3. 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỔ NG Q U Á T VỀ R Ệ U Q U Ả C Ủ A CHẾ ĐỊNH CÔNG NHẬN Q U Ố C T Ế TRONG GIAI ĐOẠN H Ẹ N N A Y
Hiệu quả của chế định công nhộn quốc tế không thể tách ròi khỏi hiệu quả của chính pháp luật quốc tế.
Điểm quyết định đối với hiệu quá của pháp luật quốc tế, theo ơiấo sư G.I.Tunkin, đó là "mức độ phù họp cùa pháp luật quốc tế đối với nlui cầu phát triển của quan hệ quốc tế và còn là tươnơ quan lực lượng giữa lực lươnơ tiến bộ và lực lươn2 phan độna trẻn bình diện quan hệ lièn quốc 2Ìa và bình diên xã hội" [49, 19]. Khi phàn tích quan điểm này 2KÍO sư G.I.Tunkin có lưu ý rằng thước đo hiệu quà của các chế định pháp luật khác nhau khỏnơ đồn°
nhất với thước đo hiệu qud của quv phạm pháp luật. Theo uiáo sư G .v.
Ignatence thì có "những quy phạm pháp luật quốc tế có ảnh hưaiiư tích cực trực tiếp đến sự phát triển của phong trào 2Ĩài phóns dân tộc”. Tronơ khi đó cũng có "nhữns quy phạm pháp luật quốc tế gắn với quá trình đíiu tranh ơiai
c ấ p để tác đ ộ n g đ ế n q u a n hệ q u ố c t ế t h ô n g q u a c h í n h s á c h c ủ a CỊUÒC ơia và được sử dụns để hỏ trợ cho bấu khỏns khí đôi ngoại cần thiết cúa phonơ trào giải phóns dân tộc" [30, 129]. Như vậy nếu áp dụng các luận điòrn này cho các chế định của pháp luật quốc tế thì chế định côns nhận quốc tố thuộc loai ảnh hướng trực tiếp đến sự phát triển của các quan hệ quốc tế, và đặc biệt là phong trào giải phóng dân tộc. Nhưng trong quan hệ quốc tế, rõ ràng dnh hưởng này có thể là ảnh hường tích cực và cũng có thể là ảnh hướrig tiêu cực.
Nó sẽ có ảnh hường tích cực khi sự công nhận đó được đặt ra đối với các quốc gia, chính phủ và các thực thẻ mới đang được thành lập do kết auà của phong
trào giải phóns dân tộc, thực hiện quyển dân tộc tư quyết và các hoạt động khác phù hợp với pháp luật quốc tế hiện đại. Trái lại, với sự cồna nhận nẻu trên, nó sẽ có ảnh hường tiêu cực đến sự vận đông tiến bô của nhân loại.
Theo chúng tôi, xuất phát điểm nói trên khồng phải là xuất phát điểm chỉ dành cho chế định công nhận quốc tế. Xuất phát điểm này còn đúng cho các chế định pháp luật khác, bởi lẽ trong các sách báo lý luận cơ bản về pháp luật đều thống nhất quan điểm cho rằng chi số hiệu quả cùa pháp luật có thể có ý nghĩa tích cực và cũng có thể có ý nghĩa riêu cực [12, 253-265]. Nếu không chỉ bàn vể hiệu quả xã hội của pháp luật mà còn bàn cả về hiệu quả của pháp luật theo nghĩa rộng của nó, bao gồm cả các phương diện của hiệu quả (hiệu quả thực tế, tính có cãn cứ, tính định hướng, lợi ích V. V...) và áp dụng phạm trù hiệu quả của pháp luật đã trình bày trong lý luận cơ bản về pháp luật cho pháp luật quốc tế nói riẻng, và nếu xem xét hiệu quả như là tương quan giữa kết quả đích thực và mục đích mà quy định pháp luật hướng tới, thì có thể ĩhấy hiệu quả của chế định công nhộn quốc tế trong thời gian gần đây đã tãns lèn ddns kể. Và điểu đó là hoàn toàn hợp lý, bời lẽ các nguyên tắc và quy phạm của pháp luật quốc tế đặt ra yẻu cầu các chú thể của luật quốc tế phải hợp tác vơí nhau để 2Ìải quyết các vấn đề quốc tế.
Đối với mọi quốc gia và chính phú, thì sự hợp tác thường bắt đầu bằng sự công nhận lẫn nhau. Hành vi công nhộn này thể hiện nguyện vọng của quốc sia công nhộn muốn thiết lập các quan hệ pháp luật quốc tế với đối tác được cổng nhận và c ũ n o nhờ có hành vị còng nhộn đó mà tạo ra được các điều kiện pháp lý thích hợp chung để thực hiện các quan hộ kinh tế, chính trị và các quan hệ khác bình thường giữa các bên hữu quan này với nhau. Như vậy, việc hàng chục quốc gia ra đời sau đại chiến thế giới lần thứ hai tham gia vào sinh hoạt quốc tế và tiến hành các hoạt độna quòc tế trong một mức độ nhất định có gắn chặt chẽ với việc áp dụng chế định cống nhộn quốc tế. Rõ ràng ờ đây hiệu quà của chế định còng nhận quốc tế nằm ở chỉ số mức độ mà chế định đó hỗ trợ cho các quốc gia, chính phủ mới thành lập thực hiộn được
pháp luật quốc tế. Chính vi vậy mà khòng thê nhất trí với các ý kiến cho rằng chỉ xem hiệu quả của chế định công nhận quốc tế như là tièu chuẩn để còng nhộn quốc tế. Chẳng hạn, giáo sư Ch.de Visscher trong cuỏn "Les effectivités
du droit Internationa] pubỉic" xuất bản tại Paris năm 1967 đà khẳng định rằng
"Về nguyên tắc mà nói thì hiệu quả (của chế định cổng nhận) là riêu chuẩn của sự công nhận" [102, 39-40]. Đúng là trong thực tiễn quan hệ quốc tế khi đặt ra tiêu chuẩn để công nhận một Chính phủ de fãcto, chùng ta đã bàn đến nguyên tắc hay tiêu chuẩn hữu hiệu [2, 90-91], [8, 58], [38, 318-321]. Nhưng cái tiêu chuẩn hữu hiệu này lại có ý nghĩa khác với cái hiệu quả của chế đinh công nhận mà chúng ta đang bàn. Sự hữu hiệu của một Chính phủ đó là một trons những điều kiện mà Chính phù de /ic to p h ả i thoả mãn để sự công nhận Chính phủ đó được coi là phù hợp với pháp luật quốc tế. Tuy vậy. đối với sự công nhận quốc gia thì người ta lại không bàn đến tiêu chuÂn hữu hiệu nữa.
Ngoài ra, trong thực tiễn công nhận Chính phủ còn thấy nhiều trường hợp Chính phủ de ĩacto thoả mãn tiêu chuẩn hữu hiệu nhưng các quốc gia khác vẫn khôns còng nhận Chính phủ đó. Sự hiệu quả ờ đây cần phải xem xét trong một tổng thể với các tiẻu chuẩn khác nữa và khi đã hội đủ tất cả các tiêu chuẩn đó thì. sự còns nhận mới có thể đặt ra đòi với Chính phù mới đó.
Như vậy, hiệu quà với tính cách là tiêu chuẩn của sư cỏna nhận quốc tế và hiệu quả cùa chế định còng nhận quốc tế là hai khái niệm khác nhau, khôn° thay thế cho nhau được, v ề thực chất, hiệu quà cùa chế định còng nhận quốc tế - đó là bộ phận cùa cấu trúc quan hệ p h á p luật phức tạp của các quốc gia, chính phủ và các thực thể mới thành lập với thế giới xung quanh.
Một mặt hiệu quả đó liồn quan đến việc thực hiện các kết quả của sự công nhận và ơắn bó với toàn bộ hệ thống quan hệ pháp luật quốc tế trong đó có đối tác được công nhận. Mặt khác, lchi căn nhắc đến tình huống không kém phần quan trọng của hiệu quà của pháp luật quốc tế với tính cách là mộr khái niêm khá' rông bao trùm hơn khái niệm tản tảm thực hiện các quy định của pháp luật quốc tế, người ta đã đánh giá rằng hiệu quá của chế định công nhận
- i 3 3 -
quốc tế tuỳ thuộc vào vai trò mà chế định đó đan2 đóng với tính cách là mòt nhân tỗ của tiến bộ xã hội. Với phương diện nàv, thì có thể kết luận rằng chế định công nhận quốc tế trong thời đại sau Đại chiến thế giới lần thứ hai đến
■3
nay thực tế là có hiệu quả và là chế đinh có hiệu quá của pháp luật quốc tế.
3. 2. KẾT Q U Ả PHÁP LÝ C Ủ A s ự CÔNG NHẬN QUỐC T Ế
Hiệu quả của ch ế định công nhận quốc tế cần được xem xét chi tiết không chí ở hệ thống các quy phạm khác của pháp luật quốc tế liên quan đến việc các quốc gia, chính phủ mới được thành lập thực hiện quyền được giao tiếp quốc tế, mà còn xem xét chi tiết ở cả hệ thốns các kết quả pháp lý phát sinh sau khi thực hiện sự côns nhộn quốc tế đó.
Có nhiều ý kiến về tính chất và phạm vi các kết quả pháp lý phát sinh từ hành vi cônă nhận quốc tế. Nhưng nhìn chung, Crona trườns hợp tiêu biểu, sự công nhộn quốc tế thực hiện hai chức năns pháp lý cơ bản và các chức năng đó đi kèm với các kết quả pháp lý phù hợp của việc còns nhận: chứ nhâ% giải quyết triệt đ ể vấn đ ề quv chè pháp lv của đ ối tượns được CÔI12 nhận, và t h ứ
hãi, tạo ra nhữns điểu kiện thuận lợi để các bên thiết lập những quan hệ nhất định với nhau.
Sự công nhận chính thức giữa các quốc gia và chính phủ sẽ tạo ra và bảo đảm những điều kiện thuận lợi để thiết lập và phát triển những quan hệ bình thường giữa các quốc gia, chính phủ, tạo ra tiền đề để thiết lập những quan hệ nhiều mặt ờ những mức độ lchác nhau siữa các quốc gia, chính phủ công nhận và đối tác được còng nhận.
Trong các tài liệu nghiên cứu và các văn kiện pháp lý quốc tế về sự công nhận de ju re thường có quan điểm cho rằng, việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia, chính phủ công nhận và quốc gia, chính phủ đượe công nhận là kết quả pháp lý quan Ưọng nhất của sự công nhận quốc tế [2, 96-98]. [8, 63-66], [35, 28-3 ỉ]. Kết quả này có thể phát sinh ngay sau khi
cỏng nhộn de jure, nhưng cũng có thẻ có sau. một thời gian nhất định. Thực tiễn sinh hoạt quốc tế cho thấv rnns giữa sự còng nhạn de jure và thiết lộp quan hệ ngoại giao có thể tồn tại một khoảng cách đáng kể. Trong một sô trường hợp, có những quốc gia công nhận nhau ở mức độ de jure nhưng quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia đó lại khồng được thiết lập. Điều này được lý giải bời tính chất chủ quvền của quan hệ ngoại giao. Việc thiết lập quan hệ đó phải có sự thoả thuận được thể hiện rõ ràng và hợp thức của cả hai bên hữu quan.
Một điểm đáng chú ý, khi công nhận một Chính phủ de íacto được thành lập do kết quả của một cuộc cách mạng xã hội, thì quan hệ ngoại giao đã tổn tại giữa bèn công nhận và bổn được cônơ nhận sẽ được phục hổi chứ không phải kiến lập (nếu trước đó hai nước đã có quan hệ ngoại giao với nhau). Kết quả pháp lv của sự công nhận ớ đây là phục hồi quan hệ ngoại giao giữa bèn công nhận và bèn được còng nhận.
Vấn đề thiết lập quan hệ lãnh sự thường được lý giải theo nhiều cách khác nhau. Điểm chuns cho các luật 2Ĩa quốc tế đó là sự công nhận ờ mức độ
de facto sẽ tạo ra cơ sò' pháp Ịý rộns rãi đế thiết lập quan hệ lãnh sự.
Các luật 2Ìa quốc tế của các nưóe tư bàn phươns Tây thường xét vấn đề thiết lộp quan hệ lãnh sự trong phạm vi côns nhận dờ ícìcto. Các luật gia quốc tế cùa các nước đang phát triển khòng phủ nhận điều đó mà thường bổ sung quan điểm cho rằng sự cônsì nhộn de jure là cơ sở pháp lý rộns rãi để phát triển những quan hệ bình thường nhiều mặt giữa các quòc gia, trong đó có quan hệ lãnh sự. Việc thiết lập quan hệ lãnh sự cũng là một trong những kết quả pháp lý quan trọng của sự công nhận quốc tế. Thực tiễn quan hệ quốc tế cho chúns ta không ít ví dụ về những trườns? hợp quốc aia công nhận nhau ở mức đò de jure nhưng lại chỉ thiết lạp quan hệ lãnh sự với nhau.
Việc ký kết các điều ước quốc tế tay đỏi mà trong đó thể hiện rõ sự thống nhất nguyện vọng, ý muốn của các bẻn về các quyền và nghĩa vụ đã định trong các rinh vực cụ thể cũng được thừa nhộn 'à một trong nhữris kết
- 134 -
quả pháp lý quan trọng cùa sự có n2 nhận quốc tế. v ề nguyên tắc mà nói, việc ký kết các điều ước quốc tế tay đôi như đã nói trên, giữa các quốc gia được xem là bằng chứng về sự công nhộn chính thức (có thể là công nhân de facto hoặc công nhận mặc thị).
Đối với các điều ưóc quốc tế nhiều bèn, vấn đề lại khác về cơ bản.
Phân tích các tài liệu, các văn bản có liên quan đến vấn đề pháp điển hoá luật điều ước quốc tế do u ỷ ban pháp luật quốc tế của Liên hợp quốc đảm nhiệm nghiên cứu có thể thấy rầns sự cùng tham 2Ĩa của nhiều quốc gia vào một điều ước quốc tế nhièù bèn có tình phổ biến rộng rãi không có nghĩa các quốc gia đó mặc nhiên chính thức công nhận nhau. Trong trường hợp này, giữa các quốc gia tham gia điều ước quốc tế nhiều bèn đó chỉ xuất hiện và tồn tại những quan hệ thực tế adhoc và quan hệ pháp lý trona phạm vi điều ước quốc tế cụ thể đó mà thôi. Vấn đề cồng nhộn ở đây có thể đặt ra ở hình thức công nhộn ad hoe và kết quá pháp lý của nó là làm xuất hiện các quan hệ điều ước kiểu sui generis.
Đối vói việc tham 2Ĩa vào các hội nohị quốc tế và các tổ chức quỏc tế phổ biến rộna rãi, thi sự công nhận chính thức cũns tạo ra nhữns kết qua pháp lv nhất định, v ề nauyèn tắc, mọi quốc sin và chính phủ đều có quyền được tham gia vào các hội nghị quốc tê và tổ chức quốc tế phổ biến rộng rãi trong sinh hoạt quốc tế. Quyén được tham 2Ìa đó của các quốc gia và chính phủ khórm phụ thuộc vào sự còng nhận của quốc sia, chính phủ khác. Sons, sự côn2 nhộn chính thức aiữa các bên ờ đây đỏi khi thúc đẩy việc thực hiện các quvền đó cùa quốc gia, và chính sách không công nhận ờ đây đôi khi lại gây khó khăn cho quốc gia không được công nhận trona việc thực hiện quyền đó.
Điểu này thấy rõ qua thực tiễn hoạt động của Lièn hợp quốc và chính sách không công nhận cùa một số nước đối với các quốc gia, chính phủ mới được thành lập trong quan hệ quốc tế.
Sự cổng nhận quốc tế, ngoài những kết quả pháp lý nèu trên, còn làm phát sinh các kết quả pháp lý khác, chẳng hạn tạo điều kiện thuận lợi cho
- ỉ 35 -
quốc gia, chính phủ được công nhận bào vệ quyền miễn trừ quốc gia và quyền miễn trừ tư pháp đối với tài sản của quốc gia mình tại lãnh thổ của quốc gia công nhận, tạo cơ sờ pháp lý để xác minh hiệu lực chứng cứ cùa pháp luật do quốc gia được công nhận ban hành...
3.3. VAI TRÒ CỦA s ự CỒNG NHẬN Q ư ố c T Ế TRONG GIẢI Q U Y ẾT VẤN ĐỀ QUY C H Ế THÀNH VIÊN CỦA LIÊN HỢP QUỐC
Sự công nhận quốc gia và chính phủ có vai trò quan trọng trong giải quyết vấn đề quy chế thành viên cùa quốc gia, chính phủ tại các tổ chức quốc tế, đặc biệt' là tại Liên hợp quốc, v ể vấn đề này, đến nav vẫn còn các ý kiến
k h á c n h a u , đ ặ c b iệ t là c á c V k iế n liên q u a n đ ế n sự c ô n g n h ậ n q u ố c g ia và
chính phủ mới thành lập khi các quốc gia, chính phủ đó được kết nạp làm thành viên cùa tổ chức quốc tế và tham sia vào các hoạt động cuả tổ chức quốc tế cùng với các quốc 2Ìa, chính phủ khôns bỏ phiếu tán thành việc kết nạp quốc 2Ĩa, chính phù mới này.
Ở đây có nhiều vấn đề cần giải quyết. Tuy vậy, trong phạm vi Luận án nàv, thiết nghĩ cần tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề lớn sau :
Thứ nhất, đó là vấn đề công nhộn quốc gia khi kết nạp quốc gia làm thành viên cùa Liên hợp quòc.
Thứ hãi, đó là vấn để các quốc gia không công nhận nhau cùng tham gia vào hoạt động của Lièn hợp quốc.
Thứ bã, đó là vấn đè tương quan giữa quy chế thành viên Lièn hợp quốc và sự công nhận quốc tế.
3. 3. 1. Vấn đ ề công nhận quốc gia khi biểu quyết tán thành việc k ết nạp quốc giã đó làm thành viên của Liên hợp quốc
- 1 3 6 -
- 137 -
3 .3 .1 .1. Vấn dề tính p h ổ cập của Liên hợp quốc và sự còng nhận quốc tế các quốc giã
Một trong những nguyên tắc tổ chức cơ bản của Liẻn hợp quốc là nguyèn tắc phổ cập, theo đó không một quốc gia nào có quyền can thiệp hoặc gây cản trờ cho việc thực hiện quyền được trờ thành thành viên Liên hợp quốc của' một quốc gia khác. Điều này đã được khẳng định trong Hiến chương Liên hợp quốc. Nguyên tắc phổ cập thành viên này cũng được khảng định trong các văn kiện khác của Liên hợp quốc nhằm chống lại sự phân biệt đối xử của một số quốc gia trons vấn đề kết nạp thành viên và đại diện của các quốc gia mới thành lạp tại tổ chức quốc tế này. Cùng với các nguyên tắc khác của Hiến chương Liên hợp quốc, nguyên tắc phổ cạp thành viên là một trong những phương tiện pháp lý quan trọns nhất bảo đảm quvền chủ quyển của các quốc gia được tham gia vào các tổ chức quốc tế toàn cầu như Liên hợp quốc. Điều này có nshla mọi quốc gia đểu có thể trớ thành thành viên Liên hợp quốc.
Đối với một số quốc gia do những điều kiện nhất định chưa muốn tham gia vào Liên hợp quốc thì họ có thể duy trì quan hệ vói Lièn hợp quốc dưới các hình thức khác nhan theo quy định của Hiến chương và các quy đinh khác của Liên hợp quốc về quốc aia chưa phái là thành viên. Và cũng từ nguyôn tắc này Liên hợp quốc trong những trường hợp cụ thể có quyển không kết nạp hoặc khai trừ một quốc gia thành viên ra khỏi Liên hợp quốc theo các quy định của Liẻn hợp quốc. Nguyên tắc phổ cập thành viên Liẻn hợp quốc đã được xây dụng với tư tường báo đảm cho sự hợp tác binh đảng về quyền và lợi ích giữa các quốc gia có chế độ kinh tế, xã hội khác nhau [85]. Trong thời gian hiện nay, nguyên tấc này ngày càng có ý nghĩa thực tế trong hợp tác quốc tế giữa các quốc gia về cdc vấn đề khác nhau. Tuy vậy, trong thực tiễn hàng chục nãm qua Liẻn hợp quốc đã chứng kiến các vi phạm thỏ bạo nguyên tắc này từ phía các nưóc đ ế quốc. Lợi dụng cơ chế của Liên hợp quốc, các nước đ ế quốc đã tìm mọi cdch để cản trờ việc kết nạp Bulgarie, Hongarie,