại; các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong vàngoài nước như đóng góp cho quỹ an ninh, quỹ phòng chống thiên tai, quỹ vì ngườinghèo; thu từ hợp tác nước ngoài; thu tiền phạt, tịch thu tài sản, kết dư Ngân sách…
2 Căn cứ vào tính chất phát sinh của khoản thu.
Thu thường xuyên: Là những khoản thu của NSNN phá sinh có tính chất thườngxuyên, trong đó chủ yếu nhất là các khoản thuế và lệ phí
Thu không thường xuyên: Là những khoản thu phát sinh có tính chất không thườngxuyên hay bất thường như tiền bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước, bán cổ phần thuộc sởhữu Nhà nước, thu viện trợ, vay nợ…
3 Căn cứ vào tính chất cân đối ngân sách.
Thu trong cân đối NSNN: là các khoản thu được xác định và thực hiện trong mốiquan hệ cân đối với chi NSNN Thuộc khoản thu này bao gồm các khoản thu thườngxuyên và không thường xuyên
Thu ngoài cân đối NSNN: khi lập dự toán NSNN, nếu số thu NSNN không đủ đápứng nhu cầu chi NSNN trong một năm nào đó thì Nhà nước phải huy động thêm cácnguồn khác, mà chủ yếu là đi vay
Trang 7III) Các nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách Nhà nước và nguyên tắc thiết lập hệ thống thu NSNN.
1 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách Nhà nước.
Thu nhập GDP bình quân đầu người: là một yếu tố khách quan quyết định mức độngviên của ngân sách Nhà nước
Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế: là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của đầu
tư phát triển nền kinh tế nói chung và hiệu quả của các doanh nghiệp nói riêng Tỷ suấtlợi nhuận bình quân càng lớn phản ánh khả năng tái tạo và mở rộng của các nguồn thunhập trong nền kinh tế càng lớn, từ đó đưa tới khả năng nâng cao tỷ suất huy động choNSNN
Khả năng xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên: đối với các nước có nguồn tài nguyênthiên nhiên dồi dào, phong phú thì đây là nguồn thu to lớn cho NSNN
Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước: khi các nguồn tài trợ khác chochi phí hoạt động của Nhà nước không có khả năng tăng lên, việc tăng mức độ chi phícủa Nhà nước sẽ đòi hỏi tỷ suất thu của ngân sách cũng tăng lên
Tổ chức bộ máy thu nộp: nếu tổ chức hệ thống cơ quan thuế, hải quan, kho bạc Nhànước gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống được thất thu do trốn thuế, lậu thuế thì đây sẽ làyếu tố tích cực giảm tỷ suất thu NSNN mà vẫn thỏa mãn được các nhu cầu chi tiêu
2 Các nguyên tắc thiết lập hệ thống thu ngân sách Nhà nước.
Nguyên tắc ổn định và lâu dài: nguyên tắc này vừa tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế hoạch hóa ngân sách, vừa kích thích người nộp thuế cải tiến đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh
Nguyên tắc đảm bảo sự công bằng: nguyên tắc này đòi hỏi việc thiết lập hệ thống thuế phải có quan điểm công bằng đối với mọi người chịu thuế, không phân biệt địa vị
Trang 8B ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ TỚI THU
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
I) Thực trạng thu, chi NSNN trong những năm 2006 – 2011
1 Thực trạng thu, chi và cân đối NSNN năm 2006.
Thu NSNN năm 2006, ước cả nước đạt 264,260 tỷ đồng, vượt 11,1% so với dự toán,chủ yếu do yếu tố tăng thu từ dầu thô do tăng giá bán, thu nội địa và thu cân đối từ hoạtđộng xuất nhập khẩu đều đạt và vượt dự toán, một mặt do phát triển sản xuất kinh doanh,mặt khác do yếu tố và điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu xăng và tăng cường quản lýthu, chống thất thu, nợ đọng thuế…
Tổng chi NSNN dự toán 294,400 tỷ đồng, ước cả năm đạt 321,377 tỷ đồng, tăng 9,2
% (26,977 tỷ đồng) so vói dự toán, tăng 20,9% so với thực hiện năm 2005
Bội chi NSNN năm 2006 Quốc hội quyết định là 48.500 tỷ đồng, bằng 5% GDP, ướcthực hiện cả năm 48.500 tỷ đồng, bằng 4,98% GDP, được bù đắp bằng nguồn vốn vaytrong cả nước 36.000 tỷ đồng và nguồn vay ngoài nước 12.500 tỷ đồng
2 Thực trạng thu, chi và cân đối NSNN năm 2007.
Dự toán thu NSNN Quốc hội quyết định 281.900 tỷ đồng, phấn đấu cả năm ước đạt287.900 tỷ đồng, vượt 2,1% (6 tỷ đồng) so với dự toán, tăng 11,6% so với thực hiện năm2006
Dự toán chi Quốc hội quyết định là 357.400 tỷ đồng, bao gồm cả nhiệm vụ chi từ sốthu kết chuyển năm 2006 sang năm 2007 (19.000 tỷ đồng), ước tính cả năm đạt 368.340
tỷ đồng, tăng 3,1% (10.940 tỷ đồng) so với dự toán, bằng 32,3% GDP, tăng 14,6% sovới thực hiện năm 2006
Bội chi NSNN năm 2007 được Quốc hội quyết định là 56.500 tỷ đồng, ước tính cảnăm là 56.500 tỷ đồng, chiếm 4,95% GDP (tính theo Thống kê tài chính Chính phủ -GFS là 1,7% GDP), bằng mức Quốc hội quyết định, được đảm bảo bằng các nguồn vay
bù đắp bội chi đúng với dự toán
Trang 93 Thực trạng thu, chi và cân đối NSNN năm 2008.
Nguồn thu không nhưng chưa bảo đảm bền vững mà còn đáng lo ngại cả trước mắt
và lâu dài Vì nếu trừ nguồn thu từ thu tiền sử dụng đất (khoảng 38202 tỷ đồng) thìnguồn thu nội địa từ bản thân nền kinh tế chỉ chiếm 37,4% là quá thấp Trong khi đó,những nguồn thu bấp bênh lại quá cao, chiếm tới 54% như mua bán dầu thô, bán than,thu tiền sử dụng đất, thuế xuất nhập khẩu, tự vay, thu viện trợ
Dự toán cho Quốc hội quyết định là 398.980 tỷ đồng, ước thực hiện cả năm đạt474.280 tỷ đồng, vượt 18,9% so với dự toán, tăng 22,3 % so với thực hiện năm 2007
4 Thực trạng thu, chi và cân đối NSNN năm 2009.
Tổng thu NSNN cả năm 2009 đạt 390.650 tỷ đồng, bằng 100,2% dự toán (vượt 750
tỷ đồng) Thu nội địa đạt 101,9% dự toán (vượt 6.650 tỷ đồng), thu từ dầu thô ước đạt91,1% dự toán (giảm 5.700 tỷ đồng), thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩuđạt 98,6% dự toán (giảm 1.200 tỷ đồng ), thu viện trợ ước đạt 6.000 tỷ đồng (tăng 1.000
tỷ đồng) so với dự toán
Chi NSNN ước đạt 533.000 tỷ đồng, tăng 8,5% ( 41.705 tỷ đồng) so với dự toán.Trong đó, chi đầu tư phát triển tăng 20,1% (22.700 tỷ đồng) so với dự toán, chiếm 25,4%tổng chi NSNN và bằng 8,1% GDP Chi trả nợ và viện trợ tăng 10,2% (6.000 tỷ đồng) sovới dự toán, chi điều chỉnh tiền lương ước tính cả năm đạt 36.600 tỷ đồng
Kết luận, số bội chi NSNN năm 2009 là 128.250 tỷ đồng, bằng 7% GDP, tăng40.959 tỷ đồng so với dự toán Với mức bội chi trên thì đến 31/12/2009, dư nợ Chínhphủ (bao gồm cả nợ trái phiếu Chính phủ) khoảng 40% GDP, dư nợ nước ngoài của quốcgia khoảng 30,5% GDP Những con số này vẫn nằm trong giới hạn bảo đảm an ninh tàochính quốc gia và ổn định các chỉ tiêu
Tổng dự toán chi cân đối NSNN đạt 637.200 tỷ đồng, tăng 9,4% so với dự toán, tăng9% so với thực hiện năm 2009
5 Thực trạng thu, chi và cân đối NSNN năm 2010.
Tổng thu NSNN năm 2010 ước đạt 462.500 tỷ đồng, đạt tỷ lệ động viên 23,9%GDP, trong đó thu từ thuế và phí là 22,4% GDP Dự toán thu nội địa 294.700 tỷ đồng,
Trang 10tăng 23% so với ước thực hiện năm 2009, không kể thu tiền sử dụng đất thì tăng 25,4%.
Dự toán thu từ dầu thô 66.300 tỷ đồng tăng 14,3% so với ước thực hiện 2009 Thu cânđối từ hoạt động xuất khẩu là 95.500 tỷ đồng, tăng 9,8% so với ước thực hiện năm 2009.Thu viện trợ không hoán lại 5.000 tỷ đồng
Tổng chi cân đối NSNN là 582.200 tỷ đồng, mức bội chi NSNN là 119.700 tỷ đồng,bằng 6,2% GDP Dư nợ Chính phủ đến hết ngày 31/12/2010 chiếm 44,3% GDP
Để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và khả nâng tài trợ trong năm,mức bội chi NSNN năm 2010 dự tính là 120.600 tỷ đồng, bằng 5,,3% GDP
6 Thực trạng thu, chi và cân đối NSNN năm 2011.
Tổng thu NSNN năm 2011 ước đạt 674.500 tỷ đồng, đạt 113,4% dự toán, tăng xấp
xỉ 21% so với cùng kỳ năm 2010 Thu nội địa ước 390.000 tỷ đồng, đạt 102% dự toánnăm, tăng 16,6% so với cùng kỳ 2010 Thu từ dầu thô ước 100.000 tỷ đồng, đạt 144,3%
dự toán, tăng 35,9% so với cùng kỳ Thu từ xuất nhập khẩu ước 186.833 tỷ đồng, đạt99% dự toán năm, tăng 19,3% so với cùng kỳ 2010 Thu NSNN cả năm 2011 ước tính cóthể tăng 23,4% so với năm 2010
Tổng chi NSNN lũy kế cả năm ước đạt 796.000 tỷ đồng Trong dó chi NSNN khôngbao gồm trả nợ khoảng 732.000 tỷ đồng, bằng 101% dự toán năm, chi cho đầu tư pháttriển 175.000 tăng 2,34%, chi trả nợ, viện trợ lũy kế 11 tháng đạt 93.410 tỷ đồng, bằng108,6% dự toán, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm 2010 Chi phát triển kinh tế - xã hội –
an ninh, quốc phòng lũy kế đạt 442.890 tỷ đồng, bằng 94,4% dự toán, tăng 26,3%
II) Ảnh hưởng của các nhân tố tới thu NSNN.
1 GDP bình quân đầu người.
Là một chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng của một quốc gia, phản ánh khả năng tiết kiệmtiêu dùng và đầu tư của một nước GDP bình quân đầu người là một nhân tố khách quanquyết định mức động viên của NSNN
Năm 2009 nền kinh tế đang có dấu hiệu chuyển biến tích cực, xu hướng phục hồi
rõ nét Thế nhưng giữa những lạc quan vẫn xen nhiều lo lắng khi nhiều chỉ tiêu khôngthực hiện bền vững của tăng trưởng Tăng trưởng GDP quý 3/2009 đạt mức 5.76% cao
Trang 11hơn rất nhiều con số 4.5% đạt được trong quý 2/2009 Chốt lại, tốc độ tăng trưởng 9tháng đầu năm 2009 đạt 4.56% (số liệu tổng cục thống kê) và mục tiêu tăng GDP khoảng5% trong năm 2009 dường như đã nằm trong tay
Nhưng xét trên những động lực kéo bật nền kinh tế vươn lên khỏi suy giảm trong 9tháng qua, nhiều chỉ tiêu không đạt bền vững tăng trưởng Khoảng hơn 60% dân số đang
“cống hiến” chỉ bằng 1.75% tăng trưỏng của khu vực sản xuất nông, lâm ngư nghiệptrong 9 tháng qua Trong khi đó, tình hình thiên tai ngày càng phức tạp, sản xuất nôngnghiệp được cho là đã đạt ngưỡng không thể tạo ra sức tăng đốt biến Trong khi đó, khuvực công nghiệp và xây dựng, đòn bẩy cho mục tiêu tiến lên nền kinh tế công nghiệp hoávào năm 2020 của Việt Nam, vẫn chưa thể hiện được vai trò đầu tàu Kết quả sản xuất 9tháng của khu vực này chỉ đạt mức tăng trưởng 4.48% thấp hơn mức độ tăng trưởngchung của cả nước
Nhìn vào thực tế các ngành công nghiệp, vấn đề còn nghiêm trọng hơn Công nghiệpchế biến đạt tăng trưởng thấp nhất, chỉ 2% và thấp hơn cả tốc độ tăng trưởng của ngànhlâm nghiệp (2.5%) và thuỷ sản (2.7%)
Phần động lực đang ở lĩnh vực không khuyến khích tăng trưởng về lượng
Ví dụ như công nghiệp khai thác tăng tới 8.2%, hay những lĩnh vực phát triển theo sauchính sách kích cầu như xây dựng tăng 9.7%, lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểmtăng 8.1% mức bán lẻ (bao gồm cả phần chi tiêu chính phủ) tăng 10.2% đã loại trừ yếu
tố giá… Nhưng lĩnh vực vốn đang bị xem là sự méo mó trong phân bổ nguồn lực,
và chỉ phục hồi do chính sách giải cứu mạnh tay của Việt Nam
Tốc độ tăng trưởng cao nhất là ngành dịch vụ là mức 8.4% thuộc lĩnh vực vận tảibưu điện, du lịch cũng chưa phản ánh đúng mức những đóng góp thực sự Khi đó một
số nước trong khu vực du lịch quốc tế tăng trong 9 tháng đầu năm, Việt Nam lại giảm tới16%
Tốc độ tăng trưởng đột biến của một số ngành kinh tế, thực chất đang phải dựa dẫmvào nguồn cung tiền từ chính sách tài chính nới lỏng Do nhiều chính sách kích cầu đầu
tư và tiêu dùng, đầu tư toàn xã hội 9 tháng đầu năm nay đạt tăng trưởng khá cao, tổngvốn thực hiện đạt 483.2 nghìn tỷ đồng tăng 14.4% so với cung kì Tuy nhiên, tăng chi