Sự xuất hiện và tổn tại trên trường quốc tế những quốc gia mới, chính phủ mới với những quy chế pháp [ý hoàn toàn khác với quy chế pháp lý của những quốc gia, chính phủ đã tổn tại trước
Trang 1VÂNN PHA - CỎMG í Ẳ" OẪMPnrĩHlAí? í ỉ.ĩ ? ì ỉ ? í .u u , Ị f v ? r v ; ý ị j " ị \ V i - % ? ? % } tí ị % ỉ \
■ •■•■ vf*s 'V ' V • - • "•■
■& "W
-f ) b \ 1 >
NíỉVOĩ íi* 'ONG D,VN ,'vỉi< > í' < * *v T ? r J íf
VỊỆN VR- An : VÌỆN NỉiHĩ ■■ í ; ' ?ỉ i i Ị V fi;ị ịp ị;íị&
't.‘ 4 ị '% ' ? V i? '"Ị -í -í \
ĩ í : \ S ỉ ?:l
Trang 2-BÔ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI
VÀ N HÂN VĂN Q U ỐC GIA
VANN PHAL - CÔNG DÂN CẢMPƯCHIA
Chuyên ngành: LU ẠTQ U Ỏ C TẼ
Mã sỏ: 50512
Viện trường Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật
Trang 3LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan dủy là công trình nghiẽn cứu của riêng tôi Các số liệu, íết quả nghiên cứu nêu trong Luận án là trung thực và tôi xin chịu trách nhiệm /ề tất cả những số liệu và kết quả nghiên cứu đó Luận án này chưa từng được ai
;ông bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngàv 14 tháng 4 năm 2000
Tác giả Luận án
V A NN PHAL
Trang 4MỤC LỤC
S ố trang
Chương 1 : 'Thực trạng công nhận Quốc tế từ năm 1917 đến nay 07
1.1 Thực trạng công nhận Quốc tế từ Cách mạng tháng Mười Nga năm 07
1917 đến kết thúc Đại chiến thế giới lần thứ 2 năm 1945
1.2 Thực trạng công nhận Quốc tế từ sau Đại chiến thế giới lần thứ 2 15(năm 1945) đến cuối những năm 1980
1.3 Thực trạng công nhận Quốc tế từ những năm 1990 trở lại đây 60Chương 2: Nội dung vấn để công nhận trong luật Quốc tế hiện đại 64 f
2.2 Sự công nhận Quốc tế và cuộc đấu tranh tư tường hệ quanh vấn đề 69công nhận quốc gia và Chính phủ
3.1 M ộ t s ố vấn đề tổng q u át vể h iệu q u ả c ủ a c h ế định c ỏ n g n h ận Q u ố c 130 r
tế trong giai đoạn hiện nay
3.3 Vai trò của sự cỏng nhận Quốc tế trong giải quyết vấn đề quy c h ế 136 »thành viẻn cùa liên hợp quốc
3.4 Sự công nhận đối với Vương quốc Cămpuchia từ 1955 đến nay 151
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của để tài
Hợp tác và hỏi nhập quốc tế ngày càns trờ thành yẻu cầu bức thiết đối với các quốc gia Phát triển quan hệ hợp tác quốc tế, tiến hành các hoạt đỏng tiến tới hội nhập khu vực và toàn cầu tất yếu đặt ra hàng
loạt vấn đề phức tạp, c ần n g h iê n cứu, trong đó có vấn đề lý luận về c ô n g n hận
trong pháp luật quốc tế
Sự xuất hiện và tổn tại trên trường quốc tế những quốc gia mới, chính phủ mới với những quy chế pháp [ý hoàn toàn khác với quy chế pháp lý của những quốc gia, chính phủ đã tổn tại trước đó đã đặt ra hàng hoạt vấn đề phức tạp buộc các quốc gia, chính phủ khác phải xử lý, bày tỏ thái độ của mình trong quan hệ hợp tác quốc tế với quốc 2Ĩa, chính phủ mới xuất hiện Một trong nhữns phươns thức bày tỏ thái độ chính thức cúa quòc gia, chính phủ đối với sự xuất hiện và tổn tại của các quốc 2Ía chính phù mới là sự công nhận hay khòn2 công nhận vé mặt quốc tế đối với quốc gia, chính phủ mới được thành lập Sự cò n s nhận hoặc khòng còng nhận như vậy phải dựa trên cơ
s ả lv luận và thực tiễn pháp luật quốc tế, đường lối đối ngoại của mỗi quốc gia, chính phú cụ thể Tuy vậy, việc nghiên cứu cơ bán lý luận còng nhận quốc tế ờ Việt Nam và Campuchia ít được quan tàm nhiều vấn đề pháp Ịý chưa được làm rõ Trong giai đoạn hiện nay, nghièn cứu các vấn đề lý luận về công nhộn quốc tế đã trở thành vấn đề cấp thiết để có giải pháp thích hợp trong điều kiện đổi mới quan hệ quốc tế, góp phẩn hạn chế sự lúng túnơ trong việc xử lý các vấn đề phát sinh, tránh cách nhìn phiến diện, hiểu sai bàn chất của chế định cỏng nhận theo pháp luật quóc tế, hiểu sai chính sách đối ngoại của từng quốc gia, chính phủ cụ thể Đối với đất nước Campuchia, nghiên cứu
cụ thể, có hệ thống quan điểm, thực tiễn cùa các nưóe về vấn đề cổng rihận trong luật quốc tế hiện dại còn là yêu cầu hết sức cấp thết trong điều kiện hội
Trang 6nhập khu vực và hội nhập toàn cầu, trước mất là chuẩn bị các cơ sờ pháp lý
cần thiết cho việc thực hiện các nghĩa vụ cùa thành viên ASEAN, các hoạt động quốc tế trong khu vực Chủu Á - Thái Binh Dương, cũng như các hoạt động ờ các tổ chức quốc tế phổ biến khác
Tất cả những luận cứ được trình bày trên đây đã nói vể tính cần thiết của đề tài nghiên cứu này
2 Tinh hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua ở Việt Nam và Campuchia đã có một số bài viết, công trình nghièn cứu về các vấn để pháp luật quốc tế trong đó có đề cập ít nhiều đến chế định công nhộn trong luật "quốc tế hiện đại ở Việt Nam, trong
số các bài viết, cỏns trình nahiên cứu như vậy có thể kể đến các bài viết, công trình nghiên cứu của các luật gia như PGS.TS Đào Trí ú c , PTS Đinh Ngọc Vượns, PTS Đoàn Năng, PTS Hoàng Phước Hiệp PTS Bùi Xuân Nhự, PTS Nsuvễn Văn Luàt, PTS Hà Hùng Cườns, Bà TS Nsò Bá Thành PTS Nguvễn
Bá Sơn, Th s Nsuvẻn Truns Tín Th s Nguyễn Hữu Tráng Tronw một số
2Ĩáo trình luật quốc tế của Trườns đại học luật Hà Nội, Khoa Luật, Trường đại học Khoa học xã hội và nhân vãn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội trong thời gian gần đây đã có chương riêng chế định công nhộn trong luật quốc tế Tay vậy, các bài viết trực tiếp chuyên về chế định còng nhận trong luật quốc
tế hiện đại còn ít và mới chỉ đề cộp đến một số vấn đề [ý luận chun2 của pháp luật quốc t ế
ở nước ngoài, một số vấn đề lý luận cơ bản về còng nhộn trong luật
quốc tế hiện đại đ ã được luật gia các nươc nghiên cứu T ro n a đó đó có thể kể
đến các công trình nghiẻn cứu cùa các tác giả Xô Viết như Bobrov R.L, Durdenevskij V.N., Pheldman D.I., Levin D.B., Olenev c , Cozhevnikov Ph.I, Lukishuk I.I, Tunkin G.I, Curdukov G.U., Kophman B.Ư., Minaazov L.Kh., các còng trình của một số »ác giả ở các trường đại học ờ Pháp, Đức Mỹ-
Trang 7Nhật Bản, Oxtrãylia Tuy vậy, sự phân tích và đinh giá 1Ý luận và thực tiễn
vấn đề công nhộn trong luật quốc tế ờ các nước Đỏng Dương chưa sâu, và có
thể có những kết luận chưa thật thoã đáng
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Luận án có mục đích nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn ván đề cồng
nhận trong luật quốc tế hiện đại, có kết hợp với phân tích một số trường hợp
tiêu biểu để làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận cổng nhận trong luật
quốc tế Từ đó, hiện đại kiến nghị một số giải pháp trong xử lý vấn đề công
nhận quốc gia, chính phú mới thành lập trons điều kiện quốc tế hiện nay
- Với muc đích nghiên cứu như trèn, Luân án có những nhiệm vụ nơhièn cứu cụ thẻ sau đày :
Thứ nhất : Nghiên cứu, và đánh giá thực trạng cúa việc công nhận
quốc tế từ năm 1917 đến nay đặc biệt là vấn đề công nhân Chính phủ
Campuchia qua các siai đoạn phát triển;
Thứ h ã i: Phàn tích về mặt khoa học những quan niệm khác nhau tronơ
luật quốc tế về việc CÒU2 nhận quốc gia, chính phù và các chú thể khác, cđc
phươns thức cổng nhận quốc tế để từ đó có nhận xét và đánh giá các kết quả
pháp lv của việc côns nhận trong luật quốc tế hiện đại;
Thứ bn : Phàn tích và đ;ính giá sơ bộ chính sách đối ngoại cua quốc gia,
chính phủ thỏnsi qua việc phản tích và đánh giá chính sách công nhận hoặc
khôns còng nhạn quốc tế cùa quốc gia, chính phủ đó
Trên cơ sờ aiải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn aèu trèn, luận
án đưa ra nhữns kiến nshị áp dunV- c r ^ 2 chế đinh còng nhàn trona luật c • •
quốc tế hiện đại
Trang 84 Đối tượng và phạm vi nghiẻn cứu của luận án
Do tính chất đa d ạ n2 và phức tạp cùa các vấn đề công nhận quốc tế nên tác giả khỏng có điều kiện để xem xét tất cả các khía canh, các nội dung, các giải pháp, các hoạt động nsoại giao liẻn quan đến chế định công nhận trong luật quốc tế ở các nước khác nhau, và cũng không thể nghiên cứu đến các ván
đề có tính chất nhạy cảm trong quan hệ giữa các quốc gia, chính phủ Luận án chỉ đi vào giải quyết nhữns vấn để cơ bản của để tài về mặt lý luận pháp luật quốc tế như thực tế công nhận quốc tế, các quan niệm khác nhau về công nhận quốc tế, các thể loại công nhận quốc tế chủ yếu, các hình thức và phương pháp công nhận và kết quả pháp lý của việc công nhận quốc tế Tác giả luận án cũng đặt nhiệm vụ nshiên cứu về chế định còng nhận trong luật quốc tế áp dụng đối với Campuchia kể từ khi giành được độc lập dân tộc thoát khỏi ách thống trị của chủ nahTa thực dân và các 2Ĩa đoạn phát triển sau năm
1975 cho đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Tác 2Ìả luận án vận dụn2 các quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử như cơ sờ phươns pháp luận để đánh giá quan hệ quốc tế và hợp tác quốc tế giữa các quốc gia, quan điểm tôn về công nhận các quốc 2Ìa và chính phủ mới
Các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thốns được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài Tác giả đặc biệt chú V đến việc sử dựng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp lịch sử, phươnơ pháp luật học so sánh, phương pháp thống kẻ và phương pháp hệ thống
Trang 96 Đóng góp mới về mặt khoa học cùa luận án
Đóng góp mới về mặt lchoa học của Luận án thể hiện ỡ những điểm sau:
Thứ n h ấ t: Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên vể các vấn đề cỏng nhận trong luật quốc tế hiện đại ờ Việt Nam và Campuchia, trình bày một cách có hê thông các vấn đề lý luận về chế định công nhận trong luật quốc tế
Thứ h a i: Rút ra những kinh nghiệm từ thực tiễn công nhận quốc gia và chính phủ mới thành lập trong thời kỳ từ Cách mạng Tháng Mười Nga đến nay trons đó có chú ý nhiều đến thực tiễn của Campuchia; kiến nghị các giải pháp trong điều kiện đổi mới quan hệ quốc tế, phân tích tính tất yếu của việc hợp tác, công nhận lẫn nhau trons xu thế hội nhập khu vực và hội nhập quốc
tế Tác giả xem đây là căn cứ quan trọns để định hướng đổi mới quan niệm về công nhận quốc tế và đổi mới chính sách đối ngoại trong điều kiện mới
7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Kết quả cúa Luận án có thể góp phán vào việc :
Thứ n h ấ t: Nàng cao nhận thức về vai trò của pháp luật quốc tế trong thực hiện chính sách đối ngoại của quốc gia; nâng cao năng lực CÔ I 12 tác của các cán bộ và cơ quan hoạt động trong rinh vực đối ngoại; xác định cơ sờ khoa học cho các giải pháp đối ngoại trẻn trườns quốc tế
Thứ h ã i: Kết quà nghiên cứu có thể được dùno làm tư liệu để chuẩn bị cdc bài giảng cho các lớp bổi dưỡng, nàns cao kiến thức chuvèn món về pháp luật quốc tế cho cán bộ trong ngành nsoại giao của Campuchia, dùng làm tư liệu tham khảo khi bièn soạn các siáo trình, bài giảns về lý luận công nhộn quốc tế và các tài liệu về luật quốc tế ờ Việt Nam cũ n s như ờ Campuchia
Trang 10- b
-8 Bô cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh.xnục tài liệu tham khảo, luận án này
2ồm có 3 chương trong đó chia thành 14 tiết, với tổng số 175 trang đánh máy
Trang 11Công nhận quốc tế là chế định cùa luật quốc tê có liẻn quan hữu cơ với
các cuộc cải tạo chính trị - xà hội trons từng quốc 2Ía, cũna như trên trường quốc tế Các cuộc cách mạna xã hội, các cuộc nội chiến, chiến tranh giải
phóns dân tộc, các cuộc đào chính, bièn cô rhườns 2an liền với sự ra đời của các quốc gia, chính phù mới, nhữns thái độ mới cùa các quốc gia, chính phủ khác nhau Những "sự kiện to lớn" này dẫn đến sự cần thiết áp dụng chế định
đó của luật quốc tế tronơ suốt các siai đoạn khác nhao của sự phát triển lịch
sử quan hệ quốc tế
Trước Cách mạns thánơ Mười Nga nãm 1917, chế định công nhận quốc tế đã nhận được sự phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người phù hợp với quy luật vận độna khách quan của từn2 thời đại lịch sử Lịch sử áp dụng chế định cỏns nhận quốc tế đã chì ra bức tranh về cuộc đấu tranh quyết liệt giữa nhữns lực lượng tiến bộ và lực lượns phán đỏng trong quan hệ quốc tế thôn2 qua mức độ số lần quốc gia, chính phủ áp dụng chế định công nhận quốc tế để cổng nhận hoặc khỏna còng nhận quốc sia, chính phủ và các thực thể khác mới xuất hiện trên trường quốc tế
Trang 12Ớ giai đoạn lịch sử trước Cách mạng tháng Mười năm 1917 ngoài sự còn° nhận quốc gia và chính phủ, người ta còn thấy việc công nhận các bèn (ham chiến, côri2 nhận các bẻn khởi nghĩa Sự công nhận các bèn tham chiến
(0 xuất hiện vào đầu thế kỷ XIX do những cuộc chiến tranh của các thuộc địa Tâv Ban Nha ở Châu Mỹ chống lại các nước thực dân Năm 1827 Mỹ đã tiến hành c ô n g nhận các bèn tham chiến với Tây Ban Nha trons thời kỳ đó với tư cách là chủ thể của luật quốc tế có đủ quyền để chiếm đoạt, bất giữ các tàu thuvền của đối phươna theo luật lệ chiến tranh [95, 8-150] Sau khi Anh (13/5/1861) và Pháp (9/6/1861) côns nhận tình trạng dans chiến tranh giữa Bắc Mỹ và Nam Mỹ (1S6 1-1865) việc cô n s nhận các bèn tham chiến đã tTỞ thành một tập quán quốc tế (International usase) [97, 290] Trona thực tiễn quan hệ quốc tế ứ aiai đoạn này, naười ta cũng còn thấv sự còng nhận các bên khởi nghĩa, tuy rằng sự còng nhận này rát ít khi xày ra Lịch sứ quan hệ quốc
tế có shi nhận sự cỏ n s nhận các bèn khởi nghĩa ờ Chi Lê (năm 1891), ở Vènêxuèla năm 1892, ớ Cu Ba nãrn 1895 - 1897 V V Sự cò n s nhạn các bèn khới nghĩa khó phán biệt với sự công nhận các bèn tham chiến Đến nay gán như khònơ thấy trons thực tiễn quan hệ quốc tế thể loại cỏ n s nhận nàv [35, 23]
Trong thời 2Ĩan Đai chiến thế 2ĨỚĨ lần thứ nhất đã xuất hiện sư công nhận cấc dân tộc đang đâu tranh nhằm th ư c h iệ n quyền d â n tộc tự q u y ế t và hình thành thế loại côns nhận Chính phủ lưu vons và còns nhận các tô chức khấns chiến. Sự xuất hiện các thể loại còns nhận này phán ánh vai trò ngày càng tăng của Nhà nước x ỏ viết và phong trào giải phóns dân tộc trong sự phát triển theo chiều hướns nsày càng tiến bộ của pháp luật quốc tế (44, 40] Chế định công nhản quốc tế xuất hiện vào cuối thế kỳ XVI giữa thẻ kỷ XVII [42, 19] Sự còng nhận quốc tế đó đã phục vụ các 2Ìai cấp cám quyền khác nhau ờ các nước qua các thời kỳ lịch sử Chế định CÔÍ12 nhận quốc tế cho đến kết thúc Đại chiến thế giới lần thứ hai vãn chưa được pháp điển hoá Cho đến
Trang 13thời kỳ đó, những yếu tỏ quan trọng nhất của chế định này như: các thể loại công nhận quốc tế, các phương thức còng nhận quốc tế, quyền và nghĩa vụ của các quốc gia trong vấn để công nhận quốc tế, sự phân định các hỉnh thức còng nhận quốc tế, kết quả pháp lý của việc công nhận quốc tế và hàng loạt vấn đề khác liên quan đến việc áp dụng chế định cỏng nhận quốc tế được điểu chỉnh chủ yếu bằng các quy phạm tập quán quốc tế Trong một số trường hợp, việc cônơ nhận quốc gia và chính phủ mới thành lập được điều chỉnh theo các nguyên tắc chung của luật quốc tế hoặc được điều chỉnh bằng các điều ưóc quốc tế tay đôi hoặc đa phương, bằng các Nghị quyết của các tổ'chức quốc tế hoặc bằng công hàm của các cơ quan đại diện nsoại giao của các quốc gia hữu quan Vấn đề phức tạp còn ở chỗ các quốc gia giải quyết vấn đề này theo các cách thức khác nhau, không theo một "thồna lệ quốc tế1' nào cả trong việc
áp dụng chế định còng nhận quốc tế [54 6]
ở đây ranh giới 2Ĩữa pháp luật quốc tế-chính sách đối ngoại-ngoại giao
là đặc biệt năng động, không được xác định rõ ràĩì2 Chính vì vậy, Giáo sư G
I Tunkin trong cuòVLÝ luận về pháp luật quốc tế "đã kh ản s định rằng
"nhiều khi khó phân tách quv phạm pháp luật với quy tắc xử sự chính trị được thừa nhộn rộng rãi ờ lĩnh vực công nhận quốc tế" [51, 2661-
Sự phát triến của chè định công nhận quốc tế qua các thời kỳ lịch sử, đặc biệt là giai đoạn từ Cách m ạn2 Thána Mười năm 1917 đến kết thúc Đại
tộc, đấu tranh chống thuộc địa, đế quốc, và sự tác động to lớn của những thành tựu đạt được dưới chế độ Xò Viết, Nhà nước Liên Xô trong công cuộc xây dựng nền chuvẻn chính vô sản và đánh đuổi chủ nghĩa phát xít Sự hợp tác giữa Liên Xô - Hoa Kỳ - Anh - Pháp trong chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít đã làm cho chế định còng nhận quốc tế phát triển nhanh hơn, tạo ra thể loại còng nhận mới: Công nhận Chính phả lưu vong, công nhận các tổ chức kháng chiến Hàng loạt học thuyết tiến bỏ trong lĩnh vực công nhận quốc gia và chính phủ c ũ n2 ra đời ờ giai đoạn này, chẳng hạn Thuyết Stimsơn
9
Trang 14-[28, 426], [71, 183] khòna thừa nhộn các quốc 2Ĩa và chính phú được thành lập trẻn cơ sờ bạo lực, áp đặt của Chính phù nước ngoài hoặc Chính phù bù nhìn Thuyết Stimsơn do ông Stimsơn Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ đề xướng Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, thuvết này cũng thường được gọi là thuyết không công nhận Theo thuvết Stimsơn, nếu một quốc gia này được một quốc gia khác công nhận trái với các cam kết quốc tế, thì sự công nhận đó sẽ không
có giá trị pháp lý Các cam kết quốc tế mà thuyết này để cập đến được hiểu chủ yếu là Minh ước Paris năm 1928 (Hay còn gọi là Hiệp ước Bríand - Keỉloguè), thông qua đó các bên cam kết khưóc từ sử dụng chiến tranh như là một quốc sách của họ Đại hội đổng Hội quốc liên cũng thông qua nghị quyết theo đó không một quốc gia nào được phép công nhận quốc gia vi phạm Minh ước Paris năm 1928 Bộ Ngoại giao Mv đã tuyên bố Thuyết này sau khi Nhật Bản tấn Còn2 Mãn Chàu Lý năm 1931 Trons khi tuyên bố Thuyết này, Bộ Naoại giao Mỹ cũns khẳng định sẽ khổns chấp nhận bất cứ điều ước quốc tế nào được ký kết trái với các nguyên tắc của Minh ước Paris Iiăm 1928 Cho
dù Thuyết Stimsơn chì là thuyết có tính khuyến nshị, nhưng trona thực tiễn
IÌ2ƯỜÌ ta rất quan tâm đến việc sử dụna nó trong quan hệ đối với quốc gia mới thành lập Các quốc sia dựa vào đó để khước từ sự chấp thuạn bất cứ nghĩa vụ
lOặc c ô n g n h ậ n q u ố c tế n à o trái với n s u y ê n tấc nói trên T r o n s thực tiễn ch iến
b anh Trung - Nhật, nsười ta đã khước từ sự Cồn2 nhộn Nhà nước Mãn Châu được thành lập với sự hỗ trợ của lực lượns vũ tra n s của Nhật Bản trong ìhững năm 30 của thế kỳ này Một sô học thuyết chống phá phong trào giải )hóns, can thiệp vào c ò n2 việc nội bộ của nước khác cũng đã ra đời Đáng
| h ú ý nhất là học thuyết Tobar [28, 470] và thuyết Estrada [28, 607] Thuyết Estrada do òng Estrada Bộ trườns Ngoại giao Mexico đề xướng Trong thuyếtcủa minh, ôna Estrada tuyỏn bó rằng Chính phủ Mexico sẽ tự minh tự do quyết định việc xem xét xác lập quan hệ ngoại giao với các nước khác phù hợp với hoàn cành và thực tế của từng trường hợp Hay nói cách khác, nếu Chính phủ Mexico nhận thấy rằng sau việc thay đổi Chính phủ tại một nước
- 10
Trang 15thòng qua một cuộc cách mạng và Chính phù cách mana được Nhàn dân họúng hộ thì quan hệ nsoại siao có thể đươc xác lập Thuvết này đã bị giới luật
gia quốc tế phê phán nhiều bới vì nó đi trái với các nguyên tắc của ỉuật quốc
tế, đặc biệt là nguyên tắc dân tộc tự quyết và khôn2 can thiệp vào công việc nội bộ nước khác
1 I 2 Vấn đề còng nhận Nhà nước X ô Viết
Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười đã mở ra một giai đoạn mớitrong lịch sử pháp luật quốc tế và lý luận pháp luật quốc tế hiện đại [51, 3- 100], [26, 58-89] Quá trình hình thành các nguvèn tắc và chế định mới của pháp luật quốc tế đã được cứng cố và phát triển tiếp tục cùng với sự phát triển của các nguyên tắc pháp luật quốc tế tiến bộ, dân chủ của các siai đoạn trước Cuộc đấu tranh giữa các lực lượn 2 tiến bộ dân chù và [ực lượng phàn động, bảo thù trèn trường quốc tế ngày càng trò nên quyết liệt hơn Chính sách bao vây ngoại 2Ìao đối với Nhà nước Xô Viết đã được các nước đế quốc tiến hành rộna khắp Chế định còna nhận quốc tế đã được sử dụns như là vũ khí dùna
đẻ can thiệp vào công việc nội bộ của chính quyển cách m ạns vô sản, dùng
đè thực hiện chính sách khòns còri2 nhận Nhà nưóe Xô Viết Về phía Nhà rurớc Xô Viết, vấn đé sừ dụna chế dịuh còng nhộn quốc tế để phá vỡ th ế bị phong toá ngoại giao cũng đã được đặt ra và đã đạt được nhữnơ kết quả nhất định [36, 233-2451
Phân tích các tài liệu nshièn cứu vấn đề côns nhân Nhà nước x ỏ Viết cho thấy hai giai đoạn cơ bàn cần chú ý trong quá trình còng nhận đó là: giai đoạn từ khi cách mạng XHCN tháng Mười thành công đến khi thành lập Nhà nước Liên bang Cộng hoà XHCN Xò Viết (1922) và giai đoạn cừ 1924 đến
1933 (còn gọi là giai đoạn "đua nhau còng nhộn") [54, 43-53] Việc thành lập Liên Xò là một bước naoặt trons lịch sử công nhận Nhà nước Xô Viết từ phía quốc tế Việc nghiên cứu quá trinh công nhận Nhà nước Xô Viết trước năm
1922 cho ta rhấv, ó' giai đoạn đó quan hệ còng nhận Nhà nước Xò Viết thường
Trang 16là qưan hệ k h ó n s chính thức troi!2 việc khòng còng nhận ch ín h thức, quan hệ
-ònơ nhận dẻ h c to một phần, cóng nhạn ad hoc, và trong một số ít trường
đã có quan hệ công nhận de jure trẻn cơ sờ có đi có lại Như vậy, ờ giai joafl trước khi thành lập Liên x ỏ , về cơ bản chưa có quan hệ công nhận de ịnte đầy đủ giữa Nhà nước Xô Viết với các nước khác Cho đến ngày
Jó có II nước (Aíganistan, [ran, Thổ Nhĩ Kỳ, Balan Phần Lan, Látvi, Litva,
£stonia, Mông cổ , Bukhara, Khorezma) vốn là các nước phương Đông hoặc
là những nước vốn là thuộc đế quốc Nga hoàng Đối với nước Đức (nưóe thứ
12) đó là trường hợp naoại hệ tronơ quan hệ với nước Nga Xô Viết [53, 45].Các nước tư bản chủ nghĩa đã phàn ứng việc ra đời Nhà nước XHCN dầu tiên trèn thế aiới bằng chính sách không còns nhận quốc tế Trong nhật
ký của Tổng thống Pháp Pu-an-car có ghi ngày 08/11/1917 như sau :”CÓ tin xấu từ nước Nga Nhữna người Bỏnsêvích đã thắns Tôi sẽ cố gắng vận động các nước đổng minh không công nhận Chính phủ rnới" [43, 10] Chính phủ
Mỹ thì có cách nhìn nhận vấn đề hơi khác cách xử lý vấn để của Pháp Đầu năm 1917 Chính phù Mỹ đã công nhạn nhanh chóno Q iính phú lâm thời được lập tronẹ quá trình tiến hành Cách mạng tháng Hai với lv do: "Nếu như không còn® nhận Chính phù lâm thời thì cách mạng của nhữiia naười Bònsẻvích đã
nổ ra vào tháng ba năm 1917 chứ không phải chờ đến tháng 11" [48, 12] Do vậy, chính sách của Mỹ khỏnơ côns nhận Nhà nưóc x ỏ Viết đã khẳng định rõ sau Cách mạriă thána Mười Naàv 15/12/1917 Bộ Ngoại giao Mỹ đã phát hành chi thị đặc biệt cho tất cà các cơ quan đại diện ngoại aiao Mỹ trong đó nhấn mạnh lộp trườna của Mỹ là khỏnơ công nhận Chính phù Xô Viết Quan điểm cùa Chính phú Anh cũng tươnơ tự quan điểm Chính phủ Mỹ Ngày -1/11/1917, Đại sứ quán Anh tại nước Nơa đã thôna báo với giới báo chí về việc Chính phù nước Anh khòna cỏng nhận Chính phủ Xô Viết và từ chối v'tệc tiếp tục quan hệ nsoại siao với Chính phủ mới ở nưóc Nga Xô Viết
Tuy vậv, chính sdch khôno cồns nhộn Nhà nước Xô viết của các nưóc
Trang 17đế quốc khóns duy trì được lâu trước nhữno cỏ 2ắri2 ngoại siao to lớn cùa những người Bônsêvich Dưới sư lãnh đạo của V.I Lénin, Hiệp định về hoà bình và hữu nghị giữa Chính phủ Xô Viết với Đức, và sau đó là các nước đổng minh với Đức đã được ký vào ngàv 03/3/1918 Với Hiệp định nàv, các nhà nước đầu tiên công nhận de jure Nhà nước Xó Viết là Đức, Áo - Hung, Bungari và Thổ Nhĩ Kỳ, thế kìm toà nơoại giao đối vói Nhà nước Xô Viết đã
bị phá vỡ Tiếp sau Hiệp định Brest một số hoà ưóc khác đã được ký với Estonia, Litva, Phần Lan (năm 1920) Balan (1921) Đặc biệt Hiệp định năm
1921 với Anh và năm 1922 với Đức có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc bình thườnơ hoá quan hệ 2Ĩữa Nhà nước Xò Viết với các nước Phươns Tây [39, 10] Với sự thành cò n s trons việc ký kết Hiệp định thương mại năm 1921 với Anh và Hiệp định Rapallo năm 1922 với Đức, vấn để còng nhận chính thức - công nhận de jure Nhà nước Xô Viết chi còn là vấn đề thời sian Động
cơ chính trị trong việc cò n s nhộn đã trờ thành vấn để thứ yếu ở giai đoạn này.Chính sách ngoại 2Ĩao của các nước tư bàn đã thay đổi rất lớn sau khi
thành lập Lièn X ô sons mức độ thể hiện chính sách CỒI12 nhộn quốc tế đối
với Nhà nước Lièn Xô của các nước tư bán rất khác nhau Nước Anh là một trona nhũìiiỉ nước tư bàn đau tièn còns nhận de jurc Chính phù x ỏ Viết, song sau khi thành lập Liên x ỏ Chính phú Anh vẫn sứ dụna chế định còns nhận quốc tê để can thiệp vào còna việc nội bộ của Liên Xô Trons Côns hàm naày 01/02/1924, Chính phủ Anh tuyèn bố cỏng nhận Chính phủ Liên Xô với tư cách là Chính phu đe jure cùa nhữns lãnh thổ vốn thuộc đế quốc Naa Hoàng nay thuộc quyền cai quản của Chính phủ Xò Viết [45, 52] Nước Pháp cũng
có quan điểm tươna tự nước Anh Naày 28/ LO/1924 Thủ tướns Pháp gửi Chủ tịch Ưỷ ban dân uỷ x ỏ Viết và Bộ trườns nsoại giao Liên Xô bức điện, trong
đó nói rõ: "Nước Pháp cò n s nhận de jure Chính phủ Lièn Xô với tư cách là Chính phù của nhữns lãnh thổ vốn thuộc đế quốc Nga Hoàns, nơi Chính phủ này được dân cư còn2 nhận và Chính phú Pháp sẩn sàng nhanh chóng tham gia vào quan hệ nooại 2Ìao binh thườns bằns cách cùna nhau trao đổi đại sứ"
1.1
Trang 18-Mỹ là nước công nhận Lièn x ỏ muộn nhất trong sò những cường quốc trẻn
thế giới - Ngày 16/11/1933 Tổng thống Rousevelt và òng đại diện Dân uỷ Xô
Viết Litvinov đã trao đổi văn thư ngoại giao chính thức vê việc thiết lộp quan
hệ ngoại giao giữa Mỹ và Liẻn Xò [47, 37-43] Như vậy, việc công nhận quốc
tế Nhà nước x ỏ Viết được tiến hành rầm rộ sau khi Liên Xô được thành lập
Trong vòng 2 năm sau ngày thành lập, đã có 10 nước tuyên bố công nhận
Liên Xỏ và mong muốn thiết lộp quan hệ ngoại giao với Liên Xô Từ 1924
đến 1933 Liên Xô đã có quan hệ ngoại giao với 11 nước Cũng từ thời gian
đó, trong các tài liệu vể thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Liên Xô với các
nước, các công thức thể hiện chính thức việc công nhận quốc tế lẫn nhau giữa
Liên Xô và các nước không còn được sử dụng như trưóc đây nữa Liên Xô
ề
được thừa nhận rộns rãi là cưÒTis quốc có vai trò quan trọng trong đời sống
quốc tế
Nshièn cứu thực tiễn quốc tế vấn đề công nhận Nhà nước Xô Viết giai
đoạn này chúng ta nhận thấy :
- Thứ nhất, trons quá trình đấu tranh VI việc còng nhận quốc tế nền
nsoại giao Xô Vièl kiên trì tuàn theo quy tắc: trước tièn phái côn2 nhận đẩy
đủ nhau, và sau đó mới thảo luận các vấn đề khác nhau trong lĩnh vực hợp tác
giữa các nước hữu quan
- Thứ hai, thực tiễn công nhận Nhà nước x ỏ Viết ngày càng chỉ rõ hậu quà tiêu cực của việc phàn chia sự công nhận ra thành công nhận de facto
và cồng nhộn de jure. Sự côns nhận de íacto thườno được các nước đế quốc sử
dụng với tính cách là phương tiện để can thiệp vào côna việc nội bộ của các
nước mới độc lập
- Thứ ba, Sự còng nhận quốc tế Nhà nước Xổ Viết ỉà đòn chí mạng đối
với thuyết cấu thành và đối với còng cụ tư tường của lý luận tư bàn về công
nhận quôc tế Sự công nhận đó cũng đã giáng đòn chí mạng vào quan niệm
hồi tố của sự công nhận quốc tế, đã phá các mưu đồ cùa những thế lực bảo
14
Trang 19thù hòn2 dùn2 phươns tiện tư pháp, hoạt động cùa toà án đế chống lại quyền miễn trừ của Nhà nưóc x ỏ viết, chốna lại sự còng nhận hệ thòng pháp luật x ỏ Viết.
1 2 THỤC T R Ạ N G CÔNG NHẬN QUỐC TẾ T Ừ SAU ĐẠI CHIÊN
T H Ế GIỚI LẦN T H Ứ H A I ( N ă m 1945) ĐẾN cuối n h ũ n g n ă m 80
1 2 1 Nhận x é t chung
Sau Đại chiến thế giới lần thứ hai phong trào giải phóng dân tộc phát triển như vũ bão, ba trào lun cách mạng đã liên tiếp tấn công vào hệ thống thuộc địa đế quốc chủ nshĩa Dưới sự ảnh hưởng của xu thế tiến bộ đó, quá trình sụp đổ của hệ thốns thuộc địa đã bắt đầu và nsày càng nhanh Hcm 70 quốc gia ờ các châu lục khác nhau đã giành được độc lập Các quốc gia đó đã
ít nhiều sử đụnơ các chế định pháp luật quốc tế, troris đó có chế định công nhận quốc tế Chế định còns nhận quốc tế đã góp phần xứng đáng của mình vào quá trình phi thực dàn hoá và đặc biệt có ý nghĩa quan trọng sau khi Liên hợp quốc thôrm qua Tuyên ngôn năm 1960 trao trả độc lộp cho các nước và dân tộc thuộc địa (hay còn 2ỌĨ Tuyèn n2ôn phi thực dân hoá)
Ý nghĩa pháp lv quốc tế cúa Tuyên ngôn phi thực dân hoá là ờ chỗ nó tiếp tục phár triển nội duns nguyên tắc tự quyết cuả các dân tộc, củng cố cơ
sớ pháp lý của cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa giành độc lập, rự do tuyên bố tính bất hợp pháp của chủ nghĩa thực dân dưới mọi hình thức Vói sự
ra đời của Tuyên ngôn đó, Iihiều quốc gia mới đã tuyên bố độc lập, và chính những quốc gia, chính phủ mới lại phải đối mặt với những vấn để lý luận và thực tiễn liẻn quan đến chế định còng nhận quốc tế
Việc sử dụng chế định còng nhận quốc tế với tính cách là phương tiện của các quốc gia, chính phủ mới thành lập để bình thưòng hoá quan hệ với các quốc gia, chính phù kia và chính phủ mới được tiến hành trên cơ sở các
Trang 20- lo
-nơuyèn tấc và quy phạm tiến bó của pháp luật quòc tế và với sự hổ trợ của
quốc tế được tiếp tục duy trì và phát triển Ngoài ra, ờ giai đoạn này đã hình thành một số quan niệm mới về sự công nhận các tổ chức của phong trào giải phóng dân tộc và về sự công nhận các cơ quan lãnh đạo của phong trào giải phóng dân tộc Sự thừa nhận các thể loại công nhận mới này phần nào đó phản ánh vai trò ngày càna tăna của p h o n s trào giải phóng dân tộc ờ các nước Châu Á, Châu Phi, vai trò ngàv càng lớn của các nước XHCN trong phát triển
lý luận pháp luật quốc tế sau Đại chiến thế giới lần thứ hai
Việc côno nhận các quốc gia, chính phả, các tổ chức và cơ quan lãnh đạo phonơ trào giải phónơ dân tộc và công nhộn các thực thể mới khác mới xuất hiện trèn trườns quốc tế có liên hệ chặt chẽ với việc thiết lộp hoặc khôi phuc quan hệ giữa các quốc gia hữu quan Trona khi đó, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và còng nghệ, quá trình hội nhập và nhất thể hoá trons tất ca các ĩĩnh vực của quan hệ quốc tế nọàv càng được đẩy mạnh Một trong kết quà rõ nét của quá trình hội nhập đó là xu hướng thôns nhát hoá các quy tắc, quv phạm pháp luật các nước điều chinh các vấn đề quốc tế và phổ cập hoá pháp luật quốc tế Mối quan hệ giữa các nsuvèn tắc phổ cập cúa pháp luật quốc tế và các vấn đề cơ bàn của chế định còns nhộn quốc tế naày càng được khảns định trên mọi phương diện Việc sử dụna chính sách khỏns công nhận trong quan hệ đối với các quốc gia, chính phủ và các thực thể khác mới xuất hiện trong sinh hoạt quốc tế đã bị coi là hành vi không thân thiện, trái với nguvên tắc hợp tác giữa các nước theo quy định của Hiến chương Liên hợp quốc
Tuy vậy việc pháp điẻn hoá chế định còn° nhận quốc tế vẫn còn là vấn
đề khá phức tạp vói các lý do chủ yếu sau;
I
Thứ nhất, khó để nhận dạns hoặc chi ra các quy phạm pháp luật quốc tế thực định trong lĩnh vực công nhận quốc tế Chế định công nhộn quốc tế vẫn chủ yếu tổn tại và phát triển rrẻn cơ sờ các quy phạm tập quán
Trang 21- 1 /
-Thứ hãi, nội đung của hàng loạt quy phạm pháp luật liên quan đến chế định còng nhộn quốc tế (như phân chia sự công nhận ra thành công nhộn de jure, de fãcto, vấn đề hồi tố trong CÔQ2 nhận quốc tế ) cần phải được thay đổi cho phù họp với tình hình mới của qưan hệ quốc tế Trong khi đó, một số quy phạm pháp luủt trước đâv điều chỉnh việc vận dụng chính sách công nhận quốc tế để giải quyết cdc vấn để quan hệ quốc tế (ví dụ, vận dụng các kết quả pháp lý của việc c ỏ n s nhận để thiết lập quan hệ ngoại giao, lãnh sự, để công nhận hệ thốnơ pháp luật V V ) cần được cân nhắc để khôi phục và phát triển tiếp
Thứ ba. cần phài xây dựng các quv phạm mới trong lĩnh vực cổng nhận quốc tế đê bổ khuvết những vấn để do thực tiễn của phong trào giải phóng dân tộc đặt ra Trona khi đó, nhiều luật 2Ìa tư sán vẫn tìm mọi cách để phủ nhận sự tồn tại cùa các quy tắc xử sự quốc tế trons lĩnh vực công nhận quốc
tế [94, 68-90]
Nsaỵ cà Lièn hợp quốc, vấn đề pháp điến hóa chế định công nhận quốc
tế đã được nhiều lần đưa ra U\’ ban pháp luật quốc tế (Uý ban Vĩ) của Đại Hội đồng để thào luận Vấn đề còng nhận quốc 2Ĩa và chính phủ mới được đặc biệt quan tám nghiên cứu Trong tài liệu " Tổns quan vé pháp luật quốc tế
"do u ỷ ban pháp luật quốc tế soạn tháo tháng 4/197 1 đã đề cập nhữns vấn đề pháp iý quốc tế của chế định còna nhận quốc tế và yêu cầư cần cản nhắc để pháp điển hoá Các bộ phận cấu thành pháp lý của sự cô n s nhận quốc tế được
u ỷ ban pháp luật quốc tế nhấn mạnh là: kết quà pháp lý của sự còng nhận, đặc biệt Ịà quan hệ aiữa sự còng nhộn quóc gia, chính phú với sự công nhận quyền miễn trừ tài phán của quốc gia chính phủ, sự k ế thừa cùa quốc gia, quan hệ nsoại siao lãnh sự, khả năng chấp nhộn đó, vấn đề hồi tô của sự công nhận, kết quả pháp lý của việc còns nhận de íacto và Côn2 nhộn de jure, kết quả pháp lý của học thuvết và thực tiễn không côns nhận, phạm vi áp dụng sự công nhận tập thể V V [82, 30].7Ivuýj'vậýjẫrppg qịuá trình thảo luận, nhiều
'!•> ' ■: sy.r:
: ?J I í • 1 V « : \ t ỉ L L n ỉ *
- : - 1 _ _ 5
T H Ư V IỆ NTRƯỜNG ĐAI HOC lÚ ^ỊH À NỘI
PH Ò N G G V
Trang 22vấn đề u ỷ ban pháp luật quốc tế đưa ra đã khòns được Đại hội đổng Liên hợp quốc thỏng qua Do vậy, chẻ định công nhận quốc tẻ cho đến nay vẫn tiếp tục được xây dựng trên cơ sở các quy phạm tập quán cúa pháp luật quốc tế, các nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi cúa pháp luật quốc tế, một số điểu ưóc quốc tế hai bèn và nhieu bèn, các nghị quyết cúa các tổ chức quốc tế và cả trên cơ sở một số tài liệu, văn thư ngoại giao của một số nước Tuy vạy, chế định côna nhận quốc tế tTons giai đoạn sau Đại chiến thế giới lần thứ hai đã tiếp thu được những nhân tỏ mới do thời đại dân chu sau Đại chiến đưa lại Vai trò của các nước XHCN và phon2 trào giải phóng dân tộc ngày càng tăng trong quá trình định tính theo chiều hưóns tiến bộ cùa chế định này.
I 2.2 Vẩn dề Campuchia trong quan hệ quốc tế
Năm 1884 thực dàn Pháp uy hiếp triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước
"báo hộ” 06/6/18S4 thôn tính xong toàn bộ Việt Nam Nsav sau đ ó ? chúns cưỡnơ bức vua Campuchia phái quy phục một cách triệt để
Na ày 17/6/1884, một phái đoàn Pháp, có bộ binh di kèm xòns thẳng vào hoàns cung, đến tận nơi vua Norodom đun2 nsii buộc nhà vua ký tên vào một bán điều ước đã thào sán ìiổm 11 điều khoán
Điều 1 shi rõ: “ Vua Campuchia chấp nhận mọi sự cải cách hành chính, pháp luật, tài chính, thương mại mà Chính phủ Pháp thấy là cần thiết trong tươns lai, để làm đễ dàn2 cho quyền bào hộ của mình” Điểu 3 quy đ ’*nh:
r C á c còns chức Campuchia phai chịu sự kiểm soát của nhà đươna cục Pháp
Họ vẫn cai trị Nhàn dân như cũ, trừ việc định ra và thu các thứ thuế các côna việc chính, và nói chuna các còn2 tác cần phài có sự chi huy thốna nhất,
Phnom Penh từ đảv sẽ do khâm sứ người Phdp trực tiếp cai quán ” [107, 76- 77]
Với hành độn2 trắns trợn vào đôm 17/6/1884 và nội dung bản điều ước
Trang 23I V
-<3i trên, quá trình thôn tính của thực dàn Pháp đối với Campuchia đã hoàn
^ành- Thôn tính xons Việt Nam, rồi Campuchia, thực dân mờ đường tiến lên ảrn lược cả nước Lào vào năm 1893 Chúng đặt cho cả ba nước Việt Nam
^ 0 và Campuchia một cái tên chung là ‘‘Đông Dương thuộc Pháp” [13]
Nhưng thực dân Pháp đã phải trả giá đắt cho hành động xâm lược cùa -hún2 ờ Campuchia Từ những năm 60 của thế kỷ XIX cho đến đầu thế kỷ Nhân dân Campuchia khỏng ngừng nổi dậy chống ách thống trị của thực pháp và triều đình phona kiến bán nước
Nsười đầu rièn đứng lên phất cờ khởi nghĩa là hoàng thân Sivutha Cuộc khời nshĩa mớ đầu ờ tỉnh Côngpôns Xoài vào giữa năm 1861 nhằm phế truất vua Norodom bạc nhược Nhàn dân tỉnh Baphơnôns cũng nổi dậy hường ứng Chẳng bao lâu phons trào khởi nshĩa lan rộng khắp các tinh phía Đông sông Mèkông
Nhìn chung từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỳ XX, cuộc chiến đấu của Nhãn dân Campuchia chốna thực dân Pháp đã diễn ra liên tục Các hình thức chống đối ngày càng phons phú, nhiều vẻ Phổ biến nhất vẫn là những cuộc nổi dạy vũ trang; tuy vũ khí thô sơ, trình độ tổ chức còn thấp và bị đàn áp khốc liệt, nhưna tinh thần chiến đấu thì thật là bất khuất kiẻn cườns Ngay từ buổi đáu, cuộc đáu tranh cúa Nhân dân Campuchia đã có mối liên hệ tự phát với Nhàn dân Việt Nam, mờ đầu cho truvền thốnơ đoàn kết anh em giữa hai ilủn tộc cùng chun2 kè thù là bọn đế quốc xàm lược
Vai trò lãnh đạo Nhân dủn Campuchia chống Pháp hổi này thường là do các vị hoànR thân yẻu nước và các nhà sư nắm giữ Khi có người thuộc tầng lớp lao độna đứng lẻn tổ chức khời nghĩa thi cũ n2 còn phải dựa vào danh nghĩa hoàns thàn, auý tộc đẻ tập hợp và lãnh đạo quán chúng Đáng chú ý là v! trí của tầng lớp sư sãi trong cuộc vận động yêu nước rất quan trọng Viên khàm sứ Bỏdoanh đã nhận định rằna: “Sư sãi là người bảo vệ truvền thốnơ và giáo, truvền bá tri thức, hướng dẫn và làm gương cho Nhân dàn, là sợi dây vững để thắt chặt sự thống nhất dân tộc Nhà chức trách phải quan tâm
Trang 24đến trạng thái tư tường cùa họ một cách đặc biệt để giữ vữns trật tự an ninh"’ [57, 14-15].
Đầu năm 1930, Quốc tế Cộng sản đã khảng định trong một bức thư gửi cho những người cộng sản Đông Dương: “Nhiệm vụ quan ưọng hơn hết và tuyệt đối cần kíp của tết cả những người cộng sản Đông Dương là sáng lập
m ột đản 2 cách mạn 2 của s i ai cấp vỏ sản Đảng ấỵ phải là m ột đảng độc nhất, và ở Đòng Dương chì có đảng ấy là cô chức cộng sản mà thô ỉ ' [17]
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, từ năm 1930, ở Việt Nam, ở Lào, và Campuchia, cuộc chiến đấu của Nhân dân chống đế quốc Pháp đã bước sang một giai đoạn mới
Sau khi gây hấrt ờ Nam Bộ Việt Nam, chiếm được thành phố Sài Gòn, thực dân Pháp cho quân nháy dù xuống Phnom Penh, bắt thủ tướng Sơn Ngọc Thành đưa về Pháp Nhà vua Norođom Sihanouk đành phải khuất phục
Nhưng Nhân dân Campuchia quyết khòng chịu khuất phục ké thù xâm lược Phone trào khána: chiến của Nhàn dân Campuchia trons giai đoạn này
có nhữnu luồng, hướns khác nhau, trong đó bò phàn tích cưc nhất là những người cộng sán Campuchia đã lãnh đạo Nhàn dân Campuchia xiết chặt hàng ngũ, cầm láy vũ khí, sát cánh với Nhàn dân Việt Nam kháns chiến chống xâm lược Phap, iióp phán quyết định tạo nên những chuyển biến lịch sừ trên đất nước Campuchia
Sau khi Sơn Ngọc Thành bị Pháp bắt, một số nhàn sĩ yêu nước Campuchia chạy sang Nam Bộ; một số khác chạy sang Thái Lan
Với sự giúp đỡ của lực lượng kháns chiến Việt Nam, các òng Pa Chỏun, nsuyèn bộ trường Bộ kinh tè' Campuchia và Kim Chuòn, nauyẻn tổng đốc tỉnh Compònă Chàm, cùna các nhân sĩ Campuchia ờ tỉnh Châu Đốc thành lộp
ra “Uỷ ban Cao Miồn độc lập", tổ chức được khoàns 100 chiến sĩ, chuẩn bị về Campuchia chống Pháp Nhưng do tình hình mật trận Nam Bộ gặp khó khăn lớn Kim Chuôn bị vua Norodom Sihanouk ơọi về nước cho làm tổng đốc tỉnh
2U
Trang 25Đầu năm 1946, những nhàn sĩ Campuchia chạy sang Thái Lan được sự
a[úp đỡ của lực lượng khán2 chiến Việt kiều, thành lập ra “Uỷ ban dân tộc
V
ơiải phóng Khmer”
Chính vì lo sợ trước sự phát triển cùa phonơ trào đấu tranh cách mạng của Nhân dân Campuchia, chính quyền rhực dân Pháp tim cách buòng ra để nám lại trong việc “Trao trả nền độc lập cho Vươns quốc Campuchia”
Việc Pháp thừa nhận nền độc lập của Campuchia trong Khối liên hiệp pháp là một quá trình Và quá trình đó phụ thuộc hoàn toàn vào tương quan lực lượnơ giữa cách mạns: ba nước Đ ôns Dươns và thực dân Pháp Mở đầu cho quá trình này là việc k ý kết Hiệp định tạm then Muduc Vivendi giữa Pháp
và Quốc vươiis Norodom Sihanouk vào n^ày 07/01/1946
Với hiệp định đó, nước Campuchia được tuyên bò' là “nước nội trị” và được mớ rộng quvền hạn trên một sò’ phương diện như Cục cảnh sát, Bộ tiểu học và tiuns học Cục bào vệ cùa chính quyền Campuchia phài đặt dưới sự kiếm soát của các cò ván Pháp, phụ tá cho các bộ và cơ quan địa phương Hiệp định năm 1946 đã nhốn mạnh rằna: quân đội Pháp đóns trèn lãnh thổ Campuchia chí nằm dưới sự chí huy của Bộ chí huv Pháp
Hiệp định 1946 quy định Campuchia là một bộ phận hợp thành của Liên bans Pháp Campuchia không được quvển thiết lập các quan hệ ngoại giao với nước nơoài
Từ nãm 1946 đến năm 1952, Samdech Norodom Sihanouk và những nhà hoạt độns chính trị khác đã yèu cầu thực dân Pháp từng bước mở rộng chủ quyền quốc gia của Campuchia
Trước tinh hình ấy, thực dân Pháp đã tìm cách xoa dịu phong trào đấu tranh bằng cách thỏa thuận để Campuchia đưa ra bản Hiến pháp vào ngày 6- 5/1947 Sau khi Hiến pháp được ban hành, vào tháng 12/1947, cuộc bầu cử Quốc hội (Hạ nshị viện') được tiến hành Hiến pháp có 10 chương với 107
Trang 26jeu được xây dưng dựa theo Hiến pháp nước Pháp và nằm trong khuôn khổ
^ 5'ị liên hiệp Pháp Mớ đầu Hiến pháp 2hi: “Vương quốc Cao Miên, quốc ,ja tự trị có chân trong Khối liên hiệp Pháp với tư cách quốc gia liên kết” I^iến pháp quy định: “Nước Cao iVliẻn là nước quân chủ” (điểu 1, chương I)
Hiêh pháp quy định quyền hạn của vua cũns siống như tổng thốns.
Vua có quyền giải tán Quốc hội, chỉ định thủ tướng làm tổng tư lệnh quản đội, ban lệnh àn xá Ngôi vua ờ Campuchia theo ch ế độ cha truyền con nỏi quvền hạn của vua rất lớn Các quyền về hành chính, lập pháp tư pháp Jèu được thi hành nhân danh Quốc vương (điểu 22, 23, 24, chương III) Tuy
nh iên , quyền hạn của vua cũnơ bị hạn chế bời Quốc hội Theo Hiến pháp
1947, Quốc hội có quyển biểu quyết các đao luật, ngân quỹ quốc gia và quốc trái
Hiến pháp 1947 cũns đã đề cập đến quyền cỏna dân Mọi công dân Campuchia đều có quyền tự do thàn thể tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng; Phật giáo dược coi là quốc 2Ĩáo (điều 3, 8, 9, 10, chương II) Đặc biệt là Hiến pháp đã nèu quyển tư do báu cừ và ứng cử của mỗi cô n g dân (điều 48 và 49 chương V)
Tiếp theo những hành độns trên, nsày 25/11/1948 rổns thốn2 Pháp Vincenr Auriol đã 2Ứi cho Samdech iNorođorn Sihanouk bức công hàm thừa nhộn quvền độc lập của Campuchia tronơ khuôn khổ Liên bang Pháp Tiếp
dó, naàv 08/11/1949 hiệp ước Monivons Vincent Auriol được ký kết, thừa nhận Campuchia độc lập tronư Lièn bang Pháp và cho phép Campuchia được quyền thành lập đội quân dân tộc phụ thuộc trực tiếp vào nhà vua
Bước vào những năm 50, tình hình chiến sự diễn ra n2ày càng ác liệt giữa quàn đội Phdp và các lực lượng cách mạns Đôns Dươns ở Campuchia, phong trào cách m ạns do nhữns nsười cộn2 sản lãnh đạo ngày càng phát triển mạnh Nguy cơ Pháp thất bại ờ Đồng Dương đă tới gần Trong tình hình
đó giữa thán2 6 năm 1952, Samdech Norodom Sihanouk đã gửi cho Quốc hội
Trang 27và Nhãn dân Campuchia hai bức thòna điệp kêu gọi tất cả mọi nsười hãy siao cho nhà vua toàn quyền hành động ờ trons nước, trong thời 2Ìan ba nãm Samdech Norodom Sihanouk hứa hẹn trong vònơ cuối năm thứ ba sẽ giành được hoàn toàn nền độc lập Nhung kế hoạch của Samdech Norođom Sihanouk bị thực dân Pháp phá hoại.
Trong giai đoạn nàv phần lớn lãnh thổ Campuchia lại nằm dưới sự kiểm soát của những người cách mạng Phong trào vũ trans kháns chiến không ngừng phát triển Thực dân Pháp lại đang bị thua lớn ờ Việt Nam, vì thế thực dân Pháp càn® gặp nhiều khó khãn, lúna túng ở Campuchia
Nắm chắc tình hình ấy, đầu năm 1953, Samdech Norodom Sihanouk và những người ủn2 hộ ò n s bỏ ý định đòi mờ rộns dần chủ quyển quốc gia, chuyển hướnq sang tích cực đấu tranh ngoại siao để khòi phục nhanh chóng
và toan vẹn nền độc lập dân tộc cùa Campuchia Đườns lối chính trị đó được lấv tên là “Cuộc thập tư chinh siành độc lập của Campuchia"
Trong thời kỳ nàv thắng lợi của cách mạng Việt Nam, ở Lào, ở Campuchia naày càns to lớn và nhữns thất bại cua quàn đội viễn chinh Pháp diễn ra lièn tiếp trên ch iế n trườna Đôns Dươna Samdech Norodom Sihanouk
đã ra lời kêu gọi Nhàn dàn Campuchia bắt đầu cuộc độn2 viên "Các lực lượngtích cực của dân tộc” Đầu tháng 7 năiT 1953, quốc vương Campuchia kèu 2ỌÍ chính quyển Pháp một lần cuối giái quyết hoà bình xuna đột, sau khi nhấn mạnh rang ÓH2 khó lòng mà naăn được Nhàn dân vùn2 lèn chỏng Pháp
Vì thố vào ngày 09/11/1953 vừa để siải quyết ổn thỏa vấn đề Campuchia nhằm tập truns vào chiến trường chính là Việt Nam và chuẩn bị
kế hoạch lâu dài ờ Campuchia thực dân Pháp đã trao trả độc lập cho Vương quốc Campuchia
Nhưng trên thực tế cho đến năm 1954, lực lượng cách mạng Campuchia
đã trường thành trở thành lực lượng đáng kể phối hợp cùng với chiến trường
Trang 28Đông Dương đi tới một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam, vấn đề Campuchia và vấn đề Lào trên cơ sờ tôn trọng độc lập chù quyền, thống nhất
và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước ờ Đông Dương Tại Hội nghị Genève phía Việt Nam luôn kiên trì lập trường của mình vẻ vấn đề Campuchia, Lào Việt Nam chủ trương đòi có đại biểu của Chính phủ kháng chiến Lào và Chính phả kháng chiến Campuchia tham gia như các bên đàm phán Việt Nam giữ quan điểm là ờ Lào có 2 vùng tập kết của lực lượng kháng chiến: một vùng ở phía Bắc và một vùng ở phía Hạ Lào; ở Campuchia có 2 vùng tập kết của lực lượng kháng chiến Campuchia ở phía Đỏng và Đông Bắc sông Mêkỏng và phía Tây Nam sông Mêkông, tổ chức tổng tuyển cử tự do trong thời hạn 6 tháng ở Campuchia và ở Lào Nhưng do tương quan lực lượng và do ý đổ của một số cường quốc muốn hạn chế thắnơ lợi của cách mạng Đông Dương nên Hội nghị Genève về Đông Dương năm 1954 đã quy định (và phía Việt Nam đã chấp nhận); các nước tồn trọns các quyền dân tộc cơ bản của Nhân dân Việt Nam, Nhàn dân Lào và Nhân dồn Campuchia, ngừng bắn đồng thời trên toàn chiến trường Đông Dươns, Pháp rút quàn, vĩ tuyến 17 là siới tuyến quân sự tam thời chia Viẻt Nam làm 2 miền, tiến tới tổn&ĩ tuyển cử tư do trong cả nướcsau 2 nãm để thống nhất nước nhà ơ Lào có một khu tập kết gồm 2 tỉnh Sám Nưa và Phôna Sa Ly Ở Campuchia khôna có khu tập kết nào và phải phục viên lực lượng quàn sự tại chỗ
Với hiệp định Genève, nước Carnpuchia vẫn còn ở trong Khối liên hiệp Pháp Nhưns sự đảm bào rút hết quàn đội Pháp ra khỏi đất nưóc, cũng như sự đảm bảo của quốc tế và ngav củ đế quốc Pháp, “tôn trọns độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ” là một thắng lợi lịch sử hết sức quan trọng của Nhân dân Campuchia
Trên cơ sở thắng lợi shi trons Hiệp định Genève, Nhân dân Campuchia tiếp tục đấu tranh cho đến ngày Quốc hội Campuchia thông qua quyết định, tuyên bố trước toàn thế giới đưa đất nước Campuchia ra khỏi Khối liên hiệp
P h áp /Đ ó là ngày 25/9/1955
24
Trang 29-Cưộc đấu tranh cùa Nhàn dủn Campuchia, Việt Nam, Lào dưới sự lãnh
^ạo cùa Đảng Cộng sản Đ ôns Dươno đã đưa Pháp vào một tình hình khó Ịchãn, buộc Pháp phải xét lại thái độ chính trị đối với Campuchia Do Pháp phải đối phó chủ yếu từ phía cuộc đấu tranh của Nhàn dân Việt Nam cho nốn pháp cdn có Campuchia với một chiến trường ổn định Vì vậy phương pháp tốt nhất của Pháp là phải thoả hiệp với phong kiến Khmer tốt hơn là để cho phong trào đấu tranh của Campuchia giành được chính quyền, hơn nữa thoả hiệp với phong kiến Khmer lại bảo đảm duv trì được lợi ích chính trị, quân sự, kinh tế của thực dân Pháp
Đây là bước điều chinh về chiến lược manơ tính cấp thiết của Pháp:
q u y ế t định nới lỏns cho chế độ quân chù ờ Campuchia nhằm mục đích duy trì Vua và Chính phú hoàng gia Campuchia với tư cách là đổng mình trona khuôn khổ chiến lược Đỏng Dươns của Pháp Mặc dù Pháp đã thừa nhận Campuchia là một nước độc lập theo Hiệp ước Paris ngày 8 tháng 11 năm
1949 giữa Campuchia và Pháp nhưns Pháp vẫn duy trì sự thống trị tại Campuchia qua lực lượng quân sự của Pháp tại Campuchia, qua việc nắm quân đội Campuchia trực thuộc uv ban quàn sự đặc biệt mà quyền chỉ huy nằm trona tay sĩ quan Pháp, qua việc Pháp quàn lý hệ thống toà án, qua việc Pháp quàn lý việc bổ nhiệm đại sứ Campuchia ớ nước ngoài phải có sự chấp thuận từ phía Chính phù Pháp và qua việc Campuchia là một nước trong Liên hiệp Pháp và là một phía trong Liên hiệp bốn bèn (Pháp, Campuchia, Việt Nam Lào) trons hệ thỏno hành chính, thuế quan, tiền tệ Lièn hiệp bốn bên này đã 2Ĩúp cho thực dàn Pháp tiếp tục thống trị và về cơ bản nắm được kinh
tế ờ Campuchia cũna như ờ Việt Nam và Lào
Theo quv định của Hiệp ước năm 1949, Campuchia có quyền thành lập quản đội đặt dưới sự điều khiển trực tiếp của Vua và trong trường hợp có chiến tranh phải đặt dưới sự chi huy cúa uv ban đặc biệt thuộc Bộ chỉ hay Pháp Đủy là việc tiếp tục chính sách Khmer hoá chiến tranh mà Pháp đã chuẩn bị từ năm 1946 Pháp thấy cán phải cho phong kiến Campuchia có một
Trang 30q u à n đ ộ i dưới sư chì h u v cùa Pháp để sư dụns bàn tay cúa người Campuchia dàn áp người Campuchia.
Đổng thời với sự tiến còng của cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào,
đế quốc Mỹ đã tiến hành chính sách can thiệp cồng khai giúp Pháp tiếp tục thống trị Đông Dương và chuẩn bị điều kiện để thay thế Pháp sau này Mỹ đã chấp nhận và ủns hộ chính sách của Pháp ở Campuchia và tuyên bố thừa nhận nển độc lập của Campuchia theo Hiệp ước Pháp - Campuchia năm 1949 Sau khi tuyên bố thừa nhận nền độc lập của Campuchia tháng 2 năm 1950 thì vào tháng 12 Răm 1950 Mỹ đã ký hiệp định với Pháp về việc cung cấp viện trợ cho lực lượng Pháp ớ Đ ôna Dươnơ và số viện trợ này đã đến tay Chính phủ hoàno ơia Khmer qua truns sian Pháp, và theo hiệp định này, cô vấn, chuyên viên và huấn luyện viên quân sự của MỸ được đưa tói Đông Dương
Sức ép của phons trào đấu tranh cùa Nhùn dân đã buộc Pháp phải nhượng bộ, ray nhiên sụ nhượng bộ đó khỏns phải vì lợi ích của Nhân dân Campuchia mà là nhưọns bộ nhà Vua và Chính phù Hoàng gia, đó là sự chọn lựa mà Pháp cho là tốt nhất Pháp hiếu rõ rằng làm cho tình hình Campuchia căn.2 thẳng hơn nữa sẽ tao nèn na uy cơ cho chính mình Thực ra nhượng bộ của Pháp đối với Chính phù Hoàna 2Ía và Vua là đê dổi lấy một đồn2 minh đáng tin cậy, là một việc cán thiết đè giữ gìn lợi ích cùa Phdp ờ Campuchia sau này và trước mắt nó cũns cần thiết cho sự can thiệp của Pháp ờ Việt Nam Sự nhượng bộ lần này bao Síổm việc trao quyền điều khiển bộ công an
và tư pháp cho Chính phù Hoàns 2Ìa theo hiệp định naày 29 thdna 8 năm
1953, trao quyền chi huy quân sự cấp cao ờ Campuchia cho Chính phủ Hoàng
2Ìa theo hiệp định ngày 17 tháng 10 năm 1953 Từ những hiệp định này đã đưa đến việc tuyên bố về chù quyền cùa Campuchia vào thán2 11 năm 1953
và được mệnh danh là "Độc lập hoàn toàn” Và sự độc lộp này đã được sử dụng trong Hội nshị Genève về Đôns Dươna nãm 1954 về quyền đại diện của Campuchia trong hội nahị quốc tế này NTiư vậy nền độc lập mà Pháp trao cho Campuchia lúc đó một mặt là để cúng cò' tình thế của Chính phủ bù nhìn
Trang 31trong nước, mặt khác là đê chuẩn bị tư thế cho việc mậc củ trẻn bàn hội đàm ờ ị^ội nahị Genève, vì Pháp hiểu rõ rằng khi bước vào giải pháp thế nào cũng có hai đoàn Campuchia khác nhau.
oNếu xét về chủ quyền của Campuchia theo tu vẻn bố năm 1953 thi chưa
có đủ điều kiện là một quốc gia độc lập có chủ quvền và toàn vẹn lãnh thổ, vì
ba yếu tố sau đây:
Thứ nhất, nước Campuchia vẫn còn trong Liên hiệp Pháp
Thứ hai, một số quân đội Pháp vẫn còn đóng trên đất nươc Campuchia, nhất là các tỉnh phía đ ôns Campuchia
Thứ bã, về mặt Iđnh tế vẫn là một nền kinh tế phụ thuộc thực dân như thời kỳ Pháp còn thốns trị khôns có gì thay đổi
Do thất bại nặng nề ờ Việt Nam, nhất là ờ chiến trường Điện Bièn Phủ, Pháp buộc lòng sớm naồi vào bàn hội nghị để cứu vãn tinh thế của quân đội Pháp ờ Việt Nam T háns 5 năm 1954 Hội nghị Genève về Đông Dương đã bắt đầu họp khi Pháp đã chuẩn bị sẩn chiến lược nhằm bảo vệ lợi ích của Pháp ờ Campuchia, khi Mỹ đã chuẩn bị sẵn sàng nháy vào Đỏng Dương và cùng lúc đó Truns Quốc đarì2 tìm cách thoả hiệp để báo vệ mình Vì vậy, các thoả hiệp trong Hội nghị Genève được tiến hành lièn ruc do có sự câu kết bí một giữa Mỹ, Pháp, Trunơ Quốc; những thoả hiệp này đã làm tièu tan mọi thuận lợi của phong trào khánơ chiến của Nhân dân Campuchia
Vấn đề bắt đầu từ quvền đại diện của Campuchia tham dự hội nahị, việc sắp đặt của Pháp về cái gọi là trao trả độc lập cho Campuchia vào năm L953 được sử dụna như là chủ bài để mở đường cho Chính phủ Hoàns gia bù nhìn tham dự và bác bỏ quyền tham dự của Chính phủ của lực lượng yêu nước Campuchia, điều này rất quan trọng vì liên quan đến sự quyêĩ định cuối cùng của hội nghị Sam Sary đã tuyèn bố vào ngày 23 tháns 8 năm 1955 rằng:
“Chính nền độc lập giành được trước Hội nghị Genève đã làm cho đoàn đại biểu Khmer ờ Genève giữ thái độ là đoàn một nước độc lập và đã đấu tranh
Trang 32>)
-vơi các nước khác phai còng nhận và thưc thi sự độc láp đó, làm cho họ phài công nhạn Chính phù Hoànơ sia của chúng ta là đúna đắn và loại bỏ bằng được đại diện của bọn phiến loạn Issarak” [25]
Tinh hình trước và trong thời 2Ìan hội nghị rất phức tạp do bọn đế quốc câu kết với nhau, dựa vào nhau, đấu tranh với nhau đê đạt được những mục đích riêng, v ề phần Trung Quốc, là đổng minh của cách mạng ở Đ ône Dương lúc đó cũng có một chiến lược riêns Tất cả đều cần lợi dụns Hội nơhị Giơnevơ để đạt được mục đích của mình
Pháp cần duy trì những chế độ thân Pháp ở Campuchia, miền Nam Việt Nam và Lào, vì sự tổn tại của những chế độ nàv đại biểu cho lợi ích của Pháp trong các nước vốn là thuộc địa cùa mình Mỹ cần vào Đông Dương sau khi Pháp ra đi; Mỹ đã chuẩn bị nsay từ năm 1950, vì vậy cũng cần phải duy trì chế độ bù nhìn trong các nước này để làm cơ sờ cho Mỹ vào
Theo lời kể của Sam Sary [25] thì vào ngày 20 thánơ 7 năm 1954, trướckhi thao luận bán Hiệp định cuối cùns Tep Phan và Nuong Kim Ny, thành viên đoàn Chính phú Hoàng 2Ìa trons Hội nshị Genève đã gặp Thứ trưởng nsoại 2Ìao Mỹ là Walter Bedell Smith trướng đoàn đại biểu iMỹ trorm Hội nghị Giơnevơ Sau khi gặp đại biểu Mỹ Tep Phan và Nuong Kim Nv đến gập đồnsĩ chủ tịch Hội nghị lúc đó là Anh và Liên Xô có sự tham dự của đại biểu Pháp và Việt Nam Dân chủ cộns hoà Lúc đó đại biểu Chính phủ Hoàng 2Ĩa Campuchia đã đòi hỏi 4 điểm trons đó có 2 điểm lièn quan đến âm mưu của
Mỹ muốn vào Campuchia:
Thứ nhất, đề nghị cho nước Campuchia được quyền tham gia lièn minh quân sự nào phù hợp với luật của Lièn hợp quốc, và cho Campuchia chấp nhận căn cứ quân sự nước ngoài nếu nhận thấy nền an ninh cúa mình bị đe doạ
Thứ hni, để nghị cho nước Campuchia được nhận VÒI khí hoặc quàn đội nước ngoài vào bất kỳ nơi nào trong đất nước
Trang 3329
-Về thoả thuận trona tháng 7 năm 1954 tại Hội nghị Genève, nếu xét từ một khía cạnh nào đó thì thấy rằng sự thoả thuận này khòn® lợi cho Nhân rỉ/ìn Campuchia
Mục tiêu của cách mạng dân tộc, dân chủ mà Đảng Nhàn dân cách mạn^ Khmer đã để ra là nhằm giành độc lập dân tộc, hoà bình và quyền tự do của Nhân dân Chính vì vậy, việc chấp nhận thi hành Hiệp đinh Genève mà lực lượng kháng chiến khôns được tham gia ký kết càng chứng minh cho thấy Đảng tự nguyện thoả hiệp vì lợi ích độc lập dân tộc, hoà binh và tư do Sự thoả hiệp này xuất phát từ sự hoàn toàn tự nsuvện Vì rằng việc đòi phong trào đấu tranh giải tán tại chỗ là một điều quá nặns nề, mặt khác lực lượns kháng chiến không phải là một bèn chịu sự ràns buộc thi hành hiệp định này.Xét về mặt lý luận, sự thoả hiệp năm 1954 là đúng đắn Tương quan lực lượng ờ trong và ngoài nước trons phạm vi toàn Đông Dương đã cho phép chúns ta thoá hiệp ờ mức độ đó Cách mạng Việt Nam giành được miền Bắc, cách m ạns Lào được hai tỉnh để tập kết lực lượng Cách mạng Campuchia, mặc dù phải giải thể tại chỗ, nhưng vẫn tự hào vì đã hoàn thành sứ mệnh lịch
sử, buộc Pháp phải rút k_hỏi Campuchia, xoá bỏ vĩnh viễn chủ nahĩa thực dân
cũ của Pháp đã thống trị Campuchia trong 9 thập kỷ Mặt khác, sự thoả hiệp này khôns phải là sự đầu hàng và từ bỏ mục tiêu cuối cùng của mình, đây là
sự thoả hiệp trons sách lược đấu tranh siành thắns lợi từng bước và tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn Và thực tế cho thấy sau khi có thoả hiệp năm 1954 Nhân dân Campuchia, Nhân dân Việt Nam, và Nhân dân Lào vẫn tiếp tục cuộc đấu tranh bằns mọi hình thức và trong mọi tình huống Riêng ở Campuchia, để phù hợp với tình hình mới, Đdng chủ trương chuyển hướng từ đấu tranh vũ tran2 sang đấu tranh chính trị
Sau ngày đình chiến trong khi ờ Campuchia những nsười kháng chiến
cũ trờ về sốna hoà hợp trong cộng đồn2 dân tộc hòa hợp dân tộc và trong khi chính quyền Campuchia đang tích cực giải quyết những vấn đề của đất nưóe thì n g à v 8 tháng 9 năm 1954, Mỹ đã cùng với Anh Pháp, ú c , Tân Tây Lan,
Trang 34M /
-Thái Lan, Philippin, Pakistănơ thành lộp khối quân sự xủm lược Đông Nam Á (SEATO), tuyên bô đột Campuchia, Lào và miển Nam Việt Nam dưới ô bảo trợ của chúng
Trong tình hinh ấy, Samdech Norodom Sihanouk sau khi tham gia Hôi nghị Á Phi tại Băngduns, và tuyên bố Campuchia tán thành năm nguyên tắc chung sống hòa bình, đi theo con đườna hòa bình trung lập, đã đẩy nhanh nhựne hoạt độn2 cải tổ bộ máy chính quyền nhằm giải quvết tốt mọi mối quan hệ giữa bẻn trong và bèn ngoài chốns laị sự phá hoại của các lực lượng thù địch
Quả thực là tình hình chính trị cùa Campuchia hết sức phức tạp Năm
1954, trên vũ đài chính trị cùa Campuchia xuất hiện một số đảng phái không lớn lăm [16] Trong sỏ nhữntỉ đảng phái đó, Đáns Dân chú kịch liệt phản đối những biện pháp của Chính phứ VƯOT12 quốc nhầm mớ rộns phạm vi kiểm soát chính trị và hành chính của mình, đổng thời hy vọng giành thắna lợi trons cuộc tổng tuyển cừ được tổ chức năm 1955 Đảng Nhàn dàn (tổ chức hoạt độn? còng khai của nhữnu người cách mạns Campuchia) có mục đích thống nhất toàn thể Nhàn dàn Campuehia tronỉỉ một xã hội khỏiì2 phân biệt giai cấp chính trị và tòn 2Ĩáo 01111” chuntí mục đích đấu tranh vì độc lập, dân
chù và cai thiện đời sòng vật chất của Nhàn dàn
Trước tình hình đó, Samdeeh Norodom Sihanoưk muốn có biện pháp tập trung quyền lực vào một tổ chức duy nhất đo ònu đứng đầu Ôns Hoàn® đã trao lại naổi vua cho cha mình (02/3/1955) (Năm 1960 sau khi vua Norodom Sorarnarith chết, Samđech Norođom Sihanouk được bầu là Quốc trường) và lập ra tổ chức Sangkum - Còns đồns xã hội bình dản (Sangkum Reastr Niỵum) [15]
Sanskum thực chát khỏns phải là một đàns phái chính trị Theo Samđech Norodom Sihanouk: ‘;LÚC đ á u tòi muốn tập hợp này phủi hoạt đ ộ n g
như một đàns phái chính trị Nhưns hoạt động với tư cách như vậy thì sự bất
Trang 35Jổn2 những cuộc đâu tranh, sự chia rẽ lại phai đươc giải quvết luòn luôn Tôi phải tìm cách khác Vậy thì tập hợp đó phải được coi như một phong trào tôn
ơi áo, huyền thoại Tôi không thể tim thấy gi tòt hơn thế để thực hiện sự thống nhất dân tộc và để kJiắc sàu vào trí não Nhàn dân tinh thần đoàn kết” [110, 147]
Điểu lệ của Sangkum còng bố vào tháng 3/1955 đã nhấn mạnh “Cộng dong xã hội binh dân” k h ô n s phải là một đảng phái chính trị mà chỉ là một liên minh dân tộc, đấu tranh chống lại sự bất côns, cám dỗ, tước đoạt, áp bức
và nhữns tệ nạn phản lại Nhân dân Khmer và đất nưóe Campuchia”
Samdech Norodom Sihanouk muốn thốn2 nhất đất nưóc không phải bằng tổ chức chính trị mà bàng một biểu tượns mang tính huyền thoại, tòn ơiáo và do chính ông làm chù tịch Sanskum là tổ chức thể hiện khối liên
minh N sai vùn2 + Tòn giáo + Nhân dân. Ôna Hoàng luôn luòn khẳng định với thần dân: ‘T a là cha của các ngườụ các người là con của ta Vậy con cái trong cùng một gia đình các naười phải đoàn kết lại” Do điều lệ của Sanskum đi liền với quyển lợi chính trị (muốn tham gia chính quvển phải trong tổ chức Sangkum), với LIV tín cùa Samdech Norodom Sihanouk nên đến mùa hạ năm 1955 đa số các đáng phái chính trị tồn tại ớ Campuchia (trừ Đảng Dân chú và Đ án s Nhân dân) đã tuyên bò tự 2Ìài tán, gia nhạp Sangkum Chỉ ba năm (1955-1958), sò người tham gia Sanskum đã lên một triệu người, ánh hườn2 của Sangkum mờ rộng đáng kể "Đoàn thanh nièn xã hội chủ nơhla hoàng gia K hm er” ra đời Tổ chức này noay từ đầu do Samdech Norodom Sihanouk là chù tịch và mang tư tườns của Sangkum
Đầu năm L956, ban lãnh đạo Sangkum đã đưa ra thảo luận tại Hội nghị Quốc dân về đườns lối đối ngoại của đất nước và đã nhất trí thòne qua đường lối hòa bình, trung lập của Samdech Norodom Sihanouk
Chọn con đườna hòa bình, trung lập theo Samdech Norođom Sihanouk
đó là “con đườnơ giữa - truns lộ” của Đức Phật Quả là Đức Phật có dậy như vậy, nhưng thực ra thì yếu tố quyết định là xuất phát từ quan điểm địa lý -
Trang 36chính trị cùa Samdech Norodom Sihanouk, xuất phát từ tình hình quốc tế khu vực và tình hình trong nòi bộ cùa Campuchia Chính ông từng nói: Campuchia như con kiến giữa một bày voi khổng lồ, kiến muòn tồn tại phải
có cách của minh Hoặc òns cho rằng Thái Lan là kẻ thù, Việt Nam là đối thủ của Campuchia Nước Pháp của De Gaulle tuy thừa nhận Campuchia nhưng ở quá xa Người Nga không thích ông Người Mỹ lại muốn ép Campuchia vào quỹ đạo cùa mình Người Mỹ thích một Samdech Norodom Sihanouk mạnh vói chính thể cộng hòa có thể đi với Diệm làm một điểu phiêu liêu nào đấy [110, 148-149] Nsay trong nội bộ Sanekum cũng có hai trào lưu đối kháng.Một trào lưu ở mức độ này hay mức độ khác phản ánh quyển lợi của Nhân dân lao động và trào lưu thứ hai gắn với thế lực thân Mỹ
À
Do vậy, việc chọn con đườns hòa bình trung lập là thích hợp vói
Campuchia trons tình thế như vậy
Đường lối hòa bình truns lập của Campuchia được cúng cố thêm một bước qua Đại hội Nhàn dân toàn quóc lẩn ĩhứ III (tháng 4/1956) Trong Đại hội nhiều ý kiến đã dề niỉhị lập Mật trận dân tộc chốn2 nhất Mặc dù khôns được Sanskum chấp nhận, nhưna đà phàn ánh nsuyện vọng của Nhàn dân Campuchia muôn xây dựna báo vệ đất nưức mình trons nền chính trị hòa bình, trung lập Đại hội Nhàn dân toàn quốc lần thứ III quyết định:
- Kiên quvết theo đuổi chính sách hòa bình truns lộp
- Hữu nghị với tất cà nước nào tòn trọns độc lập chủ quyền của Campuchia
- Nhộn viện trợ cùa tất cả các nước miẻn là viện trợ đó khỏng kèm theo điều kiện ràng buộc nào cả
Trên tinh thần đại hội III như vậy, ngày 12/0Í/1957, Đại hỏi Nhân dân toàn quốc lần thứ IV khai mạc tại thú đô Phnom Penh đã thônơ qua đạo luật
về nền trung lập của Campuchia Đạo luật này xác nhản:
- Campuchia là một nước tnins lập
Trang 37- Campuchia khòna tham 2Ía bát cứ một liên m inh quủn sự hav một liên [-ninh về chủ nghĩa nào với các nước ngoài, Campuchia khổng xàm lược ai hết Trong trường hợp bị xàm lược Campuchia sẽ tự vệ bằng vũ tranơ và kêu ơoi Liên hợp quốc, hoặc kẻu gọi nước bạn giúp đỡ.
Những cuộc cải cách được ghi trong Hiến pháp bổ sung vào tháng 01/1956 Hiến pháp bổ suns và sửa đổi tháns 01/1956 khẳng định Campuchia là: “Quốc gia độc lập có đầy đủ chù quyền” Nếu trong Hiến pháp 1947 ghi:
“Ngôn ngữ chính thức là tiếng Cao Miên Tiếng Pháp là tiếng nói chính thức dùng trons văn kiện có liên hệ đến Khôi liên hiệp Pháp ” (điều 2, chương I, Hiến pháp 1947) thì trong Hiến pháp 1956 sửa lại: “Ngôn ngữ chính thức là
n2ỏn ngữ Khmer” (điều 2, chươns I)
Điểm mới trong Hiến pháp 1956 là quỵển bình đẳng nam nữ trons bầu
cử và ứng cừ: '‘Mọi còns dân Khmer 2ổm củ hai 2ÍỚĨ đủ 20 tuổi trở lên đều có quyén bầu cử đại biếu (điều 49, chươnơ V) Và "Cừ tri có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội là nhữna Cỏn2 dân Khmer 2ổm cả hai 2ĨỚĨ ít nhất là 25 tuổi đã
có quyền bầu cử ” I.điéu 5 0 chương V )
Tron® Hiến phấp sửa dối có thèm chương VII "‘Hội đồng Nhàn dân tình
và chú đỏ” [à hoàn toàn mới Hội đón2 Nhàn dân 2ổm các đại biểu của huyện trong mỗi tinh hoặc các đại biếu khư phố ơ thủ đò Các đại biểu nàv do tuyển
cử phổ thôn2 đầu phiếu và trực tiếp báu ra Hội đồng Nhân dân có thêm nhiệm vụ: "Nhiệm vụ đề đạt ý kiến đối với việc biểu quyết ngân quỹ quốc aia, danh sách chi thu cuối năm và dự tháo vay tiền của Chính phủ Các hiệp ước ký kết với nước nsoài cũns phải có ý kiến cùa hội đồns này” (điều 8 8, chươns VII)
Về cơ cấu Chính phủ truns ương cũn2 được quy định khá rõ rùng vào tháng 01/1959 như sau:
Trên cùna là nhà vua, dưới vua là Hội đồns hoàng tộc, dưới nữa là các
tổ chức như: Hội đồns ngôi vua; Hội đồrts vươns quốc; Quốc hội; Các đại
•> 1
Trang 38-diện ngoại giao; các uv viên Hội đổng Liên hiệp Pháp; Hội đồng tối cao Liẻn hiệp Pháp Dưới các tổ chức đó là thủ tướna, dưới thù tướng là các bộ Có các bộ: nội vụ, quốc phòns, an ninh quốc gia bảo vệ lãnh thổ, thông tin, tư pháp.
o
Bộ kế hoạch, cơ quan chỉ đạo về kế hoạch và phát triển quốc gia, tài chính lao động và hoạt độn2 xã hội, thanh trừng Bỏ ngoại aiao, kinh tế quốc dân, cục hợp tác hoàng gia, cục hối đoái quốc gia, ngân hàng phát triển quốc gia, nôngnghiệp Bộ kỹ nghệ, thưcms mại, bưu chính viễn thòng, giáo dục thanh niên, y
tế, tôn giáo, du lịch
Âm mun lật đổ chính quyền Vương quốc trung lập Campuchia từ trong
nội bộ nhữns Iisười cầm quyền ờ Phnompênh đã được đế quốc MỸ và bè lũ
tay sai sắp đặt từ lâu Sau thất bại của âm mau lật đổ của tướng Đáp Chuồn năm 1959, đế quốc Mỹ vẫn chưa từ bỏ âm mưu này Cuối nãm 1967, Bộ Quốc phòng Mỹ đã bàn kế hoạch biến Campuchia thành một chiến trường mới Suốt trong 3 năm (1967-1969) báo chí Mỹ tạp trung chống đường lối hòa bình trung lập của Campuchia Các báo chí Mỹ cho rằng Campuchia đã “hóa
đỏ ” Vì vậv việc lột đố chính quyển vươn2 quốc là một việc phải làm
CŨIÌ2 như vụ Đáp Chhuôn (1959) cuộc đào chính lần này đã được cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) tiến hành bãns thù đoạn chia rẽ, phá hoại từ trong nội bộ chính quvền Campuchia Có thè nói sự việc được bắt đầu từ tháns 10 năm 1966 với việc tướng Lon Nol (lúc ấy là trung tướng thuộc phái hữu) lèn làm thù tưór\2 thav nội các Norodom Kanthonn
Nội các mới do Lon Nol cầm đầu dã thi hành một chính sách thân Mỹ trdnơ trợn Lon Nol khuyến khích một số bộ trường liên hệ với naười nước neoài ờ Phnom Penh, tăng cườns thế lực của phái hữu trong quán đội và cảnh sát, gây ra nhiều khó khăn trong kinh tế đời sống, rồi cho đó là do việc cắt đứt quan hệ ngoại siao vói Mỹ, Sài Gòn và Băngkok sây ra Lon Nol còn CÔQ2 khai chống lại việc ủng hộ cách mạng Việt Nam, và việc quan hệ ngày càng chặt chẽ của chính quyền vưcms quốc với các nưóe trona hệ thống xã hội chủ nghĩa Trons xã hội Campuchia xuất hiện ngày càng nhiều nhân tố
Trang 39tiêu cực.
Những nsười thuộc phái tả trons Sangkum rất lo lắng và quan tâm đặc biệt đến tình hình đất nước Họ kiên quyết đấu tranh trong nội bô Sangkum, ơóp ý kiến với nội các do òng Pen Nuth cắm đầu Nội các này đã thực hành một số chính sách nhằm cứu vãn tinh thế
Trước hết là truất bỏ chức Phó thủ tướng của Son Sann (Son Sann chuyên trách về kinh tế và ngàn hàn?) Ngày 15 tháng 7 nãm 1968, Tút Kim giữ chức bộ trưởng kinh tế kiêm giám đốc ngân hànơ quốc gia Đi đôi với biện pháp khuyến khích sản xuất nôns nghiệp, nhà nước chủ trọnơ đến chính sách thuỷ lợi, hạn chế việc tư bán nước ngoài đầu tư vào Campuchia, chống nạn tham nhũng trons các ngành, các cấp, nhận sự giúp đỡ của Ngân hàng thế giới và Ngân hàng phát triển chủu Á Khai thác nsuổn lợi du lịch trong nước
Về đối ngoại, nội các Pen Nuth công nhận nước Cộns hòa dân chủ Đức (8/5/1969); công nhận Mật trận dân tộc giải phóna miền Nam Việt Nam (9-5)
và 11/6 năm 1969 chính thức còng nhận Chính phủ Cách mạng Cộng hòa miền Nam Việt Nam
Bèn cạnh nhữns biện pháp tích cực trên, ngàv 26 tháng 4 năm 1969, nội các Pen Nuth tuyên bò nối lại quan hệ nsoại giao Mỹ Đầu tháng 6 nãin 1969 Campuchia và Mỹ đặt lại quan hệ ngoại giao cấp đại sứ Việc nối lại quan hệ ngoại giao với Mỹ đã khuyến khích bọn phái hữu hoạt độno phá hoại trona nội bộ Vì vộv sức ép cùa phái hữu (đứng đầu là Lon Nol -Sisovath Sirimatak) ngày càng mạnh trons Sanakum Cuối tháns 7 năm 1969, đại hội Nhân dân toàn quốc lần thứ 27 được triệu tập Trước sức phá hoại của phe hữu, Pen Nuth phái thôi chức thủ tướna Lon Nol lèn lộp nội các mới, làm thủ tướng kiêm bộ trường quốc phòns Sisovath Sirimatak là Phó thù tướng Phe hữu chiếm ưu thế trong Quốc hội Nội các Lon Nol thi hành nhữn2 chính sách thân Mỹ chốns lại chính sách hòa bình truno lập
Cũns từ tháng 8 năm 1969, Lon Nol đòi phân biệt giữa quvền [ực của
Trang 40- .:'b
-chính quyền và Quốc trướna, cảm cõng chức nhà nước tiếp xúc với Quốc trường Níhững tháns sau đó, Samdech Norodom Sihanouk cũn2 có nhiều lần
tó ra không hài lòng vẻ đường lối chính trị của Sisovath Sirimatak Tinh hình
đã xấu ngày càng xấu Ngày 27 tháng 12 nãm 1969, bốn bộ trường xin từ
ch ứ c Sisovath Sirimatak quyền thủ tướng (thay Lon Nol đi chữa bệnh ở Pháp)
dã nhận đơn ngay mà không để xẩv ra khủna hoảng Nội các từ đây hoàn toàn thuộc vể phái hữu Ngày 06/01/1970, Samdech Norodom Sihanouk cũng đi
Pháp để chữa bệnh
Về mặt quân sự, từ mùa thu 1969, Lon Nol đã liên kết với lực lượng Khmer tự do, bọn phiến loạn cực hữu, từ Thái Lan trở về, đưa một số sĩ quan của lức lượng này vào nắm chính quvền chỉ huy quân đội hoàng gia, gạt dần tướns tá của phái truns lập, xâv dựn2 được sự liên kết bí mật giữa nhữns người chi huy quàn sự Campuchia với nhữnơ tướn2 tá Thái Lan và Mỹ
Việc thay thế 4 bộ trườn2 và Samdech Norođom Sihanouk đi Pháp chữa bệnh đã làm cho bọn phái hữu rảnh tav hoạt độns N sày 4 tháns 2 năm 1970, chúns củna cô lại Chính phù phái hữu một lán nữa Lon Nol tuvên bố trực tiếp nắm thèm Bộ Thòna tin tuyên truyền
Như vậv là đến đầu nãm 1970 Lon Nol và Sisovath Sirimatak cầm đầu phái hữu trona Sanskum đả thiết lập được nhữns cơ sờ vữnă chắc về chính trị trong hệ thốna chính quyền vương quốc ở truns ương và trong các lực lượn2
vỏ trana hoànơ gia, kể cà cô n s an cảnh sát
Tại bệnh viện Grátsơ (Pháp) Samdech Norodom Sihanouk thường liên
hệ với Phnom Penh và biết được âm mưu hành độn2 của phái hữu, nhưng ông
đã khỏns còn đẽ n2ãn chộn Đầu tháng 2 năm 1970, Lon Nol quay về Phnom Penh tình hình Campuchia có những chuyển biết rất đáng lo ngại Campuchia hòa bình trun2 lập đ an2 đứns trước nguy cơ sụp đổ Cuộc giành quyền lực trons nội bộ chính quyển vươns quốc Campuchia diễn ra phức tạp và đã dẫn đến cuộc đảo chính nsày 18 thánơ 3 năm 1970