Qua các công trình đã được công bố, chúng tôi thấy các đề tài thường tập trung vào các vấn đề sau: - Vấn đề về kinh tế làng xã, nông dân với ruộng đất, khai hoang, thương nghiệp, thủ côn
Trang 1MỤC LỤC
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 5
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
5 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu 13
6 Đóng góp của đề tài 14
7 Nội dung của đề tài 14
Nội dung Chương 1: Quá trình hình thành và phát triển của hương ước lệ làng ở làng xã vùng đồng bằng Bắc Bộ thời kỳ trước năm 1802 15
1.1 Thuật ngữ, nguồn gốc và điều kiện xuất hiện ương ước ở làng Việt vùng đồng bằng Bắc bộ thời kì trước năm 1802 15
1.1.1 Thuật ngữ 15
1.1.2 Nguồn gốc của hương ước 19
1.1.3 Điều kiện xuất hiện 26
1.2 Khái quát về quá trình phát triển hương ước ở đồng bằng Bắc bộ trước 1802 29
1.3 Hình thức và nội dung chủ yếu của hương ước 35
1.3.1 Hình thức 35
1.3.2 Nội dung hương ước 36
1.4 Vai trò và mối quan hệ giữa pháp luật của Nhà nước phong kiến Đại Việt với hương ước làng của xã từ thế kỉ XV- XVIII 49
1.4.1 Vai trò của hương ước, lệ làng đối vớiquản lý nhà nước ở các thế
Trang 22.2.2 Hương ước không chỉ bị quy định bởi luật nước mà còn là nguồn
bổ sung cho luật nước 76
2.2.3 Pháp luật và hương ước đều là công cụ quản lý, điều chỉnh các
quan hệ xã hội và hành vi của con người trong phạm vi thẩm quyền của mình……… 79
2.2.4 Tính cưỡng chế của hương ước phải dựa vào tính cưỡng chế của luật pháp để tăng hiệu lực quản lý làng xã………79
2.2.5 Luật nước và hương ước làng xã không chỉ thống nhất, tác động lẫn nhau mà còn mâu thuẫn với nhau………83
Trang 32.3 Thực dân Pháp tiến hành chính sách cải cách hương chính (1921) can thiệp sâu vào hương ước của 1àng xã Việt 91
2.3.1 Nguyên nhân chính quyền thực dân tiến hành cuộc cải lương hương chính năm 1921 91
2.3.2 Nội dung của chính sách Cải lương hương chính 93
2.3.3 Kết quả của chính sách cải lương hương chính
của thực dân Pháp 101
Chương 3: Những vấn đề rút ra từ việc nghiên cứu mối quan hệ giữa pháp
luật với hương ước lệ làng ở làng xã Việt Nam 104
3.1 Vai trò quan trọng của hương ước đối với quản lý làng xã ở nông thôn Việt Nam 105
3.2 Bài học về xây dựng hương ước hiện nay 106
3.3 Xử lý mối quan hệ giữa pháp luật Nhà nước với hương ước, lệ làng ở làng
xã Việt Nam hiện nay 111
3.4 Vai trò của hương ước trong quản lý, xây dựng nông thôn
mới……….111
Kết luận 115 Tài liệu tham khảo 121
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Làng Việt cổ ra đời cùng với quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ và hình thành xã hội có giai cấp, có Nhà nước Trong tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam, làng xã bao giờ cũng đóng vai trò quan trọng,
“Làng là cái gốc của nước”, “làng có trước, nước có sau”, “còn làng thì còn nước”,… Từ nhận thức đó, làng xã đã trở thành một đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có khoa học lịch sử Nghiên cứu về làng Việt nơi chứa đựng tinh hoa của đất nước và con người Việt Nam, nơi cội nguồn của sức mạnh dân tộc được bồi đắp, duy trì phát triển qua nhiều thế hệ Tìm hiểu quá trình ra đời, phát triển và vai trò của làng xã trong lịch sử sẽ làm cho chúng ta không những hiểu sâu sắc hơn những vấn đề cốt lõi của lịch sử dân tộc mà còn góp phần làm sáng tỏ cả những vấn đề của hiện tại và tương lai trong xây dựng, phát triển của đất nước và con người Việt Nam
Kết quả nghiên cứu về làng xã trong mấy chục năm gần đây đã đạt được những thành tựu đáng kể, các công trình nghiên cứu về mọi mặt đời sống của làng xã Việt Nam Qua các công trình đã được công bố, chúng tôi thấy các đề tài thường tập trung vào các vấn đề sau:
- Vấn đề về kinh tế làng xã, nông dân với ruộng đất, khai hoang, thương nghiệp, thủ công nghiệp;
- Vấn đề về thiết chế làng xã, tổ chức quản lý xã thôn, phường hội, xóm, giáp;
- Vấn đề làng xã với an ninh trật tự và bảo vệ tổ quốc;
- Vấn đề văn hoá làng xã, tôn giáo và lễ hội;
- Và vấn đề hương ước ở làng xã nông thôn Việt Nam cũng là mảng đề
tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, những công trình khảo cứu, sưu tập
về hương ước lệ làng ở đồng bằng Bắc và Trung bộ liên tiếp ra đời đem lại cho chúng ta cái nhìn sống động về làng xã trong lịch sử dân tộc Hương ước
là một sản phẩm pháp lý do dân làng sáng tạo ra, được dân làng sử dụng làm chuẩn mực trong các quan hệ ứng xử, nhìn từ góc pháp luật, hương ước có giá
Trang 5trị như “bộ luật” của làng, biểu hiện tính “tự trị” làng xã và là sự dung hoà quyền lợi giữa Nhà nước phong kiến và làng xã…
Nhìn chung, vấn đề làng xã luôn là một đề tài hấp dẫn các nhà nghiên cứu với nhiều nội dung phong phú đa dạng Tuy nhiên, khi thực hiện giảng dạy chuyên đề về làng xã Việt Nam truyền thống và hiện đại, nhìn từ góc độ lịch sử, xem xét thực thể làng trong mối quan hệ với nước, cũng như vấn đề hương ước lệ làng và mối quan hệ giữa “luật làng” với “phép nước” đối với quản lý làng xã là vấn đề lý thú, luôn cuốn hút chúng tôi Đây cũng là vấn đề
ít nhiều đã được các nhà sử học, luật học và quản lý Nhà nước… quan tâm nghiên cứu, tìm cách lý giải, nhưng vẫn chưa có được những phân tích, đánh giá, tổng kết mang tính hệ thống, đầy đủ và thỏa đáng các vấn đề mà chúng tôi quan tâm như: Làm rõ các mối quan hệ giữa làng với nước, quan hệ giữa luật nước với hương ước lệ làng, mối quan hệ đó đã diễn ra như thế nào và Nhà nước phong kiến với tư cách là nhà quản lý đã xử lý ra sao mối quan hệ đó? Và ở Việt Nam hiện nay, khi “mọi người đều phải sống làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”, để quản lý làng xã liệu có cần đến hương ước lệ làng nữa hay không, nếu cần có thì hương ước mới nên xây dựng như thế nào cho phù hợp?
Nhận thức về vai trò quan trọng của hương ước, lệ làng trong lịch sử hình thành và phát triển của làng xã Việt Nam, trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu khoa học về hương ước, lệ làng của những nhà khoa học đi trước,
chúng tôi chọn đề tài: Mối quan hệ giữa pháp luật với hương ước lệ làng ở làng xã vùng đồng bằng Bắc bộ dưới triều Nguyễn (1802 – 1945) để nghiên
cứu, nhằm nâng cao hiểu biết về một vấn đề quan trọng của lịch sử dân tộc, từ
đó rút ra những bài học về kinh nghiệm trong xây dựng và việc xử lý mối quan hệ giữa “luật nước” và “lệ làng” góp phần phục vụ cho việc hoạch định chính sách xây dựng nông thôn mới, một yêu cầu cấp bách trong xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đây là đề tài hướng tới việc xây dựng một chuyên đề mới phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy và học tập ở chương trình đại học và sau đại học
Trang 6thuộc các ngành lịch sử, pháp luật và quản lý nhà nước… nhằm nâng cao hiểu biết về lịch sử và pháp luật Việt Nam thông qua tìm hiểu một vấn đề quan trọng của lịch sử dân tộc Từ đó rút ra những bài học bổ ích góp phần giúp các nhà quản lý hoạch định các chính sách công trong quản lý cấp làng xã và trong định hướng xây dựng hương ước mới ở địa phương nhằm phát huy hiệu quả quản lý của nhà nước đối đơn vị cơ sở ở địa phương
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Vấn đề hương ước, lệ làng ở làng xã Việt Nam đã nhận được sự quan tâm của một số các học giả nước ngoài ở các mức độ khác nhau Các tác giả
với cái nhìn tổng quan về Việt Nam Landes H: La commune Annamite, Paris, 1880; Nguyễn Văn Huyên: Recherche sur la commune Annamite, Taupin, 1938; Ory P: La commune Annamite du Tokin, Edition Augustin challamel, Paris, 1899
Sâu hơn về nông dân và nông thôn Việt Nam vùng đồng bằng Bắc bộ
có một số tác giả nước ngoài quan tâm, như: Pierre Gourou (Nguyễn Khắc
Đạm, Đào Hùng, Nguyễn Hoàng Oanh dịch, Đào Thế Tuấn hiệu đính): Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ, NXB Trẻ, Tp HCM, 2003, hay Philippe Papin, Olivier Tessier (chủ biên) với : Làng ở vùng châu thổ sông Hồng – vấn đề còn bỏ ngỏ, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, HN 2002 Đặc biệt tác giả ShiMao Minoru với:Sử liệu có liên quan đến việc tái biên hương ước ở Bắc bộ Việt Nam thời Lê, Tạp chí Hán Nôm, 2/2002, thể hiện một sự
quan tâm sâu sắc đến lịch sử hình thành hương ước ở vùng Bắc bộ, một điểm đặc sắc của làng xã Việt Nam thời phong kiến…
Nhìn chung, tuy số lượng các chuyên gia nước ngoài nghiên cứu về hương ước, lệ làng ở vùng đồng bằng Bắc bộ Việt Nam chưa nhiều và việc nghiên cứu về nông thôn và nông dân Việt Nam có thể bắt nguồn từ mục đích,
lý do khác nhau, kết quả của việc nghiên cứu chưa thể đúng, đầy đủ bằng người Việt Nam nghiên cứu Nhưng rõ ràng là những vấn đề mà các nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm đã đụng đến những vấn đề rất cơ bản của lịch sử Việt Nam, của xã hội Việt Nam Các công trình nghiên cứu đó có thể
Trang 7là những nhắc nhở cho chúng ta phải làm tốt hơn nữa việc nghiên cứu về làng
xã để phục vụ xây dựng và phát triển đất nước
Về tình hình nghiên cứu trong nước
Trước hết xin điểm qua những công trình nghiên cứu mang tính chất khái quát, tạo nền tảng lý luận chung về quá trình hình thành và phát triển của
làng xã Việt Nam trong lịch sử như: Viện Sử học với Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, NXB KHXH – HN 1977-1978 và Nông dân và nông thông Việt Nam thời cận đại, NXB KHXH, HN 1990-1992, tập I, II; các tác giả Nguyễn Văn Sáu và Hồ Văn Thông (Chủ biên) với Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, H 2001; tác giả Nguyễn Hồng Phong với: Xã thôn Việt Nam, NXB Văn Sử Địa, HN, 1959; GS Trần Quốc Vượng (Chủ biên) với Cơ sở văn hoá Việt Nam - Nxb Giáo dục – Hà Nội – 2003; Mấy vấn đề về phương pháp tiếp cận và xử lý các thiết chế chính trị,
xã hội nông thôn hiện nay– Tạp chí Thông tin lý luận, số 2, 1992; Diệp Đình Hoa (chủ biên): Tìm hiểu làng Việt, NXB Khoa học xã hội, 1990; GS Phan
Đại Doãn với: Mấy vấn đề văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử, Nxb Chính Trị Quốc Gia, 2004 và Làng xã Việt Nam một số vấn đề kinh tế, văn
hóa, xã hội (2010);GS Nguyễn Quang Ngọc với Một số vấn đề làng xã Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội (2009)… Các công trình nêu trên đều đề
cập những nét khái quát về quá trình hình thành phát triển làng xã Việt Nam
từ khi ra đời đến nay, cũng như đề cập đến hương ước lệ làng, so sánh về sự khác biệt giữa hương ước làng xã Việt Nam với hương ước của làng xã ở Trung Quốc, Hàn quốc, Nhật Bản… đưa ra những nhận định về quá trình hình thành và phát triển của hương ước ở Việt Nam thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, đánh giá hương ước là công cụ hữu hiệu mà Nhà nước dùng để quản lý làng xã
Đã có không ít các nhà văn hoá học, dân tộc học, luât học, sử học… quan tâm khảo cứu về khoán ước, hương ước, lệ làng, chúng tôi xin nêu ra đây một số tác giả với các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài:
Trang 8GS Phan Đại Doãn, một trong những chuyên gia dành nhiều thời gian
và công sức để nghiên cứu về làng xã của Việt Nam, với công trình, như:
Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam (GS Phan Đại Doãn
và GS.Bùi Xuân Đính); GS.Bùi Xuân Đính với những công trình nghiên cứu
về hương ước, lệ làng và vai trò của hương ước trong quản lý làng xã: Lệ làng phép nước (NXB Pháp lý, HN 1985), Hương ước và quản lý làng xã (NXB KHXH, Hà Nội 1998) và Hương ước làng ven đô (Bùi Xuân Đính -
Đinh Khắc Thuân, Tạp chí Hán Nôm, 1/1991); PGS.TS Vũ Huy Mền với:
Vài nét về hình thức văn bản hương ước làng Việt cổ truyền, (Tạp chí Hán Nôm số 1/2000) và Hương ước cổ làng xã đồng bằng Bắc bộ (NXB Chính
hệ giữa làng này với làng khác, hay giữa làng với nước
PGS.TS Lê Minh Thông ở góc độ luật học đã nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển văn hoá pháp lý Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử với
bài Luật nước và hương ước lệ làng trong đời sống pháp lý của cộng đồng làng xã Việt Nam cho thấy luật nước và luật làng (hương ước) luôn là hành
trang pháp lý cho sự tồn tại của các thế hệ người Việt giúp họ tồn tại và phát
triển qua mọi thăng trầm của lịch sử Tác giả cho rằng: “hương ước lệ làng là môi trường văn hoá đặc thù vừa để phát huy hiệu lực của luật nước, vừa để hạn chế luật nước…, phép nước và hương ước, lệ làng là hai mặt của một thể chế chính trị pháp lý lưỡng tính phản ánh mối tương quan của sự thống nhất quốc gia và quyền tự quản của các cộng đồng, làm quân bình sự phát triển mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của cả quốc gia”
Trên cơ sở phân tích vai trò của hương ước lệ làng tạo ra một cơ chế pháp lý cho làng xã việt, tác giả đề cập khái quát đến quan hệ giữa luật nước với
Trang 9hương ước, lệ làng Tuy nhiên, bài viết PGS.TS Lê Minh Thông mới chỉ dừng
ở mức khái quát, nêu vấn đề, cần được mở rộng và đi sâu hơn nữa những nội dung quan trọng nêu trên
PGS.TS Bùi Xuân Đức, Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật bàn về
Hương ước mới: Những vấn đề điều chỉnh pháp luật, đăng trong Tạp chí
Khoa học pháp lý – số 4/2003, phân tích vai trò, chức năng của hương ước như một công cụ quản lý của Nhà nước, qui định trong hương ước còn có thể
bổ sung, cụ thể hóa pháp luật của Nhà nước trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể, đáp ứng nhu cầu và cách thức quản lý mới ở thôn- bản ngày nay Hương ước xuất hiện trở lại khi vai trò của làng xã truyền thống được tái lập với quy mô lớn, trong điều kiện đội ngũ cán bộ cơ sở còn yếu cũng như hệ thống pháp luật chưa đầy đủ, chưa cụ thể, khó áp dụng dẫn đến việc gặp rất nhiều khó khăn trong quản lý cấp cơ sở, còn ở các làng xã thì lại thiếu công cụ để quản
lý Trước tình hình đó, sự phục hồi của hương ước đáp ứng phù hợp với yêu cầu quản lý, hương ước xuất hiện lúc đầu còn mang tính tự phát, nhiều làng ở
đồng bằng Bắc Bộ đã tự soạn thảo ra các “quy ước làng” để làm cơ sở pháp lý
cho việc quản lý, điều chỉnh các sinh hoạt của cộng đồng làng, thôn Những nơi sớm làm việc này là Hà Bắc, Hà Tây, Thái Bình… từ đó phát triển sang các địa phương khác Hương ước mới tự phát ra đời với nhiều tên gọi khác nhau như “Quy ước làng văn hóa”, “Quy ước làng”, “Quy ước nông thôn”,
“Quy ước xây dựng nếp sống văn minh, lập lại kỷ cương xã hội”… Tác giả cho rằng, mặc dù còn nhiều hạn chế, nhưng sự ra đời của hương ước, quy ước
đã đóng góp đắc lực cho việc quản lý thôn xóm Từ những năm 90 của thế kỷ
XX trở đi, thấy rõ vai trò tích cực của hương ước mới trong việc quản lý làng
xã và thực hiện dân chủ ở nông thôn, Đảng và Nhà nước đã dành một sự quan tâm, đầu tư thích đáng cho ban hành nhiều văn bản qui phạm pháp luật nhằm qui định, hướng dẫn việc ban hành hương ước Tuy nhiên, trong thực hiện vẫn còn có những hạn chế, sai sót và cả những vướng mắc trong việc ban hành và thực hiện hương ước cần được tháo gỡ…
Những tác giả khác nghiên cứu về hương ước, như: Vũ Hạnh Hiên với
bài Hương ước xưa, quy ước nay –– Báo Xưa Nay - Số 5 – 1999; bài
Trang 10Hương ước và quản lý làng xã của Bùi Xuân Đính Nxb KHXH, 1998; tác giả Nguyễn Hữu Mùi: Nghiên cứu văn bia khuyến học Việt Nam từ thế kỷ
XV đến những năm đầu thế kỷ XX, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, HN 2005; Nguyễn Tá Nhí: Nhà nước và pháp luật thời phong kiến Việt Nam: những suy ngẫm, H.Tư pháp, 2005; Tuyển tập hương ước, tục lệ, NXB Hà Nội, 2010; Nguyễn Ngọc Quỳnh: Tục cúng hậu và lập bia hậu ở nước ta trong lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 5 (330)- 2003; các tác giả Phan Đăng Thanh, Trương Thị Hòa với: Lịch sử các định chế chính trị và pháp quyền Việt Nam, tập I, NXB Chính trị Quốc gia, HN 1995; Phan Đăng Thanh: Mấy vấn đề về quản lý nhà nước và củng cố pháp quyền trong lịch sử Việt Nam,
Tập II, H CTQG, 1998; Trương Thìn: Hương ước xưa và quy ước làng văn
hoá ngày nay, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội, 2005; Ngô Đức Thịnh: Tìm hiểu luật tục các tộc người ở Việt Nam, NXB KHXH; Lê Đức Tiết, Về Hương ước lệ làng Nxb; Học viện chính trị quốc gia – Hà Nội – 1998: Văn hóa pháp lý Việt Nam, H Tư pháp, 2005; Hồ Đức Thọ: Lệ làng Việt Nam trong tâm thức dân gian, NXB Văn hoá thông tin, 2003; Nguyễn Anh Thư:
Lệ làng, NXB Văn hoá dân tộc, 2003;
Đặc biệt liên quan đến đề tài là các công trình nghiên cứu mang tính điền dã dân tộc học lấy đối tượng là bia ký, hương ước, lệ làng ở làng xã Bắc
Bộ như: Về một số hương ước làng Việt ở đồng bằng Bắc Bộ (Bùi Xuân Đính Luận án Phó Tiến sĩ khoa học lịch sử, HN 1996.); Lệ làng Thăng Long-
Đỗ Thị Hảo; tư liệu điền dã ở một số làng như làng Bích Tràng, xã Tiền Phong, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên; làng Nam Lạng, xã Trực Tuấn, huyện
Trực Ninh, tỉnh Nam Định;Trần Thị Kim Anh: Bia hậu ở Việt Nam, Tạp chí Hán Nôm, số 3 (64) 2004; Trương Sỹ Hùng (chủ biên): Hương ước Hà Nội, NXB Từ điển Bách khoa – Viện văn hoá; Hương ước cổ Hà Tây, Bảo tàng
tổng hợp Sở Văn hóa thông tin & Thể thao Hà Tây xuất bản, 1993; Nguyễn
Thế Long: Hà Nội xưa qua hương ước, NXB Hà Nội, 2000; Lê Thị Luyến: Hương ước cải lương huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc (1922-1942), Luận
văn Thạc sỹ khoa học Lịch sử, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, 2008; Nguyễn
Tá Nhí: Hương ước cổ Hà Tây, Bảo tàng Tổng hợp Sở Văn hóa Thông tin
Trang 11Thể thao xuất bản, 1993 và Nguyễn Tá Nhí dịch: Mộ Trạch xã cựu khoán,
Bản dịch từ văn bản chữ Hán, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu VHv 121
hay tác giả Nguyễn Thanh với Hương ước Thái Bình, NXB Văn hóa dân tộc,
HN 2000; Lê Cảnh Cư (dịch): Khoán ước làng Cổ Ninh…
* Còn các bài viết và công trình nghiên cứu khác, như: Tác giả Văn
Tạo với bài Chúng ta kế thừa di sản nào ? : trong khoa học và kỹ thuật pháp luật và hương ước nông thôn và nông nghiệp, NXB Lý luận chính trị,
2007; Trương Thìn: Hương ước xưa và quy ước làng văn hoá ngày nay,
NXB Lao động – xã hội, Hà Nội, 2005; Nguyễn Huỳnh Huyện với Tình hình xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước ở tỉnh ta (Bình Định – Thư viện
Bình Định); Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật:Hương ước mới:Những
vấn đề điều chỉnh pháp luật.– Tạp chí Khoa học pháp lý số 4/2003; Ths Hà Công Tuấn , Sử dụng luật tục, Hương ước- một chiến lược quản lý rừng –-
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp – Văn phòng quốc hội - Số 3/2006…
* Các cuộc hội thảo
Năm 1995, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp tổ chức tại
Hải Dương Hội thảo Khoa học về Hương ước, có khá nhiều bài viết về
hương ước, lệ làng nhìn từ góc độ pháp lý Hội thảo đã đưa ra những ý kiến đánh giá vai trò của hương ước lệ làng đối với đời sống của cộng đồng cư dân
ở làng xã Đối với Pháp luật Việt Nam thời phong kiến thì hương ước, khoán ước và lệ làng có thể xem là hệ thống luật tục tồn tại song song với pháp 1uật của Nhà nước Hương ước đề cập tới những nội dung cụ thể gắn với hoàn cảnh phong tục, tập quán lâu đời của từng làng, là những nội dung mà các bộ luật của Nhà nước chưa hoặc khó đề cập đến Xét trên bình diện quản lý xã hội thì hương ước, khoán ước, lệ làng ở làng xã Việt Nam còn là công cụ để thực thi pháp luật và cụ thể hóa pháp luật của nhà nước phong kiến Việt Nam, góp phần vào việc củng cố, xây dựng và bảo vệ đất nước…
Tháng 4/2005, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp đã phối hợp với Khoa
Luật học, trường Đại học Đà Lạt tiến hành một Hội thảo về chủ đề “Luật tục với thi hành pháp luật” tổ chức tại trường Đại học Đà Lạt Hội thảo này
Trang 12nghiên cứu vai trò và vị trí của luật tục trong tổ chức, thi hành pháp luật ở Việt Nam qua góc độ văn hóa nghiên cứu về luật tục Hội thảo trao đổi về kết quả nghiên cứu, khảo sát của Đại học Luật Đà Lạt tại một số cộng đồng dân tộc thiểu số ở trong và ngoài tỉnh Lâm Đồng về quan hệ giữa luật tục với pháp luật, vai trò của luật tục trong quản lý địa phương Hội thảo thảo luận về các vấn đề: về luật tục, vị trí và vai trò của Luật tục trong mối quan hệ với pháp luật, quản lý xã hội vĩ mô và vi mô Hội thảo này đánh giá vai trò của “luật tục” với thi hành pháp luật và quản lý địa phương; coi luật tục như một bộ phận những quy phạm điều chỉnh hành vi của những cộng đồng dân cư có kết cấu chặt chẽ thông qua các yếu tố văn hoá, truyền thống, bản sắc, sắc tộc, lòng tin Những quy phạm này có thể dưới dạng thành văn hay không thành văn, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang tính bền vững và duy trì hiệu lực qua những thiết chế tổ chức được cộng đồng mặc nhiên thừa nhận (già làng, trùm đạo, người có chức sắc tôn giáo ở một số dân tộc ít người) trong cộng đồng Những quy phạm này có thể được nhà nước thừa nhận thông qua hoạt động lập pháp, hành pháp hoặc tư pháp Hội thảo cũng đề cập tới hương ước (cũ và mới) từ góc độ văn hóa như đối tượng luật tục với những thay đổi về tổ chức và cấu kết của cộng đồng dân cư phổ biến ở vùng đồng bằng Bắc bộ, Trung bộ, cũng như tình trạng “đồng phục hoá” của Hương ước mới…
* Văn bản của Nhà nước về xây dựng và phát triển hương ước mới ở làng xã Hiện nay Nhà nước ta đã ban hành những chủ trương, chính sách qui định về xây dựng nông thôn mới, như: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7,
Khóa X – 7/2008 về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị định số 29/NĐ-CP ngày 11/5/1998 của Chính phủ về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã; Chỉ thị Số: 24/1998/CT-TTg về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư; Thông tư liên
tịch số 03/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN ngày 31/3/2000 của Liên Bộ Tư pháp, Văn hóa – Thông tin, Ban Thường trực Ủy ban trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: V/v hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, thôn, ấp, bản, cụm dân cư…
Trang 13Điểm qua tình hình nghiên cứu về hương ước, lệ làng ở làng xã Việt Nam nói chung và ở đồng bằng Bắc bộ nói riêng của các tác giả trong và ngoài nước cho thấy, vấn đề hương ước, lệ làng được rất nhiều các nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực quan tâm nghiên cứu, đã có những đánh giá khá sâu sắc về vai trò của hương ước, lệ làng của làng xã đối với việc quản lý và phát triển của cộng đồng dân cư nông nghiệp Những tài liệu trên đều là nguồn tư liệu quí giá giúp chúng tôi có được cái nhìn khách quan, xác thực về hương ước lệ làng ở nông thôn đồng bằng Bắc bộ thời kỳ đã qua Trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các học giả, các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi cố gắng bổ khuyết những vấn đề còn để ngỏ nhằm tìm hiểu một
cách đầy đủ và khách quan về: “Mối quan hệ giữa pháp luật với hương ước,
lệ làng ở làng xã vùng đồng bằng Bắc bộ dưới triều Nguyễn (1802 – 1945)”
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các học giả đi trước về vấn đề làng xã Việt Nam truyền thống và hiện đại, đặc biệt
là thông qua những công trình khảo cứu về hương ước lệ làng ở các tỉnh đồng
bằng Bắc bộ, chúng tôi cố gắng lý giải và làm rõ “Mối quan hệ giữa pháp luật
với hương ước, lệ làng ở làng xã vùng đồng bằng Bắc bộ dưới triều Nguyễn
(1802 – 1945)”
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về mối quan hệ qua lại giữa pháp luật của nhà nước (luật nước) với hương ước, lệ làng (luật làng) ở vùng đồng bằng Bắc bộ, trong một giai đoạn lịch sử cụ thể của triều Nguyễn (1802 -1945) để hiểu rõ hơn lịch sử dân tộc, đây là một nội dung của lịch sử còn nhiều vấn đề cần phải được làm rõ Nhưng do điều kiện thời gian, khả năng thực hiện của nhóm nghiên cứu, cũng như kinh phí có hạn đề tài sẽ tập trung điển cứu ở một
số tỉnh tiêu biểu như: Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Thái Bình làm cơ sở để giải
quyết các vấn đề mà đề tài đặt ra
5 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận: Với đề tài này, cách tiếp cận theo phương pháp nghiên
cứu của khoa học lịch sử sẽ là chủ đạo Bên cạnh đó cần thiết áp dụng các
Trang 14phương pháp nghiên cứu khoa học liên ngành được vận dụng nhằm giải quyết các nhiệm vụ mà đề tài đặt ra
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu cơ
bản của khoa học lịch sử là phương pháp lịch sử và phương logic, kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành như phương pháp nghiên cứu của pháp luật học, dân tộc học, xã hội học… giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra, chú trọng phương pháp đối chiếu, so sánh để tìm ra ý nghĩa, đặc điểm, vai trò
và quan hệ của hương ước đối với nhà nước và pháp luật
6 Đóng góp của đề tài
Về mặt khoa học: Đề tài hệ thống khái quát lại quá trình hình thành và phát triển của hương ước làng xã ở vùng đồng bằng Bắc bộ, nêu lên chính sách quản lý của triều Nguyễn trong việc xử lý mối quan hệ giữa chính quyền trung ương với đơn vị cơ sở là làng xã
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu mối quan hệ giữa pháp luật với hương ước làng xã ở vùng đồng bằng Bắc bộ dưới triều Nguyễn, đề tài làm rõ vai trò của hương ước trong quản lý làng xã và mối quan hệ giữa pháp luật và hương ước ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ thời Nguyễn từ đó rút ra những bài học nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa pháp luật và hương ước làng xã trong giai đoạn hiện nay
7 Nội dung của đề tài
Chương 1: Tổng quan về quá trình hình thành và phát triển hương ước,
lệ làng ở làng xã vùng đồng bằng Bắc bộ thời kỳ trước năm 1802
Chương 2: Mối quan hệ giữa pháp luật với hương ước - lệ làng ở làng
xã vùng đồng bằng bắc bộ thời nhà nguyễn (1802-1945)
Chương 3: Những vấn đề rút ra từ việc nghiên cứu mối quan hệ giữa pháp luật với hương ước lệ làng ở làng xã Việt Nam
Kết luận
Trang 15CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HƯƠNG ƯỚC, LỆ LÀNG Ở LÀNG XÃ VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
THỜI KỲ TRƯỚC NĂM 1802
1.1 Thuật ngữ, nguồn gốc và điều kiện xuất hiện ương ước ở làng Việt vùng đồng bằng Bắc bộ thời kì trước năm 1802
1.1.1 Thuật ngữ
*Làng là từ thuần Việt chỉ một đơn vị quần cư gồm nhiều gia đình cùng làm
nghề nông còn có tên gọi khác là kẻ, chiềng, chạ… là một tổ chức tự quản về kinh
tế, văn hóa và quân sự khá hoàn chỉnh Làng Việt có từ rất sớm (trước khi có Nhà
nước), hình thành trên cơ sở công xã nông thôn, khi Nhà nước ra đời, làng là một
yếu tố của đơn vị hành chính cấp cơ sở của Nhà nước
Có thể nêu ra mấy tiêu chí để nhận diện một làng truyền thống: thứ nhất,
mỗi làng có một địa vực, một không gian sinh tồn nhất định, như: khu cư trú, ruộng đất, gò đồi, núi sông, ao đầm… do cộng đồng làng hay các thành viên của
cộng đồng làng sử dụng; thứ hai, cư dân trong làng là thành viên của cộng đồng
gắn bó với nhau bằng nhiều mối quan hệ như: láng giềng, (làng, xóm, ngõ…), quan hệ huyết thống (gia đình, dòng họ), quan hệ nghề nghiệp, quan hệ tín
ngưỡng, quan hệ tương trợ giúp đỡ lẫn nhau (phường, hội,…); thứ ba, về mặt văn
hóa mỗi làng thường có đình làng thờ thành hoàng làng, có chùa, miếu, am, quán,
có cơ sở sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng và lễ hội chung; thứ tư, về mặt quản lý thời
kỳ đầu có thể chỉ là hội đồng già làng, chủ yếu tổ chức quản lý theo tục lệ sau đó
có hội đồng kỳ mục rồi Hội đồng dân biểu… quản lý chủ yếu thông qua hương ước, lệ làng
Làng -Xã là một từ Hán-Việt xuất hiện ở Việt Nam khoảng đầu thế kỷ thứ
VII (thời Bắc thuộc), nhưng đến thế kỷ thứ X dưới thời họ Khúc, tên gọi xã mới chính thức hoá sử dụng là tên gọi đơn vị hành chính của Nhà nước, vai trò của cấp
xã thời kỳ này chưa rõ do có rất ít tư liệu đề cập Xã là đơn vị cấp cơ sở ở nông
thôn hình thành trên cơ sở từ một làng thành một xã, hoặc vài làng tập hợp thành
Trang 16một xã Có nhiều loại xã khác nhau: đại xã, trung xã, tiểu xã do Nhà nước qui định Về mặt tổ chức thì xã do Nhà nước quản lý để lấy quân dịch và thu thuế…
Theo tác giả Lê đức Tiết: “Làng xã Việt Nam từ bao đời nay là đơn vị thấp nhất của hệ thống bộ máy hành chính Có xã gồm một hai làng, nhưng nhiều xã chỉ có một làng Vì vậy, làng xã thường được sử dụng như một danh từ ghép”1
Xã -Thôn là đơn vị cấp cơ sở tương đương với cấp xã ở thời kỳ đầu độc lập,
tư liệu đầu tiên tìm được là quả chuông đồng (Nhật Tảo cổ Minh chung, có niên đại Mậu Thân niên hiệu Càn Hòa thứ 6 năm 948) được lưu giữ (tại đền thờ Đức thánh Trần, thôn Nhật Tảo, Xã Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội) dòng đầu bài minh
trên thân chuông ghi là “Giao Chỉ huyện, Hạ Từ Liêm thôn” Đến thời Lý, thôn lại
xuất hiện với tư cách là một đơn vị tụ cư dưới ấp (hương ấp), thôn trở thành đơn vị
tụ cư tương đương cấp làng
Như vậy, làng xã là một cộng đồng dân cư hình thành từ các yếu tố huyết thống, địa vực thể hiện bản sắc của cư dân nông nghiệp ở Việt Nam Cũng giống như các quốc gia ở Châu Á, ở nước ta làng xã là đơn vị cư trú và
là một hình thức tổ chức xã hội quan trọng ở nông thôn Làng xã Việt Nam nói chung và làng xã vùng đồng bằng Bắc bộ nói riêng đã trải qua một quá trình tồn tại và phát triển lâu dài cùng với đất nước, nên làng xã cũng có nhiều thay đổi về qui mô tổ chức và tên gọi theo từng giai đoạn phát triển của lịch
sử Các nhà nghiên cứu đã phân làng Việt thành nhiều loại khác nhau:
Phân theo thời gian hình thành: làng đầu công nguyên, làng thời Trần, làng thời Nguyễn và những làng mới hình thành gần đây; Phân theo vùng địa lý: làng miền Bắc, làng miền Nam, làng trung du, làng đồng bằng, làng ven biển, làng đảo; Phân theo nghề nghiệp: làng nông nghiệp, làng thủ công, làng buôn, làng đánh cá, làng định cư trên bờ, làng chài…; Phân theo hình thức thành lập: có các loại làng do các nhóm cư dân khai hoang tập thể, làng do Nhà nước chiêu dân khẩn hoang; Phân theo tôn giáo: ngoài các làng lương giáo có làng Công giáo, làng cao Đài, làng Hòa Hảo…
1
Lê Đức Tiết (1998), Về hương ước lệ làng, NXB CTQG, tr 20
Trang 17* Lệ làng: Lệ làng là những qui tắc xử sự chung cho mọi thành viên
trong làng nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội diễn ra trong phạm vi làng Những qui tắc này xuất phát từ những phong tục, tập quán, nghi lễ tôn giáo trong đời sống xã hội trong cộng đồng làng, lệ làng qui định mọi mặt đời sống ở làng xã được truyền từ đời này sang đời khác, được dân làng thực hiện một cách tự giác, những việc như: phép tắc về việc phụng sự thần thánh và các vấn đề kinh tế (phân chia ruộng đất, đóng thuế, đi tạp dịch, phu phen, thuỷ lợi…), văn hoá giáo dục, an ninh trật tự xã hội đều được qui định chặt chẽ.Lệ làng thể hiện cuộc sống vật chất, tinh thần, là động lực phát triển được mọi thế hệ trong cộng đồng tuân thủ
* Hương ước: Về thời điểm xuất hiện thuật ngữ hương ước, theo nhiều
nhà nghiên cứu hương ước là thuật ngữ nguyên Hán, được du nhập vào Việt Nam muộn nhất vào thế kỉ XV, tư liệu từ bản sao hương ước của làng Tri Lễ
xã Phúc Sơn, huyện Anh Sơn, Nghệ Tĩnh mang niên đại sớm nhất còn lại hiện nay2.Từ thế kỷ XV-XVII, các quy ước của làng xã có nhiều tên gọi khác, như: hương biên, cựu khoán, khoán lệ, khoán ước Thế kỉ XVIII - XIX, thuật ngữ “hương ước” mới dần trở nên quen thuộc Sang đầu thế kỉ XX, thuật ngữ hương ước được dùng hết sức rộng rãi trong các làng xã, nhiều nơi không còn thuật ngữ khoán ước, các lệ làng thành văn bản đều gọi là hương ước3
Khái niệm về hương ước được các nhà nghiên cứu thuộc khoa học xã
hội đã đưa ra nhiều nhận định khác nhau Trong Việt Nam phong tục tác giả Phan Kế Bính nêu: “chốn hương thôn thường có hẹn riêng với nhau, lập ra sổ sách, đồng dân ký kết gọi là khoán ước”4 Nhưng sau đó, ông lại công nhận sự thống nhất giữa thuật ngữ khoán ước với hương ước
Tác giả Bùi Thanh Ba “các làng xã thường lập ra những bản hương ước, vừa có tính chất như nội dung sinh hoạt, vừa có giá trị như pháp luật mà
Trang 18những người trong làng xã, cũng như khách từ xa đến đều phải có bổn phận tuân theo”.5
Tác giả Cao Văn Biền cho rằng: “Hương ước là văn bản pháp quy về các tục lệ của làng xã do quan viên ở làng xã tự xây dựng lên cho mình nhằm bảo vệ sự tồn tại của cộng đồng dân cư ở làng xã trong tư thế ổn định của nó
về lãnh thổ, xây dựng, phong tục, tập quán tốt đẹp, phát triển đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội” 6 ;
Tác giả Trần Từ lại nêu: “dù không phải là một bộ luật hoàn chỉnh, hương ước với những quy định về một số nét sinh hoạt riêng biệt của làng xã vẫn đóng vai trò một cương lĩnh có thể gọi là khá chung chung, nhưng dù sao sao vẫn đáng được xem là một cương lĩnh về nếp sống hàng ngày của làng xã
mà mọi cá nhân, mọi tổ chức trong làng xã phải tuân thủ” 7
Theo tác giả Vũ Duy Mền thì hương ước chính là “những quy ước về hầu hết các hoạt động của làng xã người Việt, như cách thức tổ chức và hoạt động của các thiết chế tổ chức trong làng xã: hội tư văn, tư võ, hội thiện, phe –giáp, xóm ngõ ;các hoạt động xã : hội hè đình đám, tế lễ, tuần phòng, khao vọng ; một số hoạt động kinh tế Đó là những quy ước vừa mang nét chung
và rất nhiều nét riêng, rất riêng của mỗi làng Việt”8
GS Phan Đại Doãn thì phân biệt rất rõ và ngắn gọn khái niệm về lệ
làng và hương ước trong Làng xã Việt Nam - Một số vấn đề kinh tế, văn hóa,
xã hội: “Lệ làng là luật tục của cộng đồng làng xã, còn hương ước là lệ làng được ghi lại thành văn bản, là bộ luật chính thức bằng văn bản của một làng”9 Theo Giáo sư Phan Đại Doãn “hương ước là luật lệ làng, bắt buộc các thành viên phải tuân thủ Hương ước gắn bó các thành viên trong một cộng
5
Viện Sử học (1997) Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, NXB KHXH, Hà Nội, 1997, tập 1, tr.328
6
Bộ tư pháp- Bộ Văn hóa thông tin- Thường trực UBMTTQ Việt Nam (2000), Thông tư hướng dẫn đối với
việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, số 3, TTLT/ BTP-
BVHTT- BTTUBTWMTTT Việt Nam, Hà Nội, tr 42
Trang 19đồng tương đối chặt chẽ và tự nguyện, lệ thuộc lẫn nhau, phục tùng làng xã”.10
Tác giả Bùi Xuân Đính trong Hương ước và quản lí làng xã khẳng
định: “Tùy theo cách ghi chép của từng làng mà hương ước được gọi bằng những tên khác nhau: hương biên, hương khoán, khoán tục, tục lệ, cựu khoán, điều ước, điều lệ ”11
Như vậy, thuật ngữ “hương ước” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, song tựu chung lại, ta thấy hương ước chính là một phần lệ làng được văn bản hóa thành những qui tắc xử sự chung nhằm điều chỉnh mọi quan
hệ xã hội diễn ra trong phạm vi của làng xã Hương ước là do những người trong làng cùng nhau xây dựng nên và tự giác tuân thủ Những lệ làng được chép thành văn bản đó được gọi với nhiều tên gọi khác nhau, bản thân mỗi tên gọi hàm chứa một nội dung riêng, hoặc những nội dung chung về nhiều mặt hoạt động của cả làng xã, nhưng thuật ngữ hương ước là phổ biến hơn cả
1.1.2 Nguồn gốc của hương ước
Hương ước xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc, thời Bắc Tống khoảng thế
kỷ XII Từ truyện của anh em Lã Đại Phòng ghi trong Tống sử về việc họ định ước với nhau chuyện lễ nghi tang, hôn, hiếu, hỉ Trong đời sống sinh hoạt và sản xuất thì chia xẻ mọi ngọt bùi, cay đắng… Người đương thời ở
Trung Quốc lúc đó coi đây là mẫu mực ở đời, tôn gọi định ước của họ là Lam Điền Lã thị hương ước12 Nhưng phải đến đời Minh Thành Tổ (1402-1424), hương ước mới ra đời và Lam Điền Lã thị hương ước trở thành qui ước chuẩn mực để phổ biến nhằm xây dựng nếp sống ở nông thôn Ở Trung Quốc có nhiều loại hương ước khác nhau, hương ước chống trộm để bảo vệ an ninh, qui ước về việc binh – hương binh ước, có hương ước do dân làng xây dựng,
có hương ước lại do quan trên đề xướng đốc thúc thực thi…
Hương ước ở Triều Tiên (Hàn Quốc – Triều Tiên ngày nay) thời
Trang 20Choson từ cuối thế kỷ XIV bắt đầu là những bản hương ước (hyangyak) ở làng xã do các Nho sĩ, trí thức lập ra dựa trên phong tục cổ truyền của làng mình để quản lý làng xã Hương ước ở Triều Tiên, Hàn Quốc chịu ảnh hưởng
từ Trung Quốc, chủ yếu là loại hương ước do Nhà nước và quan trên đốc thúc xây dựng, nhằm đảm bảo sự quản lý của Nhà nước đối với làng xã
Nhật Bản cũng chọn hương ước là công cụ quản lý làng xã, từ thời kỳ Tokugawa chịu ảnh của hương ước từ Trung Quốc Ở nông thôn Nhật Bản thời kỳ này, người nông dân ngoài việc phải tuân thủ triệt để mọi qui định
mang tính chất pháp luật của lãnh chúa, thì “các lãnh chúa không can thiệp quá sâu vào cơ chế tự quản của làng Để giải quyết việc làng, mỗi làng thường đặt ra các qui ước hay luật lệ riêng với khoảng 10 điều khoản qui định khá chi tiết những việc khuyến khích làm và những điều cấm vi phạm với các hình phạt như nộp tiền, nộp thóc, nộp rượu, lao động cưỡng bức và cao nhất là tẩy chay ra khỏi cộng đồng làng”13 Làng vì thế vẫn giữ được bản sắc riêng của mình Nhìn chung, hương ước là một mô hình tổ chức và quản lý làng xã nông thôn có ở nhiều nước Đông Á từ thế kỷ XII, phát triển mạnh từ thế kỷ XV trở đi, do ảnh hưởng của tư tưởng Tống Nho từ Trung Quốc đến Triều Tiên, Nhật Bản, và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ
Ở Việt Nam, những điều kiện ra đời của hương ước có thể đã có xuất hiện từ trước, nhưng cũng phải đợi đến nửa sau thế kỷ XV, khi Nhà nước phong kiến Đại Việt chính thức lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng của mình thì hương ước ra đời ở làng xã Năm 1464 là năm được coi là cái mốc đánh dấu thời điểm ra đời của hương ước thành văn chính thức của nước ta, theo Hồng Đức Thiện chính thư, vua Lê Thánh Tông cho phép những làng có phong tục tập quán khác lạ được lập khoán ước riêng Những bản khoán ước, hương ước được soạn thảo phải trình lên quan chức nha môn xem xét, phê chuẩn hay bác
bỏ, ai vi phạm qui định Nhà nước đều bị nghiêm trị
Cho đến nay, nếu dựa vào kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, có thể thấy là vào đầu thế kỷ XV đã xuất hiện hương ước trong làng xã người
13
Nguyễn Quang Ngọc (2009), Một số vấn đề làng xã Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 87-88
Trang 21Việt, nhưng chưa phổ biến Khoán ước hay hương ước đều là thuật ngữ nguyên Hán, được du nhập vào Việt Nam được sử dụng chính thức cũng từ
thế kỷ XV Bản sao “hương ước làng Tri Lễ”, xã Phúc Sơn, huyện Anh Sơn,
Nghệ An mang dấu ấn niên đại sớm nhất cho đến ngày nay (tài liệu từ bản chụp của Giáo sư Phan Huy Lê: hương ước gồm 7 tờ, 5 ảnh) ghi như sau:
“Phiên âm: “Bình định tam niên tam nguyệt sơ thất nhật lập giao ước
từ Tiểu ty Trần Văn Sỹ ký Xã Quan Nguyên Đức Vĩ ký Xã bộ Lê Bảo ký
Biên sự Ngô Vinh điểm chỉ”; Dịch nghĩa: “Ngày mùng 7 tháng 3 năm Bình
Định thứ ba lập tờ giao ước Tiểu ty Trần Văn Sỹ ký; Xã quan Nguyễn Đức Vỹ ký; Xã hộ Lê Bảo ký; Biện sự Ngô Vinh điểm chỉ”14 Bản hương ước làng Tri
Lễ có nội dung đơn giản: nói về nghi thức xa giá vua Lê Lợi và việc cắt đặt tế
lễ, quy ước được cả làng công nhận và tuân theo Những bản khoán ước, hương ước khi mới ra đời nội dung chưa phong phú Tuy nhiên, nội dung qui ước của các làng xã dần chỉnh sửa, bổ sung, thường xuyên nên về sau chúng
ta có được những bản hương ước khá toàn diện về các mặt hoạt động của làng
xã
Cùng với quá trình tiếp nhận và phát triển của Nho giáo, nông dân người Việt đã xử dụng thuật ngữ khoán ước, hương ước từ thế kỷ XV Nội dung của những bản hương ước ban đầu rất đơn giản, phù hợp với yêu cầu và trình độ làng xã đương thời Sau đó, do sự phát triển mọi mặt của làng xã, buộc phải mở rộng quy ước tới nhiều hoạt động khác, như: Cách thức tổ chức
và hoạt động của làng xã người Việt hội tư văn, tư võ, hội thiện, xóm ngõ…
Đó là những quy ước vừa mang nét chung vừa mang nét riêng của mỗi làng quê Việt
Hương ước chính là phần lệ làng được văn bản hóa, hương ước đồng thời là sản phẩm văn hóa tinh thần độc đáo của làng xã người Việt Hương ước ra đời do yêu cầu khách quan của cuộc sống cộng đồng (công xã nông thôn) cần quy định qui tắc ứng xử các mối quan hệ giữa các thành viên với nhau, mối quan hệ giữa các thành viên với cộng đồng dân cư Những quy
14
Vũ Duy Mền (1989), “Góp phần xác định thật ngữ khoán ước-hương ước ở vùng đồng bằng và trung du
Bắc”, tạp chí NCLS, số 3+4, 1989, tr.81
Trang 22định đó buổi đầu rất sơ lược, đơn giản, càng về sau càng được tăng cường củng cố và phát triển phong phú, phức tạp hơn
Nguồn gốc về nội dung của hương ước vốn từ tục dân chất phác và đơn giản, có thể xuất phát từ những qui ước mà người dân lập ra rồi đồng lòng cam kết thực hiện từ trong các tục thề, hội thề hay tục hậu của người Việt xưa được chép lại thành hương ước
*Tục thề có hai loại: Thề cung đình (quốc thề) và tục thề dân gian
Quốc thề thường do nhà vua, người lãnh đạo khởi nghĩa hoặc một vị tướng lĩnh đang chiến đấu nơi sa trường tổ chức thực hiện Lễ thề đầu tiên
được truyền thuyết khắc họa là Lễ truyền ngôi của Hùng vương thứ 18 cho
An Dương Vương Hòn đá chứng tích của lễ thề tượng trưng cho ngôi báu, hiện nay được thờ Đền thượng (Đền Hùng) ở Hy Chương, Phong Châu, Phú
Thọ; Lễ thệ sư trước khi xuất quân phá giặc Đông Hán của Hai Bà Trưng; Lễ thề Đồng cổ diễn ra ngày 25 tháng 2 năm 1028 thời vua Lý Thái Tổ; Lễ thề của Trần Nhật Duật ở Bạch Hạc, Việt Trì năm 1285; Hội thề Lũng Nhai của
Lê Lợi cùng các tướng sĩ nghĩa quân Lam Sơn năm 1416…
Lễ thề và ghi thức tế lễ của tục thờ cung đình không phải là nguồn của hương ước, nhưng có mối quan hệ gần gũi với hương ước lệ làng vì nó mang
dáng dấp của tục thề từ dân gian được nâng lên cấp ghi lễ Nhà nước
*Tục thề dân gian
Tục thề dân gian là một nguồn của hương ước, các lễ thề dân gian của
các làng quê, được ghi chép lại thành những qui định chặt chẽ, ví dụ: Tiệc hàng năm ở làng Dị Nậu (Tam Nông – Vĩnh phúc) vào tháng 2 âm lịch, có tổ
chức một cuộc săn bắn tập thể để lấy thịt thú rừng cúng thành hoàng làng
Làng lập ra “khoán ước săn beo”, quy định khi đuổi bắt thú dữ nếu ai bị
thương thì sẽ được làng chạy chữa, cho đến lúc lành lặn hoàn tất Người nào
bị chết thì làng chịu ma chay, chôn cất và con cháu người đó được cấp một chỗ ngồi trong làng gọi là đơn mua ngôi
Ở Lũng Giang, Tiên Sơn (Bắc Ninh) cũng có lệ minh thệ và đọc khoán ước Người đứng đầu 4 giáp cắt tiết 4 con gà, hòa lẫn vào 4 bình rượu cho 4
Trang 23giáp làm bồi tế Trong khi tế, lễ trưởng đọc lời thề: “gian tắc đả tử, trực tắc
hộ sinh, công lý tốc tốc, mạc thịnh lộ trình” Các bồi tế lần lượt đọc lời thề,
mọi người cùng uống cạn chén rượu thề15
Ở Hòa Bình (Tiên Sơn, Bắc Ninh) là nơi có tục uống máu ăn thề đầu
năm của dân làng cam kết với trời, đất, thần linh làm ăn ngay thẳng thật thà, không trộm cắp dù có nghèo khổ cũng cam, lễ thề được tiến hành rất nghiêm ngặt Mỗi năm vào ngày mùng 10 tháng giêng làng tổ chức lễ hội miệng thề cho trai đinh tuổi từ 18 trở lên đến cụ thượng, ai vắng mặt mà không có cơi trầu xin phép trước thì sẽ bị phạt vạ Từ 3 giờ sáng bốn ông trong ban chấp chính một ông quỳ trước, ba ông xếp thành hàng ngang quỳ phía sau bắt đầu làm lễ, mọi người vào lễ thề lần lượt như sau: Ba bàn chấp chính (gồm 18 vị chọn từ lứa tuổi 17 tới 19) gọi là con trưởng của dân vào thề; Các bô lão lần lượt từ tuổi cao nhất xuống tới 50 vào thề; Trong khi vào thề mỗi người thay
mặt cho nhóm đọc lời thề miệng sau: “Tôi nguyện xin hoàng thiên hậu thổ cập chư linh thần, tam vị đại vương người giáng đàn Tôi là Nguyên Văn Mỗ, tôi ở làng ba vị đại vương, người phù hộ, hoặc tôi làm ăn chẳng nên, ăn trộm
ăn cắp con trâu, con bò, thanh bông hoa quả, tri ngư đẳng vật Nếu tôi có thế tôi xin uống chén rượu này thề ba vị đại vương người vật chết” Người cùng nhóm nhất loạt đồng thanh: “Tôi cùng thề” Người cùng thề phải tập từ trước
để nói trôi chảy hùng hồn Sau lễ miệng thề, trời chưa sáng rõ, mọi người theo lứa tuổi ngồi nghiêm chỉnh ở trong đình nghe lý trưởng đọc khoán ước của làng Trong khi nghe đọc khoán ước, mọi người phải nghiêm trang, không cười đùa, đi lại sẽ bị làng phạt16
Ở Tân Yên, Bắc Giang có nhiều làng cũng có lệ uống máu ăn thề (tương
tự như Hoà Bình) như làng Hả, tổ chức ăn thề vào mùng bảy, làng Bùi tổ chức vào mùng tám, làng Giã vào mùng chín tháng giêng hàng năm Đến ngày lễ đó dân làng mang cỗ ra đình làm lễ, bốn năm gia đình làm chung một
cỗ Gà được cắt tiết cho chảy vào một vò rượu to, cho rượu vào các be, chai,
Trang 24mỗi mâm một chai rượu tiết gà Cúng lễ xong cỗ ai nấy ngồi, mọi người ngồi
vào rót rượu đã pha tiết gà cùng uống gọi là uống máu ăn thề
Làng Trang Liệt, Tiên Sơn, trước kia từng duy trì tục uống máu cùng thề
với các điều sau: Người nào chặt trộm gốc trong làng, xin đại vương đánh chế; người nào lấy đồ vật ở văn chỉ tổ, đình, đền, chùa hoặc mang đi nơi khác, xin đại vương đánh chết; người nào bắt trộm hoặc mang khác của cải,
vũ khí, gia súc, xin đại vương đánh chết; người nào mà đốt nhà xin đại vương đánh chết; Ruộng công, tư đều có thể khai, có thể giữ; người nào tự ý khai, giữ hoặc khoét bờ, lấn ruộng xin đại vương đánh chết; xã lấy đồng làm nghề,
kẻ nào nấu trộm và dạy nghề cho người ngoài, xin đại vương đánh chết, xin thề
Hội thề của người Việt ở các làng xã có phần đơn giản so với lễ thề Nhà nước nhưng cũng trang nghiêm, chặt chẽ về hình thức Hội thề ở làng giữ vai trò quan trọng không những về tín ngưỡng tôn giáo mà còn là tinh thần của cộng đồng, của cư dân nông nghiệp, là danh dự, nhân phẩm của con người được chú ý giáo dục cho các thế hệ, là tinh thần bảo vệ cộng đồng, bảo vệ an ninh trật tự xã hội… Các lễ thề dân gian ở huyện Yên Phong, Tiên Sơn, Tân Yên (Hà Bắc); Tam Nông (Vĩnh Phú), Thụy Khuê, Thụy Bằng (Hà Tây)… đều nhằm nêu khen tục tốt, bảo vệ thuần phong mĩ tục, đề cao tính cộng đồng làng xã, ngăn ngừa tục xấu, chống dối trá, trộm cắp, đánh nhau gây mất đoàn kết
Do mục đích của các hội thề khác nhau, được tiến hành trong những điều kiện khác nhau nên những qui định về nghi thức của các lễ thề, hội thề cũng có nét khác nhau Các lễ thề, hội thề đều có màu sắc duy tâm, cầu thần linh chứng giám cho hành động của con người Mục đích lễ thề nhằm củng
cố an ninh, trật tự cho làng, bảo vệ cộng đồng làng – nước Do yêu cầu củng
cố cộng đồng, do sự phát triển của các làng xã mà tục thề dần được văn bản hóa trong văn bản của làng là khoán ước, hương ước Quá trình chuyển thể từ tục thề truyền khẩu thành tục thề được văn bản hóa chính là minh chứng nói lên rằng khoán ước, hương ước bắt nguồn từ tục dân
* Tục hậu
Trang 25Tục hậu cũng thường là một nội dung được ghi trong hương ước, vốn khởi phát từ tục thờ cúng tổ tiên của cư dân nông nghiệp ở vùng Đông Nam
Á, người Việt cũng khá thịnh hành tục đó Tục thờ cúng tổ tiên một mặt biểu hiện quan niệm, tín ngưỡng của người Việt về cái sống, cái chết Tục thờ cúng
tổ tiên còn thể hiện của ý thức đạo đức, lối sống nặng nghĩa tình: “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây” của cư dân nông nghiệp Tục thờ cúng tổ tiên được duy trì trong các gia đình cư dân nông nghiệp nơi làng xã sau dần được mở rộng thành lệ gửi hậu ở đình, ở chùa
Chùa là nơi thờ Phật, nhưng khi những người mộ đạo hiến tặng ruộng đất, cúng tiền vào chùa được ghi nhận công đức trên bia đá (hậu Phật bia ký), được dân làng cúng giỗ và được thờ sau Phật (hậu Phật) Tương tự như tục thờ hậu Phật là lệ thờ hậu thần, người gửi tiền, dâng đất vào đình làng, người gửi hậu sẽ được ghi công dức vào văn bia (hậu thần bia ký) và được thờ sau
thần hoàng làng (hậu thần) Ví dụ, năm Chính Hoà thứ 20 (1699), ở chùa Tường Quang, thôn An Trai, xã Vân Canh, tổng Phương Canh, huyện Từ
Liêm (Hà Nội) làng dựng bia Hậu Phật bi ước, ghi công đức của bà Lê Thị
Yến ở thôn Nhân Ái, xã Vân Canh đã xuất tiền sửa chùa, được dân làng tôn
hậu Phật, qui định cúng giỗ bà hàng năm hay trong Hậu thần bi ký tạo năm
Chính Hòa 29 (1704) dựng ở đinh xá Lão Phong, phủ Kiến Thụy, Kiến An (Hải Phòng) có ghi: ông Đồng Văn Học và vợ ở xã Lão Phong cúng cho xã
100 quan tiền để chi quan dịch và chữa đền miếu Dân xã lập khoán ước cho hai người đó làm hậu.Tục gửi hậu vốn xuất phát từ tục thờ cúng tổ tiên của người Việt sau dần được văn bản hóa17
Buổi đầu, tục gửi hậu vào đình, chùa còn do tùy tâm, có phần trong sáng và chứa nhiều ý nghĩa tốt đẹp Nhưng về sau bọn chức dịch nơi làng xã
đã khai thác lệ gửi hậu để phục vụ cho quyền lợi của chúng Thời Hồng Đức (1470-1497) tục thờ hậu được dân các làng xã đua nhau gửi hậu Phật ở chùa, hậu thần ở đình nhưng việc thờ cúng người gửi hậu không được thực hiện như
“khoán hậu” ngày càng bị lơ là qua quýt cho có lệ, Nhà nước phải ra tay chấn chỉnh lại việc thờ hậu theo đúng “khoán hậu” của làng
17
Nguyễn Danh Phiệt (1987), “Lệ làng phép nước”, tạp chí NCLS số 1+2, 1987, tr.52
Trang 26Như vậy tục thề, hội thề hay tục hậu ghi trong các bia hậu ở làng xã là những chứng cứ xác đáng về nguồn gốc ban đầu của khoán ước rồi hương ước sau này Chúng ta có thể thấy rằng: hương ước vốn bắt nguồn từ tục dân,
lệ làng Lệ làng vốn truyền khẩu sau ghi chép thành văn bản gọi là hương ước
1.1.3 Điều kiện xuất hiện
Từ lệ làng bất thành văn đến hương ước là cả quá trình vận động của làng xã Đa số các nhà nghiên cứu về hương ước lệ làng đều cho rằng sự xuất hiện của hương ước là kết quả của nhiều nguyên nhân và điều kiện chi phối, trong đó có 3 đều kiện cơ bản sau:
Một là, xuất phát từ nhu cầu tồn tại và phát triển của làng xã
Để tồn tại và phát triển, làng xã tự thân nó cần có các quy tắc ứng xử nhằm điều chỉnh mọi hoạt động của cộng đồng làng, như: Truyền nhau kinh nghiệm sản xuất, cách thức giải quyết các tranh chấp nội bộ, cách gìn giữ an ninh trật tự, hay việc hôn tế, ma chay… tất cả đều chi phối, tác động đến các mối quan hệ giữa các thành viên trong làng, lâu dần tạo nên phong tục, tập quán của mỗi miền quê Ban đầu những quy ước, quy định của làng xã chỉ đơn giản là truyền miệng từ đời này qua đời khác, người dân cứ theo lệ đó mà làm, mà thực hiện Làng xã theo thời gian với sự gia tăng của dân số, kinh tế phát triển, sự nảy sinh thêm các loại hình tổ chức xã hội làm cho những tục lệ truyền khẩu không còn phù hợp với cuộc sống phức tạp, đòi hỏi các làng xã phải ban hành những quy ước dưới hình thức bằng văn bản để đảm bảo chặt chẽ, rõ ràng hơn Khoán ước làng Phú Cốc viết về mục đích của hương ước lệ
làng: “Từng nghe, nước có trăm điều pháp luật để làm cho chính sự được ngay ngắn, xóm làng từng có ước lệ để mà giúp cho phong tục thêm thuần hậu Gốc của nước chính là dân này.Trên thuận dưới hòa, anh em thương kính, phong tục dần thêm tốt đẹp, tình người ngày một hợp hòa, giếng đào, ruộng cấy cùng bước đến cảnh thọ vực xuân dài, người lắm vật nhiều cùng sống chốn ấm êm hạnh phúc Những muốn sửa sang tục cũ, lại mong lệ được thuần phong Do vậy đặt ra khoán ước, để làm quy tắc cho muôn đời sau”18
18
Nguyễn Tá Nhí (1993), Hương ước cổ Hà Tây, Bảo tàng tổng hợp Sở Văn hóa Thông tin Hà Tây, tr.8
Trang 27Luật tục hay tập quán thành văn mà ta quen gọi là hương ước ra đời nhằm gìn gữi phong tục tập quán và đáp ứng nhu cầu phát triển của làng xã nhưng sự can thiệp ngày càng ráo riết, sâu rộng của nhà nước phong kiến cũng tác động không nhỏ đến quá trình vận động, phát triển của hương ước, khoán ước ở làng xã vùng châu thổ Bắc Bộ
Hai là, sự can thiệp của nhà nước phong kiến vào các làng xã
Trước khi Nhà nước phong kiến tác động, can thiệp vào làng Việt cổ thì làng tự quản bằng lệ làng, khi Nhà nước ra đời, Nhà nước ban hành ra pháp luật và buộc các làng xã phải thi hành qui định của mình bằng sức mạnh cưỡng chế thì lệ làng và luật nước tạo thành một cơ chế lưỡng hợp để quản lý làng xã
Làng xã vốn là nơi tụ cư chủ yếu của nông dân Việt Nam.Trong buổi đầu thành lập nhà nước phong kiến chưa thể quản lý các làng xã một cách chặt chẽ Nhưng càng về sau, nhà nước phong kiến từng bước mở rộng can thiệp về nhiều mặt đối với làng xã Quá trình can thiệp đó được biểu hiện bằng những chính sách cụ thể
Các vị vua và hoàng đế Đại Việt trong khi trị vì đất nước đều khẳng định quyền sở hữu tối cao của mình đối với ruộng đất Nhà nước phong kiến
từ Nhà Lê sơ đến Nhà Nguyễn thế kỷ XIX đều nhất quán bảo lưu chế độ quân điền.Thời Lê Thánh Tông định lệ 6 năm chia lại ruộng đất 1 lần.Thời Gia Long (1802-1829) quy định 3 năm chia lại ruộng đất 1 lần Mục đích của các Nhà nước phong kiến khi sử dụng chính sách quân điền là nhằm kiểm soát ruộng công làng xã, thu tô thuế, bắt nông dân thực hiện các nghĩa vụ đi phu,
đi lính Chế độ ruộng đất công và chính sách quân điền đã ràng buộc người nông dân với khẩu phần ruộng đất nhỏ hẹp ở làng xã của mình
Cùng quá trình can thiệp nhằm quản lý làng xã, tư tưởng nho giáo được chính quyền phong kiến đẩy mạnh tuyên truyền thông qua hệ thống giáo dục
từ quốc học đến trường dân lập nơi làng xã,… tư tưởng đó ảnh hưởng ngày càng sâu sắc đến cách ứng xử các mối quan hệ ở làng Trong mối quan hệ của làng với nước, các làng xã lại muốn bảo lưu những qui định mang tính chất cục bộ của địa phương mình, vì thế trong một chừng mực nhất định làng xã
Trang 28đã tìm cách ngăn cản, chống lại sự can thiệp của Nhà nước phong kiến Chẳng hạn như khi Nhà nước muốn nắm sổ đinh, sổ điền để thu thuế và bắt lính, thì làng xã tìm mọi cách để lậu đinh, lậu điền để lo việc của làng; hoặc giả là các quan xã tư túi, tìm cách dấu làm của riêng cho mình, điều này có thể xảy ra Mặc dù làng xã có những biểu hiện chống lại sự can thiệp của Nhà nước phong kiến nhưng về cơ bản làng vẫn bị Nhà nước quản lý Sự thống nhất của Nhà nước với làng xã cũng chỉ mang tính chất tương đối, chính trong tình hình như vậy hương ước ra đời, trở thành công cụ thích hợp giúp Nhà nước quản lý làng xã
Để kiểm soát được luật làng, Nhà nước yêu cầu luật làng phải được văn bản hóa, hương ước ra đời Hương ước là lệ làng được chép thành văn bản, ngoài những quy định riêng của làng, hương ước còn chứa đựng quy định những nghĩa vụ của người dân về thu thuế, lấy phu, bắt lính đối với Nhà nước phong kiến, đồng thời đảm bảo cho sự vận hành minh bạch, đều đặn của bộ
máy làng xã Sự can thiệp của Nhà nước vào đời sống tự quản của làng xã thể
hiện qua qui định của Nhà nước buộc luật làng muốn tồn tại trước hết phải không được trái với phép nước, luật làng phải bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với luật nước Làng xã phải đứng ra chịu trách nhiệm về những qui định của
làng với triều đình
Ba là, sự xuất hiện của tầng lớp người trí thức bình dân trong làng xã
Để lệ làng được ghi lại thành văn bản nhất thiết phải có tầng lớp người biết chữ, đó là điều kiện trực tiếp, cần thiết cho sự ra đời của các hương ước làng xã Để ghi chép lệ làng thành văn bản, làng xã cần phải có tầng lớp nho
sĩ, đó là những trí thức bình dân biết chữ Hán Ở nước ta, từ thời Nhà Lê Sơ trở đi khoa cử rất thịnh đạt, nhiều người đỗ đạt cao, tầng lớp nho sĩ ngày càng đông đảo Sang thế kỷ XVIII lớp nho sĩ bình dân tăng về số lượng Lớp trí thức bình dân ấy gắn bó với cuộc sống dân dã, nhiều người đã tham gia vào
bộ máy chức dịch làng xã; làm chánh tổng, phó tổng, lý trưởng, phó lý hay thư lại, hội trưởng hội lão, giáp trưởng hay hội trưởng hội thư văn… Những trí thức bình dân chính là những người tham gia soạn thảo hương ước, chấp
Trang 29bút viết nên những bản hương ước thay thế cho lệ làng truyền khẩu không còn đáp ứng nhu cầu của cuộc sống nơi làng mạc
Như vậy, hương ước vốn là tục lệ truyền thống của dân làng, khi làng xã
ở buổi sơ khai thì tục lệ rất đơn giản và truyền khẩu Sau do quá trình phát triển mọi mặt của làng xã tục lệ truyền khẩu không còn đáp ứng được nhu cầu của cuộc sống, hương ước ra đời Thực tế lịch sử cho thấy một số làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ ở thời điểm thế kỷ XV nửa đầu thế kỷ XIX đã đảm bảo những điều kiện cho sự ra đời của hương ước
1.2 Khái quát về quá trình phát triển hương ước ở đồng bằng Bắc bộ trước 1802
Chúng ta thống nhất với nhau rằng hương ước chính là một phần lệ làng được văn bản hóa thành những qui tắc xử sự chung nhằm điều chỉnh mọi quan
hệ xã hội diễn ra trong phạm vi của làng xã Hương ước là do những người trong làng cùng nhau xây dựng nên và tự giác tuân thủ.Lệ làng hình thành từ những phong tục tập quán trong đời sống của cộng đồng dân cư nông nghiệp,
để trở thành những nội dung của hương ước là cả một quá trình vận động và
phát triển của làng xã
Trước thế kỉ X, ở thời Hùng Vương mối quan hệ giữa nhà nước trung
ương với các làng xã (Công xã nông thôn) chưa chặt chẽ do tính độc lập, tự trị của các công xã còn mạnh Dân làng sống dựa vào quy ước chung của làng từ các phong tục tập đang trong quá trình hình thành, các quy ước đặt ra còn đơn giản chủ yếu là truyền bảo nhau cách làm ăn, lối ứng xử và giải quyết các tranh chấp bất đồng, hay tục tế lễ thần linh, việc hiếu hỷ trong làng… được các già làng, trưởng tộc truyền dạy nhằm giữ ổn định tình hình trật tự và đảm bảo cho phát triển của cộng đồng làng Hình thức để phổ biến quy tắc của làng xã thời kỳ này là truyền miệng từ đời này sang đời khác, các thành viên
trong làng xã cùng nhau thực hiện một cách tự giác
Thời Bắc thuộc (179TCN-905), với tài liệu ít ỏi và tản mạn, chúng ta không thể biết một cách đầy đủ về việc các chính quyền đô hộ phương Bắc đã
áp dụng hệ thống luật lệ của chúng như thế nào trong hơn 10 thế kỷ Bắc thuộc, chắc chắn thứ pháp luật mang tính áp đặt và cưỡng bức đó đã gặp phải
Trang 30sự chống đối quyết liệt của dân cư người Việt nên các chính phương Bắc phải
“dùng tục cũ mà cai trị” Pháp luật của chính quyền đô hộ thực chất chỉ có
hiệu lực với quan lại người Trung Quốc và một số người Việt làm việc cho chúng (chủ yếu từ cấp huyện trở lên), còn đối với dân chúng Âu lạc ở làng xã thì phong tục, tập quán của người Việt vẫn là những qui tắc xử sự chủ yếu được nhân dân tôn trọng, gữi gìn Do vậy, trên thực tế nhân dân Âu Lạc vẫn giữ được phong tục, tập quán và nếp của mình nơi làng quê của mình, đó là
cơ sở để nuôi dưỡng tinh thần và cốt cách Việt Nam
Lịch sử đã cho thấy các chính quyền đô hộ phương Bắc chưa khi nào có thể can thiệp đến làng xã của người Việt Do vậy, nhìn chung tình hình làng
xã Việt Nam so với thời Hùng Vương cũng không khác là bao, các quan hệ xã hội bên trong từng làng Việt chưa bị chính quyền đô hộ can thiệp vào, các quy ước mang tính chất phong tục, tập quán, lệ làng của làng xã vẫn được bảo lưu
và phát triển bền vững thông qua hình thức chủ yếu là truyền miệng
* Từ thế kỉ X-XV: năm 905 đến năm 938, họ Khúc, họ Dương và họ
Ngô kế tiếp nhau xây dựng lực lượng giành đấu tranh giành độc lập Giai đoạn này, có sự kiện rất đáng được chú ý là vào năm 907, Khúc Hạo quyết định tiến hành chính sách cải cách, trong đó đặc biệt là cải cách hành chính,
việc đặt Lộ, Phủ, Châu và Xã, lấy Giáp là đơn vị cơ sở (đổi hương thành giáp, lập giáp mới, cử người trông coi); định lại thuế, bãi bỏ lao dịch của thời Bắc
thuộc; lập sổ hộ khẩu,… Cuộc cải cách này là sự tác động của chính quyền đến cơ cấu của làng xã, góp phần đem lại sự thay đổi đáng kể trong xã hội Âu
Lạc
Chiến thắng Bạch Đằng năm 938, đất nước ta giành được độc lập bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập và phát triển, các Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền được xây dựng, củng cố và phát triển không ngừng Trên cơ sở đó, các Nhà nước phong kiến dân tộc trong giai đoạn này
có điều kiện can thiệp vào sâu hơn sống của làng xã Mặt khác, cùng với sự phát triển về dân cư, mở mang nền kinh tế cùng với sự thay đổi nhiều mặt của đời sống xã hội nên những yêu cầu của làng xã đặt ra ngày càng nhiều Các quy ước tục lệ xuất hiện phổ biến, không chỉ có tục lệ chung của một làng mà
Trang 31còn cả những tục lệ quy định riêng trong từng xóm ngõ, dòng họ Các tục lệ
về cưới xin, ma chay, ăn hỏi, quan hệ trong cuộc sống hằng ngày được đưa ra
và yêu cầu mỗi thành viên trong làng xã phải thực hiện nếu không sẽ bị xử phạt theo quy định Tục lệ giữa các làng cũng có sự khác nhau nhất định, tùy vào từng làng mà đưa ra những quy định riêng Cùng với sự thành lập và phát triển của Nhà nước trung ương tập quyền, quản lý Nhà nước đối với làng xã trở thành yêu cầu ngày càng cấp bách cho yêu cầu củng cố phát triển của chính quyền trung ương làm cho đời sống của làng xã ngày càng bị can thiệp sâu Bên cạnh các thiết chế tổ chức truyền thống, xóm ngõ, dòng họ… thì bộ máy quản lý làng xã do nhà nước trung ương tập quyền tổ chức ra và giám sát chặt chẽ nhằm việc đảm bảo cho Nhà nước có thể quản lý và can thiệp kịp thời vào đơn vị địa phương cấp cơ sở để đảm bảo các quyền về thuế, phu và lính… Từ đây, cuộc sống làng mạc trở nên phong phú, phức tạp hơn và quá trình lệ thuộc của nó vào Nhà nước trung ương tập quyền ngày cảng rõ rệt.Tuy vậy những tục lệ ở làng xã vẫn không bị suy giảm vai trò mà trái lại vẫn có xu hướng được mở rộng, phát triển, ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống của nhân dân Tài liệu cho biết vào cuối đời Trần năm 1370, khoán ước lần đầu tiên được đề cập trong Đại Việt sử kí toàn thư sau đó ngày càng trở nên phổ biến Do các khoán ước làng xã đặt ra quá nhiều thậm chí có một số địa phương còn tự đặt ra quy ước vi phạm đến điều luật của quốc gia, do vậy Nhà
nước đã ban hành chỉ dụ để nhắc nhở
Trật tự đẳng cấp theo khuôn mẫu phong kiến dần dần được hình thành Đồng thời trong từng lũy tre xanh ấy, chế độ tư hữu ruộng đất bắt đầu phát triển dù ở mức độ thấp tạo điều kiện để phân hóa giai cấp Đời sống làng xã ngày càng phức tạp cả về cơ cấu tổ chức và mối quan hệ xã hội Sự phức tạp của các mối quan hệ đó pháp luật của Nhà nước không đủ để điều chỉnh hết các mối quan hệ xã hội, đòi hỏi làng phải có quy ước bằng văn bản để điều chỉnh
* Từ thế kỉ XV-1802, khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng (1428), đất nước
ta hoàn toàn độc lâp, nhà nước Lê sơ ra đời Đây là thời kì nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền phát triển mạnh mẽ Với cải cách hành
Trang 32chính của Lê Thánh Tông (1460-1497), diện mạo làng Việt về mặt thiết chế tổ chức đã tương đối hoàn chỉnh có dòng họ, xóm ngõ, phường hội, bộ máy quản lý xã thôn theo truyền thống, tổ chức đại diện cho nhà nước phong kiến
ở làng Dưới tác động các chính sách của nhà nước phong kiến và sự phát triển nội tại của làng xã cùng với sự hoàn chỉnh về phương diện thiết chế tổ chức, sự phân tầng giai cấp trong từng đơn vị tụ cư của người Việt cũng diễn
ra mạnh mẽ và sâu sắc Tuy làng xã mất đi nhiều quyền lợi bởi sự can thiệp, quản lý của Nhà nước nhưng quyền tự trị của làng xã không mất đi, Nhà nước phong kiến cũng có những nhượng bộ, chấp nhận một số tục lệ cổ truyền mà làng xã đã có trong lệ làng nhằm duy trì trật tự, ổn định xã hội Sách Hồng Đức thiện chính thư ghi lại quan điểm của vua Thánh Tông về hương ước lệ
làng của làng xã như sau: “Nhà nước đặt ra điều luật để mọi người căn cứ vào đó để thi hành giúp cho nhân dân cả nước an khang thịnh đạt, do vậy không nhất thiết phải đặt ra khoán ước riêng Nếu như trong dân gian muốn ngăn ngừa các tệ nạn, khuyên răn người ta cải tà quy chính vứt bỏ các thói xấu mà đặt ra khoán ước riêng thì phải nhờ cậy những người có đức hạnh, có học thức thì khoán ước đó mới được ban bố cho thi hành Đồng thời khoán ước đặt ra đó phải trình lên trên xem xét các điều khoản ấy có hợp với tập tục hay không thì mới được phép thi hành Nếu thấy trong khoán ước có ý đặt ra
để mưu lợi riêng tư thì phải bác bỏ để tránh nảy sinh mưu kế tà gian, trường hợp người nào lén lút đặt ra tư ước riêng thì cho phép dân xã tố cáo lên để trị tội nhằm gạt bỏ tật xấu”
Hiện nay, có một số văn bản hương ước tục lệ còn lại được tìm thấy, các văn bản xuất hiện vào thời Lê sơ, như: Bia đá “Trăn Tân tử lệ bi kí” ở xã Phúc Thọ, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh dựng năm Hồng Đức thứ 18 (1484) quy định tục lệ tế lễ giữa các xã trong huyện Hay là, “Đại Phùng tống khoán ước” kí hiệu A.2875 soạn năm Chính Hòa thứ 5 (1684) đời Lê Hy Tông đã chép lại một số điều ước cũ soạn vào thời Hồng Đức thứ 6 (1475):
“Nguyên là vào năm Hồng Đức thứ 6 (1475) toàn tổng họp giao cho các xã thôn chia đều địa giới nhưng vẫn theo như một ấp Nếu có việc gì xảy ra thì cùng bảo vệ giúp đỡ nhau để tỏ ra nghĩa tình.Thôn ấp cùng ruộng hỗn cư,
Trang 33cùng làm cùng ở không có phân biệt.Nhà cửa ruộng hoa màu chỗ nào cũng phải giữ gìn nghiêm ngặt đề phòng kẻ gian bên ngoài xâm nhập Lại vào những lúc mùa màng thu hoạch tổng mục và khán thủ các xã thôn dựng điểm tuần tra, cho đến khi xong công việc, không để sót một lượm lúa nào, giúp dân được trông cậy Nếu xã thôn nào canh phòng sơ sót để thất thoát thì phạt viên khán thủ ấy một quan tiền cố để giữ nghiêm việc ruộng đồng”19…
Sau khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, tình hình xã hội Việt Nam xảy ra nhiều biến động lớn về chính trị: thường xuyên diễn ra các cuộc nội chiến nhằm tranh giành quyền lực, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân Nhìn chung dưới các triều đại Mạc, Lê, Nguyễn, Trịnh và Tây Sơn, xã hội mặc dù có nhiều biến động lớn nhưng hương ước tục lệ vẫn có những bước phát triển mạnh mẽ
Qua việc tìm hiểu quá trình ra đời và phát triển hương ước lệ làng ở làng xã trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, ta thấy hương ước là tên gọi chung chỉ quy ước của làng xã được ghi chép thành văn bản Hương ước
lệ làng là một sản phẩm văn hoá pháp lý mang những đặc điểm của lịch sử của cộng đồng dân cư nông nghiệp Cùng với quá trình xây dựng và củng cố Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, các triều đại phong kiến Việt Nam không ngừng tăng cường quản lý cấp cơ sở, làng xã trở thành đối tượng quan trọng đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển của chính quyền trung ương Thế kỷ XV, khi Nhà Lê sơ ban hành chính sách quân điền, luật hóa việc chia cấp ruộng đất trong các làng xã thì Nhà nước mới có điều kiện để can thiệp sâu vào đời sống của các làng xã Tuy vậy, sự can thiệp của chính quyền trung ương vấp phải một lực cản của cơ chế tự trị ở làng xã cổ truyền trong chừng mực nhất định, Nhà nước vẫn phải thừa nhận cho làng quyền tự quản riêng Làng và nước là hai thực thể xã hội song song tồn tại gắn bó mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển Hương ước đã từng là công cụ quản lý đời sống cộng đồng làng xã trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt
19
Nguyễn Tá Nhí (2010), Tư liệu văn hiến Thăng Long-Hà Nội, Tuyển tập hương ước tục lệ, NXB Hà Nội,
tr.11
Trang 34Nam và nó vẫn tiếp tục thể hiện vai trò đó đối với làng xã hiện nay, đó là một thực tế và vì vậy nó được coi là một nét đặc thù của làng xã Việt Nam
Từ thế kỉ XV hương ước bắt đầu xuất hiện trong làng xã người Việt nhưng chưa phổ biến thì đến thế kỉ XVI – XVIII, sự lên ngôi của hương ước
đa tự làm mờ nhạt đi khoán ước, nhiều nơi không dùng thuật ngữ khoán ước nữa Các điều khoản của hương ước ngày càng chặt chẽ, hợp lý hơn và trở thành khuôn phép của nhân dân trong làng xã, được các thành viên trong làng
xã tuân thủ thực hiện.Hương ước thành văn hình thành và phát triển nhanh chóng từ thời Lê sơ trải qua các thời Mạc, Lê - Trịnh, Tây Sơn, Nguyễn ngày càng hoàn thiện, phát triển hơn Các điều khoản của hương ước tục lệ không ngừng được sửa đổi, bổ sung chặt chẽ cùng với sự phát triển của cộng đồng
cư dân ở làng xã
Như vậy, hương ước xuất hiện gắn liền với tổ chức làng xã, nghĩa là gắn liền với sự xuất hiện cộng đồng dân sự với tổ chức hành chính Xét về quá trình lịch sử, hương ước có lẽ ra đời sớm nhất là vào cuối thế kỉ XIV hoặc đầu thế kỉ XV, khi cải cách của Hồ Quý Ly, chuyển đổi từ hương sang xã, từ
Xã quan sang Xã trưởng Vua Lê Thánh Tông hoàn thành cải cách hành chính vào những năm 70 thế kỉ XV thì hương ước mới xuất hiện công khai, được chính quyền chấp nhận và can thiệp20 Hương ước ở thế kỉ XV, phát triển theo quá trình phát triển của làng Việt, tộc họ, phường hội, phe giáp tiếp tục được củng cố trong các thế kỉ XVII, XVIII cho đến đầu thế kỉ XX Những thành tố phường, hội, họ tộc, phe giáp này vốn riêng biệt về tổ chức nhưng lại có quan
hệ chặt chẽ với nhau về kinh tế- xã hội (cùng chung tín ngưỡng thành hoàng, cùng một ngôi chùa, cùng chợ, có ruộng công của làng xã…)21
Sang thế kỉ XIX cấu trúc kinh tế- xã hội của làng Việt về cơ bản không có
gì thay đổi nhiều, vẫn là những làng xã tiểu nông kết hợp với thủ công nghiệp
và buôn bán nhỏ- một kết cấu đa nguyên, bền chặt Tuy nhiên dân số càng
Trang 35đông hơn, các thành tố kinh tế càng mở rộng hơn Do vậy, hương ước trong giai đoạn này vẫn được tiếp tục bổ sung, được duy trì22
1.3 Hình thức và nội dung chủ yếu của hương ước
1.3.1 Hình thức
Ở làng xã Việt Nam, lệ làng tồn tại dưới 2 hình thức chủ yếu là luật lệ truyền miệng và luật lệ thành văn Hương ước là thể hiện của lệ làng được ghi lại thành văn bản
Chất liệu văn bản: Hương ước bằng văn bản thường thể hiện trên các
chất liệu như: các loại sách khắc trên ván gỗ, bia đá, sách đồng, thiết khoán (viết trên tấm sắt) Ví dụ như: Hương ước xã Tri Lễ (1420) được viết trên giấy bản, khoán ước làng Đông Lao, xã Đông La, huyên Hoài Đức, Hà Nội (1867) được khắc trên bảng đồng Khoán ước làng Phú Kinh, xã Triệu Hòa, huyện Triệu Hải, tỉnh Quảng Trị năm 1774, được khắc trên gỗ, Huệ điền bi bằng đá dựng ở thôn Bình Vọng, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín-Hà Tây…
Chữ viết và các con dấu trên văn bản: Các văn bản hương ước cổ ở các
làng xã vùng đồng bằng Bắc bộ thường được viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm Con dấu trên văn bản thể hiện sự can thiệp của chính quyền cấp trên xuống dưới làng xã, kiểm duyệt hương ước, hạn chế tính tự trị làng xã
Về cấu trúc: cấu trúc của các văn bản hương ước đơn giản hay phức
tạp là tùy thuộc vào từng làng cụ thể Qua nghiên cứu một số văn bản hương ước của xã Mộ Trạch, Dương Liễu, Quế Dương… tác giả Vũ Duy Mền xác định bố cục của hương ước gồm 5 phần chủ yếu sau:
Một là, thành phần những người tham gia lập hương ước (tập thể quan
viên)
Hai là, lý do lập hương ước
Ba là, nội dung hương ước
Bốn là, thời gian soạn thảo hương ước (Ngày, tháng, năm, triều vua lập
Trang 36Năm là, ghi rõ họ và tên, chức danh, chữ kí, điền chỉ của những người
tham gia lập hương ước (ấn triện, lời phê của huyện quan, phủ quan nếu có)
Về niên đại: Niên đại của văn bản hương ước thường được thể hiện ở
phần thứ tư trong kết cấu của hương ước Yếu tố này khẳng định giá trị lịch
sử, giá trị khoa học của văn bản hương ước, ví như: Khoán hội tư văn của làng Quỳnh Đôi soạn từ thời Lê năm thứ ba hiệu Vĩnh Thọ (1660), sửa đổi lần cuối vào năm 1851; Mộ trạch xã Cựu Khoán (Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương) viết năm 1665 sửa lần cuối cùng vào năm 1797; Hương ước thôn Dương Liễu (xã Dương Liễu, Hoái Đức, Hà Nội) viết năm
1668, Hương đoan xã Phù Xá Đoài (tổng Phù Xá, huyện Kim Anh, tỉnh Phúc Yên) viết năm 1906 …
Nghiên cứu các bản hương ước cổ từ kết cấu, nội dung, niên đại… cho phép chúng ta khẳng định giá trị của hương ước, xác định được những qui chuẩn chung của công đồng làng xã, đồng thời cho chúng ta thấy rõ một hiện thực sống động của lịch sử và hiểu rõ hơn về vai trò, vị trí của hương ước đối với mối quan hệ giữa pháp luật của Nhà nước với hương ước của làng xã
1.3.2 Nội dung hương ước
Nội dung của các bản Hương ước phản ánh đầy đủ các sinh hoạt xã hội của nông thôn Việt Nam Tùy vào điều kiện cụ thể của từng làng mà mỗi bản hương ước có nhiều hay ít các điều khoản Hương ước đề cập đến những nội dung cụ thể gắn với phong tục tập quán lâu đời của từng làng, các điều khoản ghi trong hương ước thường rất phong phú và đa dạng, từ các hoạt động văn hóa tâm linh đến các hoạt động đời sống hàng ngày như lao động sản xuất, sinh hoạt văn hoá, lễ hội, tôn giáo, bảo vệ trật tự an ninh, các tập tục cưới hỏi, khao vọng… nhưng cũng có một số bản hương ước chỉ phản ánh từng mặt của cuộc sống, có bản chỉ đề cập đến việc thờ phụng thần hoàng …
Có thể khái quát những nội dung thường được hương ước làng xã phản ánh có những nội dung chủ yếu sau:
Trang 37Một là, những quy ước liên quan đến việc lập ra bộ máy hành chính
và các tổ chức trong làng Quy định về tổ chức hành chính ở thôn xã, hầu
hết các bản hương ước, tục lệ làng xã đều nói đến việc cắt cử bầu ra chức dịch trong làng Đồng thời, cũng có những quy định rất chặt chẽ về thời hạn, quyền lợi và nghĩa vụ của người tham gia Các vị chức dịch phải lo mọi công việc của làng xã từ việc tế lễ thần linh đến các việc hàng ngày như lao động sản xuất, trật tự trị an, học hành thi cử do vậy họ cũng có nhiều quyền lợi
Xã trưởng là người đướng đầu bộ máy chức dịch ở làng xã, từ thế kỷ
XV nửa đầu thế kỷ XVIII, các Nhà nước quân chủ Việt Nam luôn cố gắng nắm giữ việc tổ chức bộ máy hành chính tại làng xã nhằm đảm bảo việc quản
lý làng xã phát triển theo quỹ đạo của mình bằng tuyển chọn quan xã thông
qua qui định tiêu chuẩn nhất định, đặc biệt là xã trưởng Tuy nhiên, “Những năm đời Long Đức (1732-1735), Vĩnh Hựu (1735 -1740) về sau, việc đặt Xã trưởng đều do ở dân, phép khảo khoá bỏ đi, mà chức xã quan không coi trọng nữa”23 Vì vậy, từ sau 1735 đến những thập niên đầu thế kỷ XIX chức danh
Xã trưởng – Lý trưởng là do dân bầu chọn theo qui định của xã Mỗi xã trước đây có thể gồm một thôn (làng), hai hoặc ba, bốn thôn hợp thành Mỗi thôn lại
có một Thôn trưởng do dân làng bầu ra, Thôn trưởng có nhiệm vụ giải quyết các công việc trong thôn như giải quyết các tranh chấp nhỏ giữa dân thôn với nhau, chuyện ma chay, hiếu hỷ của dân làng, thực hiện những nhiệm vụ Xã trưởng và Hội đồng quan xã giao, chịu trách nhiệm trưởng lễ tế thần linh của làng… Thôn trưởng là một trợ lý tích cực của Xã trưởng, Lý trưởng và bộ máy chức dịch, họ rất gần với dân, là một nhân vật không thể thiếu trong cuộc sống làng xã dù họ chưa bao giờ được coi là thành viên chính thức trong bộ máy chức dịch Thôn trưởng do dân bầu ra để đảm nhiệm việc chung của thôn làng Qui định việc bầu chọn Thôn trưởng thường được nêu rõ trong hương ước của các thôn làng, ví dụ: thời Cảnh trị (1663-1671) trong hương ước của thôn Lộc Dư, xã Hoàng Phúc, Hà đông đã qui định về bầu Thôn trưởng, hoặc trong Dương Liễu, Quế Dương, Mậu Hoà xã tục lệ lập ngày 10/7 năm Cảnh
23
Phan Huy Chú (1961), Lịch triều hiến chương loại chí, tập II, NXB Sử học, Hà Nội, trang 32
Trang 38Trị thứ 4 (1666), Điều 2 qui định: “Bản xã phải cử mỗi giáp bốn người Hương trưởng, cùng với các xã khác để tiện việc hành chính”24
Ngoài việc lập ra bộ máy hành chính, hương ước còn qui định về địa vị pháp lý của các tổ chức xã hội như tổ chức tộc (họ), phe, giáp, phường, hội… các tổ chức này ngoài việc tuân thủ những qui định của làng còn có những qui định riêng của mình, nhưng những qui định đó không được trái với hương ước, lệ làng và luật nước
Thứ 2, là việc quản lý hộ tịch, hộ khẩu trong làng cũng đươc quy
định trong hương ước Đây là nhiệm vụ quan trọng mà Nhà nước giao cho
Xã trưởng chịu trách nhiệm kê khai đầy đủ, nếu cố tình ẩn lậu, khai man phải chịu trách nhiệm trước pháp luật Mỗi làng thường có hai thứ sổ hộ tịch: sổ đinh (quản lý về nhân lực) và sổ điền (quản lý về ruộng đất) Ở làng xã còn có
sổ hàng xã hay sổ hương ẩm ghi tên mọi nam giới trong làng theo trật tự tuổi tác Dân ngụ cư bị coi thường, khinh miệt, không được tham gia sinh hoạt việc làng xã, giáp… thể lệ và cách thức ghi sổ đều được qui định qua hương ước, lệ làng Về việc ngụ cư, Khoán ước xã Duyên Trường (Thanh Trì, Hà
Nội) ghi rõ: “làng chỉ cho người có căn cước minh bạch và nghề nghiệp chính đáng ngụ cư mà thôi Trừ những người tha hương đến quê vợ, quê mẹ không
kể, hễ người nào ngụ cư mà chưa quá ba đời, khi đi việc làng không được ngồi bàn nhất.Những người ngụ cư mà có sản nghiệp ở làng cũng phải chịu trách nhiệm như thế “(Điều 14)25
Thứ 3, hương ước của làng nào cũng dành những điều khoản quy
định việc sinh, tử, giá thú Việc sinh con trai, việc làng công nhận thành viên
nam mới ra đời được tiến hành qua lễ vọng giáp Riêng việc giá thú, tất cả các làng đều quy định các đôi nam nữ lấy nhau đều phải “nộp cheo” Hình thức nộp cheo phổ biến nhất là nộp tiền, ngoài ra có làng quy định nộp gạch để lát đường làng, nộp mâm đồng, mâm thau Việc ma chay cũng được ghi trong hương ước Nhìn chung, ở hầu hết các làng, giáp là nơi tổ chức ma chay, tang
lễ Nhiều nơi, lệ làng đối với việc tổ chức tang ma rất phức tạp và phiền phức
24
Theo Vũ Duy Mền (2010), Sđd, tr 137
25
Nguyễn Tá Nhí (2010), Sđd, tr.266
Trang 39Trong khoán ước xã Duyên Trường huyện Thanh Trì, Hà Tây (nay là thôn
Duyên Trường, xã Duyên Thái, huyện Thường Tín, Hà Nội) viết: “Trong làng
ai có việc sinh tử giá thú phải đến nhà hộ lại mà vào sổ Nếu ai để quá hạn như trong luật đã định mà không khai thì hội đồng lý dịch trình quan xét”26,
hay Điều 36 ghi: “Trong làng ai cheo cưới thì phải có trầu tường mời hội đồng lý dịch và hộ lại vào sổ Cháu nội phải nộp 1 đồng bạc sung công, còn cháu ngoại thì phải nhất bội nhị”27…
Thứ 4, việc chia cấp ruộng đất công và mua bán ruộng đất tư là một
vấn đề đặc biệt quan trọng được mọi làng, nhất là những làng còn nhiều ruộng đất công nên mọi qui định về ruộng đất đều được ghi cụ thể trong hương ước
Từ năm 1428, nhà Lê sơ bắt đầu ban hành chính sách quân điền, nhằm thống nhất việc chia cấp ruộng đất công trong phạm vi cả nước, nhưng với tập tục riêng, mỗi làng lại có những lệ chia cấp khác nhau Xem trong hương ước các làng thường có ghi đầy đủ điều khoản liên quan đến những đối tượng được nhận ruộng đất công của làng, thể thức chia cấp và nghĩa vụ của người được chia ruộng đất Khoán ước xã Dương Liễu, huyện Đan Phượng, phủ Quốc Oai lập bổ sung ngày 18 tháng 10 năm 1691 (Chính Hòa thứ 12), có 12/15 điều
quy ước về ruộng công “người nào đó trong bản xã sau khi đã nhận số ruộng công về cày cấy nhưng lại dây dưa không chịu nộp thuế và gánh vác việc quan dịch thì Xã thôn trưởng sẽ tịch thu gia tài của người đó để nộp thay, không được tùy tiện bán ruộng công” (Điều 5); “trong bản xã người nào đến
15 tuổi thì được chia ruộng ở các xứ sở, đến 18 tuổi thì phải gánh chịu thuế khóa sưu dịch y như các hạng đinh tráng Nếu như người nào đó chưa được chia ruộng thì đến 19 tuổi mới phải gánh chịu các việc sưu sai” (Điều 12)
Theo Phú Cốc xã khoán ước bạ ký chép năm 1697 (Chính Hòa thứ 18) quy
định: “ruộng quan phân chia cày cấy, nộp thuế chi dùng việc cần thiết hàng năm Nếu bản xã có việc quan cấp bách phải bán ruộng thì từ thượng lão, quan viên, hương sắc, thôn trưởng đến thứ dân lớn bé đều được mua để cày
Trang 40cấy, nếu người nào đó lạm canh từ 1 sào trở lên…bắt phạt lợn ruợu đáng giá
ba quan cổ tiền”28
Nhìn chung, trong việc chia cấp ruộng đất công, giáp là đơn vị phân cấp và quản lý Ruộng đất công của làng chia cho, chỉ được quyền sử dụng trong định kì cấp đó, không ai được bán, các làng đều phạt nặng những ai tự ý bán ruộng đất công Chẳng hạn ở làng Dương Liễu (Hoài Đức- Hà Nội) ai tự
ý bán ruộng đất công thì bị phạt 3 quan (tiền năm 1691).Đối tượng nhận ruộng đất công của làng phải làm tròn nghĩa vụ mà quy ước làng đề ra Ở làng Dương Liễu, ai không nộp đủ thuế sẽ bị giữ gia tài, làng Yên Sở ai vi phạm sẽ
bị “nêu đất” (giữ lại phần đất được chia và cả hoa màu trên đó)29 Ở những làng có rừng cây, ao hồ, sông suối, hương ước cũng có những quy định sử dụng, khai thác và bảo vệ Đối với ruộng đất tư, hương ước quy định việc mua bán và công nhận quyền sở hữu của người có ruộng, ngăn ngừa những
vụ tranh chấp
Thứ 5, những quy ước về việc cư xử giữa các thành viên trong làng
xã chiếm số lượng tương đối trong hương ước Hương ước đề cao tinh thần
đoàn kết, đùm bọc hỗ trợ lẫn nhau Hương ước các làng thường qui định trong
lễ minh thệ hàng năm, mỗi người cần phải thề không ăn gian nói dối, không gây oán thù với người khác, không làm mất lòng dân làng Trong hương ước của làng khi trình bày những điều khoản cụ thể đều khẳng định những giá trị tốt đẹp trong quan hệ giữa người với người trong làng, và mong muốn lập hương ước để duy trì và phát huy những giá trị tốt đẹp đó Hương ước khuyến khích dân làng ăn ở hòa thuận Hầu hết những hương ước, khoán ước của các làng đều có những điều khoản phạt những cá nhân vi phạm
Tuy nhiên, khi đề ra những quy ước về quan hệ giữa người với người, một số làng có những lệ bao che cho nhau, lâu dần tạo thành thói kết bè, kéo cánh, cục bộ địa phương Trong xã hội phong kiến, các qui ước qui định về tôn ty, trật tự trong làng xã thấm nhuần tư tưởng Nho giáo Điều đó thể hiện qua trật tự đẳng cấp trong làng, rõ nhất trong quan hệ nam - nữ Hương ước