1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng tôn quân quyền của đạo nho trong quá trình tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến việt nam thời lê sơ và thời nguyễn

118 165 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 11,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để công cuộc cách bộ máy và cải cách hành chính nhà nước sớm đạt được mục tiêu đề ra, bên cạnh việc nghiên cứu ,tham khảo, học hỏi các mô hình tổ chức bộ máy của các nước có nền văn minh

Trang 2

BỘ G IÁ O DỤC VÀ Đ À O TẠO BỘ T ư PH Á P

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

^ ^ ^ ^ ^ ^ vỊ> ^ ^ ^

VŨ THỊ YẾN

TRONG QUÁ TRÌNH T ổ CHỨC BỘ MÁY

NHÀ NƯỚC PHONG KIÊN VIỆT NAM

THỜI LÊ S ơ VÀ THỜI NGUYỄN

Chuyên ngành : Lý luận Nhà nuớc và Pháp luật

Trang 3

Ẩ t â i ớ ế í í / t tf/t

Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn tới Phó giáo sư,

Tiến sĩ Thái Vĩnh Thắng, đã tận tâm hướng dẫn và giúp đỡ nhiều

ý kiến khoa học quí báu trong suốt thời gian tôi thực hiện và hoàn thành bản Luận văn này.

Tôi xin cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy lớp Cao học Luật khoá 8, trang bị cho chúng tôi nhiều kiến thức, kinh nghiệm và tài liệu nghiên cứu có giá trị.

Nhân đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới các thầy cô giáo khoa Sau đại học trường Đại học Luật Hà nội và các bạn bè đồng nghiệp đã tạo điều kiện, động viên, qóp ý đ ể tôi hoàn thành bản Luận văn này.

Trang 4

Chương I : Tư tưởng” Tôn quân quyền" của đạo Nho và quá

trình tư tưởng "Tôn quân quyền” trở thành nguyên tắc cơ bản

trong tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến Việt Nam.

1 Nội dung tư tưởng "Tôn quân quyền" 6

2 Tư tưởng "Tôn quân quyền" trong hệ thống các quan điểm chính

trị của đạo Nho

3 Quá trình tư tưởng "Tôn quân quyền" trở thành nguyên tắc cơ

bản trong tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến

Chương I I : T ổ chức bộ máy Nhà nước phong kiến Việt Nam thời

Lê sơ và thời Nguyễn theo nguyên tắc" Tôn quân quyền"

5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức bộ máy nhà nước theo g2

nguyên tắc "Tôn quân quyền" của đạo Nho

1 Bài học về sự chú trọng đến nhân tố con người 8 9

2 Bài học về cơ chế điều hành hoạt động của bộ máy nhà nước và 9 4

chế độ chịu trách nhiệm của quan lại

3 Bài học về sự coi trọng yếu tố tự quản của làng xã

4 Bài học về cải cách bộ máy nhà nước phải song hành với những 100cải cách về kinh tế

5 Bài học về việc vận dụng sáng tạo và phù hợp, trên cơ sở kế JQ3

thừa, tiếp thu ,học tập kinh nghiệm khi xây dựng, cải cách bộ

máy nhà nước

98

Trang 5

PHẨN MỞ ĐẨU

1 Tính cấp thiết của dề t à i :

Trong những năm qua, để bộ máy nhà nước được tổ chức một cách hoàn thiện, hoạt động có hiệu quả hơn, trở thành nhân tố thúc đẩy xã hội phát triển, cải cách tổ chức bộ máy nhà nước là công việc luôn được coi là cấp bách không những của các nước chậm phát triển mà còn là vấn đề được nhiều quốc gia có nền chính trị ổn định, kinh tế xã hội phát triển quan tâm

Ở Việt Nam, từ hôị nghị lần thứ 8 Ban chấp hành trung ương khoá VII của Đảng Cộng sản Việt Nam, vấn đề cải cách bộ máy nhà nước đã được đặt ra Vấn

đề này tiếp tục được coi trọng và thể hiện trong các văn kiện của đại hội Đảng lần thứ VIII và lần thứ IX Dưới ánh sáng của Đảng, quá trình cải cách bộ máy nhà nước những năm qua đã thu được kết quả bước đầu quan trọng ,song về cơ bản bộ máy nhà nước vẫn chưa theo kịp sự chuyển đổi của nền kinh tế thị trường Để công cuộc cách bộ máy và cải cách hành chính nhà nước sớm đạt được mục tiêu

đề ra, bên cạnh việc nghiên cứu ,tham khảo, học hỏi các mô hình tổ chức bộ máy của các nước có nền văn minh chính trị pháp lý cao ,việc nghiên cứu một cách có

hệ thống những kinh nghiệm tổ chức bộ máy nhà nước của ông cha ta trong lịch sử,ảnh hưỏng của các tư tưỏng văn hoá ,chính trị trong quá khứ đối với việc hình thành tổ chức bộ máy của các nhà nước trước đây, trong đó có tư tưởng 'Tôn quân quyền, nhằm kế thừa những yếu tố tinh tuý, hợp lý, phù hợp với nền văn hoá, lối sống và phong tục tập quán của dân tộc là điều hết sức cần thiết

2 Tình hình nghiên cứu :

Ở Việt Nam, tư tưởng"Tôn quân quyền" được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu: " Nho giáo" của học giả Trần Trọng Kim ,"Lịch sử tư tưởng Việt Nam" do phó giáo sư Nguyễn Tài Thư chủ biên, "Sự phát triển tư tưỏng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng 8" của giáo sư Trần Văn Giàu, nhưng chỉ là một khía cạnh nhỏ của các công trình nghiên cứu này

Khác với tư tưởng "Tôn quân quyền", tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến Việt Nam là đề tài được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Trong các công trình nghiên cứu về chế độ phong kiến của giáo sư Phan Đại Doãn, giáo sư Hà Văn Tấn

tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến chỉ được nghiên cứu dưới góc độ là một bộ

Trang 6

phận, một khía cạnh của các công trình này Có tác giả nghiên cứu về bộ máy nhà nước phong kiến ở từng giai đoạn, từng thời kỳ một cách hệ thống như học giả Lê Kim Ngân với tác phẩm:" Tổ chức chính quyền dưới thời Lê Thánh Tông”, tiến sĩ Nguyễn Minh Tường với:" Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh", Đỗ Bang, Nguyễn Danh Phiệt, Nguyễn Quang Ngọc, Vũ Văn Quân với" Tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1884".

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về bộ máy nhà nước phong kiến Việt Nam chưa quan tâm xem xét đến mối quan hệ hữu cơ giữa tư tưởng pháp lý chính thống và cách thức tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước Khi nghiên cứu về

bộ máy nhà nước phong kiến các tác giả mới mô tả mà chưa chỉ ra được những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo quá trình tổ chức bộ máy nhà nước

Với mong muốn góp phần làm sáng tỏ ảnh hưởng của tư tưởng "Tôn quân quyền "đối với việc tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến ,tác giả đã lựa chọn vấn

đề Tư tưởng "Tôn quân quyền" của đạo Nho trong quá trình tổ chức bộ máy nhà nước của phong kiến Việt Nam thời Lê sơ và thời Nguyễn "làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình

3 M ục đích , nhiệm vụ, giới hạn nghiên cứu của luận văn:

M ục đích : Thông qua việc nghiên cứu nội dung và quá uình ảnh hưởng

của tư tưởng "Tôn quân quyền" vào việc tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến ,tổ chức bộ máy của một số triều đại phong kiến vận dụng tư tưỏng "Tôn quân quyền", nhìn lại những thành công và thất bại của các triều đại này trong lịch sử

để rút ra những bài học,góp phần làm rõ thêm những vấn đề về lý luận và thực tiễn của công cuộc cải tổ bộ máy Nhà nước, cải cách hành chính và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mang bản sắc Việt Nam

N hiệm vụ :

- Trình bày một cách khái quát về quá trình ra đời, phát triển và nội dung

tư tưỏng "Tôn quân quyền" của đạo Nho

- Phân tích mối quan hệ giữa tư tưỏng "Tôn quân quyền" và các quan điểm chính trị của đạo Nho dể thấy đựoc sự liên quan, ràng buộc giữa tư tưỏng "Tôn quân quyền " với các quan diểm chính trị đó để luận chứng cho các yếu tố ảnh hưởng dến mức độ thâu tóm quyền lực vào trong tay nhà vua

Trang 7

- Phân tích, chứng minh sự chi phối của tư tưởng "Tôn quân quyền" dến việc tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến thời Lê sơ và Nguyễn

- Phân tích các yếu tố hợp lý, cũng như những hạn chế của quá trình tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc " Tôn quân quyền" của phong kiến thời

Lê sơ và thời Nguyễn để rút ra những bài học lịch sử phục vụ cho quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền và quá trình cải cách bộ máy Nhà nước ở nước ta hiện nay

Giới hạn nghiên cứu :

Tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến Việt Nam theo nguyên tắc "Tôn quân quyền" là một vấn đề hết sức rộng và phức tạp,liên quan đến nhiều ngành khoa học , đòi hỏi một quá trình nghiên cứu cẩn trọng,khoa học, biện chứng và công phu

Trong luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu nội dung của tư tưởng

"Tôn quân quyền"và ảnh hưởng của nó tới việc tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến thời Lê sơ và thòi Nguyễn mà không nghiên cứu toàn bộ các vấn đề về bộ máy Nhà nước trong cả thời kỳ hậu Lê và thời nhà Nguyễn Những phân tích về

tư tưởng "Tôn quân quyền" và mối quan hệ của tư tưỏng "Tôn quân quyền "với các quan điểm chính trị khác của đạo Nho chỉ mang tính khái lưực, luận chứng cho việc tổ chức bộ máy Nhà nước phong kiến Lê sơ, Nguyễn theo nguyên tắc" Tôn quân quyền

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu :

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận Mác Lê nin, tư tưỏng Hồ chí Minh và quan điểm của Đảng , nhà nước ta về nhà nước và pháp luật, về việc kế thừa và giữ gìn truyền thống.bản sắc dân tộc phục vụ cho công cuộc cải cách bộ máy nhà nước và nền hành chính quốc gia

Để đạt được mục đích nghiên cứu, ngoài phương pháp chung là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử , tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu đăc trưng của khoa học xã hội là phân tích, tổng hợp,so sánh,mô hình hoá và phương pháp lịch sử

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn :

Tác giả đã nghiên cứu một cách tương đối hệ thống về tư tưởng "Tôn quân quyền" và sự chi phối của nó tới cách thức xây dựng, tổ chức bộ máy nhà nứơc

Trang 8

của phong kiến Việt Nam thời Lê sơ và thời Nguyễn Với những lập luận biện chứng, khoa học, tác gỉa đã chứng minh được mối quan hệ giữ tư tưỏng chính trị pháp lý chính thống với việc tổ chức bộ máy nhà nước Đây cũng là công trình khoa học pháp lý đầu tiên chỉ ra và chứng minh nguyên tắc "Tôn quân quyền " là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức bộ máy nhà nước của phong kiến Việt Nam thời

Lê sơ và thời Nguyễn

Khi nói tới nhà nước phong kiến Phương Đông nói chung, nhà nước phong kiến Việt Nam nói riêng, nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định tính chất chuyên chế, quyền lực tối cao,vô hạn của nhà vua Việc nghiên cứu nguyên tắc "Tôn quân quyền" và sự chi phối của nó tới tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến đã làm phong phú thêm lý luận vê hình thức chính thể quân chủ chuyên chế,bên cạnh sự khẳng định việc thâu tóm quyền lực của nhà vua tác giả cũng chỉ ra những thiết chế, yếu tố làm hạn chế việc tập trung quyền lực nhà nước trong tay nhà vua, tránh dược sự cực đoan trong việc điều hành đất nước của những người

được coi là "thế thiên hành đạo" Đây cũng là bài học đối với thực tiễn : việc tổ

chức, điều hành bộ máy nhà nước cần phải đê cao quyền lực, trách nhiệm của người đứng đầu, nhưng phải xây dựng các quy định tránh việc độc đoán, chuyên quyển trong điều hành của các cá nhân trong tổ chức bộ máy nhà nước

6 Kết cấu của luận văn :

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm

3 chương :

- Chưong I : Tư tưỏng "Tôn quân quyền" của đạo Nho và quá trình tư tưởng "Tôn quân quyền" trở thành nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, bộ máy nhà nước Phong kiến Việt Nam

- Chương II : Tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến thời Lê sơ và thời Nguyễn theo nguyên tắc "Tồn quân quyền

- Chương I I I : Các bài học lịch sử

Trang 9

Chương I

TƯ TƯỞNG TÔN QUÂN QUYỂN c ủ a đ ạ o n h o v à q u á t r ì n h

TƯ TƯỞNG TÔN QUÂN QUYỂN t r ở t h à n h n g u y ê n t ắ c c ơ b ả n

TRONG TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC PHONG KIÊN VIỆT NAM

1 Nội dung tư tưởng tôn quân quyền của đạo Nho.

Vào cuối thời Xuân Thu (770 - 403 TCN), xã hội Tây Chu bước vào giai đoạn khủng hoảng Sự xuất hiện công cụ lao động bằng sắt cùng với những kỹ thuật chế tác tiến bộ đã giúp người Tây Chu khai khẩn đất đai, phát triển nông nghiệp, thủ cồng nghiệp Chế độ phân phong ruộng đất của thiên tử nhà Chu ngày càng kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ (theo kiểu gia trưởng ở phương Đông) bộc lộ qua sự bất ổn của tình hình xã hội Các quan hệ xã hội được xây dựng dựa trên lễ chế của nhà Tây Chu bị đảo lộn: chư hầu đánh lẫn nhau, chư hầu lấn quyền thiên tử, tôi giết vua, vợ giết chổng Chứng kiến sự lung lay đến tận gốc của chế độ chính trị nhà Chu , Khổng Tử, đại diện cho tầng lớp quý tộc nhà Chu, đã hệ thống, chỉnh lý và bổ sung các quan điểm về chính trị, đạo đức, triết học, tôn giáo của người Trung Ọuốc tồn tại từ thời Hạ, Thương, đầu Chu với mong muốn làm cơ sở để giai cấp thống trị vận dụng, ổn định lại tình hình xã hội , chính trị Các quan điểm, tư tưởng do Khổng Tử hệ thống sau này được các môn đệ của ông bổ sung, trở thành một học thuyết hoàn chỉnh: học thuyết Nho giáo Ra đời trong một bối cảnh bất ổn như vậy , học thuyết Nho giáo bộc lộ một khát vọng to lớn , khát vọng xây dựng một xã hội Đại Đồng Xã hội Đại Đồng được nêu trong thiên Lễ vận của kinh Lễ : " Đạo lớn được thi hành thì thiên hạ là của chung, kén chọn kẻ có tài, có đức làm việc, giảng giải điều tín nghĩa , sửa trị điều hoà mục Cho nên, mọi người không riêng kính thân cha mẹ mình, không riêng yêu con mình, khiến người già cả có chỗ nuôi nấng trọn đời , người trẻ khoẻ có chỗ sử dụng năng lực, các thiếu niên được nuôi dậy khôn lớn Thương người đàn bà goá, thương những đứa đơn côi và người già không nơi nương tựa, những người tàn tật thì phải có chỗ nuôi dưỡng, con trai đều phải có nghề nghiệp, con gái đều có chồng con Như vậy, của cải e vất bỏ dưới đất cũng không ai lấy và cũng không cần thiết cất giữ cho riêng mình Còn về năng lực thì chi e không có cách gì thi thố mà không cần giữ làm của riêng Do đó, mọi âm

Trang 10

mưu đều bị lấp kín không thể xẩy ra, mọi hành vi trộm cấp gây rối, giặc cướp đều không thể nổi dậy, cửa ngõ không phải đóng Như thế gọi là Đại Đồng

Xã hội Đại Đồng của đạo Nho là xã hội lý tưởng, trong xã hội đó thiên hạ như gia đình, mọi người coi nhau như anh em, cùng hưởng thụ các quyền lợi, cùng có trách nhiệm với nhau Trong xã hội Đại Đồng, công bằng xã hội được đề cao, người cai quản quốc gia không lo thiếu của cải mà lo phân phối không đều, không lo nghèo đói mà lo lòng dân không yên Để thực hiện khát vọng chính trị

đó, Nho gia đã đưa ra hàng loạt các tư tưởng, biện pháp cai trị xã hội Từ các tư tưởng, các biện pháp cai trị của Nho gia, giai cấp thống trị ở Trung Quốc nói riêng và phong kiến phương Đông nói chung, đã vận dụng để xây dựng bộ máy nhà nước,xây dựng đường lối cai trị của mình Có những tư tưởng của Nho gia,

đã trở thành nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước phong kiến ,đó là "Tôn quân quyền"

Tư tưởng "Tôn quân quyền" xuất hiện trong các tác phẩm kinh điển của Khổng Tử - ông tổ của đạo Nho , tư tưởng đó được các môn đệ của Khổng Tử kế thừa và hoàn thiện

1.1 T ư tưởng "Tôn quân quyền " của Khổng Tử.

Khác với những vấn đề luân thường, đạo lý thường được Khổng Tử đề cập một cách cặn kẽ tỷ mỉ qua phương pháp công truyền ,"Tôn quân quyền" là vấn đề trừu tượng khó hiểu chỉ dành riêng cho những người có tư chất đặc biệt; Khổng

Tử sử dụng phương pháp tâm truyền, mượn lối chép sử để đề cập Tâm truyền là phương pháp người tiếp cận phải tự học, chứ không được nghe giảng giải trực tiếp, cặn kẽ, -tư tưởng "Tôn quân quyền" được gửi gắm chủ yếu trong 2 tác phẩm của Khổng Tử : kinh Xuân Thu và Kinh Thư

Khi Khổng Tử san định kinh Xuân Thu, cũng là lúc thiên tử nhà Chu bị các chư hầu thao túng, lấn quyền nên tư tưởng "Tôn quân quyền" chỉ được bộc lộ

ý nhị qua sự ghi chép về lịch số và sự phê phán hành vi bạo ngược, lấn quyền của vua chư hầu Theo quan niệm thời cổ đại, lịch số là biểu hiện của mệnh trời, các nước chư hầu dù có lịch riêng, song Khổng Tử khi chép sử chỉ sử dụng lịch của

1 Kinh Lê,trích theo Lương Duy Thứ, Phan N hật Chiêu, Phan Thu Hiền, Đ ại cương văn hoá phương Đông NXBGD, H à N ội 1 99 7,trang 28

Trang 11

nhà Chu.Mở đầu kinh Xuân Thu, Khổng Tử chép: " Mùa xuân tháns giêng vua nhà Chu" Với việc dùng lịch của nhà Chu, Khổng Tử khẳng định thiên tử nhà Chu dù bị chư hầu lấn quyền song vẫn là chủ tể của thiên hạ, quyền lực vẫn nằm trong tay nhà Chu.

Tư tưởng "Tôn quân quyền" của Khổng Tử bộc lộ tương đối rõ nét trong Kinh Thư: mượn những ghi chép về các điển chế chính trị thời Nhị Đế (Nghiêu,Thuấn), Tam Vương( Hạ, Thương, đầu Chu), Khổng Tử gửi gắm vào Kinh Thư lý tưởng chính trị của mình Thời Nghiêu, Thuấn, theo đánh giá của các

sử gia Trung Quốc hiện đại, chỉ là thời kỳ Trung Quốc ở vào giai đoạn thị tộc, bộ lạc.Nghiêu, Thuấn là các tộc trưởng, tù trưởng của các bộ lạc được lựa chọn theo phương pháp truyền hiền : Nghiêu truyền ngôi cho Thuấn, Thuấn truyền cho Vũ

Bộ máy quản lý của bộ lạc, đứng đầu là các tù trưởng chưa thực hiện chức năng nhà nước mà chỉ thực hiện chức năng xã hội, chức năng quản lý vì lợi ích cộng đồng Thời Hạ,Thương là thời kỳ Trung Quốc đang chuyển mình từ xã hội thị tộc

bộ lạc sang giai đoạn xuất hiện giai cấp và nhà nước Bộ máy quản lý xã hội không còn là bộ máy " nghiệp dư ", mà dần trở thành bộ máy quản lý "chuyên nghiệp"- bộ máy cai trị, bộ máy nhà nước Người đứng đầu bộ máy nhà nước không còn được xác lập bằng phương pháp truyền hiền mà bắt đầu được xác lập bằng phương pháp truyền tử (thế tập) : Vũ truyền cho con là Khải.Tổ chức bộ máy nhà nước còn đơn giản, sơ khai, mang đậm tàn dư của chế độ thị tộc, bộ lạc Song, để gửi gắm các quan điểm, lý tưởng chính trị của mình, xã hội thời Nhị Đế- Tam Vương hiện lên thật lý tưởng Dù chưa được coi là thời kỳ thiên hạ Đại Đồng, thời Nhị đế, Tam vương được coi là thời kỳ xã hội Tiểu Khang Ở thời kỳ

đó ,vua sáng, tôi hiền, quyền lực nhà nước đều được tập trung trong tay thiên tử Thiên tử có quyền ban ấn, phong thưởng, chinh phạt, định chính sách cai trị cho chư hầu bốn phương

Các nước chư hầu, theo thời hạn phải vào triều cống, bẩm báo công việc cai trị trong xứ cho thiên tử: "Vua Thành Vương vỗ yên muôn nước, đi tuần thú các nước hầu, điện, mang quân đi đánh khắp bốn phương; các nước không đến triều hưởng để yên triệu dân Vua chư hầu ở sáu cõi, không đâu không kính thừa

Trang 12

đức hoá nhà Chu" 2 Để cai trị đất nước, thiên tử toàn quyền đặt ra bộ máy giúp việc, bao gồm các viên quan có vai trò lớn trong đạo trị nước của thiên tử " Đùi và bắp tay mạnh thì người khoẻ, bề tôi giỏi giúp vua thì vua hoá bậc Thánh nhân Không chỉ đặt ra tiêu chuẩn cụ thể của các quan, thiên tử còn đạt ra một chế độ khảo xét công trạng thưởng phạt rất nghiêm minh để ràng buộc và nâng cao trách nhiệm của đội ngũ giúp việc "Trong 3 năm , một lần xét công các quan Trong 3 lần xét (9 năm) truất bãi người ươn hèn Cất nhắc người mẫn cán, các công việc đều thịnh vượng " 4

Đối với lê dân, bách tính thiên tử đưa ra chủ trương dùng đức để cai trị, đặt ra ngũ điển (ngũ luân) để giao hoá để hướng dẫn điều chỉnh các quan hệ xã hội sao cho vua tôi có trung nghĩa, cha con có tình thân, vợ chổng có riêng biệt, anh em có thứ bậc, bạn bè có tin cậy

Cùng với việc giáo hoá dân chúng, để khẳng định uy quyền, thiên tử cần phải ban hành pháp luật, định hình phạt , xét xử những kẻ liều lĩnh chống đối thiên tử và vi phạm luân thường đạo lý.Quyền trừng phạt hay tha miễn nằm trong tay thiên tử :"Cho dân gian biết cái hình phạt mà luật đã định như tội ngũ hình, có khi khoan hồng cho đi đầy xa Đánh bằng gậy hay bằng roi da ở các quan nha Đánh bằng roi nhỏ ở các trường học, có cho lấy vàng để chuộc tội Người nào lầm

lỡ hay bất hạnh phạm tội được tha bổng ngay" 5

'Khổng Tử cho rằng uy quyền của thiên tử còn được khẳng định qua hàng loạt các chính sách an dân ,bởi theo ông :vua và dân dù ở hai vị trí khác nhau vua

ở vị trí của người cai trị, dân ở vị trí của người bị trị song vua - dân có mối quan

hệ mật thiết:" Đáng yêu chẳng phải là vua ư? Đáng sợ chẳng phải là dân ư? Dân không có vua biết trông cậy vào đâu, vua không có dân biết cùng ai giữ nước "6

Để an dân, thiên tử phải đặt ra chính sách phát triển sản xuất, vỗ về người ở xa, triệu tập người ở gần, đối đãi tử tế với người có đức, tin dùng người có nhân, cự tuyệt kẻ gian ác.'

2 Khổng Tủ,Kinh Thư.NXB Bộ giáo dục,Sài g ò n l965 ,trang 380

Trang 13

Để an dân, thiên tử còn phải định ra một trật tự, tôn ti trong xã hội bằng việc đặt ra lễ, nhạc Theo Khổng Tử lễ, nhạc có quan hệ mật thiết đến phong tục, luân lý và chính trị Lễ phân ra trật tự khác nhau để vạn vật có thứ tự phân minh, nhạc hợp đồng làm một để người ta biết vạn vật khác nhau nhưng đồng một thể, cùng theo một lẽ điều hoà mà sinh hoá Cái căn nguyên của lễ - nhạc cao xa nên

lễ - nhạc có giá trị tôn quý, lễ -nhạc phải do thiên tử quy định Hễ chính trị hay trì

lễ nhạc hay lễ nhạc mà dở thì chính trị dở

Thông qua việc ghi chép các điển chế chính trị của thời Nhị đế, Tam vương, Khổng Tử đã phác hoạ được những nội dung cơ bản của tư tưởng "Tôn quân quyền”, vương quyền của nhà vua hiện hữu trong tất cả các lĩnh vực theo nguyên tắc: lễ - nhạc, chinh phạt, pháp luật, hình phạt, cắt đặt trăm quan đều từ thiên tử mà ra Đặc biệt Khổng Tử còn nhấn mạnh sự cần thiết phải tập trung quyền lực vào tay thiên tử,quyền lực tập trung trong tay thiên tử, thiên hạ thái bình, sự tiếm quyền của bề tôi và chư hầu sẽ dẫn đến quốc gia vong đạo, thiên hạ đại loạn "Khi thiên hạ có đạo, thì chế độ lễ nhạc, hiệu lệnh chinh phạt đều phát ra

từ vua thiên tử Khi thiên hạ không có đạo, chế độ lễ nhạc phát ra từ vua chư hầu phát ra.Nếu từ vua chư hầu phát ra, có lẽ sau mười đời ít khi chẳng mất nước vậy! Nếu từ quan đại phu phát ra, sau năm đời ít khi chẳng mất nước vậy! Khi thiên hạ

có đạo việc chính không ở quan đại phu Khi thiên hạ có đạo, người dân thường không bàn riêng việc nước" 7

Không chỉ nắm vương quyền, thiên tử còn phải nắm cả thần quyền, thần quyền là chỗ dựa cho vương quyền: "Đức Trọng Ni (Khổng Tử ) nói: "Thần của núi sông có thể làm giừơng mối cho thiên hạ, lo việc thờ cúng thần núi sông là những người thầy cúng, những người tế thần đất và thần mùa màng là các công hầu Họ đều lệ thuộc nhà vua"8

1.2 Đóng góp của Tuân Tử, Đổng Trọng T h ư và bước phát triển mới của tư tưởng "Tôn quân quyên"

Dù coi trọng quân quyền, đưa ra chủ trương quyền lực nhà nước phải đựơc tập trung trong tay nhà vua, song tư tưởng "Tôn quân quyền” của Khổng Tử vẫn chưa được giai cấp thống trị cuối Chu vận dụng Ngoài lý do tư tưởng "Tôn quân

7 Khổng Tử,Luận ngữ ,tập III, Bộ G iáo dục xuất bản,Sài Gòn 1965, trang 173.

8 Tư M ã Thiên,Sử ký, NXB Văn H ọc,H à N ộ i 1988, trang 218

Trang 14

quyền" ra đời vào giai đoạn thiên tử nhà Chu đã mất thực quyền, các chư hầu lấn

át quyền thiên tử, tư tưởng "Tôn quân quyền" không được vận dụng còn xuất phát từ chính hạn chế trong luận thuyết của Khổng Tử Trong luận thuyết của mình, Khổng Tử chỉ dùng lý thuyết tiên nghiệm để hình thành tư tưởng "Tôn quân quyền" mà chưa đề cập, giải thích bằng lý luận một cách chặt chẽ vì sao cần phải tập trung quyền lực vào tay thiên tử

Trung thành vơí tư tưởng "Tôn quân quyền", nhiều môn đệ của Khổng Tử: Tăng Tử, Mạnh Tử, đã tìm cách luận giải, phát triển thêm tư tưởng "Tôn quân quyền", song đóng góp lớn nhất cho sự hoàn thiện cho tư tưởng "Tôn quân quyền" thuộc về Tuân Tử và Đổng Trọng Thư Khác với Khổng Tử, Tuân Tử không tìm những lý luận cao siêu, khó hiểu của đạo trời, Tuân Tử đặc biệt coi trọng đạo người, dùng đạo người để luận giải vì sao phải tập trung quyền lực

Tuân Tử cho rằng người ta sức không bằng con trâu, chạy không bằngcon ngựa, nhưng trâu ngựa đều bị con người sử dụng Sở dĩ con người có khả năng đó vì con người biết hợp quần Để sinh tổn, người ta tất phải có liên hệ, trao đổi giúp đỡ nhau một cách tự nhiên và tất yếu bởi :"Tài hay chẳng thể kiêm nghĩ, con người chẳng thể kiêm quan Sống riêng lẻ chẳng giúp nhau thì khốn "9

Khi con người hợp quần mà không phân định giới hạn cao thấp, trên dưới

sẽ sinh ra tranh giành, sinh loạn Muốn xã hội không tranh giành, không loạn lạc thì phải có vua Tuân Tử quan niệm vua là người lãnh đạo đoàn thể, là người tượng trưng cho ý thức tập thể, vua là cái khuôn phép để nhân dân bắt chước và thuận tùng theo:" Vua là mẫu mực vậy Mẫu mực ngay thì bóng chiếu cũng ngay Vua là cái mâm vậy Mâm tròn thì nước phải tròn Vua là cái chậu vậy Chậu vuông thì nước vuông" ‘° Trời đặt ra vua là vì dân, vì đạo hợp quần của con người; do vậy quyền lực của vua phải vì chung của cả thiên hạ, chứ không phải vì riêng dòng họ nào

■ Đóng góp của Tuân Tử làm cho luận thuyết "Tôn quân quyền" của Nho gia trở nên chặt chẽ hơn về mặt lý luận Song, đóng góp đó dường như chưa tạo

9 Tuân Tủ,chương phú qu ốc,trích theo G iáo trình triết học của Bộ giáo dục đà o tạo,NXB Chính trị quốc gia,H à N ộ i1 9 9 4 ,tra n g l 1 ỉ

10 Tuân Tử, chương quân đ ạ o , trích theo N guyễn Đ ăng Thục,Lịch sử triết học phương Đông,NXB Thành ph ô'H ồ C h í M in h ,n ă m l991 trang 266

Trang 15

cho giai cấp thống trị một chỗ dựa vững chắc ,cùng với hoàn cảnh loạn lạc thời Chiến quốc tư tưởng "Tôn quân quyền" của đạo Nho vẫn chưa được giai cấp thống trị coi trọng

■ Đóng góp lớn nhất cho sự hoàn thiện của tư tưởng "Tôn quân quyền", phải

kể đến Đổng Trọng Thư (Thời Tây Hán thế kỷ III - II TCN).Đổng Trọng Thư đánh giá rất cao tư tưởng"Tôn quân quyền" của Khổng Tử, ông coi Khổng Tử là người nhận được thiên mệnh để đưa ra tư tưởng"Tôn quân quyền" nhằm tập trung quyền lực nhà nước vào tay thiên tử nhà Chu, vãn hổi nhà Chu đang suy tàn "Có việc xảy đến vượt quá sức người, tự nó đến đấy là đi săn ở phía Tây bắt được Kỳ Lân, là điềm Khổng Tử nhận được mệnh trời Sau đó ngài thác vào Xuân Thu để chính điều bất chính và tỏ rõ cái nghĩa thay đổi chế độ ở đấy Ngài tìm thống nhất thế giới vào một thiên tử mà lo lắng về sự lo lắng của thế giới Ngài nhận việc trừ hoạn nạn cho thiên hạ mà thông cảm với những nguyên lý của Ngũ đế về trước đến Tam hoàng về sau" n Xuất phát từ việc thần bí hoá vương quyền, Đổng Trọng Thư đã phủ lên tư tưởng "Tôn quân quyền" của Nho gia một búc màn huyền bí Với ông, trời là đấng thượng đế có quyền tối cao, loài người do thượng

đế sáng tạo ra và là con cháu của thượng đế Để cai quản cõi người, trời đặt cho cõi người một vị vua có quyền lực tối cao để thay trời hành đạo, nói cách khác vua là người nhận được mệnh trời: "Vua chịu mệnh giời, ấy là ý giời cho vậy, cho nên người được gọi là con giời phải thờ giời như cha, lấy đạo hiếu thờ giời"12 Phát triển tư tưởng "Thiên nhân nhân nhất thể cảm ứng tương sinh"( trời và người

là một, tròi và người hiểu nhau) của Nho giáo nguyên thuỷ, Đổng Trọng Thư thần thánh hoá người cai trị, ông cho rằng vua là người tham tán quán thông cả trời, đất và người "Đời xưa đặt chữ cái vẽ 3 vạch và sổ một cái ở giữa gọi là chữ vương Ba cái vạch ngang là biểu thị trời, đất và người, cái sổ ở giữa là biểu thị cái tham thông ba bậc ấy"13 Do vậy vua có khả năng cảm thông với trời đất, xem

11 Đ ổng Trọng Thư, Xuân Thu ph ồn lộ, trích theo N guyễn Đ ăng Thục, Lịch sử triết học phương đôn g tập IV, Sđd trang 374

12 Đ ổng Trọng Thư, Xuân Thu ph ồn lộ, trích theo N guyễn Đ ăng T h ục, lịch sử triế t học phương đôn g tậ p IV, Sđd trang 374

13 Đ ổng Trọng Thư, Xuân Thu ph ồn lộ, trích theo T rần Trọng K im , N ho g iá o, NXB Thành p h ố

H ồ C h í M inh năm 1991, trang 38 0

Trang 16

xét điền lãnh dữ tuân theo sự vận động của trời đất để trị người; xếp đặt tổ chức

xã hội và giáo hoá nhân dân Không chỉ thần thánh hoá người cai trị, Đổng Trọng Thư còn thần bí hoá vương quvền, ông cho rằng loài người do Thượng đế sáng tạo

ra và tổ chức xã hội cõi người, cũng hoàn toàn do trời quy định, phù hợp với cõi thần Do vậy việc tuân thủ, phục tùng quyền lực của vua cũng đồng nghĩa với việc làm theo đạo trời

Sự thần bí hoá vương quyền, thần thánh hoá người cai trị của Đổng Trọng Thư làm cho vương quyền có chỗ dựa vững chắc là thần quyền Vương quyền kết hợp với thần quyền khiến quyền lực nhà vua trở lên vô hạn, không thế lực hiện hữu nào có thể kiểm soát được Cùng với Tuân Tử, đóng góp của Đổng Trọng Thư khiến tư tưởng "Tôn quân quyền" có chỗ dựa vững chắc về lý luận, "Tôn quân quyền" không chỉ xuất phát từ quyền lợi cá nhân nhà vua mà "Tôn quân quyền"còn xuất phát từ nhu cầu của đời sống xã hội, của đạo người, xuất phát từ thiên mệnh và phù hợp với đạo trời

Từ Khổng Tử đến Đổng Trọng Thư, tư tưởng "Tôn quân quyền" đã dần phát triển và trở nên hoàn thiện Nội dung cơ bản của tư tưởng "Tôn quân quyền"

mà Nho gia xây dựng đúc kết : Khi con người đã đoàn tụ với nhau thành xã hội, tất phải có quyền tối cao để giữ kỷ cương cho cả đoàn thể,quyền ấy là Quân quyền Quyền này phải để cho một người giữ thì mới rõ ràng được mới thống nhất, người giữ quyền này là đế hay vương

Nói một cách ngắn gọn nội dung tư tưởng "Tôn quân quyền" của đạo Nho:

Đề cao, tập trung toàn bộ quyền lực nhà nước vào nhà vua

2 Tư tưởng "Tôn quân quyền" trong hệ thông các quan điểm chính trị cuả

đạo Nho.

2.1 Trong môi quan hệ với quan điểm " Thiên mệnh".

Với đóng góp của Đổng Trọng Thư,tư tưởng"Tôn quân quyền"của đạo Nho vào thế kỷ II TCN đã cơ bản hoàn thiện Song,Tôn quân không phải là biện pháp duy nhất mà Nho gia đưa ra để hướng tới việc xây dựng một xã hội Đại Đồng, thịnh trị Cùng với Tôn quân, hàng loạt các biện pháp, quan điểm chính trị, đạo đức, luân lý được Nho gia đề cập Trong đạo Nho các quan điểm về chính trị, đạo đức, luân lý ấy kết thành một thể thống nhất hữu cơ tạo lên cốt lõi của Nho gia.Tư tưởng"Tôn quân quyền" có một mối quan hệ gắn bó mật thiết , thậm

Trang 17

chí quy định nhau với hàng loạt quan điếm chính trị khác của đạo Nho mà trước hết với quan điểrrTThiên mệnh".Nho gia cho rằng cái gốc của quân quyền là thiên mệnh, thiên hạ mà vua có được, quyền lực mà nhà vua nắm được không do sức người mà do ý trời ; mệnh trời đem thiên hạ trao cho bậc thánh nhân Mệnh trời được định sẵn nhưng không bất di bất dịch:"Mạng trời thì không còn mãi nghĩa là lành thì đựoc, không lành thì mất "14 Người nhận đựóc mệnh trời thì phải theo ý trời.Ý trời mà đạo Nho đề cập đến lại chính là lòng dân bởi" thiên nhân chi phân, thiên nhân tương dữ"( trời và người khác nhau, trời và ngừơi hiểu nhau) Do trời hiểu ý dân nên dân muốn gì trời cũng chiều theo Xuất phát từ thiên mệnh, quyền lực nhà nứớc chỉ được tập trung trong tay nhà vua, nhà vua trên phải thuận mệnh trời, dưới phải giáo hoá dân chúng, phải an dân Trời đặt quyền lực vào tay vua, song trời cũng giám sát chặt chẽ nhà vua để vua không làm trái ý trời Để giúp vua hiểu ý trời , trời dùng các tai hoạ khác nhau để ngầm báo cho nhà vua biết mọi điều tốt, xấu hay dở trong việc thi hành chính sự, trị nước, an dân Nếu đạo cai trị của nhà vua tuân theo ý trời, hợp với lòng dân thì mưa nắng thuận hoà, ngược với lòng dân, ý trời, thì trời giáng hoạ:" Làm vua nghiêm trang thì mưa nắng phải thời Chính trị hay thì nắng phải thời Khôn khéo thì nắng phải thời Mưu mẹo thì rét phải thời Sáng suốt thì rét phải thời vua mà làm việc rồ dại thì trời rét nhiều, làm việc sai lầm thì trời rét nhiều"15 Khi trời tỏ rõ ý của mình qua các điềm tai dị, nhà vua vẫn tiếp tục làm trái ý trời, tàn hại dân chúng, trời sẽ thu lại thiên mệnh, ngôi báu cùng với quyền lực sẽ được trao cho người khác:" Trời làm ơn cho dân, làm vua nên vâng theo ý trời Vua Kiệt nhà Hữu Hạ không thuận

ý trời, độc hại dân các nước, trời bèn sai vua Thành Thang xuống, truất ngôi vua nhà Hạ "16 Mệnh là do trời trao, song để giữ được mệnh trời, giữ được quyền lực nhà nước lại do chính bản thân người cai trị "Tôn quân quyền" , trong mối quan

hệ với "Thiên mệnh" đòi hỏi người nắm quyền lực nhà nước luôn phải kính trời ,

ái dân Kính trời, ái dân trở thành phương châm số một của đạo trị nước, đồng thời cũng là tiêu chuẩn số một của một bậc minh quân Địa vị và quyền lực của nhà vua chỉ có thể tồn tại khi nhà vua là minh quân, nếu là hôn quân chính nhân

14 Tăng Tử- Đ a i liọc, N h à sách K h ai trí, Sài gòn 1 9 7 0 ,trang 225

15 Khổng Tử, Kinh thư, Bộ G iáo dục XB, Sài gòn 1965 trang 239

16 Kinh thư, Sđd, trang 205

Trang 18

dàn sẽ là người phế bỏ quyền lực và địa vị của nhà vua Nhà vua lúc đó, theo

quan niệm củaNho giáo, chỉ như là kẻ thất phu Vua coi bầy tôi như chân tay thì

bầy tôi coi vua như bụng dạ, vua coi bầy tôi như chó ngựa thì bầy tôi coi vua

như người thường trong nước , vua coi bầy tôi như đất cỏ thì bầy tôi coi vua như

quân giặc thù " l7

Như vậy, "Tôn quân quyền" của Nho giáo là "Tôn quân quyền" có điều

kiện "Tôn quân quyền" không đồng nghĩa với ngu trung (coi trọng và trung

thành với nhà vua trong bật kỳ hoàn cảnh, tình huống nào) Quyền lực nhà nước

chỉ tập trung vào trong tay nhà vua đạo đức và ái dân

2.2 Trong môi quan hệ với quan đ iểm ”C hính d a n h ”

Không chỉ được đặt trong mối quan hệ với quan điểm"Thiên mệnh", "Tôn

quân quyền" còn được đặt trong mối quan hệ với quan điểm"Chính danh" Để

quyền lực tập trung vào tay nhà vua, theo Nho gia, trước hết nhà vua phải chính

danh, bởi nguyên nhân dẫn đến tình trạng xã hội bất ổn là do danh thực lẫn lộn,

người dưới bàn chuyện của người trên , người trên không làm đúng phận sự của

mình Khi Tử Lộ hỏi về đạo trị nước, việc gì cần làm trước ? Khổng Tử đáp :

muốn trị nước trước hết phải chính danh Nếu không chính danh, đạo trị nước

không thực hiện được, quyển lực nhà nước cũng không thể tập trung trong tay nhà

vua Danh không chính thì nói không thuận Nói không thuận thì việc không

thành Việc không thành thì lễ nhạc không dấy lên Hình phạt không đúng phép

thì dân không biết đặt chân tay vào đâu ( làm thế nào cho phải) "18

Quan điểm chính danh được đề cập rải rác trong các tác phẩm kinh điển

của Nho gia, nhìn một các khái quát nội hàm của khái niệm chính danh bao hàm

ba nội dung :

- Mỗi v ậ t , mỗi người sinh ra đều có một công dụng hoặc một địa vị nhất định , ứng với mỗi địa vị, công dụng đó đều có một danh ( tên gọi)tương ứng

Nhờ vào danh người ta hiểu được thực ( bản c h ấ t) do vậy danh và thực phải phù

hợp với nhau, nếu không phù hợp khi gọi tên người ta không hiểu, không nắm

17 Luận ngữ,Bộ G iáo dục XB,Sài Gòn 1965, T ập I Ỉ I , trang 173

18 Luận ngữ, Sdd,trang 20

Trang 19

được bản chất của sự việc Do vậy Trình Tử nói:" Danh và thực cần có nhau , một việc đã cẩu thả , còn lại những việc khác đều cẩu thả cả".19

- Không những danh thực phải phù hợp, chính danh của Nho giáo còn đòi hỏi cương vị mà mỗi con người đạt được phải chính đáng; nói cách khác con đường đưa con người đến địa vị đó phải hợp pháp, chính nghĩa và được nhiều người thừa nhận

- Ở mỗi cương vị, mọi người phải làm tròn bổn phận, trách nhiệm của mình: " Chẳng ở chức vị nào thì không dự mun sự của chức vị ấy"2n Vua làm trọn đạo của vua, bầy tôi làm trọn đạo của bầy tôi, cha làm trọn đạo của cha, con làm trọn đạo của con Đặt "Tôn quân quyền" trong mối quan hệ với quan điểm

"Chính danh" yêu cẩu đặt ra đối với nhà vua - người đứng ở địa vị cai trị rất cao Khi đứng ở địa vị cai trị nghĩa là nhà vua đã được trời giao phó thiên mệnh, nhà vua đựơc mang danh thiên tử ( con trời) địa vị mà nhà vua đạt tới phải chính đáng Con đường chính đáng thứ nhất mà Nho giáo thừa nhận là truyền ngôi Phương thức truyền ngôi mà Khổng, Mạnh mơ ước là truyền hiền của thời Nghiêu,Thuấn Người truyền ngôi thay mặt trời để truyền lại mệnh trời, giao phó lại trách nhiệm trị dân cho người kế nghiệp Khi truyền ngôi cho vua Thuấn , vua Nghiêu nói ràng : hỡi ngươi Thuấn ! lịch sỗ của trời ở tại mình ngươi Hãy tin đạo trung dung, nếu để nhân dân trong bốn bể khốn cùng thì lộc trời mất hẳn

•Khi vua Thuấn nhường ngôi cho Vũ cũng dùng lời ấy để truyền m ệnh"21

Dù ca ngợi phương thức truyền hiền song Khổng, Mạnh không thể đi ngược với tập quán chính trị xuất hiện từ khi nhà nước ra đời( thời nhà Hạ) đó là tập quán truyền tử Nho gia chấp nhận con đườngchính đáng đạt tới ngôi vua là con đường truyền tử Địa vị của người đứng đầu nhà nước được thế tập theo nguyên tắc cha truyền con nối Với phương thức truyền ngôi này thiên hạ được xác định là thiên hạ của một dòng họ Đây là con đường chính thống

Ngoài con đường chính thống để đạt tới ngôi vua còn có con đường chính nghĩa : con đường phế truất các vị hôn quân tàn bạo , độc hại dân lành như Kiệt, Trụ để xác lập một triều đại m ớ i

19

Luận ngữfSđd, tập III, trang 22

20 Luận ngữ,Sđd, tập II, trang 70

21

Trang 20

Đánh giá sự chính thống hay chính nghĩa không phải do người cai trị mà đánh giá sự chính thống hay chính nghĩa đều phải xuất phát từ mệnh trời ứng với lòng dân, xuất phát từ nhu cầu lợi ích của dân chúng Dù lên ngôi bằng con đường chính thống hay chính nghĩa người ở cương vị cai trị cũng đều thuận theo

ý trời Vạn Chương hỏi rằng: vua Nghiêu đem thiên hạ cho vua Thuấn, có vậy phải không? Mạnh Tử nói: không, thiên tử không thể đem thiên hạ cho người khác Vậy thì vua Thuấn có thiên hạ là do ai cho? Mạnh Tử nói : trời cho Trời cho thì trời bảo rõ ư ? Mạnh Tử đáp : không , trời không nói, trời chỉ lấy đức hạnh

và việc làm của vua Thuấn để bảo ý thôi"22 Khi đã đạt tới cương vị cai trị bằng con đường chính đáng, nhà vua còn phải làm cho thực phù hợp với danh, nói cách khác nhà vua phải thực hiện đúng trách nhiệm, phận sự của mình Để đạt tới tiêu chuẩn của một minh quân, theo quan niệm Nho giáo, người làm vua phải kính trời, ái dân, cần chính , thân hiền và coi trọng pháp tiên vương Vua là người chịu mệnh trời, vua thay trời trị dân nên vua phải kính trời Song, kính trời phải thể hiện qua ái dân, bởi đạo Nho cho rằng " thiên nhân tương dữ " ( trời và người hiểu nhau) ,dân muốn gì trời cũng chiều theo Dân được coi là gốc của nước:" Dân là gốc của nước,gốc mà kiên cố thì nước được an ninh."23 Để ái dân, nhà vua phải làm được năm việc tốt, trừ bỏ bốn việc xấu cho dân Năm việc tốt mà người cai trị làm cho dân Làm ơn huệ cho dân mà không lãng phí, khiến dân làm việc khó nhọc mà dân không oán hận, ham muốn mà không tham lam, thư thái mà không kiêu căng, uy nghiêm mà không dữ tợ n " 24

Bốn việc xấu phải trừ bỏ cho dân:" Không giáo hoá dân, để dân phạm tội giết dân gọi là tàn ngược Không cắt đặt răn bảo người ta làm việc gì , lại muốn thấy chóng được thành công gọi là hung bạo Ra lệnh chậm trễ, lại bắt dân làm trong kỳ hạn gấp rút gọi là hại dân Chia đều vật gì cho người ta, trong khi phát

ra hay thu vào lại bỏn sẻn, gọi là kẻ hữu ty 1,25

Năm điều tốt cần làm , bốn điều xấu cần bỏ trong phận sự ái dân của vua, suy đến cùng đó là : tạo cho dân một hằng sản bằng cách tạo cho dân có việc

22 Mạnh Tử,Tập H ạ, Bộ VH giáo dục XB ,Sài gòn 1968,tran

23 Kinh thư,Sdd, trang 115

Trang 21

làm, làm lợi cho dân; tạo cho dân một hằng tâm bằng cách giáo hoá cho dân theo luân thường đạo lý và dưỡng dân bằng cách nhẹ hình phạt giảm sun th u ế

Để ái dân, đạo Nho cho rằng người làm vua phải cần chính bởi nước thịnh hay suy , trị hay loạn nguyên nhân chủ yếu là do vua siêng năng chăm lo chính sự hay lười biếng bỏ bê việc triều chính, Siêng năng chăm lo chính sự

là cần chính Cần chính là phương châm lớn trong đạo trị nước Khi trông coi chính sự, bản thân nhà vua phải muôn việc tự xét không phó thác, bỏ mặc cho quyền thần, không mê săn bắn, tửu sắc Nho giáo cho rằng làm vua vào bậc quân

tử không khi nào ngồi rồi

Chỉ cần chính thôi chưa đủ, muốn ái dân, muốn đạo trị nước theo đúng thiên ý, nhà vua còn phải thân hiền.Thân hiền là chủ trương trọng đãi, bổ nhiệm người hiền tài vào các chức vụ nhà nước.Các quan hay, dở cũng là một yếu tố quan trọng làm cho nước trị hay loạn, do vậy việc lựa chọn bổ nhiệm quan lại không nên căn cứ vào xuất thân mà nên căn cứ vào năng lực và tư cách:" Dùng người làm quan chỉ kén bậc hiền tài , các quan đại thần tả phụ , hữu bật nên dùng nguời giỏi Chức phận bề tôi , trên vì vua sửa đức vọng , dưới thì vì dân"26

Nhân tài được xác định là nguyên khí của quốc gia nên Nho giáo đưa ra chủ trưưng dưỡng sĩ và tuyển cử để bồi dưỡng đào tạo và lựa chọn nhân tài Từ chủ trương của Nho giáo, giáo dục quốc dân phát triển, trường công lập bắt đầu đặt ra, khoa cử dần trở thành phương thức tuyển bổ quan lại chủ yếu:" Phàm không nuôi kẻ sĩ mà muốn cầu hiền khác nào như không mài ngọc , mà muốn ngọc đẹp vậy cho nên muốn nuôi kẻ sĩ không gì cần bằng lập nhà thái học Nhà thái học là nơi quan hệ đến hiền tài trong nước, là cái bản nguyên của giáo hoá vậy"27

Pháp tiên vương là phận sự của nhà vua và cũng là phương châm trị đạo lớn của Nho giáo Nho giáo cho rằng việc trị nước là việc khó , người cai trị cần lấy kinh nghiệm làm trọng Pháp tiên vương là chủ trương noi theo đạo trị nước của thánh hiền đời trước Sở dĩ cần theo đạo trị nước của thánh hiền bởi thánh hiền là bậc thông minh, hiểu rõ thiên ý, đúc kết điều nhân, nghĩa , lễ, trí mà trị

26 Kinh thư, Sdd, trang 152

27 Đ ổng trọngThư, XuânThu phồn lộ, trích theo Nguyễn đăng Thục, Lịch sử TH phương

Đ ôn g.tập IV ,trang 374

Trang 22

dân, trị nước để thiên hạ thái bình Pháp tiên vương của Khổng, Mạnh lấy thời Nghiêu, Thuấn làm lý tưởng , mực thước Pháp tiên vương của hậu Nho Đổng Trọng Thư, lại lấy đạo trị nước của thời Hạ, Thương, Chu làm khuôn mẫu Dù lấy thời Nghiêu, Thuấn hay thời Tam đại làm chuẩn mực thì suy đến cùng thực chất của Pháp tiên vương là chủ trương phục cổ, coi trọng kinh nghiệm, bảo vệ phương châm trị nước mà Nho giáo dầy công xây đắp Với Pháp tiên vương, mặc dù qưyền lực tập trung trong tay nhà vua, song ý chí của nhà vua không phải là yếu

tố duy nhất định ra thể chế , chính sách cai trị Noi theo đạo trị nước của thánh hiền đời trước giúp cho chính sách cai trị của nhà vua trở nên bớt cực đoan

2.3 Trong môi quan hê với quan điểm " T u thân".

Để làm tròn các phận sự của mình, làm cho thực phù hợp với danh, danh chính ngôn thuận , để trị nước nhà vua, theo quan điểm của Nho giáo cần phải tu thân " người xưa muốn làm sáng tỏ đức sáng trong thiên hạ, trước lo trị nước Người muốn trị nước, trước lo chỉnh đốn trong nhà, người muốn chỉnh đốn trong nhà trước lo sửa mình"28

Sự tu thân của nhà vua không những là việc căn bản của cá nhân mà còn

là nền tảng cho quốc gia, cho thiên hạ:" Nhà vua phải chỉnh đốn lòng mình để chỉnh đốn triều đình, chỉnh đốn triều đình để chỉnh đốn trăm quan, chỉnh đốn trăm quan để chỉnh đốn muôn dân, chỉnh đốn muôn dân để chỉnh đốn bốn phương, bốn phương đuợc chỉnh đốn thì xa gần chẳng ai không dám một mực ngay thẳng và không còn là những tà khí can phạm vào đấy nữa"29

Những môn đệ của Nho giáo cho rằng muốn tu thân trước hết phải tinh thành cái ý của mình Muốn cho tinh thành cái ý của mình phải biết đến cùng cực, biết đến cùng cực là tại phân tích sự vật ; gốc của đạo trị nước là tu thân, gốc của tu thân là sự trau dồi trí thức, giữ cái tâm của mình cho chính, là đừng để cho sự tức giận, sự sợ h ã i, sự mê say, sự lo sợ làm cho tâm của mình không ngay thẳng Khi tâm không ngay thẳng, mắt không trông thấy, tai nghe không hiểu, ăn không biết mùi Ý cho thành thực tức là mình không dối mình, đối với bất cứ việc

28 Đ ại học.Sđd, trang 138

29 Hán Thư, trích theo L ã trấn Vũ, Lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quô'c,NXB Sự thật, Hà Nội

19 64 ,trang 382.

Trang 23

gì cũng phải luôn giữ cho mình được thành thực Người cai trị phải giữ gìn tư tưởng của mình ngay kể cả khi chỉ ngồi một mình Tâm đã chính, ý đã thành thì trí tuệ trở nên mãn nhuệ xem xét điều gì cũng sâu xa, sử sự các tình huống luôn hợp đạo lý.

Theo đạo Nho cái gốc của đạo trị nước là ở tu thân, gốc của sự tu thân là

sự trau dồi trí tuệ và đạo đức Khi đặt tư tưởng "Tôn quân quyền "trong mối quan

hệ với tu thân, người nắm quyền lực nhà nước luôn phải khắc kỷ tu thân sửa đạo theo các chuẩn mực mà đạo Nho đặt ra:" Kìa như đạo ngũ thường: nhân, nghĩa,

lễ, trí, tín ,đó là cái mà người làm vua phải tu sửa tô điểm Năm điều đó mà được

tu sửa tô điểm thì sẽ được giời giúp và quỷ thần phù hộ, đức lan ra khắp bên ngoài

và đến cả mọi loài sinh vật "30

Tu thân để chính danh, chính danh để hợp với thiên mệnh, có thiên mệnh thì ngôi vua được xác lập, quyền lực nhà nước mới được tập trung trong tay nhà vua đó là mối quan hệ hữu cơ giữa tư tưởng "Tôn quân quyền" và các quan điểm chính trị cơ bản của đạo Nho

Nếu tách rời khỏi tư tưởng "Thiên mệnh" và các quan điểm chính trị khác của đạo Nho , tư tưởng "Tôn quân quyền" trở thành một quan điểm khô cứng chỉ nhằm xác lập và củng cố quyền lực nhà nước vào trong tay một cá nhân, ô n g vua thâu tóm quyền lực, quyền lực của nhà vua vô hạn không ai có thể giám sát, hạn chế quyền lực sẽ tạo ra một ông vua chuyên chế cực đoan

Đặt tư tưởng "Tôn quân quyền"trong tổng thể các quan điểm chính trị cơ bản của đạo Nho người ta thấy toát lên sự thần bí huyền diệu và nhân bản của tư tưởng này Sự thần bí huyền diệu của tư tưởng "Tôn quân quyền" có được là do " Thiên mệnh" trao cho Sự thần bí hoá vương quyền tạo cho tư tưởng" Tôn quân quyền" một sức mạnh mà không một sức mạnh vật chất nào có thể định nổi đó

là sức mạnh tâm linh Thiên mệnh vừa lý giải nguồn gốc của quyền lực, bảo vệ quyền lực của nhà vua bảo vệ trật tự đẳng cấp trong xã hôi, vừa xoa dịu tinh thần dân chúng ,xoa dịu mâu thuẫn xã hội

30

Hán Thư, trích theo L ã trấn V ũ,Sđd,trang 38 1.

Trang 24

Không chỉ hướng tới sự tâp trung quyền lực vào tay nhà vua, các quan điểm chính trị cơ bản còn đòi hỏi người cai trị khắc kỷ, tu thân, tu dưỡng đạo đức, lấy dân làm gốc, coi trọng hiền tài noi theo phép cũ Cùng với đường lối cai trị đức trị xách vật, trí tri,tu thân,tề gia,trị quốc; mệnh trời, ý dân; chính danh ; các quan điểm đó khiến người cai trị dù thâu tóm được quyền lực vẫn không thể đưa ra chính sách cực đoan , hà khắc theo ý chí của mình.

3 Quá trình tư tưởng "Tôn quân quyên" trở thành nguyên tắc cơ bản trong tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến.

3.1 Quá trình tư tưởng" Tôn quân quyền " trở thành nguyên tắc cơ bản trong

tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến Trung Quốc.

Xuất hiện từ thời Xuân Thu ( thế kỷ VIII đến thế kỷ thứ V TCN) song, tư tưởng" Tôn quân quyền" của đạo Nho lúc đó chỉ là lý tưởng chính trị xa vời Khổng Tử từng mơ ước: Ví thực có người dùng ta làm việc chính trị, thì đủ 12 tháng, kỷ cương trong nước đã khá rồi, trong ba năm việc chính trị được thành công Sử ký củaTư Mã Thiên đã khái quát về sự lận đận của Khổng Tử trong chốn quan trường:"Khổng Tử nghèo hèn, khi lớn lên làm lại cho họ Quý, việc tính toán

đo lường đúng đắn , nên được làm chức quan coi súc vật súc vật đông đúc sinh

đẻ nhiều nên làm được Tư không đưực ít lâu sau Khổng Tử rời khỏi nước Lỗ, bị ruồng bỏ ở nước Tề, bị đuổi ở nước Tống và về nước Vệ, bị nguy khốn ở giữa miền nước Trần và nước Thái cuối cùng trở lại về nước Lỗ"31 Các nước chư hầu

Lỗ, Tề ,Tống, Sở, Trần, không trọng dụng Khổng Tử và các môn sinh của ông bởi

tư tưởng tòng Chu , tư tưởng khôi phục quyền iực cho thiên tử nhà Chu của chính

họ Tư tưởng khôi phục lại quyền lực cho thiên tử nhà Chu không phù hợp với cục diện chính trị chia năm xẻ bẩy ở giai đoạn cuối Chu Chủ trương tập trung quyền lực vào trong tay một ông vua trị dân theo đúng lối đức trị,thật sự xa lạ với các vua chư hầu hôn quân vô đạo, xa rời tu thân, ham sắc hơn ham đức Tư tưởng đó trở thành vật cản cho chư hầu các nước trên con đường tranh giành quyền bính, đất đai

Để chấm dứt tình trạng loạn lạc, thống nhất Trung nguyên, giai cấp thống trị không thể sử dụng nhân nghĩa và Tôn quân của Nho gia Giai cấp thống trị cần

31 Tư M ã Thiên ,sửký,NXB Văn học,Hà Nội 1988,trang 214

Trang 25

tới sự hỗ trợ về tư tưởng để thống nhất thiên hạ bằng bạo lực và tư tưởng pháp trị ( cai trị xã hội bằng pháp luật ) đã chiếm được ưu thế hơn so với đức trị cuả Nho gia.Nhiều nước chư hầu đã sử dụng tư tưởng pháp trị vào việc trị nước, việc vận dụng tư tưởng đó làm cho nước mạnh, binh cường như Tề, Trịnh ; song nước có thay đổi lớn nhất khi sử dụng tư tưởng pháp trị phải kể đến Tần Pháp - Thế - Thuật của pháp trị tạo cho nhà Tần một sức mạnh vật chất đủ để thống nhất thiên

hạ bằng vũ lực , Trung Quốc quy về một m ố i Song pháp trị chỉ thống nhất Trung Quốc về lãnh thổ mà không thống nhất được nhân tâm, nhà Tần đã coi pháp luật

là chỗ dựa, thế (uy quyền, quyền lực) của vua là sức mạnh , thuật (thủ đoạn cai trị) là đòn bẩy để vua trị nước Với Pháp - Thế - Thuật quyền lực nhà nước tập trưng vào tay nhà vua, song sự tập trung quyền lực theo tư tưởng pháp trị bị đẩy đến tình trạng cực đoan Trong nước mọi vấn đề về chính sự nhất nhất do nhà vua độc tài quyết định Sự độc đoán chuyên quyền trong cai trị của nhà Tần tạo ra sự phản đối dữ dội trong nhân dân, nhất là các Nho sĩ Để củng cố quyền lực của mình, hoàng đế nhà Tần tăng cường sử dụng vũ lực để đàn áp , pháp luật hà khắc

để ràng buộc.Càng điên cuồng phần thư , khanh Nho (đốt sách chôn Nho ) điên cuồng sử dụng hình phạt để trị nước thì sự ghê sợ chống đối của dân chúng đối với nhà Tần càng cao Vương triều nhà Tần bị đẩy đến hoạ diệt vong ở đời Tần Nhị T h ế

Kế thừa một thiên hạ thống nhất về lãnh thổ của nhà Tần, nhà Hán tìm cách thống nhất nhân tâm Từ kinh nghiệm của nhà Tần , Hán Cao tổ đã nhận thức được một vấn đề quan trọng : Ngồi trên lưng ngựa chiếm được cả thiên hạ, song không thể ngồi trên lưng ngựa để cai trị thiên hạ Các hoàng đế nhà Hán kiếm tìm một chỗ dựa về tư tưởng, một cách thức tổ chức cho bộ máy cai trị của mình Pháp trị thất bại cùng với nhà Tần , các học thuyết " vô vi " của Lão Tử , thuyết "vị ngã " của Dương Chu , thuyết " kiêm ái " của Mặc Địch đều không làm hài lòng hoàng đế nhà Hán Nho giáo Khổng, Mạnh ( Nho giáo nguyên thuỷ) dù có tạo ra cơ sở lý luận cho sự tập trung quyền lực vào trong tay hoàng

đế, tạo ra một trật tự đẳng cấp xã hội theo danh phận song chưa đáp ứng được yêu cầu của hoàn cảnh mới

Thiên hạ thống nhất, nhà nước trung ương tập quyền được xác lập , đòi hỏi phải có một hệ tư tưởng hoàn chỉnh làm chỗ dựa cho hoàng đế Hệ tư tưởng đó

Trang 26

phải khiến thiên hạ tôn sùng hoàng đế, tuân thủ mệnh lệnh của hoàng đế một cách vô điều kiện ; sẵn sàng hi sinh vì hoàng đ ế Trước hoàn cảnh ấy để trở thành

ý thức hệ tư tưởng chính trị pháp lý chính thống, Nho giáo cần có sự thay đổi và hoàn thiện

Nếu Nho giáo nguyên thuỷ ít nói đến đạo trời nói nhiều đến đạo người , chuyên chú đi sâu vào các vấn đề đạo đức, chính trị xã hội thì Hán Nho với Đổng Trọng Thư đã ra sức thần bí hoá vương quyền, đề cao thuyết "Thiên mệnh" Hán Nho đã hợp nhất ba vai trò trong cá nhân nhà vua Nhà vua vừa là người gia trưởng, vừa là người cai trị thiên hạ, vừa là người thay trời hành đạo Đóng góp của Đổng Trọng Thư vừa làm cho học thuyết của Khổng Mạnh được hệ thống , phát triển hoàn thiện hơn trước , vừa làm cho vương quyền gắn bó chặt chẽ với thần quyền

Nho giáo nói chung, tư tưởng "Tôn quân quyền" nói riêng đã đáp ứng những nhu cầu cơ bản của hoàn cảnh mới Nho giáo giúp nhà Hán củng cố được quân quyền ổn định được trật tự xã hội, xoa dịu được lòng dân Với đóng góp lớn lao ấy Nho giáo từ thòi Hán Vũ Đế đã trở thành tư tưởng chính trị pháp lý chính thống, tư tưởng "Tôn quân quyền" trở thành nguyên tắc cơ bản trong bộ máy nhà nước phong kiến Trung Quốc từ Hán, Đường, Tống, Nguyên cho đến Minh, Thanh Nguyên tắc "Tôn quân quyền" đã làm cho bộ máy nhà nước phong kiến Trung Quốc có sự tập trung quyền lực rất cao vào hoàng đế , địa vị và uy quyền của nhà vua chuyên chế ngày càng được củng cố

3.2 Quá trình tư tưởng" Tôn quản quyền" trở thành nguyên tắc cơ bản trong

tô chức bộ máy nhà nước phong kiến Việt nam

Sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc, thế kỷ X nền độc lập của dân tộc Việt Nam được xác lập trở lại Mặc dù nhà nước thế kỷ X là kết quả của cuộc đấu tranh chống đồng hoá giành độc lập bền bỉ lâu dài của nhân dân ta ; song khi tổ chức bộ máy nhà nước giai cấp thống trị Việt Nam đã tiếp thu mô hình tổ chức bộ máy nhà nước của chính quốc gia đã từng chinh phục, đô hộ Việt Nam trong lịch

sử : mô hình tổ chức bộ máy nhà nước của phong kiến Trung Quốc Sự lựa chọn tiếp thu đó không phải là sự lựa chọn ngẫu nhiên mà chính là sự lựa chọn có ý thức của giai cấp thống trị Việt Nam Ngoài lý do tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến Trung Quốc được xây dựng dựa trên một nền văn hoá chính trị pháp

Trang 27

lý cao đã được tổ chức xây dựng và kiểm nghiệm trong lịch sử Trung Quốc, kiểm nghiệm khi xây dựng chính quyền đô hộ trong một ngàn năm Bắc thuộc ở quốc gia Âu Lạc cũ ; việc tiếp thu mô hình tổ chức bộ máy nhà nước của phong kiến Trung Quốc còn xuất phát từ chính nhu cầu phát sinh trong đời sống kinh tế xã hội, từ việc thực hiện chức năng của nhà nước thế kỷ X ,

Thế kỷ X, khi nhà nước độc lập được xác lập trở lại nhà nước phải đương đầu với hàng loạt khó khăn.Do hậu quả của 10 thế kỷ Bắc thuộc, trên lãnh thổ của cộng đồng người Việt xuất hiện các lực lượng xã hội có tiềm năng kinh tế lớn, có

uy tín về chính trị Khi nhà nước độc lập thực thi những chính sách động chạm đến những lực lượng này làm xuất hiện các thế lực chống đối lại nhà nước, nạn cát cứ thường xuyên trỗi dậy Dù thất bại ,phong kiến phương Bắc chưa từ bỏ dã tâm xâm lược trở lại Chức năng cơ bản hàng đầu của nhà nước thời kỳ này là chức năng đối ngoại, chống ngoại xâm và chức năng trấn áp các thế lực cát cứ

Để an dân ,nhà nước thế kỷ X, bên cạnh việc bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch, lập sổ hộ khẩu giao cho quản giáp trông coi ,nhà nước phải tìm cách khắc phục sự bất lợi về địa lý tự nhiên, khắc phục tình trạng hạn hán lũ lụt để phát triển sản xuất Chức năng trị thuỷ làm thuỷ lợi cũng trở thành chức năng quan trọng của nhà nước Để thực hiện các chức năng cơ bản , quan trọng đó, xu hướng tất yếu của nhà nước thế kỷ X là phải tổ chức xây dựng bộ máy nhà nước tập quyền

Như vậy thế kỷ X là kết quả của quá trình đấu tranh chống đồng hoá của phong kiến phương Bắc, song do điều kiện trực tiếp hiện có và quá khứ để lại, do

sự chi phối của việc thực hiện chức năng nhà nước, nhà nước thế kỷ X đã học tập ,tiếp thu cách thức tổ chức bộ máy nhà nước của phong kiến Trung Quốc Trong buổi đầu xây dựng bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập quyền, tổ chức bộ máy nhà nước còn đơn giản, chế độ quan lại chưa rõ ràng Thời kỳ này Nho giáo chưa trở thành ý thức hệ tư tưởng chính trị pháp lý chính thống , tư tưởng "Tôn quân quyền" và các quan điểm chính trị mà Nho giáo đưa ra cũng chưa trở thành các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước

Sở dĩ đạo Nho chưa trở thành tư tưởng pháp lý chính thống bởi tư tưởng

kỳ thị đạo Nho của người Việt Với các quan điểm "Tôn quân quyền", "Chính danh" , "Thiên mệnh" , Nho giáo khi vào Âu lạc trong 10 thế kỷ Bắc thuộc đã

Trang 28

buộc người Việt đề cao, coi trọng, tuân thủ quyền lực của hoàng đế Trung Hoa,

do vậy đạo Nho được coi là công cụ tư tưởng của kẻ xâm lược Tư tưởng ấy tồn tại cho đến khi người Việt giành được độc lập

Thế kỷ XI - XIV nhà nước trung ương tập quyền ngày càng được củng cố vững chắc Phật giáo được đưa lên hàng quốc giáo Phật giáo dù được sùng thượng đến đâu , dù đã cố gắng nhập thế song phật giáo với tư tưởng từ bi, hỉ xả, chú trọng hướng tới việc giải thoát tư tưởng con người hơn là chú ý đến việc củng

cố trật tự gia đình, dòng họ, củng cố vương quyền v.v Phật giáo không phải là đạo dùng để trị nước Để quyền lực tập trung vào trong tay nhà vua, để đề cao địa

vị tối thượng của nhà vua, củng cố nhà nước trung ương tập quyền, không có một luồng tư tưởng nào có thể làm tốt sứ mạng đó hơn đạo Nho Mặc dù vậy ,giai đoạn này Nho giáo vẫn chưa được coi trọng Các ông vua Lý -Trần , với lòng tự tôn dân tộc một mặt mơ ước xây dựng một xã hội giống Đường Ngu - Nghiêu Thuấn của Nho giáo ; một mặt vẫn tìm kiếm một mô hình tổ chức bộ máy nhà nước, một phương thức trị nước riêng, khác biệt với phong kiến phương Bắc Khi các triều thần như Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát muốn thay đổi chế độ cho giống với phương Bắc,hoàng đế Minh Tông của nhà Trần đã nói: " Nhà nước có phép tắc nhất định, Nam - Bắc khác nhau, nếu nghe theo kế của kẻ học trò mặt trắng tìm đường tiến thân thì sinh loạn ngay "32

Trong thế giằng co về tư tưởng chính trị- pháp lý, bộ máy nhà nước phong kiến Lý- Trần vừa có những nét đặc trưng thuần Việt, vừa có những điểm tương đồng với tổ chức bộ máy của nhà nước phong kiến Trung Quốc Nhìn vào tổ chức

bộ máy nhà nước phong kiến Lý Trần, nguyên tắc "Tôn quân quyền" của đạo Nho bước đầu đã được áp dụng Quyền lực nhà nướcdo vậy chưa tập trung trong tay nhà vua cao độ Sự cách biệt giữa nhà vua với những người trong hoàng tộc chưa lớn Nhà vua thường ăn cùng mâm, ngủ cùng giường với những người trong hoàng tộc Bản thán nhà vua xác định thiên hạ là thiên hạ của một dòng họ, bản thân nhà vua chỉ là người đại diện trị v ì T h i ê n hạ là thiên hạ của tổ tông , người nối nghiệp của tổ tông nên cùng với anh em trong họ cùng hưởng phú quý, tuy bên ngoài thì là cả thiên hạ phụng một người tôn quý nhưng bên trong thì ta cùng với các khanh là đồng bào ruột thịt, lo thì cùng lo, vui thì cùng vui, các khanh nên

Đ ại V iệt sử kỷ toàn thư,tập II, Nhà xuất bản Sài Gòn 1965 ,trang 145

Trang 29

nhớ lấy câu nổi ấy mà truyền cho con cháu để nhớ lâu đừng quên ; thế là phúc muôn năm của tôn miếu xã tắc vậy"33.

Nắm trong tay cả vương quyền và thần quyền, dù tuyên bố trong chiếu dời đô:" Trên thuận mệnh trời , dưới theo lòng dân", song trong lĩnh vực thần quyền, các ông vua Lý- Trần, khi thực hiện chức năng tế tự thường hướng tới các tín ngưỡng dân gian có liên quan đến phát triển sản xuất nông nghiệp, đến đời sống dân chúng như : tế Thần Nông, tế Thần Đất, lập đàn phong vân cầu mưa hơn là việc củng cố uy quyền thần thánh của cá nhân nhà vua Có thể nói rằng các ông vua thời Lý Trần dù đã nắm trong tay quyền lực nhà nước theo nguyên tắc Tôn quân quyền, song đày là giai đoạn áp dụng mang tính thử nghiệm nguyên tắc Tôn quân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước nên nguyên tắc này chưa được áp dụng một các triệt để

Với chiến thắng vĩ đại của nhân dân Đại Việt vào đầu thế kỷ thứ XV, triều hậu Lê được xác lập Nho giáo sau một thời gian thử nghiệm từ thế kỷ thứ XI cho đến thế kỷ thứ XV cùng với đóng góp to lớn của nó trong cuộc kháng chiến chống Minh đã trở thành tư tưởng chính trị pháp lý chính thống của triều hậu Lê Cùng với Nho giáo, tư tưởng "Tồn quân quyền" được chính thức trở thành nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước phong kiến hậu Lê; nguyên tắc này được xác nhận trong đạo dụ Hiệu định quan chế (Hoàng triều quan c h ế ) ban hành năm 1471 Ngày nay, đất đai bản chương, so với thời trước thật khác nhau xa : vì vậy, trẫm không thể không tự cầm quyền chế tác , làm cho hết cái đạo biến thông"34 Nguyên tắc "Tôn quân quyền" đã chi phối tổ chức vào hoạt động của bộ máy nhà nước phong kiến suốt thời Lê Sơ ( 1428 -

1527 ) Nguyên tắc này đã làm cho mức độ tập trung quyền lực nhà nước vào trong tay vua Lê một cách cao độ , bộ máy nhà nước giai đoạn này đã hoàn thiện

về mặt khuôn mẫu theo nguyên tắc "Tôn quân quyền"

Khác với thời Lê sơ, thời Lê mạt (1532-1789) nội chiến Trịnh- Nguyễn chia cắt Đại Việt thành hai khu vực Đàng Trong ,Đàng Ngoài cùng với lưỡng đầu chế Lê -Trịnh ở Đàng Ngoài làm cho thực quyền không còn nằm trong tay vua

Lê, nguyên tắc "Tôn quân quyền" chỉ mang tính hình thức trong tổ chức bộ máy

33 Đ ại V iệt sử ký toàn thư,tập n,Scỉd, trang 37

34 Đ ại Việt sử ký toàn thư,tập III, Sđd, trang 240

Trang 30

nhà nước Nguyên tắc "Tôn quân quyền" được áp dụng trở lại một cách triệt để trong thời kỳ nhà Nguyễn Được xác lập sau gần ba trăm năm nội chiến phân liệ t, các hoàng đế nhà Nguyễn có một bài học lịch sử xương máu về sự lạm quyền của triều thần Sự lạm quyền của triều thần là nguyên nhân cơ bản dẫn đến nội chiến phân liệt Các hoàng đế nhà Nguyễn tìm mọi biện pháp để thâu tóm quyền lực

Dù không đưa ra một văn bản pháp lý riêng biệt chính thức thừa nhận Tôn quân quyền là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước như triều Lê; song cải cách của các hoàng đế triều Nguyễn thời phong kiến đều hướng tới việc loại trừ tình trạng lạm, lộng quyền của triều thần để tập trung quyền lực vào trong tay nhà vua theo nguyên tắc "Tôn quân quyền" Bộ máy nhà nước phong kiến Nguyễn đạt tới mức chuyên chế như một học giả ngừơi Pháp nhận xét Nguyên lý quyền hành to quá mức Hệ thống chính quyền như thế là quân chủ tuyệt đối, không có kiểm tra, không có hiến pháp thực, không có giới hạn nào khác hơn là một phong tục mạnh mẽ đã hầu như trở thành lệ, không có một văn bản từ xưa truyền từ triều đại này qua triều đại kia"35 Nguyên tắc Tôn quân quyền được áp dụng triệt để trong thời kỳ Lê sơ và thời phong kiến Nguyễn

đã tạo ra một nhà nước trung ương tập quyền vững mạnh , thực hiện tốt những chức năng cơ bản quyết định vấn đề sinh tổn đối với cộng đổng , quốc gia của người V iệ t: chức năng chống ngoại xâm ; chức năng trị thuỷ, làm thuỷ lợi

35

Luro- Le p a y s d A nnam, trích theo Lịch sử c h ế độ Phong kiến V N tập III, NXB Giáo dục,Hà nội 1060,trang 430.

Trang 31

Chương II

TỔ CHỨC B ộ MÁY NHÀ NƯỚC PHONG KIÊN TH Ờ I LÊ s ơ

VÀ TH Ờ I NGUYỄN THEO NGUYÊN TẮC "TÔN QUÂN QUYEN"

Dù nguyên tắc" Tôn quân quyền "là sự lựa chọn có ý thức của hoàng đế triều Lê và triều Nguyễn trong tổ chức bộ máy nhà nước, song để trả ơn các công thần có công xác lập triều đại, để giành thời gian củng cố ổn định lại đời sống cho nhân dân, nên thời kỳ đầu của các triều đại các ông vua chưa thể tiến hành cải tổ bộ máy nhà nước, bộ máy nhà nứoc còn lỏng lẻo, nhiều tầng lớp trung gian , chế độ quan laị chưa rõ ràng Để nguyên tắc "Tôn quân quyền" trở thành nguyên tắc cơ bản trong tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến , người kế nghiệp của các triều đại Lê, Nguyễn đều phải tiến hành cải tổ bộ máy nhà nước, hai cuộc cải tổ đựoc coi là lớn nhất và thành công nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam là công cuộc cải tổ bộ máy nhà nước của Lê Thánh Tông ( triều

Lê ) và công cuộc cải tổ bộ máy nhà nước của Minh Mạng ( triều Nguyễn )

Dù cách nhau gần bốn trăm năm song các biện pháp cải tổ mà hai ông vua nổi tiếng thực thi đều có nét tương đồng

Biện pháp thứ n h ấ t: tản quyền hạn trong việc thực thi quyền lực nhà nước cho các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương

Biện pháp thứ hai : các cơ quan nhà nước tăng cường kiểm tra giám sát lẫn nhau

Biện pháp thứ ba: bỏ bớt các cơ quan , chức quan trung gian

Với ba biện pháp đó bộ máy nhà nước triều Lê từ thời Lê Thánh tông và

bộ máy nhà nước triều Nguyễn từ thời Minh Mạng được củng cố và hoàn thiện đảm bảo sự tập trung quyền lực nhà nước vào trong tay nhà vua, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy quan liêu được tăng cường thêm một bước

I H oàng đ ế.

1.1 H oàng đê triều Lê

Năm 1428, kháng chiến chống Minh thắng lợi; triều đại hậu Lê được xác lập Nho giáo ngay từ đầu đã trở thành chỗ dựa vững chắc về tư tưởng cho các vị hoàng đế nhà Lê Tư tưởng"Thiên mệnh" và tư tưởng "Chính danh" của đạo Nho

đã được Lê Lợi vận dụng để xác lập địa vị và quyền lực chân chính của triều đại

Trang 32

mình Bài cáo bình Ngô được bố cáo khắp thiên hạ, khẳng định mệnh trời được trao vào trong tay nhà Lê:" Thay trời hành hoá, Hoàng Thượng dụ rằng"36.

Niên hiệu đầu tiên được hoàng đế nhà Lê sử dụng là niên hiệu Thuận Thiên ( thuận theo ý trời ) Ngày 15, vua lên ngôi hoàng đế ở Đông Kinh đại xá cho thiên hạ , đổi niên hiệu là Thuận Thiên, đặt quốc hiệu là Đại Việt, đóng đô ở Đông Kinh ”37

Xuất phát từ địa vị thế thiên hành đạo, hoàng đế nhà Lê đứng ở vị trí chí tôn: đứng đầu bộ máy nhà nước phong kiến, nắm toàn bộ quyền lực nhà nước tối cao Dưới triều Lê Lợi, bộ máy nhà nước có mức độ tập trung quyền lực vào trong tay nhà vua chưa cao Lê Lợi xuất thân từ một địa chủ bình dân, quen với chinh chiến hơn là điều hành chính sự, số lượng công thần xuất thân từ võ quan cần được đãi ngộ, hậu quả của chiến tranh quá nặng nề cần được khắc phục là những nguyên nhân cơ bản khiến Lê Lợi chưa thể thâu tóm cao độ quyền lực nhà nước Các ông vua kế nghiệp Lê Lợi : Thái Tông, Nhân Tông có thời gian cầm quyền ngắn ngủi cũng chưa thể tiến hành cải tổ bộ máy nhà nước.Sau cải cách của Lê Thánh Tông- ông vua thứ tư của thời Lê sơ, quyền lực nhà nước tập trung cao độ vào trong tay nhà vua

Vua Lê nắm trong tay cả thế quyển và thẩn quyền Thế quyển của nhà vua hiện hữu trong tất cả các lĩnh vực : chính trị, kinh t ế , quân sự, văn hoá giáo dục

Trong lĩnh vực chính t r ị : vua Lê nắm trong tay cả 3 quyền lập pháp ,hành

pháp và tư pháp

Về lập pháp : nhà vua là người duy nhất có thẩm quyền ban hành pháp

luật Nhà vua là nguồn gốc của pháp luật , ý chí của nhà vua dù thể hiện qua văn bản hay khẩu truyền đều trở thành pháp luật Các bản án điển hình muốn trở thành tiền lệ pháp phải được nhà vua phê duyệt hoặc do vua trực tiếp xét xử Dù thừa nhận lệ làng, song dưới triều Lê , lệ làng phải được văn bản hoá và qua huyện quan thẩm định, không trái với luật nước mới chính thức phát sinh hiệu lực

36 H oài Việt, Nguyễn Trãi, NXB Văn H oá,H à N ội 1998, trang 204

37 Đ ạ i Việt sử ký toàn thư, tập III, Sđd, trang 61.

Trang 33

Về hành pháp: vua Lê đóng vai trò là người đứng đầu nền hành chính

quốc gia Vua là người quy định chức năng, nhiệm vụ, bổ nhiệm, bãi miễn , điều động các chức quan, cơ quan trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước ; là người đưa ra quyết định cao nhất và cuối cùng về quản lý hành chính nhà nước

So với các triều vua trước,ở thời Lê Thánh Tông quyền hành pháp tập trung cao

độ hơn vào trong tay nhà vua Trước Lê Thánh Tông quyền hành pháp tuy thuộc nhà vua , song nhà vua uỷ quyền cho viên quan trung gian giữa vua và bách quan

là tể tướng thực thi quyền hành pháp Ý thức được tầm quan trọng của việc thâu tóm quyền hành pháp , khi cải tổ bộ máy nhà nước Lê Thánh Tông đã phản đối chế độ tể tướng của các triều đại phong kiến Trung Quốc, gây ra tình trạng chuyên quyền , lấn át nhà vua Nhà Hán , Đường , Tống trở xuống thường noi theo phép cũ của nhà Tần lấy một người thừa chính Được như họ Tiêu, họ Tào,

họ Bính chỉ độ vài người thôi Còn những kẻ trộm giữ uy phúc , che lấp thông minh, dựng bè đảng để bền quyền, rộng lòng tham làm lầm nước , rút cục đều đổ tôn tự, vạ sinh linh, như lũ Trương Vũ, Khổng Quang chưa dễ kể hết "38 Khi cải cách Lê Thánh Tông đã loại bỏ chức quan tể tướng thâu tóm quyền hành pháp vào tay mình

Về tư pháp: vua đóng vai trò là một vị thẩm phán giữ quyền tài phán cao

n h ấ t Vua là người quy định bổ nhiệm, bãi miễn, thăng giáng các chức quan thực hiện chức năng tư pháp Mọi bản án do nhà vua đã xét dù sơ thẩm hay phúc thẩm đểu có giá trị chung thẩm, không một cơ quan nào có quyền xét xử lại Quyền tư pháp tối cao còn thể hiện ở chỗ nhà vua toàn quyền đại xá, đặc xá tù , tội nhân

Trong lĩnh vực kinh t ế : vua là chủ sở hữu toàn bộ đất đai, tài nguyên

khoáng sản trong cả nước Để khẳng định quyền sở hữu của mình nhà vua là người duy nhất có quyền phong cấp, thu hồi đất đai, ban phát tài sản của đất nước

Trong lĩnh vực quân sự : vua Lê đóng vai trò tổng tư lệnh quân đội, nắm

quvền thăng giáng , bổ nhiệm, bãi miễn hệ thống võ quan Quyền lực của nhà vua trong lĩnh vực quân sự còn được tăng cường hơn một bước Nếu trước đây, dưới thòi Lý, Trần, quyền điều động quân đội thuộc về viên quan đứng đầu ngạch quan

T O

Phan H uy Lê, Lịch sử c h ế đ ộ phong kiến V N ,T ập II, Sđd, trang 149

Trang 34

võ : quan Thái uý thì dưới thời Lê Thánh Tông quyền điều động quân đội do nhà vua trực tiếp thâu tóm.

Trong lĩnh vực ngoại giao, hoàng đế là người duy nhất được các nước lân

bang thừa nhận là người đại diện hợp pháp cho quốc gia, xã tắc Trong quan hệ với phong kiến phương Bắc, chỉ hoàng đế là người được phong kiến phương Bắc sách phong vương Hoàng đế cũng là người duy nhất tiếp sứ thần các nước, cử các sứ thần đi bang giao, là ngừoi quyết định chính sách bang giao với các nước

Trong lĩnh vực văn hoá giáo dục : kể từ thời Lê Thánh Tông, hoàng đế

định ra phép thi Hương, sửa phép thi Hội , thi Đình của các triều đại trước đặt ra Vua là người ra đề bài thi Đình là giám khảo chấm thi Đình , là người xét duyệt

tư cách của các sĩ tử đỗ đạt qua khoa cử

Để phong tục, tập quán trong dân gian phù hợp với tư tưởng pháp lý chính thống với vai trò " phụ mẫu chi dân", vua Lê còn nắm quyền sửa đổi phong tục tập quán, giáo hoá dân chúng Dưới triều Lê Thánh Tông, Lê Thánh Tông đã ban hành 24 điều giáo hoá dân chúng để loại trừ các phong tục tập quán lạc hậu Không chỉ nắm thế quyền, hoàng đế nhà Lê còn nắm cả thần quyền: xuất phát từ

tư tưởng thiên mệnh trong quốc gia chỉ có vua Lê nắm quyền chủ trì các lễ nghi tôn giáo , tiến hành các lễ tế trời, đất Vua là người duy nhất ban hành các dạo sắc phong thần; phong cho các thế lực siêu nhiên thần bí như thần núi, thần sông , thành hoàng , thổ địa Thần quyền là quyền mà trời trao cho vua, thần quyền là chỗ dựa vững chắc của vương quyền do vậy mà quyền lực của nhà vua trở lên vô hạn, không có một cơ quan ,một chức quan hiện hữu nào dưới triều Lê có thể kiểm s o á t, hạn chế được quyền lực của nhà vua

Ngoài thế quyền và thần quyền nhà vua còn có ưu quyền :

- Quyền được kiêng tên huý, những chữ phạm phải tên huý nhà vua và tên huý của hoàng thân,quốc thích ,cư dân trong nước không được nói và viết chính xác , phải đọc chệch , phải viết thiếu n é t

- Quyền được dùng mỹ tự: phàm những gì thuộc về nhà vua khi nhắc tới luôn phải dùng các phụ từ đặc biệt: long , thánh , ngọc, ngự

- Quyền đựoc mặc y phục có mầu vàng : tất cả quan lại và thường dân không được ăn mặc quần áo mầu vàng

Trang 35

-Vua được thần thánh hoá.khi miêu tả nhà vua các sử quan tạo ra những nét siêu phàm trong hình dáng và tính cách Những ưu quyền của nhà vua được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Nếu người nào có hành vi xâm hại đến ưu quyền của vua sẽ bị khép vào tội khi quân và hình phạt áp dụng đặc biệt nghiêm khắc Điều 125, Bộ quốc triều hình luật quy định: dâng thư hay tâu việc gì mà lại lầm phạm đến tên vua hay tên huý của các vua trước thì xử phạt 60 trượng, biếm 2 tư.

Với việc nắm trong tay cả ưu quyền , thế quyền, thần quyền , quyền lực nhà nước tập trung cao độ vào trong tay vua Lê

1.2 H oàng Đ ế triều Nguyễn

Năm 1802, Nguyễn Ánh sau khi lật đổ vương triều Tây Sơn, đã lên ngôi hoàng đế , đặt niên hiệu Gia Long Hoàng đế Gia Long đã thống nhất lãnh thổ quốc gia từ mục Nam Quan đến mũi Cà Mau , chấm dứt hoàn toàn gần 300 năm nội chiến , phân liệt Lãnh thổ thống nhất nhưng lòng người còn ly tán Tư tưởng hoài Lê vọng Trịnh còn tồn tại ở Bắc Hà , các công thần các đại địa chủ phía Nam từng nếm mật nằm gai cùng Nguyễn Ánh xưa kia nay cũng đến lúc phải trả công Nội chiến phân liệt kéo dài, khiến các vùng miền trong lãnh thổ Đại Nam của triều Nguyễn vừa có sự khác biệt về kinh tế, văn hoá, tập quán .Những nguyên nhân trên khiến Gia Long dù mong muốn thống nhất về chính trị để thâu tóm quyền lực cũng buộc phải tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng địa phương phân quyền Gia Long chia Đại Nam thành ba khu vực :

Các quan cai trị ở Bắc thành ,Gia dịnh thành chỉ nhận chỉ thị và chịu sự điều khiển trực tiếp của các quan Tổng trấn mà không được giao thiệp bằng văn

39 Q uốc sử quán triều Nguyên, Đ ại nam thực lục chính biên, NXB s ử học, Hà nội 1963, tập III, trang 80

Trang 36

thư với các bộ, không được tâu thẳng công việc lên Hoàng đế Triều đình trung ương cũng chỉ liên hệ với các Tổng trấn trong công việc cai trị Chính quyền trung ương, dù được tổ chức theo mô hình thời Lê sơ, song hết sức lỏng lẻo và kém hiệu quả Tổ chức quyền lực tối cao lúc này là nhà vua song quyền lực nhà nước chưa tập trung vào trong tay vua Hoài bão thống nhất về chính trị của Gia Long chỉ được thực hiện một cách trọn vẹn dưới triều Minh Mạng Nguyên tắc

"Tôn quân quyền" được áp dụng một cách triệt để trong bộ máy nhà nước sau cải cách của Minh Mạng Giống các vị hoàng đế ở triều Lê sơ, hoàng đế Minh Mạng

là vị nguyên thủ quốc gia nắm trong tay cả thế quyền, ưu quyền và thần quyền Song, mức độ thâu tóm quyền lực nhà nước vào tay hoàng đế còn cao độ hơn hẳn thời Lê Để loại trừ tình trạng lạm quyền, lộng quyền của người thân và các đại thần ,Minh Mạng đặt ra lệ tứ b ấ t:

- Không đặt tể tướng

Không lập hoàng hậu

Không lấy trạng nguyên

- Không phong vương cho những người ngoài hoàng tộc ( thậm chí người trong hoàng tộc chỉ được phong vương khi đã c h ế t)

Du đã thực hiện chính sách "Đôn thân",song đối với những người trong hoàng tộc, hoàng đế triều Nguyễn chỉ trọng đãi mà không trọng dụng Người trong hoàng tộc kể cả hoàng tử cũng không được tham gia triều chính, không được kết giao với các quan chức trong triều Năm Minh Mạng thứ 17( 1836 ), Minh Mạng ban dụ cấm quan chức không được vào tư yết phủ đệ và khuyến cáo các hoàng tử không đựoc giao du với các quan chức :"Các hoàng tử, thân công đều nên tu tiến kịp thời, đi đứng ra vào hợp lễ, còn việc chính trị trong triều đình, vốn không liên quan đến và các quan trong triều, ai có chức phận nấy, vốn không can thiệp, phàm quan viên nào cùng với hoàng thân giao thông, tội đến cách chức

và bị đuổi Đó là việc ngăn ngừa lo xa rất xác đáng vậy Trẫm kính tuân phép tắc đời trước, những phẩm chất then chốt ấy cần đựoc giữ gìn chu mật Xưa nay, các hoàng tử và thân công đều không can dự vào việc ngoài và đưa thư đến các nha môn, đó là ngăn tuyệt mối tư giao, để nêu rõ pháp luật "40

Trang 37

Như vậy để thâu tóm quyền lực nhà nước theo nguyên tắc "Tôn quân quyền", hoàng đế nhà Nguyễn nhất là Minh Mạng đã tìm cách loại trừ các trường hợp dẫn đến khuynh hướng lộng quyền của quan lại từ trung ương đến địa phương

và người thân trong hoàng tộc Xem xét tổ chức quyền lực nhà nước tối cao (Hoàng đế) dưới triều Lê và triều Nguyễn ta thấy quyền lực nhà nước tập trung cao độ vào trong tay nhà vua Quyền lực của nhà vua đựoc tuyên bố một các công khai, được pháp luật bảo vệ một cách tuyệt đối Tất cả các cơ quan , chức quan được đặt ra trong bộ máy nhà nước chủ yếu có vai trò tư vấn và trợ giúp cho nhà vua thực thi quyền lực nhà nước Các ông vua phong kiến thời Lê và thời Nguyễn cũng công khai khẳng định quyền lực vô hạn của mình và sự phục tùng

vô điều kiện của quan lại đối quyền lực của nhà vua theo nguyên tắc người ở cương vị nào thì chỉ đựoc thực hiện trách nhiệm ở cương vị đó Người làm tôi giúp cũng nên kính giữ phép thường , mãi giúp đỡ vua, để nối được công liệt người trước, lâu dài không lỗi Kẻ nào dám dẫn càn chế độ cũ mà bàn càn một quan nào, đổi thay một chức nào, đều là kẻ làm tôi gian nghịch, rối loại phép thành, thì xử tội vất xác ra chợ không thương , gia thuộc thì đầy đi biên giới xa;

để tỏ rõ tội của kẻ làm tôi bất trung, ngõ hầu muôn đời sau này biết rõ ý củangười sáng lập chế độ này cũng có căn cứ "4I

2 Chính quyên trung ương

Chính quyền trung ương là đối tượng đầu tiên trong công cuộc cải tổ bộ máy nhà nước triều Lê sơ và triều Nguyễn Để quyền lực nhà nước tập trung cao độ vào tay nhà vua thì chính quyền trung ương phải đủ mạnh để giúp nhà vua thực thi quyền lực nhà nước Theo hướng tản quyền hạn trong việc thực thi quyền lực nhà nước, Lê Thánh Tông và Minh Mạng đã đặt thêm hàng loạt các cơ quan quản lý hành chính và chuyên môn, cơ quan chuyên môn ; quy định chức năng nhiệm vụ cho từng cơ quan một cách cụ thể Nhìn tổng thể chính quyền trung ương bao gồm các nhóm cơ quan sau :

- Các quan đaị thần

- Các cơ quan có chức năng tư vấn và văn phòng

- Các cơ quan quản lý hành chính và chuyên môn

Trang 38

- Các cơ quan chuyên môn làm nhiệm vụ kiểm tra giám sát và tư pháp

- Các cơ quan chuyên môn khác

Lê sơ ( từ thời Lê Thánh Tông) và triều Nguyễn ( từ thời Minh Mạng) đã có những quy định khác hẳn giai đoạn trước về các quan đại thần

Dưới thời Lê Thánh Tông : Lê Thánh Tông loại bớt các chức quan đại thần làm trung gian giữa nhà vua với bách quan như Tả, Hữu tướng quốc, Tam Tư, Đại hành khỉên, Thái uý Các chức quan đại thần còn lại tuy phẩm hàm rất trọng đều đựoc phong từ hàm chánh nhị phẩm trở lên, songtheo lịch triều Hiến chương loại chí của Phan Huy Chú các quan đại thần xứng đáng để nhà vua lấy đó làm gương

mà bắt chước theo, họ không có nhiệm vụ nào nhất định Vai trò duy nhất của các quan đại thần là tư vấn cho nhà vua

Sau cải cách của Minh Mạng, tham dự vào hàng các quan đại thần bao gồm Tứ trụ triều đình: Cần chánh điện đại học sĩ , Văn minh điện đại học sĩ , Võ hiển điện đại học sĩ , Đông các đại học sĩ Tứ trụ đại thần chỉ là hàm tước thượng phong thêm cho các vị thượng thư có công lao có uy tín Tam Thái, Tam Thiếu chỉ dùng để gia hàm cho những người trong hoàng tộc có quan hệ gần gũi với nhà vua Trong hàng ngũ các quan đại thần Tam Thái, Tam thiếu không được tham dự việc triều chính, tứ trụ triều đình ngoài việc thực hiện chức năng ở các bộ còn đựoc tham dự việc triều chính thông qua vai trò tư vấn cho nhà vua

Như vậy, sau cải cách của Lê Thánh Tông, những người có uy tín chính trị lớn: công thần, các vương tôn công tử vẫn đựơc luận bàn về chính trị thông qua

Trang 39

vai trò tư vấn thì ớ triều Minh Mạng ngay cả vai trò tư vấn cũng không giành cho những người có uy tín trong hoàng tộc và công thần Cải cách của Minh Mạng, một mặt loại bỏ nạn tiếm quyền, lạm quvền từ công thần và tôn thất, mặt khác vẫn tận dụng đựoc trí tuệ tập thể của các chức quan cao cấp đương nhiệm Việc tước bỏ các trọng trách nhà nước của vương tôn công tử và công thần trong triều

Lê, Nguyễn, suy đến cùng cũng nhằm hạn chế tình trạng lạm lộng quyền của đại thần để quyền lực nhà nước tập trung trong tay nhà vua theo nguyên tắc "Tôn quân quyền"

2.2 Các cơ quan có chức năng tư vấn và văn phòng

Do quyền lực nhà nước tập trung trong tay vua một cách cao độ, nhà vua là người trực tiếp phê duyệt tấu sớ từ các cơ quan trung ương và địa phưong gửi đến,

là người đưa ra các quyết đinh cuối cùng trong lĩnh vực hành pháp, tư pháp nên các cơ quan có chức năng tư vấn, văn phòng bên cạnh nhà vua có một vị trí quan trọng đặc biệt Cả Lê Thánh Tông và Minh mạng đều đặc biệt quan tâm cải tổ về

tổ chức các cơ quan này

Dưới thời Lý- Trần ,cơ quan có chức năng tư vấn văn phòng bao gồm: Hàn lâm viện, Thượng thư tỉnh, Môn hạ tỉnh Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, các cơ quan có chức năng tư vấn văn phòng thời Lý, Trần không chỉ có vai trò tư vấn văn phòng cho nhà vua mà còn có chức năng tư vấn văn phòng cho tể tướng

Hàn lâm viện có chức năng giúp vua soạn thảo các văn bản chiếu chỉ.

Thượng thư tỉnh có nhiệm vụ giúp tể tướng điều khiển bách quan và liên

lạc với thượng thư các bộ

Môn hạ tỉnh có chức năng giữ ấn cho nhà vua, chuyển các văn bản chiếu

chỉ của nhà vua tới các cơ quan trung ương , các địa phương, trình vua các bản tấu

sớ của các cơ quan trung ương và địa phương ; điều khiển các công việc liên quan đến lễ nghi trong cung Nhìn chung các cơ quan tư vấn, văn phòng dưới thời

Lý Trần số lượng còn ít Các cơ quan có chức năng văn phòng chưa có sự ràng buộc liên kết nhau trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ

Sau cải tổ của Lê Thánh Tông, cơ quan có chức năng tư vấn văn phòng tăng thêm về số lượng Ngoài các cơ quan có chức năng tư vấn văn phòng riêng

Trang 40

cho nhà vua còn xuất hiện cơ quan có chức năng tư vấn văn phòng cho người kế nhiệm hoàng đế : Thái tử

Cơ quan có chức năng tư vấn văn phòng cho nhà vua bao gồm :

- Hàn lâm viện : có chức năng phụng mệnh nhà vua khởi thảo các văn bản

pháp luật, chế, cáo, thơ ca, văn thư ; giải thích các văn bản pháp luật do nhà vua ban hành ; trông coi về tứ khố đồ thư , trông nom dạy bảo con của các quan viên

- Đông các viện : có chức năng sửa chữa các văn bản pháp luật, chế, cáo,

thơ ca, văn thư do Hàn lâm viện khởi thảo ; coi sóc việc bổ nhiệm ở triều đình, chức nào chưa phù hợp thì tâu vua

- Trung thư giám : có chức năng biên chép các đạo sắc phong của nhà vua

cho hoàng hậu, hoàng tử và các đại thần từ tước công trở lên; biên chép tên hiệu , thuỵ hiệu của nhà vua ; biên chép lại các văn bản do Hàn lâm viện khởi thảo , Đông các viện sửa chữa

- Hoàng môn tỉnh: là cơ quan giữ ấn của nhà vua Khi đóng ấn Hoàng môn

tỉnh phải căn cứ vào tầm quan trọng và tính chất của các văn bản để đóng 1 trong

6 quả bảo ấn cho phù hợp Ví dụ: đối với văn bản truyền ngôi phải đóng ấn" Hoàng đế thụ mệnh chi bảo", đối với những văn bản mang tính cơ mật phải đóng ấn Ngự tiển tiểu bảo "

-Bí thư giám :là cơ quan trông coi thư viện của nhà vua.

Xem xét các cơ quan có chức năng tư vấn văn phòng cho nhà vua ta thấy: giữa các cơ quan có sự ràng buộc, lệ thuộc nhau trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ Đặc biệt, nhiệm vụ tư vấn giúp việc cho vua trong việc ban hành các văn bản pháp luật đã được tản ra cho 4 cơ quan Việc tản quyền này vừa tránh hiện tượng lộng quyền vừa nâng cao trách nhiệm của quan l ạ i Sự kiểm tra, giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan chức năng tư vấn, văn phòng do có sự ràng buộc trong chức năng nhiệm vụ quyền hạn cũng đựoc tăng cường, chất lượng các văn bản pháp luật đựoc nâng cao, quyền lập pháp của nhà vua được thực hiện một cách hiệu quả Chất lượng của các văn bản pháp luật làm cho văn bản pháp luật đi vào cuộc sống, quyền hành pháp, tư pháp của nhà vua do vậy cũng được thực hiện một cách hiệu quả

Ngày đăng: 14/08/2020, 20:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w