Lý do chọn đề tài: Những quan niệm đầu tiên về can thiệp nhân đạo được ra từ đời từ thế kỉ 13, và hoàn thiện vào những năm cuối thế kỉ 20 với nội dung là “quyền của cộng đồng quốc tế t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
Vấn đề can thiệp nhân đạo và trách nhiệm bảo
vệ trong luật quốc tế hiện đại
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thăng Long
Học viên: Lê Thị Minh Phương
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2012
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Những quan niệm đầu tiên về can thiệp nhân đạo được ra từ đời từ thế kỉ 13,
và hoàn thiện vào những năm cuối thế kỉ 20 với nội dung là “quyền của cộng đồng
quốc tế tiến hành hành động can thiệp, kể cả bằng quân sự, vào một quốc gia mà không có sự chấp thuận của quốc gia đó, để chấm dứt tình trạng vi phạm nhân quyền hàng loạt tại đó”
Trải qua một quá trình phát triển, khái niệm can thiệp nhân đạo cũng như thực tiễn can thiệp nhân đạo trên thế giới đã là chủ đề cho nhiều tranh luận sôi nổi trong khoa học pháp lý quốc tế Các quan điểm ủng hộ cho rằng nhân quyền cao hơn chủ quyền, và can thiệp nhân đạo là hành động cần thiết để bảo vệ quyền con người hiệu quả Trái lại, các quan điểm không ủng hộ cho rằng học thuyết vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế Đặc biệt, hành vi can thiệp nhân đạo đơn phương được thực hiện không có một cơ sở pháp lý rõ ràng Bên cạnh đó, thực tiễn can thiệp nhân đạo gần đây đã chứng minh lập luận rằng hành động can thiệp nhân đạo vi phạm nghiêm trọng chủ quyền và nhân quyền, mặc dù nó được tiến hành với mục đích bảo vệ nhân quyền Hơn thế, trong bối cảnh toàn cầu hiện nay, các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có tiềm lực mạnh về vũ trang, quân sự sẵn sàng lợi dụng danh nghĩa can thiệp nhân đạo để can thiệp vào nội bộ quốc gia khác, và gia tăng tầm ảnh hưởng của mình Chính vì vậy, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của can thiệp nhân đạo mang một ý nghĩa sâu sắc, nhất là trong bối cảnh thế giới đang diễn
ra nhiều xung đột như hiện nay
Ở một khía cạnh khác, sự phát triển lâu dài và có nhiều điểm đặc biệt của vấn
đề can thiệp nhân đạo đã làm xuất hiện một khái niệm mới - khái niệm “Trách
Trang 3nhiệm bảo vệ” (The Responsibility to Protect – R2P) Sau cuộc chiến Libya diễn ra năm 2011, khái niệm trách nhiệm bảo vệ được giới nghiên cứu quan tâm sâu sắc hơn nữa bởi tính thời sự của nó Bên cạnh đó, trong mối quan hệ với can thiệp nhân đạo, trách nhiệm bảo vệ tuy ra đời sau nhưng ngày càng trở nên quan trọng, thậm chí có ý kiến cho rằng trách nhiệm bảo vệ sẽ thay thế can thiệp nhân đạo trong một thời gian không xa Việc nghiên cứu trách nhiệm bảo vệ một mặt làm rõ những vấn
đề lý luận rất mới mà nó đang đặt ra, mặt khác góp phần nói lên sự phát triển của học thuyết can thiệp nhân đạo qua các thời kì, như một bước chuyển dài từ cổ điển đến hiện đại
Từ những lý do trên, tác giả mạnh dạn chọn đề tài “Vấn đề can thiệp nhân đạo
và trách nhiệm bảo vệ trong luât quốc tế hiện đại” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Về tình hình nghiên cứu:
Trên thế giới, “can thiệp nhân đạo” và “trách nhiệm bảo vệ” là những vấn đề được tập trung nghiên cứu từ rất lâu Các công trình nghiên cứu đều thống nhất ở vấn đề lý luận Tuy nhiên, tùy theo ý kiến cá nhân mà quan điểm của các tác giả này
về can thiệp nhân đạo và trách nhiệm bảo vệ có thể khác nhau 1
Tại Việt Nam, can thiệp nhân đạo và trách nhiệm bảo vệ đã và đang nhận được nhiều sự quan tâm từ các học giả2
Tuy nhiên, nhưng các công trình nghiên cứu về nó còn khá hạn chế
3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là 2 vấn đề: can thiệp nhân đạo và trách nhiệm bảo vệ Trong đó, ở phần can thiệp nhân đạo, đề tài tập trung vào các vấn đề
1 Các tác phẩm của các tác giả như Francis Abiew (1999), “The Evolution of the doctrine and practice of
Humantarian Intervention”; Fernando R.Teson (1997), “Humantarian Intervention”; P.Malanczuk (1993),
“Humantarian Intervention and the legitimacy of the use of force”, Verwey (1985), “Humantarian
Intervention under International Law”
2 Trần Thị Vân Trà (2010), “Luật quốc tế và học thuyết can thiệp nhân đạo”, ĐH Luật Hà Nội; Ngô Văn Thìn (2005), “Can thiệp nhân đạo quốc tế”, ĐH Luật Hà Nội
Trang 4như lịch sử hình thành, quá trình phát triển của can thiệp nhân đạo, cơ sở pháp lý, các cuộc can thiệp nhân đạo tiêu biểu Ở phần phần trách nhiệm bảo vệ, đề tài tập trung làm rõ hoàn cảnh lịch sử, nội dung học thuyết trách nhiệm bảo vệ, mối quan
hệ giữa khái niệm này với can thiệp nhân đạo
Về phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung vào vấn đề về can thiệp nhân đạo trong phạm vi nghĩa hẹp của khái niệm này– can thiệp nhân đạo có sử dụng vũ trang Cụ thể, tác giả tập trung nghiên cứu hoạt động can thiệp nhân đạo với góc độ
là can thiệp đi kèm với hành động vũ trang, không nghiên cứu can thiệp nhân đạo dưới góc độ cứu trợ trong các thảm họa như động đất, núi lửa, dịch bệnh…Trong phần trách nhiệm bảo vệ, đề tài tập trung nghiên cứu ở phạm vi khái quát nhất các vấn đề lý luận chung, thực tiễn thi hành R2P, mối quan hệ giữa R2P với can thiệp nhân đạo cũng như quan điểm của Việt Nam vế vấn đề can thiệp nhân đạo, trách nhiệm bảo vệ
3 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mac – Lenin Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp so sánh, tổng hợp, phân tích các sự kiện và quan điểm có liên quan
4 Ý nghĩa khoa học và tính ứng dụng của đề tài
Trong tình hình hiện nay, khi thế giới đang có nhiều bất ổn về chính trị và đề tài nghiên cứu về can thiệp nhân đạo cũng như trách nhiệm bảo vệ còn rất hạn chế tại Việt Nam, thì việc nghiên cứu về hai vấn đề này sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn mà chúng đang đặt ra Mặt khác, việc nghiên cứu chuyên sâu về can thiệp nhân đạo và trách nhiệm bảo vệ sẽ giúp chúng ta hiểu rõ bản chất của hai hoạt động này cũng như những kẽ hở mà nó đang tồn tại Qua đó, khóa luận
hy vọng gợi mở những khía cạnh mới để những ai quan tâm có thể nghiên cứu tiếp tục đề tài này
Trang 5CHƯƠNG 1 CAN THIỆP NHÂN ĐẠO – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Khái niệm, đặc điểm và các hình thức can thiệp nhân đạo
1.1 Khái niệm can thiệp nhân đạo
“Can thiệp nhân đạo” (CTNĐ) là thuật ngữ lần đầu tiên được nhắc tới vào thế
kỉ 17 trong các tác phẩm của Hugo Grotius (1583-1645)3 Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chính thức về can thiệp nhân đạo4 Trong khoa học pháp lý, khái niệm “can thiệp nhân đạo” được định nghĩa khá đa dạng Có thể kể đến hai định nghĩa được sử dụng rộng rãi trong khoa học pháp lý quốc tế sau đây:
Theo từ điển luật Oxford (The Oxford Dictionary of Law): “Can thiệp nhân
đạo là sự can thiệp của một hoặc nhiều quốc gia vào công việc nội bộ của quốc gia khác bằng các phương tiện vũ trang, với ý định bắt buộc quốc gia đó thực thi một chính sách nhân đạo hơn.”5 Theo sách “Thuật ngữ pháp lý quốc tế” thì “Can
thiệp nhân đạo là hành động sử dụng vũ lực nhằm vào một quốc gia mà không được quốc gia đó đồng ý, dù có hay không có sự cho phép của Hội đồng bảo an Liên
3
Hugo Grotius (1583-1645) là một nhà thần học người Hà Lan, ông là người đầu tiên chính thức nêu lên nguyên tắc can thiệp nhân đạo Lauterpacht viết rằng : “Grotious làm nên tuyên bố đầu tiên về nguyên tắc can thiệp nhân đạo – nguyên tắc cho rằng quyền thực thi pháp lý riêng biệt trong nội bộ quốc gia sẽ dừng lại khi những vi phạm về nhân quyền bắt đầu”
Xem [http://en.wikipedia.org/wiki/Hugo_Grotius] (truy cập 05/05/2012); Eric Adjei, “The Legality of
humanitarian intervention”, (Tính hợp pháp của can thiệp nhân đạo), University of Geogia School of Law,
2005, [http://digitalconmons.law.uga.edu/stu_llm] (truy cập 05/05/2012)
4
Kyrre Grimstad, “Humanitarian Intervention : Historical, Legal and Moral perspectives”,(Can thiệp nhân
đạo: Các khía cạnh lịch sử, pháp lý và đạo đức), University of Cape Town, 2001,
[http://www.publiclaw.uct.ac.za/usr/public /grimstad.pdf] (truy cập ngày 05/05/2012); Eric Adjei, “The
Legality of humanitarian intervention”, (Tính hợp pháp của can thiệp nhân đạo), University of Georgia
School of Law, 2005, [http://digitalconmons.law.uga.edu/stu_llm];
http://en.wikipedia.org/wiki/Humanitarian_intervention (truy cập ngày 05/05/2012)
5 Kyrre Grimstad, “Humanitarian Intervention : Historical, Legal and Moral perspectives”,(Can thiệp nhân
đạo: Các khía can lịch sử, pháp lý và đạo đức) University of Cape Town, 2001, tr.3,
[http:// www.publiclaw.uct.ac.za/usr/public /grimstad.pdf] (truy cập ngày 05/05/2012)
Trang 6Hiệp Quốc vì mục đích nhân đạo, nhằm ngăn chặn hay đẩy lùi những hành vi vi phạm nghiêm trọng luật nhân đạo hay luật nhân quyền quốc tế”6
Hai khái niệm trên dù không đồng nhất nhưng vẫn thể hiện được 2 đặc điểm đặc trưng nhất của can thiệp nhân đạo, đó là: (1) có sự can thiệp vũ trang của 1 hoặc một nhóm các quốc gia vào một quốc gia khác; và (2) vì mục tiêu nhân đạo Như vậy, có thể đưa ra một khái niệm về can thiệp nhân đạo như sau:
“Can thiệp nhân đạo là hành động sử dụng vũ lực của 1 hoặc nhiều quốc gia vào công việc nội bộ của quốc gia khác, nhằm ngăn chặn hay đẩy lùi những hành vi
vi phạm luật nhân quyền quốc tế xảy ra tại quốc gia đó”
1.2 Các đặc điểm của can thiệp nhân đạo
Như vậy, từ cách hiểu trên thì khái niệm “can thiệp nhân đạo” có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, mục đích nhân đạo là cơ sở cho hoạt động can thiệp nhân đạo Chỉ
khi có “mục đích nhân đạo” thì vấn đề can thiệp nhân đạo mới được xem xét đến Cùng với sự phát triển của luật quốc tế hiện đại, hệ thống các nguyên tắc cơ bản đã được thừa nhận rộng rãi như những quy phạm pháp lý bắt buộc, trong đó có nguyên tắc về nghiêm cấm sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực cũng như chống lại việc can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác Tính hợp pháp của can thiệp nhân đạo vì thế đã được các học giả đặt ra và “mục đích nhân đạo của hành động” là một trong những yếu tố nhằm xác định tính hợp pháp này.7 Tuy nhiên, hiện nay các học giả vẫn chưa thống nhất được các tiêu chí để xác định thế nào là “mục đích nhân đạo”.8
6 TS Đỗ Hòa Bình (chủ biên), Th.S Phạm Thị Thu Hương, Th.S Lê Đức Hạnh , “Thuật ngữ pháp lý quốc tế”,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội (2009), tr.76-77
7 Trần Thị Vân Trà, “Luật quốc tế và học thuyết can thiệp nhân đạo”, ĐH Luật Hà Nội, 2010, tr.17,
http://tainguyenso.vnu.edu.vn/xmlui/handle/123456789/38814 (truy cập 07/5/2012)
8
Như trên
Trang 7Thứ hai, sự vi phạm nghiêm trọng quyền con người là căn cứ để thực hiện can
thiệp nhân đạo
Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy LHQ về Quyền con người, thì “quyền
con người” là: “những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và
các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự cho phép và tự do cơ bản của con người”9 Việc xác định các quyền con người nào bị vi phạm và thế nào là “vi phạm nghiêm trọng quyền con người” do các cơ quan thuộc cơ chế thực thi quyền con người của LHQ xem xét, dựa trên các văn kiện pháp lý quốc tế về quyền con người10
Trong trường hợp xảy ra các cuộc khủng hoảng nhân đạo, quốc gia rơi vào nội chiến hoặc tình trạng vô chính phủ hoặc khi chính quyền sở tại áp bức người dân của chính nước họ, các quốc gia khác không thể coi các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế về tôn trọng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ quốc gia khác là bất khả xâm phạm Sự vi phạm nghiêm trọng quyền con người chính là căn
cứ để thực hiện quyền can thiệp nhân đạo11 Đây cũng chính là một ngoại lệ quan trọng của nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác được chấp nhận trong luật quốc tế hiện đại12
Thứ ba, can thiệp nhân đạo gắn với việc sử dụng vũ lực Đây là đặc điểm chủ
yếu của hoạt động can thiệp nhân đạo13, giúp giới hạn thuật ngữ này với sự can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác thông qua các biện pháp chính trị và kinh tế14
Khoa Luật Quốc Tế, “Tập bài giảng Khái luận chung về LQT”, ĐH Luật TP.HCM, TPHCM (2011)
13 http://en.wikipedia.org/wiki/Humanitarian_intervention (truy cập ngày 05/05/2012)
14 Như trên
Trang 81.3 Các hình thức can thiệp nhân đạo
Căn cứ vào cơ sở của hành động can thiệp nhân đạo, có hai hình thức can thiệp nhân đạo15:
Can thiệp nhân đạo không trên cơ sở quyết định của Hội đồng Bảo An (HĐBA) (do một hoặc nhiều quốc gia, các tổ chức quốc tế khu vực…đơn phương thực hiện)
Can thiệp nhân đạo trên cơ sở thẩm quyền của Hội đồng Bảo An (được sự cho phép của chính HĐBA hoặc do HĐBA thực hiện)
Trong hai hình thức can thiệp nhân đạo nêu trên thì CTNĐ dựa trên cơ sở thẩm quyền của HĐBA hoặc do chính HĐBA thực hiện là hoạt động có cơ sở pháp
lý dựa trên chương VII Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (HCLHQ) và được thừa nhận rộng rãi như một trong những hành động thuộc quyền hạn của HĐBA Trái lại, đơn phương can thiệp nhân đạo cho đến nay vẫn không có cơ sở pháp lý rõ ràng và được cho là hành vi can thiệp bất hợp pháp vào nội bộ quốc gia khác Đây là hoạt động gây ra nhiều quan điểm tranh cãi và cũng là đối tượng được xem xét chủ yếu trong chương 1 khóa luận này
2 Sự phát triển của luật quốc tế về can thiệp nhân đạo
Can thiệp nhân đạo có một quá trình phát triển lâu dài Bắt nguồn từ những tiền đề tư tưởng có từ triết học Hy Lạp xa xưa về luật của tự nhiên, cho đến thuyết chiến tranh chính nghĩa, chủ quyền quốc gia…Ở mỗi giai đoạn lịch sử, can thiệp nhân đạo có những đặc trưng riêng Đến thế kỉ 16 - 17, khi can thiệp nhân đạo được các học giả thừa nhận thì các hoạt động can thiệp mang danh nghĩa nhân đạo được tiến hành rộng rãi vào thế kỉ 19 - đầu thế kỉ 2016
Từ thời xa xưa, triết học Hy Lạp cho rằng có tồn tại một định luật phổ quát của tự nhiên, và mọi người đều có nghĩa vụ tuân thủ Tất cả những luật lệ, quy ước,
15 Như trên
16
Trần Thị Vân Trà (2010), chú thích số 7, tr.20
Trang 9tập quán nào do nhà nước, xã hội đặt ra phải phù hợp với luật tự nhiên đó Các triết gia trong giai đoạn này chính là những người đầu tiên soạn thảo các vấn đề cơ bản,
mấu chốt của học thuyết luật tự nhiên với những quan điểm tiến bộ như “mọi người
đều bình đẳng”, “tự nhiên không sinh ra ai để làm nô lệ”, “luật pháp của nhà nước là một thứ chuyên chế nếu chúng buộc con người phải hành động trái với bản tính của mình”17… Những tư tưởng về luật tự nhiên đã đã tiếp tục phát triển bởi Socrates và các học trò của ông là Plato và Aristotle
Một nội dung quan trọng của luật tự nhiên đó là tất cả mọi người đều được đối
xử một cách công bằng, vì vậy có thể xem đây là nền tảng cơ sở của khái niệm các quyền con người cố hữu Đồng thời, luật tự nhiên cấu thành nền tảng hợp lý của
xã hội chính trị, và cũng là cơ sở mà dựa vào đó thuyết khế ước xã hội và chủ
quyền quốc gia hình thành nên trong những ngày đầu của nền văn minh Do đó, nó
cũng là nguồn đầu tiên và cơ bản nhất của các ý tưởng liên quan đến can thiệp nhân đạo
Cùng với luật của tự nhiên, thuyết can thiệp nhân đạo có tiền đề từ lý thuyết về chiến tranh chính nghĩa (just war theory hay bellum justum)18 Những đại diện của thuyết này là St Augustine (354-430) và Thomas Aquinas (1225-1274) Lý thuyết
về chiến tranh chính nghĩa bắt nguồn từ những quan niệm cổ điển của người Hy Lạp cho rằng chiến tranh là không chính đáng, trừ khi có một nguyên nhân để tiến hành nó Tương tự, các nhà thờ Thiên chúa giáo trong giai đoạn đầu phần lớn là theo chủ nghĩa hòa bình, và họ từ chối công nhận chiến tranh là hợp lý, dù trong bất
kỳ hoàn cảnh nào19
17
Th.S Nguyễn Xuân Tùng, “Học thuyết Luật tự nhiên và những vấn đề trong đào tạo cán bộ pháp luật
trong giai đoạn hiện nay”,
[http://moj.gov.vn/ct/tintuc/lists/nghin%20cu%20trao%20i/view_detail.aspx?ItemID=4431 ] (truy cập ngày 05/5/2012)
Trang 10Thomas Aquinas (1225-1274) trên cơ sở tổng hợp các tác phẩm cổ điển của Hy Lạp (trong đó chủ yếu là các tác phẩm của Aristotle) và thần học Kitô giáo
đã đi đến kết luận rằng: để một cuộc chiến là chính nghĩa, nó phải đáp ứng các yêu cầu nhất định20
Thứ nhất, nó phải được tiến hành bởi một cơ quan có thẩm quyền, nghĩa là được tiến hành bởi hoàng gia hoặc giáo hội Thứ hai, phải có một nguyên
nhân chính nghĩa để tiến hành chiến tranh Cụ thể, bên bị tấn công “đáng phải bị
như thế vì một số lỗi”21
Những trường hợp chính nghĩa của chiến tranh đó là tự
vệ, khôi phục lại hòa bình, sự hỗ trợ các nước láng giềng chống lại cuộc tấn công
và sự nổi dậy của người người nghèo khổ và bị áp bức Cuối cùng, chiến tranh chính nghĩa phải được tiến hành với một ý định đúng đắn22
Trong thế kỷ 16-17, can thiệp nhân đạo được xem xét như một phần quan trọng của thuyết chiến tranh chính nghĩa và nó được đặt trong mối quan hệ với luật
tự nhiên Giai đoạn này, lần đầu tiên nguyên tắc can thiệp nhân đạo được nêu lên một cách chính thức trong các tác phẩm của Grotious (1583-1645)23 Mặt khác, trong giai đoạn này, các học giả đều thừa nhận CTNĐ là hợp pháp Grotious lập luận rằng mỗi cá nhân có các quyền cố hữu, vốn có Quốc gia ra đời bởi vì các cá nhân muốn đảm bảo cho sự an toàn của họ và như vậy, họ sẽ phải nhượng lại một phần các quyền cố hữu của mình cho quốc gia - nhà nước Quyền tối cao của các quốc gia vì thế bị giới hạn trong một mức độ của các quyền được nhượng lại từ các
cá nhân Vì thế, khi các quốc gia vược quá thẩm quyền của mình, phủ nhận các
động cơ và ý định chính nghĩa cũng là một đặc điểm trung tâm của lý thuyết luân lý Kitô giáo Chính nghĩa của một hành động không thể được phán xét mà không đánh giá ý định khởi phát
Xem Kyrre Grimstad (2001), chú thích số 4, tr.3
Trang 11quyền cố hữu này, hay nói cách khác là vi phạm các quyền con người, thì các quốc gia - nhà nước khác có quyền can thiệp để thiết lập lại trật tự của luật tự nhiên24 Bằng cách này, luật tự nhiên đặt những giới hạn vào sự độc lập của các nhà nước, trong đó chủ quyền nội bộ và bên ngoài của họ đã được hạn chế bởi các nguyên tắc của nhân quyền và bằng các quy tắc của chiến tranh chính nghĩa
Học thuyết can thiệp nhân đạo không ngừng phát triển ở các thời kỳ tiếp theo Vào thế kỉ 18 và 19, ban đầu can thiệp nhân đạo được xem là không hợp pháp trong thuyết chủ quyền quốc gia25 Tuy nhiên, giai đoạn này chưa xuất hiện các quy định
về cấm sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế và cũng vì lúc này chiến tranh là phương tiện hữu hiệu để giải quyết tranh chấp, xung đột quốc tế, dẫn đến vào thế kỉ
19 CTNĐ được các học giả chấp nhận và ủng hộ Tính hợp pháp của can thiệp nhân đạo lúc này được chấp nhận dựa trên cơ sở tập quán quốc tế26
Đến cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, các hoạt động can thiệp diễn ra mạnh mẽ Năm 1820, cuộc xâm lược Hy Lạp của các cường quốc phương Tây để bảo vệ người Hy Lạp theo đạo Cơ Đốc khỏi sự khủng bố, đàn áp của người Thổ Nhĩ Kì Năm 1860, cuộc xâm lược của Pháp vào Syria, lấy lí do quốc gia này đàn áp những người theo đạo Cơ Đốc Tương tự, Nga can thiệp vào Bosnia, Herzegovina và Bulgaria năm 1877 cũng với lý do các quốc gia này đã đàn áp người theo đạo Cơ
Đốc Năm 1898, Mỹ can thiệp vào Cuba vì lý do “muốn chấm dứt những hành
Hobbes, người tiền nhiệm của Bodin, cho rằng con người hình thành nên xã hội để bảo vệ họ khỏi tình trạng
vô chính phủ Ông cho rằng chỉ cần chính phủ bảo vệ phần đa số người dân, thì người dân phải tuân thủ pháp luật vô điều kiện Chủ quyền tuyệt đối này cũng áp dụng ra bên ngoài, theo đó không một quốc gia nào
có quyền can thiệp vào cách cai trị của người đứng đầu quốc gia khác đối với thần dân của họ
Như trên
26 Trần Thị Vân Trà (2010), chú thích số 7, tr.9-10,
[http://tainguyenso.vnu.edu.vn/xmlui/handle/123456789/14165]
Trang 12động dã man, những cuộc đổ máu, sự chết đói và cảnh nghèo khổ tồi tệ tồn tại ở nơi đây” 27
Đầu thế kỉ 20, các trường hợp can thiệp nhân đạo giảm dần bởi sự ra đời của Hội Quốc Liên năm 191928 Một trong những mục đích của Hội là ngăn ngừa chiến tranh và bảo vệ các quyền con người cơ bản thông qua cơ chế an ninh tập thể Trong những năm 1920, Hội Quốc Liên hoạt động khá tốt và các quốc gia thành viên đã kí kết các điều ước phản đối chiến tranh29 Đơn phương sử dụng vũ lực vì thế dần được xem như hành vi không hợp pháp30 Sau khi Hội Quốc Liên tan rã vào đầu những năm 1930, tổ chức Liên Hiệp Quốc (LHQ) ra đời vào năm 1945 Hiến chương Liên Hiệp Quốc (HCLHQ) đặt ra các nguyên tắc nền tảng như cấm sử dụng
vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác, nguyên tắc hoà bình giải quyết các tranh chấp quốc tế… do đó đã tạo ra rào cản pháp lý cho các hoạt động đơn phương can thiệp nhân đạo vì không quy định cơ sở pháp lí cho hoạt động đơn phương can thiệp nhân đạo31 Tuy vậy, quyền đơn phương can thiệp nhân đạo vẫn được các quốc gia viện dẫn như một quyền tập quán quốc tế có từ thế kỉ 1932
3 Cơ sở pháp lí của can thiệp nhân đạo theo luật quốc tế hiện đại
3.1 Can thiệp nhân đạo trên cơ sở sự cho phép/quyết định của Hội đồng Bảo
an Liên Hiệp Quốc
Can thiệp nhân đạo dựa trên sự cho phép/quyết định của HĐBA có cơ sở pháp
lý tại chương VII HCLHQ Hiến chương xác định HĐBA là cơ quan có trách nhiệm chính trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế Điều 24 Hiến chương quy
Trang 13định: “Để đảm bảo cho Liên Hiệp Quốc hành động nhanh chóng và có hiệu quả,
các thành viên trao cho Hội đồng Bảo an trách nhiệm chính trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, và thừa nhận rằng, khi làm những nghĩa vụ do trách nhiệm
ấy đặt ra, thì Hội đồng Bảo an hành động với tư cách thay mặt cho các thành viên của Liên Hiệp Quốc”
Để cụ thể hóa chức năng này, Chương VII HCLHQ dành cho HĐBA quyền
hạn lớn để chọn lựa biện pháp cần thiết trong những tình huống "đe dọa hoà bình,
xâm phạm hoà bình hoặc tiến hành xâm lấn" Trong những tình huống như thế,
HĐBA không bị giới hạn trong việc đưa ra những đề xuất và có quyền hành động,
bao gồm cả việc sử dụng lực lượng vũ trang "để duy trì hoặc phục hồi hoà bình và
an ninh quốc tế" 33
Điều 39 và điều 42 HCLHQ đã thể hiện rõ quyền hạn này34 Như vậy, để thực hiện chức năng của mình, HĐBA có quyền thi hành các biện
pháp quân sự khi xét thấy cần thiết, đó là khi có sự tồn tại “đe doạ hòa bình, phá
hoại hòa bình hoặc hành vi xâm lược”, và hành động quân sự này phù hợp với điều
42 Hiến chương để duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế
Cơ chế an ninh tập thể này có thể xem là một quyền, thậm chí là một nghĩa vụ của Hội đồng Bảo an 35
33
Điều này là nền tảng cho hoạt động quân sự của Liên Hiệp Quốc tại bán đảo Triều Tiên năm 1950 trong Chiến tranh Triều Tiên và việc sử dụng quân lực liên minh tại Iraq và Kuwaitnăm 1991 Xem
[http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%99i_%C4%91%E1%BB%93ng_B%E1%BA%A3o_an_Li%C3% AAn_Hi%E1%BB%87p_Qu%E1%BB%91c] (truy cập ngày 09/05/2012)
34 Điều 39 Hiến chương quy định: “Hội đồng Bảo an xác định sự tồn tại mọi sự đe doạ hòa bình, phá hoại hòa
bình hoặc hành vi xâm lược và đưa ra những kiến nghị hoặc quyết định các biện pháp nào nên áp dụng phù hợp với các Điều 41 và 42 để duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế”
Điều 42 quy định: “Nếu Hội đồng Bảo an nhận thấy những biện pháp nói ở Điều 41 là không thích hợp, hoặc không còn thích hợp, thì Hội đồng Bảo an có thẩm quyền áp dụng mọi hành động của hải, lục, không quân
mà Hội đồng Bảo an xét thấy cần thiết cho việc duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế Những hành động này có thể là những cuộc biểu dương lực lượng, phong tỏa và những chiến dịch khác, do các lực lượng hải, lục, không quân của các thành viên Liên Hiệp Quốc thực hiện”
35
Nguyễn Thị Xuân Sơn, “Can thiệp nhân đạo trong luật quốc tế hiện đại”, ĐH Luật Hà Nội, 2012, tr.17,
[http://tainguyenso.vnu.edu.vn/xmlui/handle/123456789/38349]
Trang 14Như vậy, hành động can thiệp quân sự do HĐBA ủy quyền hay do chính HĐBA thực hiện là hành động có cơ sở pháp lý rõ ràng (chương VII Hiến chương LHQ), được HĐBA tiến hành trong những trường hợp nhất định nhằm thực hiện
chức năng “duy trì hòa bình và an ninh thế giới” Hành động can thiệp nhân đạo
trong trường hợp này nằm trong quyền hạn của HĐBA và là một trong các cách thức để cơ quan này hiện thực hóa chức năng duy trì hòa bình và an ninh quốc tế của mình Can thiệp nhân đạo trong trường hợp này được phân biệt với hành động can thiệp nhân đạo đơn phương do một hay một nhóm các quốc gia thực hiện nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác, không dựa trên cơ sở sự cho phép/quyết định của HĐBA Hành vi đơn phương can thiệp nhân đạo sẽ được phân tích trong phần tiếp theo, mục 3.2
3.2 Can thiệp nhân đạo không trên cơ sở sự cho phép của Hội đồng bảo an
Liên Hiệp Quốc (đơn phương can thiệp nhân đạo)
Đơn phương can thiệp nhân đạo được hiểu là hành vi của một hay một nhóm quốc gia can thiệp vũ trang vào công việc nội bộ của quốc gia khác không dựa trên
cơ sở/ quyết định của HĐBA LHQ Như đã phân tích, can thiệp nhân đạo trước khi LHQ được thành lập được xem là một quyền mang tính tập quán và được hầu hết các quốc gia khi tiến hành can thiệp nhân đạo đơn phương viện dẫn Từ khi LHQ ra đời, và những nguyên tắc cơ bản nêu ra trong HCLHQ điều chỉnh mối quan hệ quốc
tế giữa các quốc gia thì vấn đề nảy sinh liên quan đến tính hợp pháp, liệu có một
quyền can thiệp nhân đạo tập thể hay cá thể, không trên cơ sở ủy quyền bởi HĐBA
LHQ thì có hợp pháp hay không?
Trước hết, tính hợp pháp hay không của hành vi đơn phương can thiệp nhân đạo gắn với quyền sử dụng vũ lực trong luật quốc tế, được quy định trong HCLHQ
Điều 2 khoản 4 HCLHQ nói rằng: “Trong quan hệ quốc tế, các hội viên Liên Hiệp
Quốc không được có hành động đe dọa dùng vũ lực hay dùng vũ lực chống lại quyền bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất cứ một nước nào, hoặc bằng cách này hay cách khác làm trái với những mục đích của Liên hiệp
Trang 15quốc” 36 Như vậy, trước hết, dựa vào khoản 4 điều 2 này, có thể thấy các quốc gia
không có quyền can thiệp vũ trang vào nội bộ một quốc gia khác
Nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực trong mối quan hệ quốc tế có hai ngoại lệ
Ngoại lệ đầu tiên được tuyên bố trong điều 51 của HCLHQ Theo đó: “Không một
điều khoản nào trong Hiến chương làm thiệt hại đến quyền tự vệ cá thể hay tập thể một cách chính đáng, trong trường hợp hội viên Liên hiệp quốc bị xâm lược vũ trang, cho đến khi Hội đồng Bảo an ấn định những biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế.”37 Chương VII của Hiến chương là trường hợp ngoại
lệ thứ 2, “nếu Hội đồng Bảo an nhận xét rằng những biệp pháp nói ở điều 41 là
không thích hợp hoặc tỏ ra là không thích hợp, Hội đồng Bảo an có thể thi hành, bằng các lực lượng hải, lục, không quân, mọi hành động xét thấy cần thiết cho việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế”38
Xét 2 trường hợp ngoại lệ này, trường hợp quy định tại chương VII như đã phân tích ở phần 3.1 là hành động thuộc thẩm quyền của HĐBA, và can thiệp nhân đạo trong trường hợp này được xét là hành động nhằm thực hiện sứ mệnh “duy trình hòa bình và an ninh quốc tế” khi HĐBA xét thấy cần thiết Trong khi đó, đơn phương can thiệp nhân đạo là hành động của 1 hay một nhóm các quốc gia can thiệp vũ trang vào một quốc gia khác mà không được sự ủy quyền hay chấp thuận của HĐBA Và vì thế, trường hợp ngoại lệ này ta không thể là cơ sở pháp lý cho hành vi đơn phương can thiệp nhân đạo Trường hợp tự vệ chính đáng là ngoại lệ thứ 2 của nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, tuy nhiên hành vi
tự vệ không thể đồng nhất với hành vi đơn phương can thiệp nhân đạo bởi đây là 2 hành vi có bản chất và hình thức hoàn toàn khác nhau
Như vậy, trước hết, xét tại cơ sở pháp lý là Hiến chương LHQ, có thể thấy không có tồn tại một quy định nào cho phép đơn phương can thiệp nhân đạo Tuy
36 Khoản 4 Điều 2 Chương I Hiến chương Liên Hiệp Quốc
37 Điều 51 Chương VII Hiến chương Liên Hiệp Quốc
38
Điều 42 Chương VII Hiến chương Liên Hiệp Quốc
Trang 16vậy, hiện nay vẫn có các ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề đơn phương can thiệp nhân đạo Bên cạnh các ý kiến của các học giả cho rằng hành vi đơn phương can thiệp nhân đạo là không hợp pháp, vẫn có những ý kiến bảo vệ cho đây là hành vi hợp pháp theo tinh thần và tôn chỉ của Hiến chương Các quan điểm này sẽ lần lượt được phân tích ở phần 3.3
3.3 Các quan điểm hiện nay về đơn phương can thiệp nhân đạo
3.2.1 Các quan điểm bảo vệ “đơn phương can thiệp nhân đạo là không hợp pháp”
Các học giả phản đối đơn phương can thiệp nhân đạo39 đã lập luận rằng quyền đơn phương can thiệp nhân đạo là không hợp pháp, bởi lẽ không hề có một cơ sở pháp lý nào cho phép quyền này theo quy định của Hiến chương và các văn bản quốc tế liên quan
Thứ nhất, nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế có hai ngoại
lệ rõ ràng, đó là quốc gia được quyền sử dụng vũ lực để tự vệ (1) và Hội đồng Bảo
an Liên Hiệp Quốc hành động khi xét thấy cần thiết để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế (2) Những quy định của khoản 4 điều 2 cùng với khoản 7 điều 2 HCLHQ, kết hợp với nghị quyết 2131 (NQ) của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc (ĐHĐ LHQ)
đã thủ tiêu hoàn toàn sự đe dọa sử dụng vũ lực hay sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, ngoại trừ hai trường hợp ngoại lệ trên Bên cạnh đó, các học giả khẳng định rằng các nhà soạn thảo Hiến chương đã quy định riêng và rõ ràng cho hai trường hợp ngoại lệ trên Gordon lập luận rằng nếu các nhà soạn thảo muốn cho phép sự sử dụng vũ lực cho đơn phương can thiệp nhân đạo như một trường hợp ngoại lệ thứ 3 của nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực thì các nhà soạn thảo sẽ thể hiện rõ ràng việc này Tuy nhiên, điều kiện “đơn phương can thiệp nhân đạo” không thể được tìm
39 Brownlie, “Humanitarian Intervention”; Fairley (1980), “State actors, Humanitarian Intervention and
international Law: Reopening pandora’s box”; Tom Farer (1974), “The Regulation of Foreign Intervention
in civil armed conflict”; Franck & Rodley(1973), “After Bangladesh: The Law of Humanitarian Intervention
by military force”; Verwey (1985), “Humanitarian intervention under international law”;
Xem Eric Adjei (2005), chú thích số 3, tr.26
Trang 17thấy trong bất cứ nơi nào trong Hiến chương Điều này thể hiện rõ rằng không có quyền sử dụng vũ lực cho mục đích nhân đạo40
Thứ hai, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua 2 nghị quyết nhằm
khẳng định lý do nhân đạo là không được chấp nhận trong bất kì sự can thiệp đơn
phương nào Đầu tiên, NQ 2625 của ĐHĐ tuyên bố “không một quốc gia hay nhóm
quốc gia nào có quyền can thiệp, trực tiếp hay gián tiếp, vì bất kì lí do gì vào công việc nội bộ hay bên ngoài của một quốc gia khác”41 Tiếp theo, NQ 3314 của ĐHĐ
thông qua năm 1974 coi hành vi xâm lược là việc “một nước sử dụng lực lượng vũ
trang tấn công, vi phạm đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặc nền độc lập chính trị của một nước khác”, hoặc “dưới bất kì một hình thức nào khác”, và tuyên bố
rằng “không có bất cứ lý do gì là tự nhiên, hay chính trị, kinh tế, quân sự hay các
mặt khác, có thể được sử dụng để biện minh cho sự xâm lược Chiến tranh xâm lược
là một tội ác chống lại hòa bình quốc tế.” 42
Như vậy, rõ ràng là bất kì hình thức
can thiệp nào, dù gián tiếp hay trực tiếp vào công việc nội bộ hay bên ngoài của một quốc gia khác là không được phép, cho dù hành vi đó được tiến hành với mục đích nhân đạo Hành vi đó thậm chí có thể bị coi là hành vi xâm lược theo như định nghĩa43
năng lạm dụng việc đơn phương sử dụng vũ lực của các quốc gia, do đó quyền tự vệ chính đáng của các quốc gia được giới hạn trong điều 51 HCLHQ Theo điều
51,“những biện pháp do các hội viên thi hành trong việc thực hiện quyền tự vệ
chính đáng ấy phải được báo ngày cho Hội đồng Bảo an biết và không được ảnh hưởng đến quyền hạn và niệm vụ của Hội đồng Bảo an, mà theo Hiến chương này
40 Eward Gordon(1985), “Article 2(4) in Historical Context”
Xem Eric Adjei (2005), chú thích số 2, tr.27, [http://digitalconmons.law.uga.edu/stu_llm]
41 Điều 1 Nghị quyết 2625 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 24/10/1970
42 Nghị quyết 3314 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 14/12/1974
43
Eric Adjei (2005), chú thích số 3, tr.26, [http://digitalconmons.law.uga.edu/stu_llm]
44 Xem Steve G Simon (1993), “The Contemporary Legality of Unilateral Humanitarian Interention”; Browlie (1963), “International Law and the use of Force”
Như trên, tr.26
Trang 18Hội đồng Bảo an có thể bất kì lúc nào áp dụng những hành động xét thấy cần thiết
để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế”45 Như vậy, ngay cả một quyền chính đáng như sử dụng vũ lực trong trường hợp tự vệ, thì quyền này cũng bị giới hạn khắt khe nhằm tránh tối đa sự lạm dụng Mặt khác, có thể thấy đơn phương can thiệp bởi lý
do nhân đạo rất dễ dàng bị lạm dụng, bởi các giới hạn của khái niệm này còn đang
có nhiều tranh cãi46 Vì vậy, quyền can thiệp vì lý do nhân đạo không thể quy định
mơ hồ Hay nói cách khác, trong sự so sánh với những giới hạn khắt khe của điều
51, khẳng định một lần nữa rằng can thiệp nhân đạo đơn phương không được cho phép trong Hiến chương
lại độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ” để củng cố, đúng hơn là hạn chế quyền
sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế Vì thế, rõ ràng đơn phương can thiệp nhân đạo là không hợp pháp trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc
Một số quan điểm khác nhấn mạnh “hòa bình” và “công lý” là hai giá trị quan
trọng được bảo vệ dưới các quy định của Hiến chương, nhưng rằng “bất kì lúc nào
cuộc đấu tranh hay căng thẳng bùng lên giữa hai hay nhiều hơn các giá trị đó, hòa bình nên là nhân tố phổ biến và sau cùng nhất” (Cassese)48 Vì thế, trong Hiến chương, việc sử dụng vũ lực đã không được hợp pháp hóa một cách đơn thuần Hiến chương chọn “hòa bình” trên “công lý” trong trường hợp có sự đối đầu giữa 2 mục tiêu quan trọng đó của Liên Hiệp Quốc49 Sử dụng vũ lực bị cấm như một nguyên tắc bắt buộc của luật quốc tế (trừ 2 trường hợp ngoại lệ đã nêu)
Ngoài ra, các học giả cũng cho rằng đơn phương can thiệp nhân đạo đã và nên
bị cấm vì lý do chính trị Từ lâu, nhân quyền là một vấn đề nhạy cảm bởi quyền con
45 Điều 51 Chương VII Hiến chương Liên Hiệp Quốc
46 Eric Adjei (2005), chú thích số 2, tr.27
47 Browlie (1963), “International Law and the use of Force”
Như trên, tr.28
48
Antonio Cassese (1999), “Ex iniuria Ius Oritur: Are we moving towards international legitimization of
forcible humanitarian Countermeasures in the world community ?”
Như trên, tr.32
49
Như trên, tr.26
Trang 19người luôn là mục tiêu hướng tới và bảo vệ của nhân loại trong bất kì giai đoạn nào của lịch sử Mục đích nhân quyền vì thế có thể bị lạm dụng nếu cho phép quyền can thiệp nhân đạo Do đó, đơn phương can thiệp nhân đạo chỉ là một cách thức mà các quốc gia mạnh can thiệp vào các quốc gia yếu thế hơn để gia tăng ảnh hưởng của họ
và hướng tới những lợi ích mà họ đạt được từ quốc gia đó nếu can thiệp vì lý do nhân đạo
3.2.2 Các quan điểm bảo vệ “đơn phương can thiệp nhân đạo là hợp pháp”
Các tác giả ủng hộ quan điểm này50
đưa ra bốn lập luận cho việc khẳng định đơn phương can thiệp nhân đạo là hợp pháp
Thứ nhất, đơn phương can thiệp nhân đạo là một quyền hợp pháp theo tập
quán quốc tế và đã được các quốc gia mặc nhiên thừa nhận trong lịch sử Sự thành lập của LHQ đã không thủ tiêu hay làm suy yếu luật tập quán can thiệp nhân đạo Mặt khác, Hiến chương là sự mở rộng và nhấn mạnh hơn quyền đơn phương can thiệp nhân đạo
quyền quốc gia, dù chỉ là tạm thời Theo D’Amato, sự toàn vẹn lãnh thổ có nghĩa là
“ngăn chặn sự mất mát lâu dài của một phần lãnh thổ” 51
Can thiệp nhân đạo
không dẫn đến kết quả là làm mất đi chủ quyền quốc gia, cho dù là tạm thời Độc
lập chính trị có nghĩa là “sự độc lập của quốc gia không bị tổn hại”52 Can thiệp nhân đạo sẽ không có bất kì một tác động nào đến “độc lập quốc gia” và vì thế không xâm phạm đến độc lập chính trị của một quốc gia Đồng thời, Teson, một học giả ủng hộ mạnh mẽ quyền đơn phương can thiệp nhân đạo cho rằng sử dụng vũ lực chỉ bị cấm khi: khi nó làm suy yếu toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia mục tiêu, tác
50 John Rawls (1993), “The law of people”; Reisman (1995), “Humanitarian intervention and fledgling
democracies”; D’Amato (1990), “The Invasion of Panama Was a lawful Response to Tyranny”
Như trên, tr.26
51 Như trên, chú thích số 3, tr.29
52 John Rawls (1993), “The law of people”; Reisman (1995), “Humanitarian intervention and fledgling
democracies”; D’Amato (1990), “The Invasion of Panama Was a lawful Response to Tyranny”
Như trên, tr.26
Trang 20động đến độc lập chính trị, chống lại các mục tiêu của Liên Hiệp Quốc53 Vì vậy, can thiệp nhân đạo trước hết đáp ứng 2 yêu cầu tại khoản 4 điều 2 HCLHQ Vấn đề còn lại là liệu đơn phương can thiệp nhân đạo có “trái với những mục đích của Liên Hiệp Quốc” hay không
Thứ ba, đơn phương can thiệp nhân đạo phù hợp với mục tiêu của Liên Hiệp
Quốc54 Khoản 3 điều 1 của Hiến chương khẳng định một trong những mục đích
của Liên Hiệp Quốc là “Thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn
đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hóa và nhân đạo, trong việc khuyến khích phát triển và sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam, nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo” Đối chiếu
với hành động đơn phương can thiệp nhân đạo, căn cứ để tiến hành đó là có một sự
vi phạm nghiêm trọng về nhân quyền xảy ra và mục tiêu của hành động can thiệp là chấm dứt tình trạng vi phạm quyền con người này Vì thế, đơn phương can thiệp nhân đạo là cần thiết và hợp pháp bởi nó phù hợp với mục tiêu phát triển quyền con người của LHQ Kết hợp với lập luận trước, rõ ràng đơn phương can thiệp nhân đạo không vi phạm nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực trong khoản 4 điều 2 HCLHQ
Lập luận thứ tƣ và cũng là lập luận quan trọng nhất của các học giả ủng hộ
quyền đơn phương can thiệp nhân đạo, đó là các quốc gia được phép tiến hành can thiệp nhân đạo đơn phương vì HĐBA LHQ không thể hiện vai trò của mình hiệu quả trong việc bảo vệ và phát triển quyền con người55 Thực tiễn chứng minh, trong suốt thời kì chiến tranh lạnh, các quyết định của HĐBA đã bị làm cho tê liệt khi các quốc gia thường trực (P5) sử dụng quyền phủ quyết của mình Một khi LHQ thất bại trong hành động, các quốc gia thành viên có thể can thiệp bằng vũ lực để bảo vệ
Trang 21nhân quyền Ngoài ra, họ còn lập luận rằng quyền được tiến hành can thiệp nhân đạo tồn tại trong tập quán quốc tế, độc lập với HCLHQ Chính dựa vào quan điểm này mà NATO đã tự mình xác định tình trạng tại Kosovo năm 1999 là thảm họa nhân đạo và cho mình quyền tiến hành can thiệp vũ trang dù không có sự cho phép của HĐBA
Theo quan điểm cá nhân, người viết ủng hộ quan điểm của các học giả cho rằng hành vi can thiệp nhân đạo đơn phương, không dựa trên sự cho phép của
HĐBA là hành vi không hợp pháp Điều này được lý giải bởi những lập luận sau
đây:
Thứ nhất, can thiệp nhân đạo đơn phương không có có cơ sở pháp lý Có thể
thấy rằng, không có bất kì câu chữ nào trong HCLHQ và các văn bản pháp lý liên quan thừa nhận chính thức và rõ ràng quyền này Mặt khác, các lập luận cho rằng có tồn tại quyền đơn phương can thiệp nhân đạo chỉ là sự cố gắng phân tích, suy luận
từ câu chữ của các học giả Điều này là chưa thuyết phục, trong khi Điều 2 khoản 4
HC cùng các NQ 2625 (năm 1970), 2131(1965), 3314 (1974) của ĐHĐ là những cơ
sở rõ ràng nhất quan điểm của cộng đồng quốc tế không chấp nhận can thiệp nhân đạo đơn phương
Thứ hai, về vai trò của HĐBA LHQ, đây là cơ quan duy nhất được HC ghi
nhận có nhiệm vụ duy trì và bảo vệ hòa bình thế giới, cũng như phát triển quyền con người Mặt khác, nếu HĐBA thực hiện nhiệm vụ của mình không hiệu quả, thì cần có các biện pháp thay thế hoặc cải tổ cơ chế hoạt động của cơ quan này Tất cả những biện pháp mới này luôn phải dựa trên những cơ sở pháp lý được quy định rõ ràng Ở đây, các quốc gia thành viên đã đơn phương làm thay nhiệm vụ này của HĐBA mà không dựa trên một cơ sở pháp lý nào Vì vậy, không thể biện minh quyền can thiệp nhân đạo là hợp pháp trong trường hợp này
Thứ ba, người viết không đồng ý rằng can thiệp nhân đạo đơn phương phù
hợp với mục tiêu của HCLHQ Cá nhân người viết cho rằng việc thực hiện những mục tiêu của LHQ phải luôn song hành với cơ chế thực hiện, và cơ chế này phải
Trang 22được quy định rõ ràng Tức là để một hành vi được cho là hành động phù hợp với mục đích của Hiến chương nó phải đáp ứng cả 2 điều kiện: (1) phù hợp với mục tiêu của HCLHQ; (2) cơ chế thực hiện mục tiêu này được quy định rõ ràng và công khai Ở đây, các quốc gia can thiệp cho rằng quyền đơn phương can thiệp nhân đạo
là tồn tại vì nó phù hợp với mục tiêu của HC là không thuyết phục vì nó được thực hiện không dựa trên một cơ sở hợp pháp (phân biệt với quyền can thiệp nhân đạo dựa trên sự cho phép của HĐBA)
Vì thế, xem xét ở khía cạnh pháp lý, người viết cho rằng đơn phương can thiệp nhân đạo là không hợp pháp Từ khía cạnh này, trong mục 4 của chương 1, người viết sẽ trình bày thực tiễn can thiệp nhân đạo từ khi LHQ ra đời cho đến nay để thấy
rõ được thực tiễn can thiệp can thiệp nhân đạo, phản ứng của cộng đồng quốc tế và đặc biệt là cơ sở pháp lý mà các quốc gia can thiệp để biện minh cho hành vi của mình
4 Thực tiễn can thiệp nhân đạo từ khi Liên Hiệp Quốc ra đời (từ 1945)
4.1.Thực tiễn can thiệp nhân đạo thời kì chiến tranh lạnh (1945-1991)
4.1.1 Bối cảnh thế giới
Giai đoạn Chiến tranh Lạnh (1945–1991) đặc trưng bằng tình trạng tiếp nối xung đột chính trị, căng thẳng quân sự, và cạnh tranh kinh tế tồn tại sau Thế chiến II (1939–1945), chủ yếu giữa Liên bang Xô Viết và các quốc gia vệ tinh của nó, với các cường quốc phương Tây và Hoa Kỳ Đặc điểm của tình trạng xung đột này là việc hình thành các liên minh quân sự, các cuộc chạy đua vũ trang, khoa học kỹ thuật diễn ra mạnh mẽ56
Giai đoạn này đã xuất hiện một số cuộc khủng hoảng nhân đạo Tuy nhiên, do các cường quốc bất đồng về quan điểm nên các quyết định của Hội đồng Bảo an nhằm gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế đã không được thông qua Ví dụ, khi các
vụ việc vi phạm nhân quyền xảy ra tại Pakistan, Uganda, Cambodia, HĐBA đã
56 http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_L%E1%BA%A1nh (truy cập ngày 30/5/2012)
Trang 23không thể gửi quân tới can thiệp57 Trước tình hình đó, một số nước đã tiến hành đơn phương can thiệp nhân đạo Trong hầu hết các trường hợp, lý do nhân đạo là lý
lẽ dùng để biện minh cho hành đông của quốc gia sử dụng vũ lực
4.1.2 Ấn Độ tấn công đông Pakistan năm 1971
Năm 1947, Anh trao trả độc lập cho Ấn Độ đồng thời chia đất nước thành 2 quốc gia độc lập là Ấn Độ và Pakistan Tại Pakistan, hai vùng đất đông và Bắc Pakistan tồn tại như 2 phần độc lập, bởi những chia cắt về tôn giáo cũng như về địa
lý
Cuộc chiến giữa Ấn Độ và Pakistan xảy ra vào tháng 12/1971, bắt nguồn từ cuộc bầu cử Quốc hội Pakistan vào năm 197058 Ngày 25/3/1971, quân đội Pakistan chiếm giữ thành phố Dhaka (thủ đô Bangladesh hiện nay) ở vùng lãnh thổ đông Pakistan, bắt giữ Giáo chủ Rahman và ra lệnh giải tán đảng Awami Ngày 27/3/1971, Đại tá Ziaur Rahman quyết định ly khai khỏi quân đội Pakistan và tuyên
bố sẽ thành lập quốc gia Bangladesh Tiếp sau đó, tình trạng bạo lực tăng cao ở đông Pakistan, hàng triệu người đông Pakistan phải chạy tị nạn vào lãnh thổ Ấn Độ
ở các bang tây Bengal, Bihar, Assam, Meghalaya và Tipura nhằm tránh các vụ thảm sát gây ra bởi quân đội Pakistan Trong khi đó, ở phía tây Pakistan, chính quyền của Thủ tướng Bhutto, được sự hậu thuẫn của Mỹ, âm mưu tấn công Ấn Độ
Ngày 09/8/1971 Thủ tướng Ấn Độ Indira Ghandi có chuyến công du đến Liên
Xô và ký kết 21 hiệp định hợp tác cả về kinh tế và quân sự với Liên Xô Hành động khiến Mỹ cho rằng Liên Xô muốn thông qua Ấn Độ để bành trướng thế lực ở Nam
Á và vì thế quyết định “bật đèn xanh” để Pakistan tấn công Ấn Độ
57 Xem Eric Adjei (2005), chú thích số 2, tr.48
58 Đảng Awami do giáo chủ Mujibur Rahman, đại diện cho cộng đồng người Hồi giáo tại vùng lãnh thổ Đông Pakistan (quốc gia Bangladesh hiện nay) giành thắng lợi Thế nhưng, Thủ tướng Pakistan khi đó là Zulfikar Ali Bhutto đã từ chối trao chiếc ghế thủ tướng lại cho Giáo chủ Rahman, đồng thời ra lệnh cho quân đội thẳng tay đàn áp những người Hồi giáo có thiện cảm với đảng Awami.
Xem Hoàng Phú, “Đối đầu Mỹ - Liên Xô trong cuộc chiến Ấn Độ - Pakistan năm 1971” , Báo Công An
Nhân Dân, 30/05/2007, [http://antg.cand.com.vn/vi-VN/hosomat/2007/6/62684.cand]
Trang 24Ngày 3/12/1971, Pakistan tiến hành tấn công Ấn Độ, bắt đầu bằng các cuộc ném bom ồ ạt các căn cứ quân sự Ấn Độ dọc theo biên giới phía tây bắc Ở phía đông, quân đội Pakistan trung thành với Thủ tướng Bhutto cũng đồng loạt tấn công vào lãnh thổ Ấn Độ Ấn Độ đánh trả quyết liệt và sau đó chủ động đưa quân vào Pakistan, đánh chiếm các thành phố lớn, tạo điều kiện cho lực lượng người Bengal giành quyền làm chủ đông Pakistan Đến ngày 16/12/1971, quân đội Pakistan ở phía đông tuyên bố đầu hàng, dẫn đến việc thành lập nhà nước Bangladesh ở phần lãnh thổ phía đông Pakistan Kết thúc cuộc chiến, có 93.000 binh lính Pakistan bị bắt làm
tù binh, trong đó có 200 tội phạm chiến tranh bị buộc tội đã gây thảm sát 300.000 dân thường Pakistan ở phía đông59
Ấn Độ trong cuộc chiến này đã nhận lấy sự chỉ trích mạnh mẽ từ Liên Hiệp Quốc Trong một cuộc bỏ phiếu của HĐBA về tính hợp pháp của hành động này, đã
có hơn 100 quốc gia cho rằng hành động này là bất hợp pháp và đã vi phạm chủ quyền của Pakistan Ấn Độ ban đầu bào chữa rằng hành động của mình xuất phát từ
lý do nhân đạo, sau đó tuyên bố rằng đây là hành động tự vệ trước hành vi tấn công
Ấn Độ của Pakistan trong suốt cuộc giao tranh giữa hai nước
Một số học giả cho rằng hành động can thiệp vào Pakistan và giúp đỡ thành
lập nên quốc gia Bangladesh của Ấn Độ đã “cấu tạo thành môt trường hợp rõ ràng
nhất của can thiệp nhân đạo cá thể một cách đầy thuyết phục trong thế kỉ này và hành động này đã ủng hộ, cổ vũ cho học thuyết can thiệp nhân đạo”60 “Một hành
động có thể được xem là bất hợp pháp ngay khi nó diễn ra nhưng đánh dấu sự khởi đầu của quy tắc mới của luật tập quán quốc tế Và vì thế, sự can thiệp của Ấn Độ là rất có ý nghĩa, nó có thể là một hành động như thế” 61
Michael Bazyler (1987), “Reexamining the doctrine of Humanitarian intervention in light of the atrocities
in Kampuchea and Ethiopia”
Xem Eric Adjei (2005), chú thích số 3, tr.51
61
Như trên
Trang 254.1.3 Tanzania can thiệp vào Uganda năm 1979
Chính quyền của tổng thống Idi Amin tại Uganda đã thi hành hàng loạt các chính sách cai trị tàn bạo, chống lại quyền con người từ 1971 đến 1979 Amin đã đàn áp chính trị, lạm dụng nhân quyền và hành quyết các dân tộc khác, trục xuất người Ấn Độ ra khỏi Uganda Không có một con số cụ thể nhưng các nhóm nhân quyền ước tính từ 100.000 đến 500.000 người bị giết hại trong giai đoạn này62 Cũng trong giai đoạn này, những cuộc giao tranh tại biên giới Uganda và Tanzania bùng lên dữ dội Tháng 10/1978, quân đội Uganda xâm lăng vào lãnh thổ Tanzania
và chiếm Kagera, một vùng đất nằm giữa biên giới Uganda – Tanzania và sông Kagera63
Ngày 15/11/1978, Tanzania mở màn cuộc tấn công chống lại Uganda , bắt đầu từ dọc bờ nam sông Kagera Sau đó, quân đội Tanzania dần thắng thế và lật đổ chính quyền tổng thống Amin, chấm dứt những vi phạm nhân quyền tàn bạo tại đất nước này Về động cơ của cuộc chiến, tổng thống Nyerere của Tanzania tuyên bố
rằng “cuộc chiến giữa Tanzania và Uganda đã diễn ra bởi vì sự xâm lăng của quân
đội Uganda và vì lời tuyên bố sáp nhập lãnh thổ của Idi Amin Không có một lý do nào khác trong cuộc chiến này” 64
Trong vụ việc này, vấn đề nhân quyền đóng một vai trò quan trọng Chính quyền của tổng thống Idi Amin đã thi hành những chính sách cai trị tàn bạo, vi phạm quyền con người một cách trắng trợn65 Khác với trường hợp của Ấn Độ,
62 http://vi.wikipedia.org/wiki/Uganda (truy cập 30/5/2012)
63 Amin ngay sau đó đã tuyên bố sáp nhập vùng đất này vào lãnh thổ Uganda vào ngày 1/11/1978 Tổng thống Tanzania, Nyerere, cho rằng sự sáp nhập này tương đương với chiến tranh và chính thức tuyên bố sẽ hành động chống lại quân đội Uganda
Eric Adjei (2005), chú thích số 3, tr.51
64 Như trên
65 Tổng thống Nyerere đã miêu tả chính quyền Amin nhu là một chính quyền “sát nhân” và người dân Uganda có quyền lật đổ nó Bộ trưởng bộ ngoại giao Tanzania miêu tả sự thành côngcủa cuộc chiến dẫn đếnsự sụp đổ của chính quyền Amin là một thắng lợi vĩ đại của người dân Uganda và chiến thắng của tự do, công lý và nhân phẩm
Như trên
65
Như trên
Trang 26trong trường hợp Tanzania can thiệp vào Uganda, cộng đồng thế giới có những phản ứng tốt đẹp, mặc dù Tanzania không có một căn cứ pháp lí nào để can thiệp Hành động can thiệp đơn phương này của Tanzania xét ở khía cạnh luật pháp đã vi phạm pháp luật quốc tế
Tuy nhiên, có thể thấy rằng chính kết quả từ sự can thiệp nhân đạo mang lại cho người dân Uganda mà vấn đề đơn phương can thiệp nhân đạo nhận được sự ủng
hộ trong luật quốc tế Đây cũng là dịp để các học giả ủng hộ đơn phương can thiệp nhân đạo khẳng định thêm tính ưu việt của học thuyết can thiệp nhân đạo Họ cho rằng thái độ của cộng đồng quốc tế đối với hành động của Tanzania có thể hiểu rằng cộng đồng quốc tế đã chấp nhận đơn phương can thiệp nhân đạo là hợp pháp
Teson, một học giả ủng hộ đơn phương can thiệp nhân đạo đã nói rằng “Điều này
tương đương với việc nói rằng cộng đồng quốc tế đã hoàn toàn chấp nhận nhân quyền chiến thắng chủ quyền” 66
Tóm lại, có thể thấy đây là 2 trường hợp can thiệp nhân đạo đơn phương rõ ràng dù các quốc gia can thiệp cũng không thừa nhận chính thức như vậy Cả hai trường hợp, lý do nhân quyền đều đóng vai trò là nguyên nhân và đều không có sự cho phép của HĐBA Người viết cho rằng đây là hành động đơn phương can thiệp dưới cái nền nhân đạo, một hành động không hợp pháp, bởi trên thực tế nó không dựa trên một cơ sở pháp lý nào (ngay cả trong trường hợp Tanzania cộng đồng quốc
tế có tỏ thái độ ủng hộ)
4.2 Thực tiễn can thiệp nhân đạo sau thời kì chiến tranh lạnh (sau 1991)
4.2.1 Quan hệ quốc tế sau thời kì chiến tranh lạnh
Sự tan rã của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa dẫn đến trật tự hai cực của thế giới tan rã Mĩ là cực duy nhất còn lại Ảnh hưởng của Liên xô ở Châu Á và Châu Âu không còn nữa, ảnh hưởng của Mĩ ở nhiều nơi cũng giảm dần Một trật tự thế giới mới hình thành theo xu hướng đa cực, nhiều trung tâm với sự vươn lên, đua
66 Teson (1997), “Humantarian Intervention”
Như trên
Trang 27tranh mạnh mẽ của các cường quốc như Mĩ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc Sau chiến tranh lạnh, hòa bình thế giới được củng cố, nhưng ở nhiều khu vực tình hình lại không ổn định với những cuộc nội chiến, xung đột quân sự đẫm máu kéo dài ở nhiều nơi như bán đảo Ban-căng, một số nước châu Phi và Trung Á Nguyên nhân chính là do những mâu thuẫn về sắc tộc, tôn giáo và tranh chấp lãnh thổ đã bùng lên dữ dội, khi mâu thuẫn Đông - Tây không còn nữa.67
Trong giai đoạn này, HĐBA LHQ đã thể hiện tiếng nói của mình một cách tích cực hơn Đặc điểm chính của can thiệp nhân đạo giai đoạn này đó là hầu hết các cuộc can thiệp đều có sự cho phép của HĐBA Một số trường hợp tiêu biểu như can thiệp nhân đạo vào Iraq năm 1991 của liên quân Anh – Pháp – Mĩ dưới sự cho phép của HĐBA, lực lượng gìn giữ hòa bình của LHQ can thiệp vào Somalia 1992, Haiti 1994, Rwanda 1994, Đông Timor 1999…Tuy nhiên, các trường hợp can thiệp mang lý do nhân đạo này vấp phải những ý kiến trái chiều nhau về tính hợp pháp cũng như về mục đích thực sự của nó
4.2.2 Can thiệp nhân đạo sau chiến tranh vùng Vịnh 1991
Sau chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 với thất bại thuộc về phía Iraq, một hội nghị hòa bình đã được Liên quân Anh-Pháp-Mĩ tổ chức trên vùng lãnh thổ Iraq bị chiếm đóng Tuy nhiên, sau đó các máy bay trực thăng vũ trang mà phía Iraq được phép sử dụng và đa số các lực lượng vũ trang Iraq chống lại cuộc nổi dậy của người Shiite ở phía nam Tại phía bắc, các cuộc nổi dậy của người Kurd bị các tướng lĩnh Iraq còn trung thành đã đàn áp dã man Hàng triệu người Kurd đã phải chạy qua các vùng núi để đến những vùng người Kurd tại Thổ Nhĩ Kỳ và Iran Sự kiện này làm gia tăng thêm những vi phạm nhân quyền tại Iraq Trước đó, trong giai đoạn từ 1985 – 1988, chính quyền tổng thống Saddam Hussein đã gây ra các vụ thảm sát người Kurd tại vùng núi phía Bắc
67 http://diendankienthuc.net/diendan/lich-su-12/14589-quan-he-quoc-te-sau-chien-tranh-lanh.html (truy cập 02/6/2012)
Trang 28Trước tình hình vi phạm nhân quyền nghiêm trọng tại Iraq, ngày 5/4/1991
HĐBA đã thông qua nghị quyết 688, tuyên bố rằng Hội đồng Bảo an “lên án sự đàn
áp dân thường Iraq”,“đòi hỏi rằng Iraq, là một bên góp phần ngăn chặn sự đe dọa hòa bình và an ninh trong khu vực, chấm dứt ngay lập tức sự đàn áp này” và “yêu cầu tất cả các quốc gia thành viên và tất cả các tổ chức nhân quyền đóng góp những nỗ lực giúp đỡ nhân đạo” Sau khi quyết nghị đó được biểu quyết, Mỹ, Pháp
và Anh tung ra chiến dịch quân sự cứu trợ dân di tản Kurd mang tên là "Provide
Comfort"
Liên minh Anh – Pháp – Mĩ tuyên bố thiết lập những vùng cấm bay trên lãnh thổ phía Bắc Iraq và lập ra những vùng trú ẩn an toàn68 Ngày 18/4/1991, một thỏa thuận đã đạt được giữa giữa Liên Hiệp Quốc và Iraq liên quan đến sự hiện diện của một số lượng giới hạn quân đội Liên hiệp quốc và thiết lập 100 trung tâm viện trợ dân sự tại Iraq Đổi lại, Iraq đồng ý với sự can thiệp này và vì vậy liên minh cho rằng hành động can thiệp này là hợp pháp
Với nghị quyết 688, lần đầu tiên HĐBA LHQ cho phép các quốc gia thành viên có quyền can thiệp vào công việc của một quốc gia khác với mục đích nhân đạo Điều này được coi như một sự ủy quyền hợp pháp bởi Hội đồng Liên Hiệp Quốc đã làm đúng nhiệm vụ của mình phù hợp với chương VII Hiến chương
68 Vùng cấm bay là một khu vực không cho phép các máy bay, hay phương tiện bay có người lái hay không
có người lái đi vào khu vực đó, cũng tương tự như một khu vực phi quân sự trên bầu trời Ở đó, các phương tiện bay muốn bay vào bên trong vùng cấm bay, hay các phương tiện bay từ mặt đất muốn cất cánh trong khu vực cấm bay đều phải được sự cho phép của lực lượng áp đặt vùng cấm bay Lực lượng giám sát vùng cấm bay có quyền bắn hạ tất cả các phương tiện bay nào xâm nhập, hay cất cánh trái phép trong khu vực cấm bay Không phận của tất cả các quốc gia có chủ quyền trên thế giới đều được gọi là các vùng cấm bay Tuy nhiên, khái niệm “vùng cấm bay” xuất hiện rộng rãi trong truyền thông thời gian gần đây lại được hiểu theo nghĩa hoàn toàn ngược lại Theo đó, máy bay của nước bị áp đặt vùng cấm bay vi phạm không phận của chính mình Một khi vùng cấm bay được thực thi tại không phận của quốc gia bị áp đặt, vùng cấm bay không thuộc
về quốc gia đó nữa mà thuộc về bên áp đặt vùng cấm bay, việc cất cánh bị bên áp đặt coi là “trái phép” Cho ten thời điểm đó, không có bất kỳ một quy định, hay công ước nào mang tính quốc tế về việc áp đặt vùng cấm bay lên một quốc gia nào đó Đó chỉ là thỏa thuận giữa một số quốc gia hay tổ chức quốc tế Bản chất của việc thiết lập vùng cấm bay là hành động xâm lược Vì thế, một vùng cấm bay lý tưởng cần được sự đồng thuận và tuân thủ các tiêu chuẩn của pháp luật quốc tế Thường vùng cấm bay được áp đặt bằng một nghị quyết của Hội đồng Bảo an LHQ
http://phapluattp.vn/20110323111511317p0c1017/vung-cam-bay-la-gi.htm (truy cập ngày 02/6/2012)