QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI
2.6. CÁC HÌNH THÚC CÔNG NHẬN QUỐC TẾ
Các luật gia của các nước thường nhấn mạnh mối quan hệ tuỳ thuộc g S s hình thức còng nhận quốc tế và phạm vi quan hệ pháp luật được hình tn ìm h do kết quả cùa sự công nhận quốc tế cụ thể đó.
Cho đến nay khòng tồn tại một hình thức còng nhận chung cho mọi m rè ro g hợp [8, 61], [50, 23], [72, 145-172]. Trong thực tiễn quan hệ quốc tế
thường gặp nhiều thuật níỉữ khác nhau thể hiện các hình thức công nhận quốc tế khác nhau. Dựa vào phạm vi và mức độ cùa những quan hệ pháp luật được thiết lập giữa các quốc gia công nhận và bên được công nhộn có thể nêu lèn các hình thức côns nhận thường aặp sau đây: cổng nhận deỹure, công nhận de facto, công nhận ãd hoc.
Công nhận de jure - là sự công nhận chính thức ở mức độ đầy đủ nhất và trong một phạm vi toàn diện nhất [2], [8, 61-62], [34, 24].
Công nhận de íũcto - cũng là sự còng nhận chính thức, nhưng công nhận ớ mức khôna đầy đủ, hạn chế và trons một phạm vi không toàn diện. Theo V.I. Lènin, thì công nhận de facto là "công nhận mới một nữa” [37].
À
Cả hai hình thức công nhận quốc tế này đểu có những đặc thù; tính hợp pháp của việc áp dạng hình thức côns nhận này hoặc hình thức công nhận kia đă được các luật gia quòc tế tranh luận khá nhiều rrona thời gian qua. Song đa số luật gia quốc tế ủng hộ quan điếm cho rằng nếu một dân tộc nào đó đứng lên đấu tranh và thành lộp một quốc gia dân tộc tụ chủ phù hợp với nguyên
tấc tự q u y ế t c ứ a dân tộ c thì q u ố c g ia m ớ i được [hành lập đ ó n s a v từ khi được
thành lập đã có quvền được quốc 2Ìa khác công nhận de jure.
Một điểm cần lưu ý là trong thực tiễn ta thấy có sự phân chia các Chính phù mới được thành lộp ra thành Chính phủ de jure và Chính phủ de facto, côna nhận de jure và còng nhận de facío, song khòna thể đem vấn đề này để nguỵ biện cho quan điểm có quốc gia de jure và quốc gia de fãcto.
Theo chúng tòi, mọi quốc gia ra đời, phù hợp với các nguyên tắc cơ bàn cùa pháp luật quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc dân tộc tự quyết, phù hợp với quy trình phát triển của quan hệ quốc tế tất nhiẻn phải là quốc gia dớ jure.
Quan hệ phát sinh giữa quốc sia công nhận và bèn được công nhận trên cơ sờ côna nhận de íacto là những quan hệ quá độ tiến lên quan hệ toàn diện và đầy đủ giữa các bén sau khi công nhận de juie. Phạm vi quan hệ giữa các bên sau khi cống nhận de íactù thirờns vẫn phải đirợe xác định trên cơ sở các
- 123 -
điều ước quốc tế.
Sự khác nhau cơ bản giữa hlnh thức công nhận de jure và công nhận de
o
facto chủ yếu được thể hiện rõ về mặt chính trị, bời vì vể mặt pháp lý thì cả hai hình thức công nhận cơ bản này đều có nhiều điểm chung. Động cơ chính trị ở đây của bèn còng nhận de facto có thể được thể hiện ở thái độ miễn cưỡng hoặc thái độ thận trọns của quốc gia cồng nhận đối với bên mới được - thành lập (chả yếu là quốc gia và chính phủ mới) ưong nhiều vấn đề liên quan đến thực trạng hiện tại trong và ngoài nước, cũng như vấn đề tương quan lực lượng chính tộ quốc tế. Đối với trường hợp côns nhận de jure, các bên rõ ràns muốn thiết lập mối quan hệ bình thường toàn diện với tất cả những kết quả pháp lý của nó. Động cơ chính trị ờ đày được thể hiện rõ nét.
Tuy vậy, một số luật gia tư sàn còn khẳng định đến sự khác nhau cả về mặt chính trị lẫn mặt pháp lý trono hành vi công nhận chính thức ở đây. Theo giáo sư H. Lauterpacht thì rõ ràng aiữa cỏns nhận de jure và công nhộn de facto có sự khác nhau khá lớn về kết quả pháp lý. Theo ông thì quan hệ ngoại giao giữa các bèn hữu quan chi có thẻ có khi các bèn này côna nhộn nhau de jure. Ngoài ra, theo giáo sư H. Lauterpacht, sự còna nhận de jure là cơ sở pháp lý quan t r ọ n s để giai quyết triệt để vấn đề k ế thừa quốc tế của các bẻn hữu quan [77, 345].
Thực tiễn quan hệ quốc tế còn cho thấy* hình thức côns nhận ad hoc là quan hệ thực tế giữa quốc còng nhận và bèn được cỏns nhận trong trường hợp thiếu sự công nhậu chính thức giữa các bên. Đày là hình thức công nhận đặc biệt mà quan hệ giữa các bèn chỉ phát sinh trona một phạm vi nhất định nhằm tiến hành một sô công cụ cụ thể và quan hệ đó sẽ được chấm dứt ngay sau khi hoàn thành các công vụ nói trên.
Vấn đề ý nghĩa phđp lý của những quan hệ thực tế này đến nay vẫn chưa được nghiên cứu nhiều. Nhữns quan hệ này được thiết lập khá nhiều trong thực tiễn quốc tế theo nhiều vấn đề khác nhau. Đôi khi chúng là giải pháp tối ưu để phá vỡ bức tưcmu băna giá giữa các nước chưa cỏng nhận
- 124 -
nhau. Thiếu loại quan hệ ad hoc này sẽ làm cho sư hợp tác kinh tế, chính tri và các quan hệ khác giữa các Chính phủ và các quốc gia khỏno phát triển được. Một trong những ví dụ điển hình về công luận ũd hoc tronơ thời gian qua đó ]à trường hợp quan hệ thực tế giữa Mỹ và Trung Quốc trong giai đoạn từ tháng 4/1971 đến đầu năm 1972 với chính sách "ngoại giao bóng bàn".
2.7. CÁC PHUƠNG PHÁP THỤC HIỆN S ự C Ồ N G NHẬN Qưóc T Ế
Pháp luật quốc tế không quy định một phương pháp thực hiện sự công nhận quốc tế cứng nhắc cho mọi quốc gia và chính phủ mới được thành lập cũng như cho mọi thực thể khác.
Trona thực tiễn quan hệ quốc tế thườns gặp hai nhóm phương pháp chủ yếu dược áp dụn2 đê thực hiện sự công nhận quốc tế sau :
Thứ Iihất, đó là phương pháp còng nhận minh thị, tức là sự cô n s nhận quốc tế ờ đâv được thực hiện một cách rõ ràns, minh bạch, được phát triển bầna một hành vi cụ thè của quốc 2Ìa. chính phú còns nhận trona các văn kiện chính rhức.
Sự công nhộn quốc tế được thực hiện theo phương pháp nàv có thể được tiến hành bằng cách 2Ừi một văn thư ngoại siao hay một bức điện tín đến quốc sia, chính phù mới được thành lập để nói rõ sự côn2 nhận quốc gia, chính phù mới đó. Tron2 văn thư nsoại 2Ìao hoặc điện tín này phải nói rõ quyết định của bèn còna nhộn về việc Còn2 nhận quốc gia, chính phù mới thành lập này. Chan2 hạn, trong Thòng điệp ngày 05/02/1950 của Chính phú nước CHND Honsaríe gửi Chính phủ nước Việt Nam DCCH có đoạn viết:
"Nước CHND Honaarie thừa nhận Chính phủ nước Việt Nam DCCH là đại biểu hợp pháp của nước Việt Nam và sung sướnơ tiếp nhận kiến nghị ấy, kiến lập mối quan hệ ngoại aiao giữa nước CHND Honsarie và nước Việt Nam EXT CH".
Sự công nhận quốc tế được thực hiện theo phương pháp minh thị cũng
- 1 2 5 -
có thể được tiến hành bằng cách ký kết một điều ước quốc tế mà trong đó nói rõ sự công nhận giữa các bèn. Chẳng han, trong khoản l Hiệp định sơ bỏ ngày 06/3/1946 giữa Việt Nam DCCH và Cộng hoà Pháp có ghi rõ "Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam DCCH là một quốc gia tự do có Chính phủ của mình, nghị viện của minh, quân đội cùa mình, tài chính của mình và là một phần từ trong Liên bana Đông Dương và trons khối Liên Hiệp Pháp".
Thứ hai, đó là phương pháp côns nhận mặc thị, tức là sự công nhận quốc tế được thực hiện một cách kín đáo, một cách ngấm ngầm mà bên được, cồng nhận hoặc các quốc gia và chính phủ khác phải dựa vào các quy phạm tập quán pháp nhất định hay các nguyên tắc suy diễn thông thườns trong sinh hoạt quốc tế mới làm sáng tỏ được ý định còng nhận cùa bên công nhận.
Sự còng nhận theo phương phdp mặc thị có thể được thực hiện thông qua hành vi của các bèn trona trường hợp không có bên nào ban hành một văn bản chính thức cụ thè’ về sự côns nhận nhau. sons các bèn lại thiết lập quan hệ ngoại siao với nhau hoặc ký kết nhữns điều ước quốc tế hai bên mà trong các điều ước quốc tế đó có ghi rõ ràng và đây đủ tên gọi chính thức của mỗi bèn. Trong trưcms họp này, các bên mặc nhiên công nhộn nhau. Chẳng hạn, Hoa Kỳ mặc nhiên côna nhận Việt Nam DCCH bời việc ký kết Hiệp định hai bèn về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam ngày 07/01/1973 tại Paris [11 Ị.
Sự công nhận mặc thị cũng có thể được thực hiện bằng cdch trao đổi các đại diện ngoại giao, các phái đoàn đặc nhiệm ngoại giao, biến một lãnh sự quán thành một sứ quán hoặc đại sự quán...
Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, sự công nhận de jure và sự công nhận de fncto đều có thể dược thực hiện thông qua một trong hai nhóm phương pháp công nhận nói trên. Tuy vậy, thường thi sự côn2 nhận de ũ c to ít khi được thực hiện thông qua phương pháp minh thị và sự cồng nhận de jure thì lại thường được thực hiện thòng qua phương pháp minh thị.
- 1 2 6 -
Ngoài ra, quốc gia, chính phủ có thể thực hiện sự còng nhận quốc gia và chính phủ mới thành lộp theo một thể thức riêng lẻ, độc lộp đối với các quốc gia khác, hoặc theo thể thức tập thể trong quan hệ hợp tác với các quốc gia khác trong những mức độ và phạm vi khác Iihau.
- 128 -
KẾT LUẬN CHUƠNG 2
1. Quan hệ giữa các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế hiện nay chủ yếu dựa trên các nguyên tắc mới của pháp luật quốc tế, trong sô đó phải chú ý đến nguyên tắc hợp tác và nguyên tấc không phàn biệt đới xử trong phạm vi toàn cầu. Nếu như trước đây sự công nhận quốc gia là thể loại công nhận chủ yếu, thì nay ngoài sự công nhận quốc gia ra còn có sự công nhận rất phổ biến, đó là côns nhận các Chính phủ được thành lập do kết quả của việc thực hiện quyển dân tộc tự quyết, công nhận các cơ quan, tổ chức
A
của cuộc đấu tranh giải pháp dân tộc và công nhận các tổ chức quốc tế.
2. Bản chất pháp lý cùa hành vi công nhộn quốc tế phần lớn tuỳ thuộc vào thể loại cônơ nhận quốc tế. Quan hệ giữa các quốc ơịa với tính cấch là các nhân tố của hệ thốns đươna nhiên là một trong những điều kiện tất yếu để cho hệ thốns đó vận hành binh thưừns. Và chính như vạy nên khi có một nhàn lố của hệ thống bị suy sụp, tan rã hoặc xuất hiện một nhan tố mới trong hệ thống, thì sự thay đổi đó sẽ phàn ánh lèn toàn bộ hệ thống. Chi có sự công nhận nhanh chóns các chù thổ đó mới có thể 2Ĩúp cho việc thưc hiện có hiệu quà các nguyèn tắc và quv phạm Jus cosens của pháp luật quốc tế, các quy định về hợp tác theo Hiến chương Lièn hợp quốc và các văn kiện quốc tế khác.
3. Sự công nhận quốc tế là một hành vi pháp lý - chính trị. Hành vi này có cơ sở của nó là tưcms quan lực lượng giai cấp thống trị ớ các nhà nước trong quíin hệ quốc tế và nó làm này sinh một số quvền và nshTa vụ nhất định giữa các bèn hữu quan.
4. Sự còng nhộn quốc tế dựa trèn những động cơ nhất định (chủ yếu là động cơ chính trị, kinh tế, quốc phòng... ) của giai cấp thống trị ờ quốc gia cổng nhận. Sự công nhận quốc tế khẳng định lại quan hệ của quốc sia công
<7
nhộn đỏi với đườns lối, chính sách, chế độ chính trị, kinh tế V. V... của bẻn được công nhận (chù yếu là quốc sia và Chính phủ mới thành lập); Sự cống nhận quốc tế thể hiện ý định của quốc gia công nhận muốn thiết lập quan hộ binh thường và ổn định trong nhiều rinh, vực với bên được công nhận.
5. Có thể định nghĩa công nhận trong luật quốc tế như sau: Sự công nhận trong Luật quốc tế hiện nay được hiểu như là hành vi pháp lý chính trị của quốc gia công nhận dựa trên nển tảng các động cơ nhất định (mà chủ yếu là động cơ chính trị, kinh tế, quốc phòng...) nhằm xác nhận sự tồn tại của một thành viên mới trong cộ n s đồng quốc tế, khẳng định lại quan hệ của quốc gia công nhận đối với chính sách, chế độ chính tri, kinh tế... của thành viên mới này, và đồng rhời thông qua hành vi pháp lv - chính trị đó mà quốc gia công nhận thể hiện ý định hoặc sự mons muốn được thiết lập quan hệ binh thường và ổn định với thành viên mới cùa cộna đồng quốc tế trong nhiều ĩĩnh vực khác nhau của cuộc SỐI12.
- 1 2 9 -
- 1 3 0 -