- Nguyễn Toàn Thắng, “Asean và tranh chấp liên quan đến quần đảo Trường Sa”, Tạp chí Luật học, số 9, 2007; - Nguyễn Toàn Thắng, “Thực tiễn áp dụng quy chế pháp lý quốc tế về đảo và các c
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI • • • •
VÁN ĐÈ PHÂN ĐỊNH BIỂN TRONG LUẬT QUỐC TẾ
VÀ THỤC TIỄN PHÂN ĐỊNH BIẺN GIỮA VIỆT NAM
Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Toàn Thắng Thư ký đề tài: GV Nguyễn Thị Hồng Yến
Hà N ộ i - 2 0 1 2
Trang 3
DA líH SẮCitCẢC TẮC G IẢ T H A M GIA T H Ự C H IỆ N ĐẼ T Ả I
f
ST
T ỉ HỌ TÊN ! TÊN CHUYÈN ĐỀ
NƠI CỎNG TÁC
TƯCÁCH
Chuvên đề 3: Giải quyết vấn đề
phân định biển tại các cơ quan tài phán quốc tế
Khoa Pháp luật quốc tế
Chuyên đê 2: Các quy định vê
phân định biển trong Công ước Luât biển năm 1982
Khoa Pháp luật quốc tế
ĐH Luât HN
Cộng tác viên
3
ị ệ Ị\
ThS Lê Đức Hạnh
' "ií? M
Chuyên đề 4: Thực tiễn phân định
biển giữa các quốc gia
Vụ pháp luật quốc tế - Bộ ngoại giao
Cộng tác viên
Hùng
Chuyên đề 5\ Vai trò cùa đường
cơ sở trong phân định biển
Khoa Pháp luật quốc tế
ĐH Luât HN
Cộng tác viên
f
Chuyên đê 6: Các yêu tô, hoàn
cành ảnh hường đến quá trình phân định biển
Khoa Pháp luật quốc tế ĐHLuậtHàN
Cộng tác viên
K.im Ngân
Chuyên đề 7: Vai trò cùa đảo và
quần đảo trong phân định biển
Khoa Pháp luật quốc tế
ĐH Luât HN
Cộng tác viên
Hạnh
Chuyên đê 8: Vân đê khai thác
chung trong thực tiền quan hệ quốc tế
Khoa Pháp luật quốc tế
ĐH Luât HN
Cộng tác viên
Chuyên đê 9: Giải quyêt vân đê
phân định biển Việt Nam - Campuchia
Khoa Pháp luật quốc tế
ĐH Luật HN
Cộng tác viên
Chuyên đề 10: Giải quyết vấn đề
phân định biển Việt Nam - Trung Quốc
Khoa Pháp luật quốc tế
ĐH Luật HN
*Thư ký
đề tài
Chuyên để 11: Giải quyết vấn đề
phân định biển Việt Nam - Thái Lan
Khoa Pháp luật quốc tế
ĐH Luât HN
Cộng tác viên
li ThS ri'an Thị Thanh
Huyr * *
Chuyên đề 12: Giải quyết vấn đề
phân định biển Việt Nam-Malaysia
Khoa Pháp luật
ĐH Công Đoàn
Cộng tác viên
i::
ThS Mac Thị Hoài
T hưong^
ThS LêXỊiị Anh Đào
Chuvên đê 13: Giải quyêt vân đê
phân định biển Việt Nam - Indonesia
Khoa Pháp luật quốc tế
ĐH Luật HN
Cộng tác viên
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT: BÁO CÁO PHÚC TRÌNH 4
A GIỚI THIỆU CHUNG v ì ĐỀ TÀI NGHIÊN c ứ u 4
I Sự cần th iế t n g h iê n cứu đề t à i 4
II T ìn h h ìn li n g hiên c ử u 5
I I I Phương pháp n g hiên c ứ u 6
IV M ụ c đích ngh iê n cứu cùa đề t à i 6
V Phạm v ĩ nghiên cứu của đề t à i 7
B CÁC KẾT QUẢ CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN c ứ u 7
I Những vấn đề pháp lý và thực tiễn về phân định biển 7
1.1 Khái quát sự phát triển của luật quốc tế về phân định biển 7
1.2 K h á i niệm phân đ ịn h b iể n 10
1.3 P h ân đ ịn h lãrih h ả i 12
1.4 Phân định vừng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 17
II Phân định biển giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực 23
2.1 Tổng quan lình hình tranh chấp trên biển cùa Việt N am 23
2.2 Phân định lãnh hải giữa Việt Nam với các nước trong khu vực 24
2.3 Phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa Việt Nam với các nước 30
2.4 Thỏa thuận khai thác chung giữa Việt Nam với các nước trong khu vực 40
PHẦN THỨ II: CÁC CHUYÊN1 Đầ NGHIÊN cứu 43
CHUYÊN ĐỀ 1: KHÁI QUÁT v ầ HOẠCH ĐỊNH CÁC VÙNG BIỂN VÀ PHÂN ĐỊNH BIỂN 43
I Khái niệm và quá trình phát triển cùa luật quốc tế về phân định biển 43
II Pliân định biến và các đường ranh giới trên biển 48
CHUYỀN ĐỀ 2 CÁC QUY ĐỊNH v ì PHÂN ĐỊNH BIỂN TRONG CÔNG ƯỚC LUẬT BIÊN 1982 54
I K h á i quát pháp luật q u ố c tế về phân đ ịn h b iể n 55
II Các quy địr h về phân định các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia 58
III Các quy đinh về phân định các vùng biển thuộc quyền chù quyền quốc gia 64
CHUYÊN ĐỀ 3: GIẢI QUYẾT VẤN Đ Ì PHÂN ĐỊNH BIỂN TẠI c ơ QUAN TÀI PHÁN QUỐC TÊ 81
I Danh nghTs pháp lý và xu hướng áp dụng tại cơ quan tài phán quốc tế 81
II Phân đ ịn h b iể n nhàm đ ạ t đ u ợ c két quả cô n g b ằ n g 86
II I Phương oháp phân đ ịn h b iể n 90
CHUYÊN Đ Ĩ 4: THỰC TIỄN PHÂN ĐỊNH BIỂN GIỮA CÁC QUỐC G IA 93
I Khái quát về phân định biển giữa các quốc gia 93
II M ụ c đích của hiệp đ ịn h phân đ ịn h b iể n 95
Trang 5III Các phương pháp phân định 103
IV Yếu tố ánh hường đến phân định I 13 CHUYÊN Đ Ì 5: VAI TRÒ CỦA ĐƯỜNG c ơ SỞTRONG PHÂN ĐỊNH BlỂN 120
I Cách xác định đường cơ sở theo quy định Công ước Luật biển I 982 120
II Vai trò cùa đirờng cơ sở trong phân định biển 124
CHUYÊN ĐỀ 6: CÁC YÊU Tố, HOÀN CẢNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÂN ĐỊNH BIÊN 128
I Nhận diện các yếu tố, hoàn cảnh ảnh hưởng đến phân định biển 128
II Một số yếu tố, hoàn cảnh ảnh hưởng đến phân định biển 130
CHUYÊN Đ Ì 7: VAI TRÒ CỦA ĐẢO VÀ QUẦN ĐẢO TRONG PHÂN ĐỊNH BIÊN 140
I Đảo và quần đào trong luật biển quốc tế 140
II Mức độ ảnh hưởng cùa đảo và quần đảo trong phân định biển 148
CHUYÊN ĐỀ 8: VẤN ĐỀ KHAI THÁC CHUNG TRONG THỰC TIỄN QUAN HỆ QUỐC T Ế 154
I Khái niệm khai thác chung 154
II Thực tiễn hoạt động khai thác chung tại một số khu vực trên thế g iớ i 159
III Khai thác chung trên biển Đông - Hiện trạng và triển vọng 163
CHUYÊN ĐỀ 9: GIẢI QUYẾT VẤN Đầ PHÂN ĐỊNH VÙNG NƯỚC LỊCH sử VIỆT NAM - CAMPUCHIA 171
I Lịch sử tranh chấp giữa hai quốc gia 171
II Quan điểm, lập trường của các bên tranh chấp 175
III Khai thác chung - giải pháp tạm thời và nền tảng cho việc giải quyết tranh chấp 178
CHUYÊN Đ Ì 10: GIẢI QUYẾT VẤN Đ Ì PHÂN ĐỊNH BIỂN VIỆT NAM - TRUNG Q U Ố C 182
I Vịnh Bắc Bộ và nhu cầu phân định giữa Việt Nam và Trung Q uốc 182
II Quá trình đàm phán và kết quà phân định Vịnh Bắc B ộ 184
III Phân định khu vực cửa sông Bắc Luân và vùng chồng lấn ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ 197
IV Yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc và vấn đề phân định biển 203
CHUYÊN Đ Ì 11: GIẢI QUYẾT VẤN Đầ PHÂN ĐỊNH BIỂN VIỆT NAM - THÁI L A N 209
I Khái quát chung về tình hình phân định biển trong Vịnh Thái Lan 209
II Hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam - Thái Lan 213
III Tình hình thực hiện Hiệp định phân định biển Việt Nam - Thái L an 219
CHUYÊN ĐỀ 12: GIẢI QUYẾT VẤN ĐE PHÂN ĐỊNH BlỂN VIỆT NAM - MALAYSIA 223
I Lịch sử và hiện trạng tranh chấp trên biển Việt Nam - Malaysia 223
II Triển vọng phân định 229
CHUYÊN ĐỀ 13: GIẢI QUYẾT VẤN Đầ PHÂN ĐỊNH BlỂN VIỆT NAM - INDONESIA 235
I Vị trí địa lý và nhu cầu phân định biển giữa Việt Nam và Indonesia 235
II Phân định thềm lục địa Việt Nam - Indonesia 237
III Phân định vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam - Indonesia 242
Trang 6PHẦN T H Ứ NHẤT: BÁO CÁO PHÚC TRÌNH
A GIỚI THIỆU CHUNG VÈ ĐÈ TÀI NGHIÊN cứ u
I Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Biển luôn đóng vai trò quan trọng về nhiều mặt kinh tế, quân sự, chính trị Ngày nay, khi đất liền trở nên chật hẹp không đáp ứng được tốc độ tăng trưởng dân số, năng lượng khan hiếm, các hệ sinh thái bị suy thoái, môi trường trở nên quá tải, biển
và đại dương trở thành miền đất hứa cho tất cả các quốc gia Trong bối cảnh đó, các nước ven biển, nhất là các cường quốc đều có xu hướng “tiến ra biển”, xây dựng chiến lược biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để khai thác và sừ dụng biển
Là quốc gia nằm ven bờ biển Đông và với chiều dài bờ biển hơn 3.200 km, Việt Nam được đánh giá là quốc gia ven biển có các vùng biển giàu có về tài nguyên thiên nhiên, bao gồm tài nguyên sinh vật và tài nguyên khoáng sản, đồng thời chiếm vị trí chiến lược quan trọng đối với khu vực và trên thế giới Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển đảo luôn gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của đất nước và con người Việt Nam
Xu hướng "tiến ra biển" của các quốc gia đã dẫn đến nhiều tranh chấp về thực hiện chủ quyền và quyền chủ quyền trên biển Theo quy định của Công ước cùa Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, mỗi quốc gia ven biển đều có quyền xác định: (i) nội thủy; (ii) lãnh hải (rộng không quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở); (iii) vùng tiếp giáp lãnh hải (rộng không quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở); (iv) vùng đặc quyền kinh tế (rộng không quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở) và (vi) thềm lục địa Như vậy, các vùng biển của quốc gia ven biển được mở rộng đáng kể, và điều đó làm xuất hiện các vùng biển chồng lấn giữa những nước đối diện hoặc tiếp liền Cho đến nay, còn khoảng 400 đường ranh giới trên biển cần được phân định Những tranh chấp này vốn
đã phức tạp càng trở nên phức tạp hơn khi các quốc gia đẩy mạnh việc khai thác tài nguyên trên các vùng biển Vì vậy, việc giải quyết tranh chấp, hoạch định rõ ràng các vùng biển đã, đang và sẽ tiếp tục chiếm giữ vị trí quan trọng trong quan hệ chính trị, pháp lý quốc tế hiện đại
Trong khu vực biển Đông, Việt Nam đang phải đối diện với nhiều tranh chấp liên quan đến các quốc gia khác nhau như Trung quốc, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Thái Lan và Campuchia Đe giải quyết những tranh chấp này, yêu cầu
Trang 7khách quan đòi hỏi các quốc gia sử dụng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của nhau và phù hợp với các quy định của luật quốc tế Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu một cách có hệ thống những quy định này là điều cần thiết và có
ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn sâu sắc
II Tình hình nghiên cứu
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của Việt Nam về vấn đề phân định biển chưa thực sự phong phú về số lượng Ngoài một vài bài báo có liên quan, vấn đề này hầu như chỉ được đề cập một cách khái quát trong các sách chuyên khảo về luật biến
Có thể nêu ra một số sách và các bài báo liên quan đến phân định biển:
Bộ Ngoại giao, Giới thiệu một số vấn đề cơ bàn cùa luật biển Việt Nam,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002;
- Nguyễn Bá Diến (chủ biên), Chính sách, pháp luật biến của Việt Nam và
chiến lược phát triển bền vũng, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006;
- Nguyễn Bá Diến (chủ biên), Họp tác khai thác chung trong luật biến quốc
tế, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2009;
- Nguyễn Hồng Thao, Những điều cần biết và luật biển, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, 1997;
- Nguyễn Hồng Thao, “Trung Quốc và tình hình trên khu vực biển Đông”,
Tập san Biên giới lãnh thổ, 14/2004;
- Bạch Quốc An, “Vai trò của Asean trong việc giải quyết các tranh chấp về
biên giới, lãnh thổ”, Tạp chí Luật học, số 9, 2007;
- Nguyễn Bá Diến, “Vấn đề phân định biển trong Luật biển quốc tế hiện đại”,
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật, T XXIII, số 1, 2007;
- Nguyễn Bá Diến, “Các vùng khai thác chung trong Luật quốc tế hiện đại”,
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật, T XXIV, số 2, 2008;
- Nguyễn Bá Diến, “Khai thác chung dầu khí châu Phi - một số bài học kinh
nghiệm đối với Việt Nam’', Tạp chí Nghiên cửu lập pháp, T 12, số 21,
2008;
- Huỳnh Minh Chính, “Pháp luật quốc tế và việc vạch biên giới biển giữa Việt
nam với các quốc gia láng giềng”, Tập san Biên giới lãnh thô, 14/2003
lãnh thổ, 4/1997;
Trang 8- Nguyễn Toàn Thắng, “Asean và tranh chấp liên quan đến quần đảo Trường
Sa”, Tạp chí Luật học, số 9, 2007;
- Nguyễn Toàn Thắng, “Thực tiễn áp dụng quy chế pháp lý quốc tế về đảo và các công trình nhân tạo trên biển của Việt Nam và một số nước trên thê giới”, chuyên đề thuộc đề tài cấp nhà nước “Cơ sở pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường sa - Hoàng sa” (Bộ Ngoại giao) do Trung tâm Luật biển và Hàng hải Quốc tế chủ trì, 2009;
Do đó, với mục đích tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất về pháp lý
và thực tiễn liên quan đến phân định biển, nhóm tác giả đề xuất nghiên cứu đề tài “ vấn
đê phản định biên trong luật quôc tê và thực tiên phân định biên giữa Việt Nam với các nước trong khu vực".
III Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm của Đảng và Nhà nước về chiến lược biển Việt Nam nhằm xây dựng đất nước trở thành quốc gia mạnh
về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chù quyền của quốc gia trên biển Đề tài vận dụng các nguyên tắc, phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, của Lý luận nhà nước và pháp luật trong điều kiện cụ thể của Việt Nam Trong đó, đề tài đặc biệt chú ý vận dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp thống kê, so sánh; phương pháp hệ thống và phân tích tổng hợp; phương pháp quy nạp; phương pháp suy luận logic
IV Mục đích nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài “ vấn đề phân định biển trong luật quốc tế và thực tiễn
phân định biển giữa Việt Nam với các nước trong khu vực” nhằm một số mục tiêu cơ
bản sau:
Thứ nhất, phân tích, đánh giá thực tiễn quốc tế trong giải quyết tranh chấp về
phân định biển, đặc biệt là thực tiễn phân định biển giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực
Thứ hai, cung cấp những kiến thức pháp lý cơ bản về phân định biến, phục vụ
cho việc nghiên cứu và giảng dạy của giáo viên và sinh viên trong trường, các cơ sở đào tạo luật và quan hệ quốc tế
Trang 9V Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, nhóm tác giả không
có tham vọng nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc tất cả những vấn đề pháp lý và thực tiễn liên quan đến nội dung của đề tài Vì vậy, đề tài tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu các quy định của luật quốc tế về phân định biển, thực tiễn phân định biển tại các cơ quan tài phán quốc tế, thực tiễn phân định biển của Việt Nam với các nước trong khu vực và thực tiễn phân định biển của một số quốc gia trên thế giới
B CÁC KẾT QUẢ CHÍNH CỦA ĐÈ TÀI NGHIÊN cứ u
I Những vấn đề pháp lý và thực tiễn về phân định biển
1.1 Khái quát sự phát triển của luật quốc tế về phân định biển
Quá trình phát triển của luật quốc tế về phân đinh biển có thể được chia thành
ba giai đoạn: (i) giai đoạn trước năm 1958; (ii) giai đoạn 1958 - 1982 và (iii) giai đoạn
từ 1982 đến nay
1.1.1 Giai đoạn trước năm 1958
Giai đoạn này được đặc trưng bởi sự tồn tại các quy phạm tập quán điều chỉnh quá trình phân định biển
Trong thời kỳ khoa học còn chưa phát triển, biển vẫn được coi là nguồn tài nguyên vô tận, tự do khai thác cho tất cả các quốc gia Tình hình này kéo dài cho tới thế kỷ XV, khi biển cả trở thành đối tượng chinh phục của các nước muốn mở rộng quyền lực của mình ra biển N gày 4/5/1493, Giáo hoàng Alexandre VI đã ban hành
Sắc chỉ "Inter coetera” vạch một đường cách phía phái Tây đảo Cap Vert (nằm ở Đại
Tây Dương, cách bờ biển của Senegal và Mauritani khoảng 500km) 100 liên (1 liên tương đương khoảng 182 mét), phân chia đại dương thành hai khu vực truyền đạo Thiên chúa cho Tây Ban N ha và Bồ Đào Nha Sau này, hai nước phát triển thành hai khu vực ảnh hưởng của họ
Những năm tiếp theo, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và thương mại hàng hải, các yêu sách nói trên gặp phải sự phản đối của nhiều quốc gia Chính trong hoàn cảnh đó đã diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai nguyên tắc lớn: tự do biển cả và thiết lập chủ quyền quốc gia trên biển Nhìn chung, các quốc gia theo xu hướng tự do biển cả, nhưng có quan điểm tương đối trung lập về quyền của quốc gia trên biển Nhiều quốc gia, một m ặt khẳng định nguyên tắc tự do biển cả, mặt khác xác định chủ
Trang 10quyền trên vùng biển bao quanh với lý do là sự mở rộng chù quyền trên lãnh thổ đất liền ra phía biển nhằm bảo vệ mình trước sự tấn công của các quốc gia khác.
Trước đòi hỏi thực tiễn về việc xác định cụ thể những vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia, Hội nghị pháp điển hoá luật quốc tế được tổ chức tại La Haye (Hà Lan) vào năm 1930 Hội nghị đã đạt được những kết quả nhất định trong việc công nhận quốc gia ven biển có một vùng lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải
Tuy nhiên, các quốc gia vẫn không thống nhất được về chiều rộng lãnh hải Nhìn chung, nhiều quốc gia áp dụng lý thuyết “tầm bắn đại bác”, xác định chiều rộng lãnh hải là 3 hải lý1 Do đó, trong giai đoạn trước năm 1958, vấn đề phân định biển chủ yếu đặt ra đối với lãnh hải
1.1.2 Giai đoạn 1958 - 1982
Trong giai đoạn này, bên cạnh sự tồn tại của các quy phạm tập quán, pháp luật quốc tế về phân định biển chịu ảnh hưởng tích cực của Hội nghị lần thứ nhất của Liên hợp quốc về Luật biển tổ chức tại Giơ-ne-vơ (Thụy sỹ) năm 1958
Hội nghị đã thông qua được bốn Công ước quan trọng: (i) Công ước về lãnh hải
và vùng tiếp giáp lãnh hải; (ii) Công ước về biển cả; (iii) Công ước về đánh cá và bảo tồn các tài nguyên sinh vật của biển cả và (iv) Công ước về thềm lục địa Sự ra đời của những điều ước quốc tế nói trên đánh dấu bước phát triển quan trọng trong quá trình pháp điển hóa luật biển quốc tế nói chung, pháp luật về phân định biển nói riêng Điều này được thế hiện ở một số khía cạnh sau:
+ Bên cạnh lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển được ghi nhận thêm vùng thềm lục địa, bao gồm phần đáy biển và lòng đất dưới đáy “nằm bên ngoài lãnh hải đến độ sâu 200 mét hoặc sâu hơn nữa tới mức độ cho phép khai thác các tài nguyên thiên nhiên ở đó”
+ Vấn đề phân định được điều chỉnh bởi những quy phạm pháp luật cụ thể, tạo
cơ sở pháp lý rõ ràng để các quốc gia tiến hành phân định trên thực tế2
Những thành công về phương diện lập pháp của Hội nghị lần thứ nhất của Liên họp quốc về Luật biển là tiền đề để các quốc gia tiếp tục con đường phát triển pháp luật quốc tế về phân định biển
1 Khoảng cách này được nêu ra lần đầu tiên một cách cụ thề trong cuốn "De dom inỉo m aris" năm 1702 cùa tác
gia người Hà Lan, Bynkershoek, khẳng định quyền cua quốc gia ven biên thực hiện chủ quyền trên các vùng biển bao quanh, tới một giới hạn tương ứng với tầm bắn đại bác của thời kỳ đó Quan diêm trên được các quôc gia phát triền về hàng hài (như Anh, Hà Lan) hoan nghênh vì nó duy trì được ờ mức tối đa quyền tự do trên biên.
2 Điều 12 Công ước G iơ-ne-vơ về lãnh hải và vùng tiếp giáp năm 1958, điều 6 Công ước G iơ-ne-vơ về thềm lục địa năm 1958.
Trang 11Ị 1.3 Giai đoạn từ năm 1982 đến nay
Sau 5 năm trù bị (1967 - 1972) và 9 năm thương lượng (1973 - 1982), Hội nghị lần thứ ba về Luật biển đã thông qua được Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển (Công ước Luật biển năm 1982) tại Montegobay (Giamaica) ngày 10/12/1982 Công ước có hiệu lực từ ngày 16/11/1994
Công ước Luật biển năm 1982 là một văn kiện tổng họp, toàn diện, đề cập tất cả các vấn đề thuộc lĩnh vực pháp lý, kinh tế, khoa học kỳ thuật Công ước phản ánh sự nhất trí của các quốc gia đối với những vấn đề liên quan đến biển và nhằm xác lập trật
tự pháp lý điều chỉnh các hoạt động khai thác và sử dụng biển Công ước giải quyết được nhiều vấn đề pháp lý đặt ra trong thực tiễn mà các Hội nghị Luật biển trước đó chưa thể giải quyết Đặc biệt, Công ước xây dựng khuôn khổ pháp lý cho việc thiết lập các vùng biển và phân định biển
Theo quy định của Công ước, không ảnh hưởng đến vùng biển được sừ dụng chung cho tất cả các quốc gia, mỗi quốc gia ven biển có quyền tuyên bố và xác định các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, bao gồm vùng nội thủy, lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
+ Nội thủy là vùng nước nằm phía bên trong đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải và giáp với bờ biển3
+ Lãnh hải là vùng biển nằm phía ngoài và tiếp liền nội thuỷ, có chiều rộng không vượt quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở4
+ Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm phía ngoài và tiếp liền lãnh hải, có chiều rộng không vượt quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải5
+ Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền lãnh hải, có chiều rộng không vượt quá 200 hải lý tính tò đường cơ sở dùng để tình chiều rộng lãnh hải6
+ Thềm lục địa của quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phận kéo dài tự nhiên của lãnh thố đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ
3 Điều 8 khoán 1 Công ước Luật biến năm 1982.
4 Điều 2, 3 C ông ước Luật biển năm 1982 So với C ông ước G iơ-ne-vơ về lãnh hải và vùng tiếp giáp năm 1958,
C ông ước Luật biển nãm 1982 đã hoàn thiện và giải quyết được vấn đề chiều rộng lãnh hải.
5 Đ iệu 33 Công ước Luật biền năm 1982.
6 Điều 55, 57 Công ước Luật biển nãm 1982.
Trang 12sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia
đó ở khoảng cách gần hơn7
Trong trường họp bờ ngoài của thềm lục địa mở rộng ra quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở, quốc gia ven biển có thể sử dụng các phương pháp phù hợp để xác định ranh giới phía ngoài của thềm lục địa, với điều kiện đường ranh giới đó không được
mở rộng quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2500 mét, là đường nối các điểm ở đáy biển có độ sâu 2500 mét, một khoảng cách không quá 100 hải lý8
Như vậy, Công ước đã mở rộng một cách đáng kể thấm quyền của quốc gia ven biển Không chỉ có chủ quyền đối với lãnh hải, quốc gia ven biển còn thực hiện quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với những vùng biển rộng lớn như vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Tuy nhiên, điều đó cũng đồng thời làm xuất hiện thêm các vùng biển chồng lấn giữa các nước có bờ biển nằm đối diện hoặc tiếp liền Vì vậy, các quốc gia hữu quan có nghĩa vụ tiến hành các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp phát sinh Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận, tranh chấp thường giải quyết thông qua vai trò của các cơ quan tài phán quốc tế
1.2 Khái niệm phân định biển
ĩ 2.1 Định nghĩa
Trong Công ước Giơ-ne-vơ về lãnh hải và vùng tiếp giáp năm 1958, thuật ngữ
“phân định” (tiếng anh là delimitation) được đề cập tại điều 12, theo đó “(•••) đường
phân định lãnh hải giữa hai quốc gia nằm đối diện hoặc tiếp liền được thế hiện trên các hải đồ tỷ lệ lớn đã được quốc gia ven biển chính thức công nhậrí' Trong trường
hợp này, vấn đề phân định lãnh hải được đặt ra khi: (i) các quốc gia có bờ biển nằm đối diện hoặc tiếp liền và (ii) tồn tại vùng chồng lấn buộc hai nước phải cùng nhau xác định đường ranh giới chung
Thuật ngữ “phân định’' theo nghĩa nêu trên được nhắc lại tại điều 15 (phân định lãnh hải), điều 74 (phân định vùng đặc quyền kinh tế) và điều 83 (phân định thềm lục
địa) của Công ước Luật biển năm 1982 Điều 83 của Công ước quy định: “việc phân
định thềm lục địa giữa các quốc gia có hờ biến nằm đối diện hoặc tiếp liền được thực
7 Điều 76 khoản 1 Công ước Luật biển năm 1982.
8 Điều 76 khoán 2,5 Công ước Luật biến năm 1982.
Trang 13hiện bằng con đường thoa thuận theo đúng luật pháp quốc tế như đã được nêu ở điểu
38 của Quy chế Tòa công lý quốc tế, đế đi đến một giải pháp công bằng''
Tuy nhiên, trong Công ước Luật biển năm 1982, thuật ngừ phân định còn được
đề cập tại một số điều khoản khác Điều 50 của Công ước quy định: “phía bên trong
vùng nước quần đao, quốc gia quần đao có thể vạch nhũng đường khép kín để phân định nội thủy theo đúng các điều 9, 10 và /7 ” Trong trường họp này, thuật ngữ phân
định được hiểu là quá trình xác định đường ranh giới phân chia các vùng biển của một quốc gia Nói cách khác, quốc gia đơn phương tự xác định các vùng biển phù hợp với quy định của luật quốc tế Như vậy, thuật ngữ “phân định’' được sử dụng với hai nghĩa khác nhau: hoặc để xác định ranh giới của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của một quốc gia; hoặc để xác định đường ranh giới chung trong trường hợp tồn tại vùng biển chồng lấn giữa các quốc gia nằm đối diện hoặc tiếp liền
Không được định nghĩa trong các điều ước quốc tế, các cơ quan tài phán quốc
tế có quan điểm về phân định biển như thế nào? Trong phán quyết ngày 19/12/1978 về
phân định thềm lục địa tại biển Aegean, Tòa công lý quốc tế nêu rõ “phân định là hoạt
động nhằm vạch một đường hoặc nhiều đưòng chính xác nơi gặp nhau của các vừng không gian mà tại đó thực hiện quyền lực và quyền chủ quyền” của hai quốc gia10
Như vậy, theo quan điểm của Tòa, phân định đặt ra trong trường hợp tồn tại vùng biển chồng lẩn cần xác định đường ranh giới chung giữa các quốc gia nằm đối diện hoặc tiếp liền
Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi sử dụng thuật ngữ phân định biển theo nghĩa
hẹp Hiểu một cách khái quát, phân định là hoạt động do hai hay nhiều quốc gia thực
hiện, trên cơ sở thỏa thuận trực tiếp hoặc thông qua bên thứ ba, phù hợp với các quy định cùa luật quốc tế, nhằm xác định các danh nghĩa pháp lý tương úng của mỗi quốc gia trên các vùng biển chồng lấn.
1.2.2 Đặc điểm
Định nghĩa nêu trên bao quát tương đối đầy đủ các đặc điểm của phân định biển: (i) là hành vi mang tính quốc tế; (ii) tồn tại sự chồng lấn của các vùng biển mà các quốc gia tranh chấp đều có cùng danh nghĩa pháp lý
+ Phân định biển là hành vi pháp lý quốc tế Điều này có nghĩa là, phàn định biển phái được thực hiện dựa trên các quy định của luật quốc tế và do các quốc gia hữu
} Điều 74 về phân định vùng đặc quyền kinh tế có nội dung giống với quy định tại điều 83.
10 A egean S ea Continental Shelf, Judgment, Ị.C.J R eporís 1978, § 85, p 35.
Trang 14quan, hay nói cách khác, bởi các quốc gia có bờ biển liền kề hoặc đối diện có các vùng biển chồng lấn về danh nghĩa.
Do đó, phân định biển là một hành vi pháp lí quốc tế song phương hoặc đa phương chứ không phải là hành vi pháp lý đơn phương Khi quy định về phân định biển đối với lãnh hải, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế tại các Điều 15, 74 hoặc 83, Công ước Luật biển năm 1982 chỉ ra rằng, các quốc gia phải thực hiện phân định trên
cơ sở thỏa thuận Trong trường hợp phân định lãnh hải, khi chưa có thỏa thuận, các bên không được đơn phương mở rộng lãnh hải ra quá đường trung tuyến hoặc cách đều của hai quốc gia Đối với trường họp phân định vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục đia, Công ước còn đưa ra cơ chế giải quyết bằng con đường tài phán nếu các bên không đạt được thỏa thuận trong một thời hạn “họp lý” Như vậy, trong các trường hợp nêu trên, phân định các vùng biển luôn là hành vi pháp lý quốc tế song phương hoặc đa phương
+ Vấn đề phân định chỉ đặt ra khi có sự chồng lấn các vùng biển mà cụ thể là chồng lấn danh nghĩa Các bên tham gia quá trình phân định phải chứng minh danh nghĩa pháp lý để xác định quyền được phân định giữa các bên hữu quan theo pháp luật quốc tế Điều này có nghĩa, các quốc gia phải chứng minh quyền được tham gia vào các quan hệ về phân định biển dựa trên căn cứ pháp lý và thực tiễn Ví dụ, trong trường hợp đưa ra yêu sách về phân định thềm lục địa, các quốc gia có nghĩa vụ chứng minh thềm lục địa chồng lấn nằm trên “phần kéo dài tự nhiên của đất liền ra biển” hoặc tới 200 hải lý, khi thềm lục địa ở khoảng cách gần hom11
1.3 Phân định lãnh hải
1.3.1 Đưàng cơ sở và vai trò của đường cơ sở trong phân định
Các phương pháp xác định đường cơ sở
Theo quy định của Công ước Luật biển năm 1982, việc xác định đường cơ sở là hành vi pháp lý đon phương của quốc gia ven biển Hành vi này có tác động như thế nào đến quá trình phân định giữa các nước có bờ biển nằm đối diện hoặc liền kề? Việc
kẻ đường cơ sở ở khoảng cách xa bờ sẽ khiến đường biên giới trên biển và ranh giới ngoài của các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia được đẩy lùi tương ứng ra phía biển Điều này sẽ tạo nên sự bất bình đẳng đối với quốc gia láng giềng lựa chọn ngân thủy triều chạy dọc bờ biển để xác định đường cơ sở
11 Điều 76 Công ước Luật biên năm 1982.
Trang 15Công ước Luật biển năm 1982 ghi nhâp hai phương pháp xác định đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải: đường cơ sở thông thường và đường cơ sở tháng.
Đường cơ sở thông thường là ngấn nước thủy triều thấp nhất chạy dọc theo bờ biển, được thể hiện trên các hải đồ tỉ lệ lớn đã được quốc gia ven biến chính thức công nhận (điều 5 Công ước Luật biển năm 1982) Việc xác định ngấn nước thủy triều thấp nhất không phải là một quy trình phức tạp Đó là ngấn giao nhau giữa bờ biển với mức thấp nhất của mặt nước biển Phương pháp này liên quan trực tiếp đến sự thay đổi mực nước biển, tới mực 0 trên các hải đồ Mực 0 rất khác nhau giữa các nước, thậm chí giữa các vùng ven biển của một quốc gia Phương pháp đường cơ sở thông thường có
ưu điểm là phàn ánh tương đối chính xác đường bờ biển thực tế của quốc gia ven biển, nhưng có hạn chế là khó áp dụng đối với các vùng có bờ biển lồi lõm, khúc khuỷu hoặc có nhiều đảo ven bờ
Trong trường hợp đường cơ sở thông thường, được xác định là ngấn nước thủy triều thấp nhất, không còn phù hợp với địa hình thực tế của bờ biển, quốc gia ven biển được phép áp dụng phương pháp đường cơ sở thẳng là đường gãy khúc nối liền các điểm được lựa chọn tại ngấn nước thuỷ triều thấp nhất dọc bờ biển và các đảo ven bờ
Công ước đồng thời quy định các điều kiện để áp dụng đường cơ sở thẳng: (i) Ở những nơi bờ biển khúc khuỷu, bị khoét sâu và lồi lõm hoặc (ii) Ở những nơi có chuỗi đảo chạy dọc bờ biển và nằm ngay sát ven bờ hoặc (iii) Ở những nơi có các điều kiện thiên nhiên đặc biệt gây ra sự không ổn định của bờ biển như sự hiện diện của các châu thổ Ngoài ra, trong quá trình xác định đường cơ sở thẳng, quốc gia ven biển phải đảm bảo đường cơ sở đó không đi chệch quá xa hướng chung của bờ biển và các vùng biển nằm bên trong đường cơ sở phải có liên quan đến phần đất liền để có thể đặt dưới chế độ nội thuỷ
Tuy nhiên, Công ước Luật biển năm 1982 không chỉ rõ thế nào là bờ biển khúc khuỷu, bị khoét sâu và lồi lõm, thế nào là chuỗi đảo và thế nào là xu huớng chung của
bờ biển Vì vậy, những điều kiện này cần được giải thích một cách họp lý, tránh tình trạng lạm dụng với mục đích đẩy đường cơ sở lùi xa ra phía biển Chẳng hạn, phương pháp đường cơ sở thẳng không được áp dụng khi bờ biển chỉ có một chỗ bị khoét sâu hay không được bằng phẳng Việc giải thích và áp dụng từng điều kiện cụ thể phải được đặt trong địa hình tổng thể của bờ biển Ý tưởng của các nhà soạn thảo Công ước Luật biển năm 1982 dường như tương đối rõ ràng: vấn đề không phải ở chỗ làm lại tự
Trang 16nhiên bàng cách thay đối toàn bộ địa hình bờ biển trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống Ớ những nơi bờ biển quá lồi lõm, khúc khuỷu, nhiệm vụ đặt ra là thay đổi cho đơn giản mà vẫn phù hợp với địa thế chung của bờ biển Đơn giản hoá nhưng không lạm dụng, làm biến đổi sai lệch: đó chính là ý nghĩa của phương pháp đường cơ sở thắng mà Công ước Luật biển năm 1982 muốn hướng tới.
Vai trò của đường cơ sở trong phân định biên
Việc xác định đường cơ sở là hành vi pháp lý đơn phương và thuộc thầm quyền cùa quốc gia ven biển Vì vậy, nó không nhất định có hiệu lực ràng buộc đối với các quốc gia khác, đặc biệt trong trường hợp có các quốc gia nằm đối diện hoặc tiếp liền Như đã đề cập, phân định biển là hành vi pháp lý quốc tế, đòi hỏi sự thỏa thuận của các bên hữu quan, bởi vì điều đó ảnh hưởng đến lợi ích của hai hay nhiều quốc gia đối với ranh giới không gian quy định phạm vi hiệu lực của chủ quyền và quvền chủ quyền cùa những quốc gia này Thực tiễn chỉ ra rằng hành vi pháp lý đon phương của một nước bản thân chúng không thể có cơ sở buộc tất cả các quốc gia hữu quan chấp thuận để vạch dường ranh giới chung, trừ khi được những quốc gia này thỏa thuận như vậy
Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận và tranh chấp được giải quyết tại
cơ quan tài phán quốc tế, đường cơ sở do các bên đơn phương xác lập không nhất thiết được sử dụng làm căn cứ để xác định đường phân định Theo quan điểm của Tòa công
lý quốc tế trong vụ tranh chấp về đánh cá giữa Anh và Nauy (18/12/1951), “v/ệc phân
định các vừng biển luôn luôn có khỉa cạnh quốc tế; nó không thể phụ thuộc vào V chí duy nhất của quốc gia ven biển như được thể hiện trong pháp luật quốc gia Nếu tuyên
bố hoạch định là hành vi pháp lý đơn phương vì chỉ quốc gia ven biển mới có tư cách
để tiến hành thì ngược lại giá trị của hành vi đó đổi với các quốc gia khác sẽ do luật quốc tế điều chinh”[1 Mỗi quốc gia có quyền đơn phương xác định đường cơ sở và
ranh giới của các vùng biển nhưng phân định biển phải luôn được nhìn nhận dưới góc
độ pháp lý quốc tế
Quan điểm nêu trên được ghi nhận trong nhiều phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế Trong vụ Thềm lục địa Tunisia/Libya, Tòa công lý quốc tế chỉ rõ rằng việc xac định các điểm và đoạn cơ sở để kẻ đường phân định và hệ thống đường cơ sở của quốc gia ven biển là hai vấn đề độc lập và riêng biệt Vì vậy, để kẻ đường phân
Trang 17định nhằm đạt kết quả phân định công bằng, Tòa phải tính toán hiệu lực của các đảo Djerba và Kerkennah, không phải với tính chất những hòn đao này được xác định trong hệ thống đường cơ sở của Tunisia mà trên cơ sở vị trí, vai trò cũng như ảnh hưởng của chúng đến đường phân định Vì vậy, Tòa đã bô qua đảo Djerba nhưng lại trao cho đảo Kerkennah một nửa hiệu lực khi kẻ đường phân định Đặc biệt, đường phân định có những đoạn chạy theo hướng chung của bờ biển Tunisia nhưng không dựa trên hệ thống đường cơ sở thẳng do Tunisia xác định Tòa đồng thời khẳng định
“không đánh giả về giá trị của hệ thống đưòrig cơ sở này cũng như hiệu lực của chúng đối với Libya” 13.
Trong vụ Thềm lục địa Libya/Malta, Tòa công lý quốc tế sử dụng bờ biển của các quốc gia hữu quan để kẻ đường trung tuyến Theo quan điểm của Malta, việc kẻ đường phân định phải xuất phát từ hệ thống đường cơ sở do các quốc gia hữu quan xác lập, cụ thể là đường cơ sở của Malta bao gồm đoạn nối đảo Malta và đảo nhỏ Filfla Tòa đưa ra kết luận rằng: (i) Tòa không xem xét tính họp pháp của việc Malta sử dụng đảo nhỏ Filfla để xác định đường cơ sở; (ii) trong mọi trường hợp, đường cơ sở do các quốc gia thiết lập không nhất thiết được sử dụng để xác định ranh giới chung của thềm lục địa Đường cách đều được xác định dựa trên những điểm phù hợp của bờ biển và các đảo ven bờ, và để đạt được kết quả công bằng, một số đảo nhỏ cũng như một số điểm nhô ra nhất của bờ biển có thể bị bỏ qua Do đó, mặc dù đảo nhỏ Filfla được Malta sử dụng để xác định đường cơ sở, Tòa đã bỏ qua hòn đảo này khi xem xét kẻ đường cách đều
Như vậy, đường cơ sở chỉ đóng một vai trò hạn chế trong phân định biển Neu đường cơ sở được các quốc gia thỏa thuận sử dụng trong một số điều ước về phân định biển, ngược lại hầu như không được các cơ quan tài phán xem xét khi giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực này
1.3.2 Nguyên tấc và phương pháp phân định lãnh hải
Theo quy định tại điều 2 Công ước Luật biển năm 1982, "Chủ quyền của quốc
gia ven biến được mở rộng ra ngoài lãnh thổ ( ) đến một vùng biến tiếp liền, gọi là lãnh hái Đây là vùng biển nằm phía ngoài và tiếp liền nội thuỷ, có chiều rộng không vượt quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở14 Như vậy, ranh giới phía trong của lãnh
13 C ontinental S h elf (Tunisia'Libyan A rab Jam ahiriya), Judgment I.C.J R eports ỉ 982, § 79, p 63; § 104, p 76;
§ 1 2 0 , p 85.
14 Điều 3 C ông ước Luật biên năm 1982.
Trang 18hải là đường cơ sở và ranh giới phía ngoài là đường mà mỗi điểm trên đường đó ở cách điểm gần nhất của đường cơ sở một khoảng cách bàng chiều rộng của lãnh hải và không vượt quá 12 hải lý Ranh giới phía ngoài của lãnh hải chính là đường biên giới quốc gia trên biển.
Trong trường hợp lãnh hải của hai quốc gia nằm đối diện hoặc tiếp liền tạo thành vùng chồng lấn, các quốc gia cần thỏa thuận để tiến hành phân định lãnh hải, nói cách khác xác định đường biên giới chung trên biển Công thức phân định lãnh hải giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hoặc đối diện nhau được ghi nhận tại Điều 15
Công ước Luật biển năm 1982, cụ thể như sau: “Khi hai quốc gia có bờ biển liền kề
hoặc đoi diện nhau, không quốc gia nào được quyền m ở rộng lãnh hải ra quá đưòng trung tuyến mà mọi điếm nằm trên đó cách đều các điểm gần nhất cùa các đường cơ
sở dùng đế tính chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia, trừ khi có sự thỏa thuận ngược lại Tuy nhiên, quy định này không áp dụng trong trường hợp do cỏ nhũng danh nghĩa lịch sử hoặc có các hoàn cành đặc biệt khác cần hoạch định ranh giới lãnh hài của hai quốc gia khác với quy định đã n ê ừ \ Phân tích quy định của Điều 15 Công ước
Luật biển năm 1982 có thể rút ra một số nhận xét
Thứ nhất, Điều 15 của Công ước 1982 đã ghi nhận lại gần như hoàn toàn nội
dung của khoản 1, Điều 12, Công ước Giơ-ne-vơ về lãnh hải và vùng tiếp giáp năm 1958
Thứ hai, công thức chung để phân định lãnh hải giữa hai quốc gia có bờ biển
liền kề hoặc đối diện nhau là: (i) phân định lãnh hải phải được tiến hành trên cơ sở thỏa thuận, các bên có thể thỏa thuận để lựa chọn các phương pháp phân định phù họp; (ii) trong trường hợp không có thỏa thuận, các quốc gia hữu quan sử dụng phương pháp đường trung tuyến/cách đều; (iii) hiệu lực của đường trung tuyến/cách đều sẽ bị thay đổi trong trường hợp tồn tại các hoàn cảnh đặc biệt
Thứ ba, với quy định trên, Công ước Luật biển năm 1982 đã khẳng định lại một
lần nữa, thỏa thuận là nguyên tắc cao nhất để các bên hữu quan giải quyết vấn đề phân định Quy định này cũng hoàn toàn phù hợp với bản chất của luật quốc tế là được xây dựng trên cơ sở thỏa thuận và tự nguyện
Thứ tư, Công ước khẳng định việc tiếp tục áp dụng nhưng có sự hạn chế của
phương pháp trung tuyến/cách đều trong phân định lãnh hải giữa các quốc gia có bờ biển đối diện hoặc tiếp liền Sự hạn chế này được quyết định bởi sự hiện diện của các
Trang 19hoàn cảnh đặc biệt Tuy nhiên, Công ước không đưa ra định nghĩa chính xác về các hoàn cảnh đặc biệt Theo ủ y ban luật quốc tế, các hoàn cảnh đó có thể là: hình dạng bất thường của bờ biển; sự hiện diện của các đảo; luồng hàng hải Trong trường hợp này, phân định lãnh hải có thể tóm gọn lại theo công thức: đường trung tuyến/cách đều
Phân định biển là hành vi mang tính quốc tế nên cần thực hiện trên cơ sở thỏa thuận của các quốc gia hữu quan Quy định tại điều 12 Công ước Giơ-ne-vơ về lãnh hải và vùng tiếp giáp (1958), điều 6 Công ước Giơ-ne-vơ về thềm lục địa (1958) và các điều 15, 74, 83 của Công ước Luật biển năm 1982, nguyên tắc thỏa thuận đã trở thành nguyên tắc mang tính tập quán, được các quốc gia tôn trọng thực hiện và các cơ quan tài phán quốc tế viện dẫn áp dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp về phân định biển
Trong vụ Thềm lục địa biển Bắc, Tòa công lý quốc tế khẳng định rằng “v/ệc
phán định phải là đoi tượng thỏa thuận giữa các quốc gia hữu quan" “Các bên phải tiến hành đàm phản nhằm đi đến một thỏa thuận chứ không p h ả i đom thuần tiến hành một cuộc đàm phán hình thức ( ); các bên có nghĩa vụ x ử sự sao cho đàm phán có ý nghĩa, đó không p h ả i là trường hợp khi một trong các bên khăng khăng g iữ lập trường riêng của mình mà không trù liệu bất kỳ sự điều chỉnh « ào ” 15 Như vậy, nghĩa vụ phân
định trên cơ sở thỏa thuận yêu cầu các bên tranh chấp tiến hành đàm phán m ột cách tự nguyện, có thiện chí và với những đề nghị thực sự xây dựng nhằm đi đến thỏa thuận
mà các bên có thể chấp nhận Nguyên tắc này không cho phép các quốc gia hữu quan chỉ tham gia đàm phán một cách hình thức, chiếu lệ, nhằm đưa ra những vấn đề không trực tiếp liên quan, không thể nhân nhượng được, không phù hợp với quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các nước láng giềng
Trong vụ Vịnh Maine, Tòa công lý quốc tế ghi nhận nguyên tắc thỏa thuận như
sau '"phân định thềm lục địa giữa các quốc gia có bờ biển đối diện hoặc tiếp liền
không thê được thực hiện bằng hành vi pháp lý đom phư ơng của một quốc gia S ự phân định này ph à i được mưu cầu và thực hiện qua một thỏa thuận tiếp theo một cuộc
1.4 Phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
1.4.1 Nguyên tắc thỏa thuận
TRUNG TẦM THÕNG TIN THƯ VIẸ^ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẠT HA NỊ
Trang 20đàm phán thiện chỉ với ý định thực tế đạt tới kết qua tích cụr ”16 Trong trường hợp tồn
tại vùng biển chồng lấn, việc hoạch định đơn phương của một trong các bên tranh chấp
sẽ không có hiệu lực pháp lý đối với những nước liên quan Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế bởi vấn đề phân định liên quan đến một vùng biển mà ớ đó nhiều quốc gia cùng có danh nghĩa pháp lý như nhau Vì vậy, việc phân định đòi hỏi phải có sự thể hiện và thỏa thuận về ý chí của các nước hữu quan thông qua quá trình đàm phán
Nguyên tắc thỏa thuận dành cho các nước hữu quan quyền ấn định đường ranh giới chung phù hợp nhất đối với họ, với điều kiện là sự thỏa thuận đó phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng các quy định của luật quốc tế và không ảnh hường đến quyền
và lợi ích của các quốc gia khác Thỏa thuận sẽ giúp các quốc gia đảm bảo tính chính xác của đường phân định, đạt mục đích công bằng, đồng thời tránh được những xung đột có thể phát sinh Để thực hiện được điều đó, các yếu tố, hoàn cảnh ảnh hưởng đến kết quả phân định cần được đưa ra xem xét, cân nhắc ngay trong quá trình đàm phán
để đi đến thỏa thuận
Có thể thấy rằng, nguyên tắc thỏa thuận có cơ sở pháp lý vững chắc và là nguyên tắc có giá trị ràng buộc các quốc gia trong giải quyết tranh chấp về phân định biển Nguyên tắc này được áp dụng đối với phân định biển nói chung, bao gồm phân định các vùng biển thuộc chủ quyền cũng như quyền chủ quyền quốc gia
1.4.2 Vẩn đề công bằng và nguyên tắc công bằng trong phân định biển
Công bằng là một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong quá trình xác định đường ranh giới chung giữa các quốc gia nằm đối diện hoặc liền kề Trong mọi trường hợp phân định, việc áp dụng nguyên tắc và phương pháp này hay nguyên tắc và phương pháp khác cuối cùng đều hướng tới một mục đích “công bằng” Kết quả phân định công bằng là cơ sở để giải quyết triệt để tranh chấp, phòng tránh những xung đột phát sinh, đồng thời góp phần củng cố và duy trì quan hệ láng giềng thân thiện giữa các quốc gia hữu quan
Ghi nhận trong các Công ước Giơ-ne-vơ năm 1958 và Công ước Luật biển năm
1982, sự cần thiết phải tiến hành phân định trên cơ sở công bằng đã được thể hiện ở nhiều mặt trong phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế Trong vụ Thềm lục địa biển Bắc, Tòa công lý quốc tế nêu rõ việc phân định phải được tiến hành theo những nguyên tắc công bằng Tuy nhiên, công bằng không nhất thiết có nghĩa là chia đồng
Trang 21đều d iện tích, sửa đổi, chỉnh lý lại sự tạo b,óa của tự nhiên Việc áp dụng nguyên tắc công bằng trong quá trình phân định không phải là áp dụng tính công bằng một cách giảr đơn như là sự công bằng trừu tượng, mà là áp dụng một quy phạm pháp luật Đây
là đ-.ềỉu kiện chủ yếu để lựa chọn các phương pháp phân định phù hợp17
Quan điểm của Tòa công lý quốc tế được khẳng định lại trong phán quyết trọng tài ngày 30/6/1977 về phân định thềm lục địa giữa Anh và Pháp Qua so sánh điều 6 Công ước Giơ-ne-vơ về thềm lục địa năm 1958 và quy phạm tập quán quốc tế, Tòa trọng tài cho rằng tất cả những quy phạm này đều có chung mục đích - hướng tới sự phân định công bằng Việc lựa chọn phương pháp theo Công ước Giơ-ne-vơ về thềm lục địa hay tập quán quốc tế đều phải xét đến các hoàn cảnh và một tiêu chí quan trọng
là phù hợp với nguyên tắc công bằng18
Trong vụ Thềm lục địa Tunisia/Libya, Tòa công lý quốc tế nêu rõ Tòa có nghĩa
vụ phải thông qua phán quyết trên cơ sở nguyên tắc công bằng Sự phù hợp với nguyên tắc này là điều quan trọng nhất của quá trình phân định Đây là một khái niệm pháp lý, trực tiếp thể hiện nội dung của khái niệm Công lý Nhìn chung, khái niệm công bằng không nằm ngoài phạm vi của luật quốc tế mà là điều kiện để luật quốc tế được hình thành và áp dụng Nói cách khác, công bằng được áp dụng với tính chất là một quy phạm pháp luật19 Theo nghĩa này, cần phân biệt công bằng với thẳm quyền
của Tòa xét xử một cách ex aequo et bono Khoản 2 điều 38 Quy chế Tòa công lý quốc
tế quy định rằng, nếu các bên đồng ý và nhằm đạt được một giải pháp thích hợp, Tòa
có thể không nhất thiết phải tuân thủ pháp luật một cách cứng nhắc Tuy nhiên, trong
vụ Thềm lục địa Tunisia/Libya, nhiệm vụ của Tòa không phải là xét xử một cách ex
aequo et bono, mà phải áp dụng nguyên tắc công bằng với tính chất là một bộ phận
của luật quốc tế
Một điều đáng lưu ý là các phán quyết của Tòa án, Trọng tài quốc tế đều không đưa ra định nghĩa cụ thể về công bằng Trong vụ Vịnh Maine, Tòa đi đến kết luận rằng
để đạt được giải pháp công bằng, cần xem xét mỗi trường hợp phân định như một
unicum, có nghĩa là một trường hợp đặc thù, không giống các trường hợp khác và đòi
hỏi phải có một giải pháp đặc thù Tòa đồng thời xác định một số tiêu chuẩn công bằng như: đất thống trị biển; trong trường hợp không có các hoàn cảnh thích đáng, phân
17 N orth Sea Continental Shelf Judgment, I.C.J R eporis 1969, § 85, p 47; § 101, p 53.
18 Continental S h el/(U K /F ran ce), Judgment, R eporl o f International A rbitral A w ards, Vol XVIII, § 195, p 229.
19 Continental S h e lf (Tunisia/Lìbyan Arab Jam ahiriya), Judgment, I.C.J R eports 1982, § 71, p 60.
Trang 22chia đồng dều các vùng chồng lấn một cách tương ứng với bờ biển của các quốc gia hữu quan; cần thiết phải tránh hiệu lực cất cụt sự chiếu ra bờ biến hoặc một phần bờ biển cúa một trong các quốc gia hữu quan20 Tương tự, trong vụ Thềm lục địa Libya/Malta, Tòa đưa ra một số tiêu chuẩn sau: không làm lại toàn bộ địa lý cũng như nắn lại các sự không bình đẳng cảu tự' nhiên; tôn trọng tất cả các hoàn cảnh liên quan; công bằng không hàm ý nhất thiết phải ngang bằng cũng như không chia đều cái mà tự nhiên đã làm cho không ngang bằng.
Có thể thấy, khái niệm công bằng được đề cập tương đối trừu tượng Hiểu một cách khái quát, công bằng trong phân định biển là xem xét và đặt lên bàn cân tất cả các hoàn cảnh hữu quan để tìm ra một giải pháp mà các bên có thể chấp nhận, các bên có thể coi kết quả đó là công bằng, chứ không phải sự áp dụng máy móc một loạt các quy tắc, nguyên tắc hình thức Nói cách khác, việc xem xét, cân nhắc các hoàn cảnh hữu quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng để đạt được kết quả phân định công bằng
Không có một giới hạn pháp lý nào về việc định ra các hoàn cảnh hữu quan Cho đến nay, trong lý luận cũng như thực tiễn vẫn chưa có một danh mục đầy đủ các hoàn cảnh đó và trên thực tế cũng khó có thể tổng hợp được hết chúng do đặc điểm rất
đa dạng, phong phú của các vùng biển Tuy nhiên, ở một chùng mực nào đó vẫn có thể nêu ra một vài phạm trù hoàn cảnh liên quan như: địa lý, hình thái đặc thù của đường
bờ biển, sự hiện diện của các đảo; địa chất, địa mạo; danh nghĩa lịch sử21
Thực tiễn giải quyết tranh chấp về phân định biển tại các cơ quan tài phán quốc
tế cho thấy các yếu tố, hoàn cảnh hữu quan luôn được đặc biệt chú ý để đạt được giải pháp công bằng Trong số những hoàn cảnh này, các đặc trưng địa lý có vai trò quan trọng nhất và là trọng điểm của quá trình phân định, đặc biệt là sự hiện diện của các đảo tại vùng tranh chấp
1.4.3 Phương pháp phân định
- Phương p h á p đirờng cách đều
Trên cơ sở nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế, các quốc gia hữu quan có quyền thỏa thuận lựa chọn phương pháp phù họp để tiến hành phân định các vùng biển chồng lấn Thực tiễn cho thấy, phương pháp được sử dụng phổ biến nhất là phương pháp đường trung tuyến/cách đều Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc công
20 D elim itation o f the m aritim e boundary in the G u lf o f M ai ne area, Judgment, Ị.C.J R eports 1984, § 157-158,
p 312-313.
21 Xem N guyễn Thị Kim N gân, Vai trò cua đao và quằn đao trong phcm định biên, chuyên đề thuộc đề tài này.
Page I 20
Trang 23bằng có nghĩa là không có một phương pháp duy nhất đưa đến giải pháp công bằng trong mọi trường họp, bởi vì trong mỗi trường hợp phân định cụ thế vì luôn phải tính đến ảnh hưởng cúa các yếu tố, hoàn cảnh hữu quan Nói cách khác, không có phương pháp nào được coi là bắt buộc cho mọi trường họp phân định Chính từ góc độ này, vị trí và vai trò của đường cách đều cần được xem xét một cách đúng đắn.
Cuộc tranh luận về ý nghĩa cùa đường cách đều đã diễn ra trong nhiều năm, bắt đầu từ khi ủ y ban pháp luật quốc tế tiến hành công tác chuẩn bị cho Hội nghị lần thứ nhất của Liên hợp quốc về luật biển Nhóm chuyên gia của ủ y ban khi đó đã đề nghị đưa quy định về đường cách đều vào điều khoản liên quan đến phân định Sau nhiều vòng thảo luận, các nước tham giam Hội nghị luật biển lần thứ nhất chấp nhận đường cách đều và đưa vào điều 12 Công ước Giơ-ne-vơ về lãnh hải và vùng tiếp giáp cũng như điều 6 Công ước Giơ-ne-vơ về thềm lục địa
Thực tiễn xét xừ của Tòa án và Trọng tài quốc tế cũng có những đánh giá khác nhau về tính chất pháp lý của đường cách đều Trong vụ phân định thềm lục địa biển Bắc, Tòa công lý quốc tế bác bỏ lập luận của Đan Mạch và Hà Lan cho rằng điều 6 Công ước Giơ-ne-vơ về thềm lục địa là quy phạm tập quán quốc tế Tòa lưu ý rằng đường cách đều trong một số trường hợp có thể dẫn đến kết quả không công bằng, nhất là khi hình thái khúc khuỷu của bờ biển tác động đến đường phân định làm cho đường này đi chệch hướng, ảnh hưởng đến thềm lục địa của các bên liên quan Theo quan điểm của Tòa, luật quốc tế không bắt buộc các quốc gia phải áp dụng một phương pháp cụ thể, mà các bên có thể lựa chọn và áp dụng kết hợp nhiều phương pháp phân định khác nhau
Phán quyết trọng tài trong vụ phân định thềm lục địa giữa Anh và Pháp đã có những đóng góp nhất định cho cuộc tranh luận về mối quan hệ giữa “đường cách đều”
và “hoàn cảnh đặc biệt” Tòa trọng tài chì ra rằng điều 6 Công ước Giơ-ne-vơ về thềm lục địa năm 1958 đưa ra một công thức chung cho phân định là “đường cách đều/hoàn cảnh đặc biệt”, chứ không phải hai vấn đề riêng biệt, độc lập là “đường cách đều” và
“hoàn cảnh đặc biệt” Việc tính đến các hoàn cảnh đặc biệt là nhằm đảm bảo phân định công bằng và phải được coi là bộ phận không thể tách rời của việc áp dụng phương pháp đường cách đều Giải thích trên của Tòa đồng thời bác bỏ lập luận cho rằng đường cách đều là phương pháp đương nhiên được áp dụng trong phân định biển
Trang 24Trong vụ Thềm lục địa Tunisia/Libya, Tòa công lý quốc tế, một mặt khắng định lại quan điếm từng đưa ra trong các phán quyết trước đây, mặt khác nhấn mạnh việc áp dụng đường cách đều phải dựa trên quyết định xuất phát từ chỗ đánh giá, xem xét các hoàn cảnh đặc biệt Phương pháp này không phải là phương pháp pháp ]ý bắt buộc và,
về nguyên tắc, cũng không có giá trị ưu tiên hơn so với các phương pháp khác
Như vậy, trong thực tiễn giải quyết tranh chấp tại cơ quan tài phán quốc tế, đường cách đều không có giá trị pháp lý bắt buộc và không đương nhiên được áp dụng
Xu hướng hiện nay là áp dụng phương pháp này với tính chất đường phân định tạm thời, có những điều chỉnh cần thiết trên cơ sở các yếu tố, hoàn cảnh hữu quan để đi đến kết quả phân định công bằng Phương pháp đường cách đều không đi ngược lại với công bằng Đây là con đường họp lý để đáp ứng các đòi hỏi của danh nghĩa khoáng cách Trong vụ phân định biển Greenland/Jan Mayen, Tòa công lý quốc tế chỉ
rõ rằng “dường như, đối với thềm lục địa cũng nhu- đối với vùng đặc quyền kinh tế,
một cách thích đáng là tiến hành quá trình phân định bằng một đường cách đều được vạch ra với danh nghĩa tạm thời”12.
Phương pháp đường cách đều được sừ dụng rộng rãi trong thực tiễn phân định biển bời phương pháp này có m ột số ưu điểm sau:
+ Tính đơn giản: Nếu hai bên thỏa thuận được về nguyên tắc đường cách đều, công việc tiếp theo chỉ là công việc kỹ thuật để kẻ đường đó theo hình dạng khách quan của bờ biển Trái lại, nếu không thống nhất được về phương pháp phân định, các bên sẽ phải đàm phán từng đoạn của đường phân định
+ Tính chắc chắn: Áp dụng phương pháp đường cách đều sẽ cho kết quả là một đường duy nhất mà ngay cả trước khi đàm phán, một bên có thể đơn phương dùng làm ranh giới tạm thời Trong phán quyết vụ Thềm lục địa Biển Bắc năm 1969, Tòa công
lý quốc tế nhận xét rằng “mọi nhà bản đồ học đều có thể kẻ một đường cách đều thực
tế trèn tấm bản đồ” và “đường m à các nhà bản đồ học hàng đầu vẽ theo cách đó trên thực tế là trùng với nhau”
+ Tôn trọng nguyên tắc bình đẳng về mặt pháp lv giữa các quốc gia: Tòa công
lý quốc tế cho rằng “nguyên tắc này xuất phát từ tiêu chuẩn công bằng đã được xác
22 M aú tim e delìm itation in the a re a betw een G ree n la n d a n d /an Mayen, Judgment, I.C.J R eports /9 9 3 , § 56,
p 62.
Trang 25định, mà ít nhất là xét một cách sơ bộ, công bằng có nghĩa là chia vùng thềm lục địa chồng lấn thành hai phần bằng nhau cho hai nước tranh chấp”23.
+ Cân bằng và trung lập: Khi cần phân chia toàn bộ các vùng biển chồng lấn giữa hai nước, phương pháp này cân bằng các yếu tố có tác động khác nhau, đôi khi có mâu thuẫn (ví dụ đường phân định phù họp với lợi ích hàng hải có thể không phù họp với lợi ích về tài nguyên dưới đáy biển)
+ Phương pháp đường cách đều có thể là một phương pháp khởi điểm cho phép nhanh chóng xác định liệu một đường thiết lập theo phương pháp này có tạo ra kết quả thỏa mãn tiêu chuẩn công bằng hay không
Các phương pháp khác
Trong khuôn khổ chuẩn bị Hội nghị Luật biển, năm 1956, ủ y ban luật quốc tế
đã liệt kê một số phương pháp phân định sau: (i) Đường kéo dài biên giới trên bộ; (ii) Đường vuông góc với bờ biển tại điểm biên giới trên bộ giao cắt với bờ biển; (iii) Đường địa tuyến (kinh tuyến hoặc vĩ tuyến) đi qua điếm biên giới trên bộ gặp biển; (iv) Đường vuông góc với hướng chung của bờ biển
Tóm lại, phân định biển là một vấn đề pháp lý có ý nghĩa thực tiễn quan trọng Việc xây dựng một cơ chế pháp lý đầy đủ, công bằng, hợp lý về phân định biển sẽ là tiền đề để các bên giải quyết tốt vấn đề phân định trên thực tế, từ đó góp phần hạn chế các xung đột, tạo môi trường ổn định để các quốc gia sử dụng và khai thác biển, đồng thời bảo tồn nguồn tài nguyên biển Phân định biển có thể tiến hành qua biện pháp trực tiếp như đàm phán, thương lượng hoặc gián tiếp qua bên thức ba, đặc biệt là hệ thống các cơ quan tài phán quốc tế Kết quả của phân định biển có thể là một kết quả phân định rõ ràng hoặc một giải pháp tạm thời như khai thác chung cho tới khi có thỏa thuận phân định cuối cùng
II Phân định biển giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực
2.1 Tổng quan tình hình tranh chấp trên biển của Việt Nam
Theo quy định của Công ước Luật biển năm 1982, mỗi quốc gia ven biển có quyền tuyên bổ và xác định các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, bao gồm vùng nội thủy, lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Sự xuất hiện hai vùng biển rộng lớn là vùng đặc quyền
23 D elim iíation o f the m aritim e boundary in the G u ỉf o f Maine area, Judgment, Ị.C.J R eports ỉ 984, §115,
p 300-301.
Trang 26kinh tế và thềm lục địa đã khiến nhiều quốc gia trước kia không có vùng biển chồng lấn nay trờ thành các nước láng giềng, có các đường ranh giới trên biển cần phân định.
Trong bối cảnh trên, Việt Nam có ranh giới trên biển cần phân định với nhiều quố'C gia trong khu vực như Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan, Malaisia và Indonesia Với chủ trương giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, thông qua đàm phán, thưang lượng trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế đặc biệt là Công ước Luật biển năm 1982, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực và cố gắng trong việc giải quyết tranh chấp trên biển với các quốc gia trong khu vực
Cho tới thời điểm hiện tại, Việt Nam đã ký Hiệp định về vùng nước lịch sử với Cămpuchia (1982), Hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với Thái Lan (1997), Thoả thuận về hợp tác khai thác chung vùng chồng lấn với Malaixia (1992), Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp đinh nghề cá với Trung Quốc (2000) và Hiệp định phân định thềm lục địa với Inđônêxia (2003)
Bên cạnh các hiệp định đã ký kết, Việt Nam vẫn phải đối diện với một số tranh chấp còn tồn tại24 Việt Nam có vùng chồng lấn trên biển với Malaixia Mặc dù đã ký Tho ả thuận hợp tác khai thác chung, hai bên vẫn chưa tiến hành phân định ranh giới biển giữa hai nước Tương tự, ở Vịnh Thái Lan cũng có vùng chồng lấn ba bên Việt Nam , Thái Lan và Malaixia Hiện nay các bên nhất trí rằng trong khi chưa phân định được rõ ràng chủ quyền của mỗi bên thì cùng nhau hợp tác để khai thác có hiệu quả vùng chồng lấn này
2.2 Phân định lãnh hải giữa Việt Nam với các nước trong khu vực
- Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc25
25 Trong Vịnh Bắc Bộ, Việt N am và Trung Quốc có vấn đề phàn định lãnh hái, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Vấn đề trên được giái quyết và ghi nhận tại Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ ngày 25/12/2000 Vì vậy, phần này đề cặp nội dung Hiệp định, bao gồm phân định lãnh hài, vùng đặc quyền kinh té và thềm lục địa.
Page I 24
Trang 27Quàng Tây và đảo Hải Nam của Trung Quốc, Vịnh có hai cửa thông ra Biến Đông là eo biển Quỳnh Châu (nằni giữa bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam) với bề rộng 35,2 km (tương đương khoảng 19 hải lý) và cừa chính của vịnh từ đảo cồn c ỏ (Việt Nam) tới đảo Hải Nam (Trung Quốc) rộng 207,4 km (tương đương khoảng 112 hải lý) Vịnh có chiều dài Bắc Nam khoảng 403 km (tương đương khoảng 217.5 hải lý), chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 320 kni (tương đương khoảng 173 hải ]ý) và nơi hẹp nhất khoảng
220 km (tương đương khoảng 119 hải lý) Chiều dài bờ vịnh phía Việt Nam khoảng 763
km (từ cửa sông biên giới phía Bắc đến Mũi Lay - Quảng Trị), phía Trung Quốc khoảng
695 km (từ cửa sông biên giới phía Bắc đến Mũi Oanh Ca - đảo Hải Nam) Phần vịnh phía Việt Nam có khoảng 2.300 đảo lớn nhỏ, trong đó đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ ở giữa vịnh với diện tích khoảng 2,5 km2 (cách đất liền Việt Nam khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam - Trung Quốc khoảng 130 km) Bên phía Trung Quốc có có một số ít đảo nhỏ ở phía đông bắc vịnh như đảo Vị Châu, Tà Dương Độ sâu trung bình của vịnh khoảng 43m, nơi sâu nhất không đến lOOm, đáy vịnh tương đối bằng phẳng
Tại khu vực Vịnh Bắc Bộ, do bờ biển của Việt Nam và Trung Quốc vừa kế cận lại vừa đối diện nhau, nơi rộng nhất không đến 200 hải lý, nên các vùng biển và thềm lục địa của hai nước trong vịnh đều bị chồng lấn lên nhau Chính vì vậy, khu vực này cần được phân định để xác định rõ ràng biên giới lãnh hải cũng như ranh giới vùng đặc quyền kinh
tế và thềm lục địa giữa hai nước
+ Tiến ừình đàm phán
Quá trình đàm phán giải quyết vấn đề phân định các vùng chồng lấn trong khu vực Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc kéo dài khoảng 27 năm với nhiều cuộc gặp gỡ, đàm phán các cấp và thăng trầm trong quan hệ giữa hai nước Vào những năm 1974 và
1977, hai nước cũng đã tổ chức một số cuộc đàm phán liên quan đến vấn đề Vịnh Bắc Bộ, tuy nhiên các cuộc tiếp xúc này đã không đi đến kết quả vì lập trường, quan điểm của hai bên cách xa nhau Sau khi bình thường hóa quan hệ vào năm 1991, trong vòng 10 năm (từ năm 1991 đến năm 2000), với mong muốn giải quyết dứt điểm vấn đề Vịnh Bắc Bộ, hai bên đã chủ động thúc đẩy liên tục các cuộc đàm phán ở các cấp khác nhau, cụ thể: hai bên
đã tiến hành 7 vòng đàm phán cấp Chính phủ, 3 cuộc gặp không chính thức của Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ, 18 vòng đàm phán cấp chuyên viên và Nhóm công tác liên hợp, 9 vòng họp không chính thức Tổ chuyên viên liên hợp, 10 vòng hợp Tổ chuyên gia đo
vẽ phục vụ phân định và xây dụng tổng đồ Vịnh Bắc bộ, 6 vòng đàm phán hợp tác nghề cá
Trang 28trong Vịnh Bắc Bộ và một số cuộc gặp gỡ khác Trong các vòng đàm phán đó, cả hai bên đều bày tỏ mong muốn cần sớm phân định các khu vực chồng lấn trong vịnh nhằm giải quyết dứt điểm một phần vấn đề biên giới lãnh thổ còn tồn đọng giữa hai quốc gia Trên tinh thần đó, với mong muốn xây dựng những quy chuấn trong cách thức đàm phán giữa
hai bên, ngày 19/10/1993 hai nước đã tiến hành ký “Thỏa thuận về nhũng nguyên tắc cơ
ban giải quyết vấn đề biên giới lãnh thố giữa CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa ”,
trong đó quy định: “hai bẽn sẽ áp dụng luật quốc tế và tham khảo thực tiên quốc tế, theo
nguyên tắc công bằng và tính đến mọi hoàn cành hữu quan trong Vịnh đê đi đến một giải pháp công bằng" Ngoài ra, hai bên còn nhất trí áp dụng các quy định của pháp luật quốc tế
(trong đó chủ yếu là các quy định của Công ước Luật biển năm 1982) làm cơ sở cho quá trình đàm phán phân định Vịnh Bắc Bộ v ề khả năng phân chia vịnh, hai bên cũng thỏa thuận sẽ áp dụng nguyên tắc công bằng, có tính đến các điều kiện, hoàn cảnh của mỗi bên (trong đó chủ yếu là điều kiện địa lý tự nhiên và các lợi ích thực chất gắn với nội dung phân định như: chiều dài và hình thái của bờ biển trong vịnh, sự hiện diện của các chuỗi đảo, nhóm đảo là bộ phận cấu thành của vịnh (đặc biệt là sự hiện diện của đảo Bạch Long Vĩ), quyền chủ quyền đối với tài nguyên dầu khí, hải sản; chế độ đi lại trên biển và sông biên giới ) để đạt được giải pháp phân định mà hai bên có thể chấp nhận được
+ Lập ừvờng, quan điểm của các bên
Quốc tập trung chủ yếu vào một số nội dung sau:
về phạm vi phân định Vịnh Bắc Bộ: Việt Nam đưa ra quan điểm: việc xác định
giới hạn phạm vi của khu vực phân định cần căn cứ vào các điều kiện tự nhiên khách quan và tuân theo các tiêu chuẩn pháp lý Khu vực Vịnh Bắc Bộ được giới hạn bởi bờ biển và các đảo của hai nước Việt Nam và Trung Quốc, tại khu vực cửa phía Nam của vịnh, đảo Cồn c ỏ nằm sát ngay bờ biển - là bộ phận cấu thành của bờ biển, là điểm cơ
sở để xác định chiều rộng lãnh hải của Việt Nam Vì vậy, việc xác định giới hạn phía Nam của Vịnh Bắc Bộ là đường nối giữa đảo c ồ n c ỏ (Việt Nam) và Mũi Oanh Ca (điểm gần nhất trên đảo Hải Nam - Trung Quốc) là hoàn toàn phù hợp với điều kiện
cụ thể của Vịnh Bắc Bộ và các tiêu chuẩn pháp lý liên quan
Phía Trung Quốc cho rằng cơ sở để xác định phạm vi phân định và vạch đường phân định là bờ biển của hai nước (gồm cả bờ đảo Hải Nam - Trung Quốc); đề nghị lấy đường
Trang 29nối Mũi Oanh Ca (đảo Hải Nam - Trung Quốc) và Mũi Lay (Việt Nam) làm giới hạn Vịnh Bắc Bộ ở phía Nam, đảo c ồ n c ỏ của Việt Nam không thuộc phạm vi Vịnh Bắc Bộ.
về phương pháp phân định Vịnh Bắc Bộ: Trên cơ sở các quy định cúa pháp luật
quổc tế và bản thỏa thuận nguyên tắc phân định giữa hai bên, phía Việt Nam đề nghị dùng phương pháp đường trung tuyến có tính đến các điều kiện, hoàn cảnh khách quan trong vịnh như: chiều dài và hình thái chung của bờ biển, cùng các yếu tố bất thường của bờ biền (đặc biệt là yếu tố lõm vào của bờ biển Việt Nam, trong khi bờ đảo Hải Nam Trung Quốc lồi ra; bờ biển phái Việt Nam là lục địa, bờ biển phái Trung Quốc một phần lớn là
bờ đảo Hải Nam); vai trò và hiệu lực của các đảo trong khu vực phân định; địa mạo và tài nguyên đáy biển, đặc biệt là khả năng hiện diện của các cấu tạo tài nguyên nằm gần hoặc vắt ngang qua ranh giới phân đ ịn h
Phía Trung Quốc không phủ nhận cơ sở pháp lý của việc phân định vịnh Bắc
Bộ là “Thỏa thuận nguyên tắ c ” giữa Chính phủ hai nước ký ngày 19/10/1993 Tuy nhiên, trên thực tế phía Trung Quốc nhấn manh đến việc áp dụng “nguyên tắc công
bằng để đi đến một giải pháp công bằng" Cũng theo quan điểm của phía Trung
Quốc, kết quả công bằng trong phân định Vịnh Bắc Bộ được hiểu là hai bên sẽ có
"diện tích đại đế chia đ ô i”- không phải là tuyệt đối bằng nhau nhưng chênh lệch
không nên quá lớn Phía Trung Quốc lý giải việc đề xuất ý tưởng “đại để chia đ ô i” căn cứ vào mối quan hệ địa - chính trị cơ bản “đại đế đối đẳng” giữa hai bên trong
Vịnh Bắc Bộ
về hiệu lực của các đảo trong phân định vịnh (trong đó có đảo Bạch Long Vĩ):
Phía Trung Quốc thừa nhận, trong Vịnh Bắc Bộ có sự hiện diện của các đảo với hiệu lực pháp lý khác nhau Tuy nhiên, quan điểm cùa phía Trung Quốc không muốn các đảo phía Việt Nam có hiệu lực trong phân định, đặc biệt là đảo Bạch Long Vĩ v ề nguyên tắc, Trung Quốc thừa nhận chủ quyền của Việt Nam đổi với đảo Bạch Long Vĩ nhưng
đề xuất không nên tính đến hiệu lực của đảo trong quá trình phân định vịnh (đảo chỉ có
m ột vành đai 12 hải lý) với lập luận rằng: đảo Bạch Long Vĩ nằm ở khu vực gần giữa vịnh, do đó nếu tính đến hiệu lực của đảo sẽ làm cho hướng đi của đường phân định bị lệch quá nhiều về phía Trung Quốc và dẫn đến kết quả không công bằng
Đáp lại lập luận này của Trung Quốc, Việt Nam bày tỏ mong muốn các đảo của mình cần có hiệu lực trong phân định Riêng đảo Bạch Long Vĩ, Việt Nam đề nghị Bạch Long Vĩ của Việt Nam nhất thiết phải có hiệu lực nhất định trong phân định và việc xem
Trang 30xét hiệu lực của đảo phải căn cứ vào các quy định của Công ước Luật biển năm 1982 và thực tiễn quốc tế nhằm đảm bảo giải pháp phân định công bằng cho cả hai bên.
Vê đường đóng của cửa vịnh: Căn cứ vào hiệu lực pháp lý của các đảo, Việt Nam
đề nghị đường đóng của cửa vịnh sẽ là đường thẳng nối liền đảo cồn c ỏ (Việt Nam) và mũi Oanh Ca (Trung Quốc) Tuy nhiên, phía Trung Quốc lại đề nghị không tính đảo Cồn Cỏ vào phạm vi vịnh mà lấy đường thẳng nối Mũi Lay (Việt Nam) với mũi Oanh
Ca (Trung Quốc) Như vậy, trong quan điểm của hai bên về đường đóng cừa vịnh đã có
sự chênh lệch về độ dài của cửa vịnh (khoảng 13 hải ỉý)
về vấn đề nghề cá: Trung Quốc chủ trương việc phân định thềm lục địa và vùng
đặc quyền kinh tế cần phải giải quyết thỏa đáng "quyền lợi ngư nghiệp ” của ngư dân Trung Quốc ở các “ngư trường truyền thống" trong Vịnh Bắc Bộ Chính vì vậy,
Trung Quốc kiên trì đề nghị hai bên phải thiết lập vùng đánh cá chung đồng thời với việc phân định Vịnh Bắc Bộ và nhấn mạnh rằng, nếu không thỏa thuận được vấn đề nghề cá thì khó có thể giải quyết được vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000
Đối lập với quan điểm của Trung Quốc, Việt Nam chủ trương tách vấn đề nghề
cá ra khỏi vấn đề phân Vịnh Bắc Bộ Tuy nhiên, Việt Nam cũng nhận thức được là việc không giải quyết được vấn đề nghề cá có thể gây trở ngại cho quá trình đàm phán phân định Vịnh Bắc Bộ Và như vậy, rất có thể hai bên sẽ không thể đạt được thỏa thuận thống nhất nào cho việc phân định và có thể toàn bộ vịnh sẽ tiếp tục bị coi là vùng biển chồng lấn giữa hai nước Chính vì lẽ đó, nhằm tạo thuận lợi tối đa cho việc giải quyết dứt điểm vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ, đồng thời có cân nhắc kỹ mọi khía canh trong quan hệ hai nước cũng như thực tiễn quốc tế, Việt Nam đã đồng ý đàm phán để ký Hiệp định về hợp tác nghề cá song song với đàm phán ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ
về Tổng đồ phân định Vịnh Bắc Bộ và bàn đồ chuyên đề cửa sông Bắc Luân: Để
có thể xác định đường phân định, cả Việt Nam và Trung Quốc đều không đồng ý sử dụng bản đồ của nước thứ ba cũng như bản đồ đon phương do mỗi bên đưa ra Chính vì vậy, hai nước cùng thống nhất xây dựng một bản đồ chung dùng cho qua trình phân định với tỷ lệ 1/500.000 theo phương pháp bay chụp và đo khống chế mặt đất, thể hiện đồng thời hai đường bờ thấp và cao trên tổng đồ Ngoài ra, để xác định điểm cơ sở cuối cùng của mồi bên tại ngấn nước thuỷ triều xuống thấp nhất, tại đường đóng cửa sông và phân biệt được vùng cửa sông thuộc biên giới trên bộ và vùng cửa sông thuộc khu vực
Trang 31dùng để phân định Vịnh Bắc Bộ hai bên cũng đã nhất trí cùng đo đạc và lập bản đồ chuyên đề khu vục cửa sông Bắc Luân với tỷ lệ 1/10.000.
+ Nội dung Hiệp định
Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ được ký kết ngày 25/12/2000 và được phê chuẩn vào ngày 30/6/2004, bao gồm 11 điều với các nội dung cơ bản sau đây:
về nguyên tắc phân định: Việt Nam và Trung Quốc ký kết Hiệp định trên cơ sở
tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật quốc tế (trong đó có ƯNCLOS 1982), trong
đó đặc biệt lưu ý đến “ các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh
thô của nhau, không xâm phạm lan nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại ừong hòa bình ”26 Ngoài ra, để phù hợp với
hoàn cảnh của khu vực phân định và mối quan hệ hữu nghị, hợp tác, hai bên thống nhất việc phân định phải đảm bảo nguyên tắc công bằng (trên cơ sở có suy xét đầy đủ mọi hoàn cảnh hữu quan trong vịnh)27, có tính đến lợi ích của cả hai bên
về phương pháp phân định: Trong Hiệp định, hai bên đã thỏa thuận dùng
phương pháp đường trung tuyến cách đều, có tính đến hiệu lực của các đảo để phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong Vịnh Bắc
Bộ Đường trung tuyến này được xác định bằng cách nối tuần tự 21 điểm trong vịnh bằng các đoạn thẳng dựa theo tọa độ địa lý của 21 điểm đó Trong đó, đường phân định từ điểm nối số 1 đến điểm nối số 9 quy định tại Điều II của Hiệp định là đường ranh giới lãnh hải của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ Mặt thẳng đứng đi theo đường ranh giới lãnh hải của hai nước phân định vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải hai nước; Đường phân định từ điểm số 9 đến điểm số 21 là ranh giới giữa vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vịnh Theo cách phân chia như trên, căn cứ vào vị trí tiếp liền về mặt lãnh thổ, các đảo Bạch Long Vĩ và Công Cỏ của Việt Nam đều có hiệu lực nhất định trong phân định vịnh Trong đó, đảo Bạch Long Vĩ được hưởng 25% hiệu lực trong phân định do nằm gần giữa vịnh, cách đường ranh giới phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa khoảng 15 hải lý, nên theo luật pháp và thực tiễn quốc tế chỉ được hưởng một phần hiệu lực hạn chế trong phân định Riêng đào c ồ n c ỏ , do nằm gần bờ của Việt Nam hơn (cách bờ khoảng 13 hải lý) nên được hưởng 50% hiệu lực trong việc phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tại đường đóng cửa vịnh Ngoài ra, các Bãi Bạch Tô Nham
26 Xem thêm H iệp định phàn định Vịnh Bắc Rộ năm 2000.
21 Xem khoán I Điều I Hiệp định phân định ì ’ịnh Bắc Bộ năm 2000.
Trang 32(Trung Quốc) và các đảo Chàng Đông, Chàng Tây (Việt Nam) sẽ có hiệu lực nhất định trong phân định lãnh hải.
Như vậy, theo đường phân định này, phía Việt Nam được hưởng 53,23% diện tích vịnh, phía Trung Quốc được hưởng 46,77% diện tích vịnh (Việt Nam hom Trung Quốc 6,46% tức khoảng 8.205km2 biển Căn cứ vào việc áp dụng nguyên tắc công bàng trong phân định và tiến hành đánh giá tỷ lệ giữa bờ biển của hai nước (tỷ lệ số là 1,1:1) với tỷ lệ diện tích được hưởng (tỷ số là 1,135:1), có thể thấy rằng đường phân định trong Vịnh Bắc Bộ quy định trong hiệp định ký kết giữa hai nước là một kết quả tương đối công bằng, phù họp với các điều kiện, hoàn cảnh khách quan của Vịnh Bắc
Bộ và là kết quả có thể chấp nhận
về vẩn đề khai thác tài nguyên sinh vật và không sinh vật nói chung: Theo quy
định của Hiệp định, hai bên cam kết tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi bên đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong
Vịnh Bắc Bộ28 "Trong trường hợp có các cấu tạo mỏ dầu, khí tự nhiên hoặc cấu tạo
mỏ khác hoặc tài nguyên khoáng sản khác nằm vắt ngang đường phân định, hai bên sẽ thông qua hiệp thương hữu nghị để đạt được thoả thuận về việc khai thác hữu hiệu nhất các cấu tạo hoặc khoảng sản nói trẽn cũng như việc phân chia công bằng lợi ích thu được từ việc khai thác ”29 Hai bên đồng ý tiến hành hiệp thương về việc sử dụng hợp lý
và phát triển bền vững tài nguyên sinh vật trong Vịnh Bắc Bộ cũng như hợp tác liên quan đến bảo tồn, quản lý và sử dụng tài nguyên sinh vật ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa hai nước trong Vịnh Bắc Bộ
2.3 Phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa Việt Nam với các nước
2.3.1 Phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa Việt Nam và Thái lan
+ Khải quát
Vịnh Thái Lan (Gulf o f Thailand) là một vịnh nằm ở biển Đông, được bao bọc bởi ihiều quốc gia như Malaysia, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam Trong đó chiều dài bờ biển của các quốc gia liên quan đến vùng biển này lần lượt là: Thái Lan (1.560 km), Việt Nam (230 km), Malaysia (150 km) và Campuchia (460 km) Vịnh Thá] Lan có diện tích 320.000 km,2 mực nước của Vịnh tương đối nông, độ sâu trung bình chỉ vào khoảng 45m, nơi sâu nhất là 80m So với Vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan là
28 X en Điều VI H iệp định ph ân định Vịnh Bắc Bộ năm 2000
29 X en Điều VII Hiệp định ph ân định I 'ịnh Bắc Bộ năm 2000
Trang 33một vịnh nhỏ, tuy nhiên với vị trí nằm ớ cứa ngõ phía nam của Việt Nam và các quốc gia ven vịnh, vịnh cũng có vai trò quan trọng đối với các quốc gia có liên quan cả về kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng.
Các quốc gia có lợi ích liên quan trong Vịnh Thái Lan đã đưa ra các tuyên bố đơn phương cho việc xác lập các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của mình (trong đó bao gồm cả việc xác định các vùng biển nằm trong khu vực chồng lấn
là vịnh Thái Lan) Có thể kể đến tuyên bố đơn phương của các quốc gia như:
+ Tuyên bố của Campuchia ngày 31/07/1982 về hệ thống đường cơ sở thẳng, Tuyên bố về vùng tiếp giáp lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế tháng 07/1982, trong
đó Campuchia khẳng định vùng tiếp giáp lãnh hải của Campuchia có bề rộng 24 hải lý
và vùng đặc quyền kinh tế của Campuchia có bề rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Yêu sách này của Campuchia đã tạo ra vùng chồng lấn trong vùng thềm lục địa khoảng 30.000 km2 của quốc gia này với Thái Lan và Việt Nam
+ Tuyên bố về Tuyên bố về đường cơ sở của Việt Nam năm 1982, Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam năm 1977 Trong đó, Việt Nam thiết lập lãnh hải rộng là 12 hải lý, vùng tiếp giáp lãnh hải là 24 hải lý và vùng đặc quyền kinh tế là 200 hải lý tính từ đường cơ sở Tuyên bố này của Việt Nam đã làm hình thành vùng chồng lấn với Thái Lan (6.500km2), với Campuchia (trong vùng nước lịch sử giữa hai quốc gia), với Malaysia (3.000km2) và vùng chồng lấn giữa Việt Nam - Thái Lan - Malaysia (875km2)
+ Tuyên bố năm 1981 của Thái Lan về vùng đặc quyền kinh tế, theo đó vùng đặc quyền kinh tế của Thái Lan rộng là 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải
+ Malaysia đã công bố bản đồ ranh giới thềm lục địa năm 1979, Tuyên bố về vùng đặc quyền kinh tế năm 1980, ban hành Luật áp dụng cho vùng đặc quyền kinh tế năm 1984 Với những văn bản pháp lý đơn phương của Malaysia, vùng chồng lấn đã hình thành giữa quốc gia này với Thái Lan (khoảng 7.200km2), với Việt Nam (3.000km2)
Mỗi quốc gia trên cơ sở chủ quyền quốc gia và Luật quốc tế đều đưa ra yêu sách nhằm xác định các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của mình Sự chồng lấn trong các vùng biển là không thể tránh khỏi, việc này không những ảnh
Trang 34hưởng tới quyền khai thác các loại tài nguyên thiên nhiên của các quốc gia trong Vịnh Thái Lan mà còn ảnh hưởng tới các vấn đề về chính trị, ngoại giao và quốc phòng khi các quốc gia không nhanh chóng tìm ra tiếng nói chung nhằm xác định chủ quyền và quyền chủ quyền của mình đối với các vùng biển khác nhau trong Vịnh.
+ Lập trường, quan điếm của các bên
Quan điểm cùa Thái Lan: Thái Lan là quốc gia đầu tiên trong Vịnh Thái Lan
tiến hành việc khai thác và phát triển nguồn tài nguyên dầu khí Ngày 23/01/1968, Thái Lan đã cho phép các công ty dầu khí của quốc gia tiến hành đấu giá quyền thăm
dò và khai thác dầu khí và ga trong Vịnh Thái Lan Tuy nhiên, hoạt động khai thác dầu khí xa bờ của Thái Lan chỉ thực sự triển khai mạnh mẽ khi Thái Lan ban hành Luật dầu khí số 2514 ngày 26/03/1971
Ngày 18/05/1973, Thái Lan cũng đã đưa ra tuyên bố về thềm lục địa Ranh giới phía ngoài của thềm lục địa Thái Lan đi theo đường trung tuyến giữa một bên là các đảo quan trọng của Thái Lan như Ko Phangun, Ko Samui và bờ biển Thái Lan và đối diện là các đảo quan trọng của các quốc gia liên quan như đảo Rong, Xalem của Campuchia, đảo Phú Quốc, mũi Cà Mau của Việt Nam Quan điểm của Thái Lan đưa
ra dựa trên “hoàn cảnh đặc biệt” được nói đến trong Điều 6 của Công ước Giơ-ne-vơ
về thềm lục địa năm 1958
Ngày 23/02/1981, Thái Lan đưa ra Tuyên bố về vùng đặc quyền kinh tế, theo
đó, vùng đặc quyền kinh tế của Thái Lan rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở Thái Lan cũng tuyên bố quyền chủ quyền của mình trong việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên sinh vật, không sinh vật tại đây Khi đưa ra tuyên bố này, Chính phủ Thái Lan cũng bày tỏ quan điểm muốn mở các vòng đàm phán với các quốc gia có bờ biển đối diện hoặc có quyền lợi liên quan trên cơ sở tôn trọng các tuyên bố của các quốc gia về vùng đặc quyền kinh tế và tôn trọng pháp luật quốc tế
Tháng 6/1990, Thái Lan đã cho phép CFP - Total tiến hành khai thác dầu khí trên diện tích 8.000 km2, chồng lấn lên các vùng mà Việt Nam đồng thời cung cấp cho Petrofina (Bỉ) tiến hành khai thác Việc này đã một lần nữa dẫn tới tranh chấp giữa hai quốc gia liên quan đến phân định ranh giới biển
Tháng 8 năm 1992, Thái Lan đã đưa thêm hai đảo đá KoKra (8° 23’49” B 100°
4 4 ’ 13” Đ) và KoLosin (7°10’14” B, 101°59’59” Đ) vào hệ thống đường cơ sở của Tuyên bố ngày 11/06/1970 Hai đảo này là hai đảo đá nhỏ, chỉ nhô lên khỏi mặt nước
Trang 35l,5m và không có dân cư sinh sống Trong khi đó, phía Thái Lan lại phàn đối gay gắt việc Việt Nam sử dụng đảo Thô Chu, một đảo có diện tích lớn với hơn 500 dân sinh sống, khi xác định ranh giới trên biển của Việt Nam với các quốc gia khác.
Quan điểm của Việt Nam: Năm 1971, Việt Nam (cụ thể là Việt Nam Cộng hòa)
đã đưa ra tuyên bố về thềm lục địa của Việt Nam Tiếp đến, từ năm 1977 đến năm
1982, Việt Nam đã ban hành một số các văn bản pháp lý quan trọng liên quan đến việc xác định các vùng biển của Việt Nam trong Vịnh Thái Lan như: Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12/05/1977 về các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12/11/1982 về đường cơ sở dùng để chính chiều rộng lãnh hải ven bờ lục địa Việt N am Khi đưa ra tuyên bố chính thức đó, phía Việt Nam cũng bày tỏ mong muốn giải quyết tranh chấp trong Vịnh thông qua thoả thuận với các bên liên quan, phù hợp với các quy định của Luật quốc tế
Những quan điểm khác nhau thông qua các tuyên bố của cả Thái Lan và Việt Nam đã tạo ra một vùng chồng lấn khoảng 6.500 km2 (trong tổng số 320.000 km2 diện tích Vịnh)30 với nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên, bao gồm hải sản và dầu khí, khí đốt Hai bên đã tiến hành các cuộc đàm phán nhằm dàn xếp tranh chấp, tạo điều kiện cho mồi bên thực hiện chủ quyền và quyền chủ quyền của mình trong việc khai thác các vùng biển trong Vịnh Thái Lan
+ Quá trình đàm phản
Từ ngày 7 đến ngày 10/9/1992, vòng gặp gỡ chính thức đầu tiên diễn ra giữa chuyên gia cao cấp của hai quốc gia nhằm phân định ranh giới biển trong Vịnh Thái Lan giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Thái Lan được tổ chức tại Bangkok (Thái Lan) Tại vòng gặp gỡ này, phía Việt Nam đã đề xuất đàm phán phân định vùng chồng lấn dựa trên pháp luật quốc tế cũng như tình hình thực tế
Quan điểm của Việt Nam khi tham gia vòng gặp gỡ đầu tiên này là muốn giải quyết vùng chồng lấn trên cơ sở Tuyên bố năm 1971 của Việt Nam và Tuyên bố năm
1973 của Thái Lan về thềm lục địa của mỗi nước, đồng thời giải quyết theo các quy định của pháp luật quốc tế (cụ thể là theo các Điều 74 và 83 của Công ước Luật Biển
1982 về việc hoạch định ranh giới đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa các quốc gia
có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau), trên cơ sở giải pháp công bằng
'ì0 N guyễn H ồng Thao VietNam f ir s t m aritim e boundary agreem ení IBRU Boundary and sercurity Bulletin,
Autumn 1997.
Trang 36v ề phía mình, phái đoàn của Thái Lan lại bày tỏ sự phản đối gay gẳt đối với Tuyên bố về ranh giới thềm lục địa Việt Nam năm 1971, trong đó có vấn đề cơ bản có thể làm ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình đàm phán là vấn đề đảo Thố Chu Theo Thái Lan, đảo Thổ Chu không thể được đưa vào quá trình phân định ranh giới giữa các bên bởi lẽ đảo này cách quá xa bờ biển (tới 87 hải lý).
Sau những thất bại tại vòng đàm phán thứ nhất và thứ hai, tại vòng gặp lần thứ
ba từ ngày 10 đến 13/1/1995, Thái Lan đã bắt đầu có những chuyển biến thiện chí và tích cực hơn để cùng Việt Nam đàm phán giải quyết tranh chấp Thái Lan đã chấp nhận nguyên tắc công bằng để giải quyết tranh chấp được đưa ra bởi Việt Nam Đồng thời nước này cũng đồng ý với việc sử dụng phương pháp đường trung tuyến để phân định ranh giới biển giữa hai quốc gia, có tính đến hoàn cảnh và quá trình khai thác thực tế Tuy nhiên, các bên lại không đạt được sự thống nhất trong việc giải thích nguyên tắc công bằng, đường trung tuyến được tính giữa bờ với bờ hay đảo với đảo Vòng đàm phán thứ 4 và thứ 5 cũng không ghi nhận được những kết quả đáng chú ý trong quá trình giải quyết tranh chấp của các bên
Vòng đàm phán thứ 6 diễn ra ở Hà Nội (12/1995) đã có những chuyển biến đáng kể Quan điểm của Thái Lan trở nên mềm dẻo hơn với việc đưa ra đề nghị sẽ sừ dụng phương pháp đường trung tuyến trong phân định và đảo Thổ Chu sẽ được hưởng 1/3 hiệu lực Tuy nhiên, việc xác định hiệu lực của đảo Thổ Chu lại một lần nữa trở thành vấn đề gây tranh cãi giữa hai quốc gia về cách thức xác định hiệu lực
Vòng đàm phán thứ 8 được tiến hành tại Đà Lạt từ 30/5 đến 3/6/1997 đã thành công với sự thống nhất của hai bên trong việc phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế bằng một đường ranh giới duy nhất Vòng đàm phán thứ 9, đồng thời cũng trở thành lễ ký chính thức Hiệp định phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế
và thềm lục địa giữa Thái Lan và Việt Nam được diễn ra ngày 9/8/1997 Hiệp định chính thức có hiệu lực ngày 27/2/1998 Theo Hiệp định, Việt Nam được hường 32,5%
- khoảng 1/3 diện tích vùng chồng lấn (hơn 1.900 km2) và Thái Lan được hưởng 67,5% - khoảng 2/3 diện tích vùng chồng lấn (hơn 4.000km2) Hiệp định được ký kết chính thức khẳng định tình hữu nghị và mong muốn của hai quốc gia trong việc xác lập đường ranh giới trên biển để phân định vùng chồng lấn, đồng thời tạo điều kiện cho mỗi quốc gia khai thác, sử dụng các vùng biển của mình một cách hoà bình và ổn định Hiệp định được ký kết đánh dấu sự thành công sau 6 năm đàm phán
Trang 37+ Nội dung cơ ban của Hiệp định
- Thứ nhất' Hiệp định đã phân chia vùng chồng lấn tạo bởi yêu sách thềm lục địa
của hai quốc gia bằng một đường thẳng nối hai điểm (gọi là điểm K và điểm C), với kinh độ và vĩ độ được ghi nhận rõ ràng trong Hiệp định;
- Thứ hai: Những thoả thuận ghi nhận trong Hiệp định tập trung vào giải quyết
vùng chồng lấn giữa hai quốc gia, còn các vùng chồng lấn của hai quốc gia với các quốc gia khác, sẽ được giải quyết trên cơ sở thoả thuận riêng của từng quốc gia (Malaysia - Thái Lan, Thái Lan - Campuchia, Việt Nam - Campuchia, Việt Nam - Malaysia);
- Thứ ba: Hiệp định nhắc lại một cách rõ ràng rằng đường ranh giới trên biển giữa
hai nước trong Vịnh Thái Lan sẽ là đường ranh giới phân định cả thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế giữa hai quốc gia;
- Thứ tư: Hiệp định lưu ý các bên (Việt Nam và Thái Lan) sẽ tiến hành các thoả
thuận với chính phủ Malaysia nhàm phân định vùng thềm lục địa chồng lấn giữa 3 nước trong Vịnh Thái Lan trên cơ sở thoả thuận đã có giữa Thái Lan và Malaysia (1979);
- Thứ năm: Hiệp định cũng đưa ra cách thức giải quyết thông qua thoả thuận đổi
trong trường hợp có mỏ dầu hoặc khí tự nhiên vắt ngang qua đường ranh giới giữa hai quốc gia;
- Thứ sáu: Một phần không thể thiếu trong Hiệp định là những quy định về hiệu
lực của Hiệp định cũng như quy định về giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Hiệp định bằng đàm phán hoặc thưong lượng
Với nội dung trên, cùng với sự nỗ lực của các bên và vận dụng có hiệu quả các quy định của Luật quốc tế để đáp ứng sự cân bằng về mật lợi ích giữa cả hai bên tranh chấp Để đạt được thành công trong quá trình đàm phán, ngoài thái độ tích cực và nhân nhương về mặt lợi ích giữa các bên, căn cứ quan trọng nhất mà các bên sử dụng đó là Luậi quốc tế (các nguyên tắc, điều ước và tập quán quốc tế), trong đó phải kể đến ngu}ên tắc công bằng (một trong những nguyên tắc quan trọng trong hoạt động phân định biển) Nguyên tắc này cũng đã được ghi nhận trong Công ước Luật Biển ] 982 (tại các Điều 15, 74, 83) Phương pháp để tiến hành phân định là phương pháp đường trung tuyến Phương pháp đường trung tuyến được sử dụng để xác định điểm K (điểm
bắt cầu của ranh giới phân định) Cụ thể “Điểm K là một điểm nằm trẽn đưỏng ranh
Trang 38giới trên biên giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia, tức là một đường thẳng cách đều từ đảo Thổ Chu và Vai "3I (toạ độ được
ghi nhận trong Hiệp định) Như vậy, việc sử dụng đường trung tuyến giữa đảo Thổ Chu và đảo Poulo Wai (đảo Vai) đã tạo điều kiện cho hai quốc gia có thể sử dụng được hiệu lực của các đảo này vào việc phân định ranh giới trên biển giữa hai quốc gia
Ngoài ra, trong quá trình phân định các bên cũng có tính đến sự hiện diện của các đảo (yếu tố có tác động lớn tới quá trình phân định biển) Hiệu lực của đảo trong phân định biển thường được tính đến theo hai phương thức: hiệu lực của đảo tác động trực tiếp đến việc hoạch định đường ranh giới và phương pháp vòng cung đảo Trong thực tiễn phân định biển thì hiệu lực của đảo thường được sử dụng nhằm phân định ranh giới biển giữa các quốc gia Theo đó, cả phía Thái Lan và Việt Nam đều đưa ra những quan điểm riêng nhằm sử dụng tối đa hiệu lực của các đảo trong việc mang lại lợi ích cho quốc gia mình Phía Việt Nam cho rằng, theo Điều 121 Công ước Luật Biển 1982, phía Việt Nam hoàn toàn có thể hoạch định vùng lãnh hải, tiếp giáp hoặc đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đối với đảo Thổ Chu bởi đây là một đảo lớn của Việt Nam với diện tích 10km2, có 500 - 600 dân sinh sống Trong khi đó hai đảo mà Thái Lan cũng đưa ra yêu sách sử dụng để vạch đường cơ sở cùa mình là hai đảo Kro Kra và Kro Losin chỉ nhô lên mặt nước 1,5m, không có người ở và không có đời sống kinh tế riêng
Phía Thái Lan lập luận rằng hai hòn đảo Kro Kra và Kro Losin chỉ cách bờ biển Thái Lan 26 và 37 hải lý, trong khi đảo Thổ Chu cách bờ biển Việt Nam 87 hải lý Điều này sẽ khiến cho Việt Nam được lợi khi phân định ranh giới biển thông qua việc
sử dụng hiệu lực của đảo Thổ Chu vào vạch đường cơ sở nối Phú Quốc - Thổ Chu - Mũi Cà Mau của Việt Nam và dùng đảo Thổ Chu để xác định các vùng biển xung quanh đảo này theo quy định của Công ước Luật Biển 1982 Điều đó cũng đồng nghĩa với việc mở rộng vùng chống lấn về phía Thái Lan Phía Thái Lan đã đưa ra đề nghị với Việt Nam cho đảo Thổ Chu hưởng 1/3 hiệu lực chứ không được hưởng cách xác định đầy đủ cho mỗi vùng biển tại đảo này theo quy định cùa Công ước Luật biển năm l982
Trên cơ sở nhận nhượng về mặt lợi ích và căn cứ vào các quy định của Luật quốc tế, nhằm đạt được sự thống nhất trong việc sử dụng hiệu lực của các đảo để giải
11 Đao Vai - còn được gọi là đao Poulo Wai http://w w w geonam es.org/1821340/
Trang 39quyết tranh chấp, Thái Lan và Việt Nam đã thoả thuận ghi nhận hiệu lực của đảo Thổ Chu, theo đó đảo này được ghi nhận là một trong hai điểm cơ sở (cùng với đảo Poulo Wai của Campuchia), đường trung tuyến được nổi giữa 2 đảo này tạo thành điểm K để phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và vùng thềm lục địa giữa hai quốc gia.
2.3.2 Phăn định thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia
+ Quá trình đàm phán
Xuất phát từ sự khác nhau giữa các tuyên bố ranh giới về thềm lục địa của Inđônêxia năm 1969 và của Chính quyền Sài Gòn năm ] 971 nên ngay từ năm 1972 hai bên đã tiến hành đàm phán phân định thềm lục địa Trong quá trình đàm phán, mỗi bên đều có những quan điểm và lập luận của riêng mình
Trong thực tiễn phân định thềm lục địa trên thế giới, cũng như giữa Inđônêxia với một số nước láng giềng, phương pháp đường trung tuyến/đường cách đều đã được thừa nhận và sừ dụng tương đối phổ biến Trong phân định thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia, phương pháp này cũng được các bên đề xuất áp dụng Lập trường của Indonesia trong việc phân định biển với Việt Nam là thừa nhận dành hiệu lực toàn phần cho Côn Đảo của Việt Nam, nhưng Inđônêxia lại áp dụng triệt để "quy chế quốc gia quần đảo" đã được ghi nhận trong Công ước Luật biển 1982 và sử dụng phương pháp đường trung tuyến như là một nguyên tắc và bỏ qua các hoàn cảnh hữu quan trong quá trình phân định, do đó không đưa lại một giải pháp công bằng
Năm 1972, khi Chính quyền Sài Gòn và Indonesia tiến hành đàm phán nhằm phân định thềm lục địa giữa hai nước, phía Indonesia đưa ra yêu sách đường trung tuyến giữa hai đường cơ sở là đường cơ sở của quốc gia quần đảo (mà thực chất đó là khoảng cách giữa đảo Natuna Bắc của Indonesia) và Côn Đảo của Việt Nam (gọi là trung tuyến đảo - đảo) Chính quyền Sài Gòn đề nghị phân định theo đường trung tuyến giữa bờ biển Việt Nam và bờ biển đảo lớn Bomeo Bắc (Calimantan) của Indonesia (gọi là trung tuyến bờ - bờ) Hai bên không đạt được thoả thuận nào
Sau ngày đất nước thống nhất, tháng 6/1978 Việt Nam bắt đầu tiến hành đàm phán về phân định thềm lục địa với Indonesia Tại vòng I chính thức cấp chuyên viên tại Hà Nội (từ ngày 5 - 9/6/1978), Indonesia vẫn đưa ra trung tuyến đảo - đảo Lập trường pháp lý của Việt Nam là theo nguyên tắc thỏa thuận, công bằng, tôn trọng lẫn nhau, phù hợp với xu thế phát triển của Luật biển quốc tế Việt Nam vận dụng khái niệm thềm lục địa là sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ lục địa ra đến bờ ngoài của rìa
Trang 40lục dịa và thực tế, trên đáy biển có một rãnh sâu gần sát đảo Natuna Bắc của Indonesia
để đưa ra đòi hỏi ban đầu dựa trên một đường ranh giới tự nhiên Sự vận dụng này dựa trên cơ sở Việt Nam nằm trên khối lục địa châu Á Đồng thời, Việt Nam cũng vận dụng các phán quyết của Toà án quốc tế, Toà Trọng tài quốc tế trong các án lệ về phân định ranh giới thềm lục địa để lập luận rằng, đòi hỏi của Inđônêxia về trung tuyến đảo
- đảo không thể là một giải pháp công bằng, bởi vì đường trung tuyến đó phân chia cách đều máy móc về khoảng cách giữa hai đường cơ sở, trong khi thềm lục địa bắt nguồn từ lãnh thổ lục địa, chứ không phải từ đường cơ sở Hơn nữa sự phân chia máy móc theo khoảng cách đó không tính đến tỳ lệ giữa chiều dài bờ biển phía Đông Nam Việt Nam với chiều dài bờ biển đảo nhỏ Natuna Quan điểm khác nhau giữa hai bên đã tạo thành vùng tranh chấp ban đầu rộng khoảng 98.000 km2
Do thực tế là đường rãnh sâu theo yêu sách của Việt Nam không đáp ứng tiêu chuẩn là một sự gián đoạn về địa chất của thềm lục địa và Việt Nam cũng chưa có điều kiện nghiên cứu, khảo sát để chứng minh sự khác biệt giữa thềm lục địa hai nước nên lập luận trên của Việt Nam cũng có phần hạn chế Để khai thông bế tắc trong đàm phán, trên cơ sở phân tích lập luận pháp lý và thực tế địa hình tự nhiên của khu vực phân định, tại các vòng đàm phán từ năm 1978 đến giữa năm 1991, Việt Nam đã đưa
ra đề nghị về đường "dung hoà" là đường trung tuyến giữa bờ biển Việt Nam và bờ biền đảo lớn Bomeo Bắc của Indonesia, giảm diện tích của khu vực chồng lấn xuống còn khoảng 40.000 km
Tháng 10/1991, nhân dịp Thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm Indonesia, hai bên đã
thoả thuận chính trị chia 50/50 "vùng còn lại" Tại vòng I đàm phán chính thức cấp
Chính phủ (Hà Nội, tháng 12/1991), hai bên thảo luận việc thực hiện thoả thuận chính
trị nẫu trên, nhưng do hai bên hiểu khác nhau về "vùng còn lại" nên đàm phán không
đạt được giải pháp
Cho đến khi Công ước Luật biển 1982 chính thức có hiệu lực, Indonesia dựa vào quy chế quốc gia quần đảo đã được ghi nhận trong Công ước để tăng sức ép nhằm giành một giải pháp phân định có lợi hơn Trong đàm phán, về phân định thềm lục địa, Indcnesia quay lại lập trường ban đầu đòi theo trung tuyến đảo - đảo Đồng thời, Inđcnêxia cũng đề nghị thảo luận riêng việc phân định vùng đặc quyền kinh tế theo đó nguyên tắc phân định thường căn cứ vào khoảng cách tính từ đường cơ sở lãnh hải của
m ỗi bên