1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách đãi ngộ đối với quan chức của nhà nước quân chủ việt nam thời nguyễn (1802 1884) và những giá trị kế thừa

174 116 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 4,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, cho đến nay trong các chủ trưởng, chính sách của Đảng và Nhà nước ta luôn coi yếu tố con người là nền tảng và xây dựng chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức trong bộ máy

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ ĐỐI VỚI QUAN CHỨC CỦA NHÀ NƯỚC QUÂN CHỦ VIỆT NAM THỜI NGUYỄN (1802-1884) VÀ

NHỮNG GIÁ TRỊ KẾ THỪA

MÃ SỐ: LH – 2017 – 08/ĐHL-HN

Chủ nhiệm đề tài: ThS.NCS Phạm Thị Thu Hiền

Thư ký đề tài: Ths Đậu Công Hiệp

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

- TS Trần Hồng Nhung, Th.S, NCS Phạm Thị Thu Hiền

Báo cáo tổng thuật Chuyên đề 1 Chuyên đề 2 Chuyên đề 3

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN 1: BÁO CÁO TỔNG HỢP

Mở đầu 1

Chương 1: Cơ sở lí luận về chính sách đãi ngộ quan chức thời quân chủ Nguyễn 14

1.1 Khái quát về hệ thống quan chức trong nhà nước quân chủ Nguyễn 14

1.2 Cơ sở hình thành chính sách đã ngộ quan chức của nhà nước quân chủ Nguyễn 17

Tiểu kết 23

Chương 2: Chính sách đãi ngộ của nhà nước quân chủ Nguyễn đối với quan chức 25

2.1 Đãi ngộ đối với bản thân quan chức 25

2.2 Đãi ngộ đối với thân thuộc của quan chức 35

Tiểu kết 36

Chương 3: Một số giá trị kế thừa từ chính sách đãi ngộ quan chức thời Nguyễn đối với chính sách cán bộ, công chức hiện nay 37

3.1 Thực trạng chính sách đãi ngộ cán bộ, công chức hiện nay 37

3.2 Nét tương đồng và khác biệt – từ góc nhìn lich sử 39

3.3 Một số giá trị kế thừa 41

Tiểu kết 50

Kết luận 52

Tài liệu tham khảo 54

PHẦN 2: HỆ CHUYÊN ĐỀ Chuyên đề 1: Một số vấn đề chung về chính sách đãi ngộ quan chức của nhà nước quân chủ chuyên chế triều Nguyễn 57

Chuyên đề 2: Chính sách đãi ngộ đối với quan chức của nhà nước quân chủ chuyên chế triều Nguyễn 92

Chuyên đề 3: Một số giá trị kế thừa từ chính sách đãi ngộ quan chức thời quân chủ Nguyễn đối với chính sách đãi ngộ cán bộ, công chức hiện nay 127

PHẦN 3: BÀI TẠP CHÍ

Trang 4

PHẦN 1:

BÁO CÁO TỔNG HỢP

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo suốt chiều dài lịch sử, đặc biệt dưới thời quân chủ, các vị vua đã luôn quan tâm đến yếu tố con người, đặc biệt là người hiền tài bởi nước trị hay loạn cốt ở trăm quan Do vậy,

vấn đề dùng người là một trong những yếu tố quyết định sự thành bại của một đất nước và tạo

nên hiệu quả của một nền hành chính Với quan điểm “làm vua mà không có bầy tôi thì làm

làm thay “việc trời”, thừa hành, giúp việc cho nhà vua, cùng vua cai trị dân, chuyển chính sách,

mệnh lệnh của nhà nước đến dân, thực hiện các chính sách đối nội, đối ngoại của nhà nước và

ban hành, thực thi chính sách đãi ngộ toàn diện đối với quan chức Chính sách đó đã tạo nên

động lực sự khuyến khích đối với bản thân quan chức trong quá trình thực thi công vụ Tuy

nhiên việc tìm hiểu chính sách đãi ngộ đối với quan chức thời quân chủ nói chung và dưới thời

Nguyễn nói riêng chưa được tìm hiểu một cách có hệ thống, chủ yếu đề cập ở mức độ đậm nhạt

liên quan đến chế độ tiền lương, quy định chung về ban tước phẩm Mặt khác, hiện nay, giới

nghiên cứu đang có cách nhìn nhận mới về triều Nguyễn, do vậy, đây vừa là một khoảng trống

để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu vừa góp phần làm rõ hơn những đóng góp của triều Nguyễn

đối với lịch sử

Bên cạnh đó, cho đến nay trong các chủ trưởng, chính sách của Đảng và Nhà nước ta luôn coi yếu tố con người là nền tảng và xây dựng chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức

trong bộ máy nhà nước để phát huy sự tận tuỵ của họ trong công việc Tuy nhiên việc đãi ngộ,

đặc biệt là chính sách tiền lương dù đã “cải cách” nhưng chưa tạo ra động lực đủ mạnh cho

người hưởng lương để khuyến khích phát huy tài năng và cống hiến Mặt khác, lương thấp cũng

là một trong những nguyên nhân dẫn đến những hiện tượng tiêu cực trong nền hành chính, đặc

biệt là vấn nạn tham nhũng Theo quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết trung ương 6, Đảng chỉ rõ

cần:

“kết hợp hài hoà giữa kế thừa, ổn định với đổi mới, phát triển; gắn đổi mới tổ chức bộ

máy với đổi mới phương thức lãnh đạo, tinh giản biên chế và cái cách chế độ tiền lương;

cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, thu hút người

Trang 6

gạn tìm những giá trị của lịch sử về chế độ đãi ngộ một mặt khẳng định yếu tố dân tộc, bản sắc;

một mặt tìm ra những gợi ý, kinh nghiệm cho công cuộc cải cách hành chính, xây dựng chính

sách đãi ngộ với đội ngũ thừa hành công vụ hiện nay

Với những bức thiết đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài là: “Chính sách đãi ngộ đối với quan chức của nhà nước quân chủ Việt Nam thời Nguyễn (1802- 1884) và những giá trị kế

thừa”

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Trong nước

Các nghiên cứu về đãi ngộ đối với đội ngũ thừa hành công vụ hiện nay

Liên quan đến đãi ngộ cán bộ, công chức hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu đề

cập đến như: Đổi mới chế độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị

trấn của Nguyễn Thế Vịnh, Tạp chí Tổ chức Nhà nước Số 1/2009; Bài viết “Một số vấn đề về

tuyển chọn, sử dụng và đãi ngộ nhân tài” đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 1/2011

của Trần Văn Quảng; Đỗ Phương Đông với bài viết Chế độ đãi ngộ và xử lý kỉ luật đối với

người đứng đầu cấp ủy, Tạp chí Cộng sản, số 68/2012; Nguyễn Minh Tuấn, (2012), Mấy suy

nghĩ về chính sách đãi ngộ cán bộ công chức hiện nay, Ban Tuyên giáo trung ương; Nguyễn

Thê Trương với “Về chính sách thu hút, tuyển dụng, trọng dụng và đãi ngộ người có tài năng

trong hoạt động công vụ”, Bộ nội vụ, 2015;…

Các nghiên cứu trên đã cung cấp bức tranh tổng quát về vấn đề đãi ngộ đối với đội ngũ

thừa hành công vụ về vật chất, phi vật chất cũng như trong tuyển dụng và sử dụng, quản lý

Một số bài viết đưa ra những mặt được và những biện pháp để tăng cường đãi ngộ cán bộ, công

chức hiện nay Những bài viết và công trình nghiên cứu trên giúp tác giả định hướng liên hệ

nội dung giải quyết và đưa ra những bài học cho đãi ngộ cán bộ, công chức hiện nay

Các nghiên cứu chung về quan chức thời quân chủ Nguyễn (vị trí, phương thức tuyển dụng

quan chức)

Quan chức là bộ phận quan trọng trong nền hành chính của mỗi quốc gia và trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định Vào thời quân chủ, quan chức là đội ngũ thừa hành, giúp nhà vua

hoạch định chính sách và cũng là những người chuyển chính sách của nhà nước tới dân và

ngược lại Các bài viết, công trình nghiên cứu về quan chức được đề cập khá sớm với số lượng

nhiều

Các công trình thông sử như: Tiến trình Lịch sử Việt Nam của Nguyễn Quang Ngọc, Nxb Giáo dục, 2000; Đào Duy Anh với Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỉ XIX, Nxb

Trang 7

Văn hóa thông tin, 2002; Lịch sử Việt Nam cổ trung đại của Huỳnh Công Bá, Nxb Thuận Hóa,

Huế, 2011; hay ba tập Đại cương Lịch sử Việt Nam 2 của Nxb Giáo dục Bên cạnh việc ghi chép

các sự kiện theo giai đoạn lịch sử, phân tích bối cảnh kinh tế, xã hội thời Nguyễn đã có không

ít trang viết bàn về giáo dục, hệ thống quan chức, tình hình chính trị của các vương triều

Đặc biệt, các công trình mới xuất bản của Viện Sử học năm 2013 đã bổ sung thêm nhiều

tư liệu mới và quan điểm mới so với các cuốn thông sử trước về bộ máy nhà nước, quan chế và

đãi ngộ quan chức Liên quan đến thời quân chủ Việt Nam có 5/15 tập bàn về bộ máy nhà nước,

quan chế, bao gồm: Lịch sử Việt Nam, tập 2 của Trần Thị Vinh và các tác giả Hà Mạnh Khoa,

Nguyễn Thị Phương Chi, Đỗ Đức Hùng; Lịch sử Việt Nam, tập 3 của Tạ Ngọc Liễn và các tác

giả Nguyễn Thị Phương Chi, Nguyễn Đức Nhuệ, Nguyễn Minh Tường; Lịch sử Việt Nam, tập

4 của Trần Thị Vinh và các tác giả Đỗ Đức Hùng, Trương Thị Yến, Nguyễn Thị Phương Chi;

Lịch sử Việt Nam, tập 5 của Trương Thị Yến và các tác giả Vũ Duy Mền, Nguyễn Đức Nhuệ,

Nguyễn Hữu Tâm, và Lịch sử Việt Nam tập 6 của Võ Kim Cương và các tác giả Hà Mạnh Khoa,

Nguyễn Mạnh Dũng, Lê Thị Thu Hằng Các công trình này đã có sự phân tích về chính sách

phát triển kinh tế, xã hội thời Nguyễn, đặc biệt khẳng định nền kinh tế cơ bản nhất đối với các

triều đại quân chủ nói chung và thời Nguyễn nói riêng là nông nghiệp và sở hữu công về ruộng

đất là quan trọng nhất Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu cũng chỉ rõ hiện trạng xã hội cơ

bản của Việt Nam dưới triều Nguyễn sự tồn tại của hai giai cấp cơ bản là nông dân và địa chủ,

hiện tượng phiêu tán hay cường hào trong các làng xã Mặt khác, các nhà nghiên cứu khẳng

định: Thời kì Lê Thánh Tông trở đi cho đến thời Nguyễn, quan chức được tuyển dụng chủ yếu

bằng khoa cử

Bên cạnh đó các cuốn giáo trình như: bộ 3 tập Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam 3 của Nxb Giáo dục đã phân tích những chính sách xã hội, bộ máy nhà nước qua các triều đại quân

chủ Việt Nam Các tác giả nhận định: chế độ giáo dục và thi cử đều rập khuôn theo tinh thần

Nho giáo nhằm đào tạo ra những kẻ thừa hành đắc lực và trung thành trong bộ máy thống trị

của giai cấp phong kiến Hay cuốn Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam của Trường Đại

học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2012 đã dành 6 chương để khái quát cơ cấu tổ chức

bộ máy nhà nước quân chủ Việt Nam từ thời Ngô đến thời Nguyễn Cuốn sách chỉ rõ rất nhiều

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

2 Trương Hữu Quýnh (ch.b), Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh, (1998), Đại cương lịch sử Việt Nam, Tập 1, Nxb Giáo

dục; Đinh Xuân Lâm (ch.b), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ, Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 2, Nxb Giáo dục; Lê

Mậu Hãn (ch.b), Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư, (1999), Đại cương lịch sử Việt Nam, Tập 3, , Nxb Giáo dục;

3!Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, (1963), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Tập 1, Nxb Giáo dục; Phan Huy Lê,

(1959), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Tập 2, Nxb Giáo dục; Phan Huy Lê, (1960), Lịch sử chế độ phong kiến Việt

Nam, Tập 3, Nxb Giáo dục!

Trang 8

chức danh được tiếp thu từ Trung Quốc, tuy nhiên nhiều chức quan, cơ quan của Đại Việt hầu

như không tìm thấy trong quan chế phương Bắc

Bên cạnh các cuốn sách thông sử có thể kể đến các công trình chuyên khảo có giá trị về

quan chế như: Quốc triều hương khoa lục, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1993 của Cao Xuân Dục; Bùi

Hạnh Cẩn, Nguyễn Loan, Lan Phương, Những ông nghè, ông cống triều Nguyễn, Nxb Văn hoá

Thông tin, 1995; Phan Đại Doãn, Nguyễn Minh Tường, Hoàng Phương , Một số vấn đề về

quan chế Triều Nguyễn, Nxb Thuận Hoá, Huế, 1998; Trần Thanh Tâm, Quan chức nhà Nguyễn,

Nxb Thuận Hoá, Công ty Văn hoá Phương Nam, Huế, 1999; Từ điển chức quan Việt Nam của

Đỗ Văn Ninh, Nxb Thanh niên, 2006; Phan Ngọc Liên, Trần Viết Thụ, Đặng Văn Hồ, Giáo

dục và thi cử Việt Nam: Trước Cách mạng tháng Tám 1945, Nxb Từ điển Bách khoa, 2006;

Nho giáo đạo học trên đất kinh kỳ (Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội) của Nguyễn Mạnh

Cường, Nguyễn Thị Hồng Hà, Nxb Văn hóa – Thông tin và Viện văn hóa, 2007; Nguyễn Ngọc

Quỳnh, Hệ thống giáo dục và khoa cử Nho giáo triều Nguyễn, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011;

Nguyễn Công Lý với Giáo dục - khoa cử và quan chế ở Việt Nam thời phong kiến và thời Pháp

thuộc, Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, 2011; Thi cử học hàm vị học hàm dưới các

triều đại phong kiến Việt Nam của Đinh Văn Niêm, Nxb Lao động, 2011; Trần Thị Vinh với

Thiết chế và phương thức tuyển dụng quan lại của chính quyền nhà nước trong Lịch sử Việt

Nam thế kỉ XVII – XVIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012 Trong đó, chúng tôi lưu tâm

đến các công trình:

Tác phẩm Lược khảo về khoa-cử Việt Nam: Từ khởi thuỷ đến khoa Mậu Ngọ, 1918, H,

Impr du Nord, năm 1941 của Trần Văn Giáp đã bàn luận có hệ thống về quan chế Việt Nam

trong tiến trình lịch sử Tác giả đã mô tả sơ lược khoa cử của Trung Quốc và chủ yếu đi sâu

khoa cử Việt Nam từ năm 1075, thời Lý đến năm 1918 và khẳng định nguồn gốc khoa cử Việt

Nam là từ Trung Quốc Tác phẩm đã làm rõ thời điểm ra đời và phát triển của các phép thi, nội

quy trường thi, cách thức rèn tập học trò đi thi qua các triều đại quân chủ Việt Nam Đồng thời,

cuốn sách có thêm những hình ảnh phong phú về khoa thi, quan chức, trường thi và một số bài

văn về khoa cử có giá trị tham khảo

Cuốn Khoa cử và giáo dục Việt Nam của tác giả Nguyễn Quang Thắng, Nxb Văn hóa

thông tin, 1993 đã hệ thống các thể lệ, cách thức thi cử, quá trình đào tạo của một quan chức từ

khi còn là một môn đồ ở giai đoạn cuối nhà Lê và đầu nhà Nguyễn Phan Hữu Dật trong cuốn

Phương sách dùng người của ông cha ta trong lịch sử của Nxb Chính trị Quốc gia, 1994 đã

bàn về tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ quan chức, chính sách dụng hiền của vương triều quân chủ

Trang 9

Việt Nam từ triều Lý đến triều Nguyễn Tác giả đã đánh giá những điểm tích cực và hạn chế

của quan chế thời xưa là chú trọng thực chất, lấy tài năng và kết quả công việc làm thực tế để

đánh giá con người, có chế độ thưởng phạt nghiêm minh, thường xuyên thuyên chuyển quan

chức để tránh gây bè kéo cánh, cục bộ địa phương nhưng vẫn tồn tại vấn nạn mua quan bán

chức, tham nhũng

Cuốn Một số vấn đề về quan chế Triều Nguyễn, Nxb Thuận Hoá, Huế, 1998, tập thể tác

giả Phan Đại Doãn, Nguyễn Minh Tường đã dành chương II: Quan chế triều Nguyễn

(1802-1884) bàn về vấn đề quan chế trước Nguyễn và thời Nguyễn khá cụ thể Tác giả nhận định các

vua Nguyễn đòi hỏi quan chức phải tuyệt đối trung thành, tận tụy làm theo mệnh lệnh của vua,

xứng đáng với vai trò “cha mẹ dân”

Đỗ Thị Hương Thảo trong cuốn “Thi Hương thời Nguyễn (qua hai trường thi Hà Nội và

Nam Định)”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2017 đã phân tích sự hình thành, biến đổi của hai

trường thi, nội dung thi, các yêu cầu đối với quan trường và sĩ tử tham gia trường thi; tỷ lệ đỗ

và sử dụng trong bộ máy nhà nước thời Nguyễn Trên cơ sở đó, tác giả đã rút ra một số đặc

điểm thi Hương thời Nguyễn cũng như sự tác động qua lại giữa khoa cử với chính trị, văn hoá,

xã hội

Các kỉ yếu hội thảo trong nước hay quốc tế có khá nhiều bài viết đề cập đến tuyển dụng,

sử dụng, đãi ngộ, thưởng phạt, giám sát quan lại thời Nguyễn Kỉ yếu Hội thảo quốc tế về Việt

Nam học lần thứ hai, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Nxb Thế giới, 2007, có hai bài viết đề

cập đến khoa cử thời Nguyễn, đó là Chính sách giáo dục của nhà Nguyễn đối với các dân tộc

ít người ở Việt Nam vào nửa đầu thế kỉ XIX của Phạm Thị Ái Phương và Các nhà khoa bảng

trong bộ máy nhà nước triều Nguyễn của Nguyễn Ngọc Quỳnh Mỗi bài viết đều nhấn mạnh

chủ trương của các vua Nguyễn đều hướng tới xây dựng một chế độ giáo dục lấy Nho giáo làm

nền tảng Mặt khác, kỉ yếu hội thảo khoa học về Danh nhân văn hoá Đình nguyên Thám – hoa

Phan Thúc Trực 1808-1852, Nxb Khoa học xã hội, 2012 đã đề cập đến cuộc đời cũng như sự

nghiệp quan trường của một viên quan triều Nguyễn Qua đó ta có thể thấy được sự thăng tiến

cũng như đãi ngộ của nhà nước và nghĩa vụ của người bề tôi

Đồng thời, nhiều bài viết trên các tạp chí cũng dành nhiều sự quan tâm đến khoa cử và

quan chế như: Trương Hữu Quýnh với bài viết Tìm hiểu pháp luật về quan chức ở nước ta thời

phong kiến, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5(88), 1994; Thái Hoàng và Bùi Quý Lộ với bài

viết Thanh tra, giám sát, khảo xét quan lại thời phong kiến ở nước ta, Tạp chí Nghiên cứu Lịch

sử, số 6, 1995; Việc tuyển chọn và sử dụng quan lại trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam

Trang 10

của Bùi Xuân Đính, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 7, 2003; Kinh nghiệm xây dựng và sử

dụng đội ngũ quan lại trong nền hành chính Việt Nam thời kì phong kiến của Nguyễn Thị Việt

Hương, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11 năm 2008; Các bài viết đã thể hiện quan điểm

các vị hoàng đế triều Nguyễn đều lấy tài đức làm tiêu chuẩn tuyển chọn quan chức, việc lấy

Nho giáo làm nền tảng cho giáo dục đã đào tạo ra những con người có ý thức trách nhiệm cao

với công việc

Các nghiên cứu về đãi ngộ quan chức

Chế độ đãi ngộ quan chức không phải là một đề tài mới bởi có khá nhiều bài viết, công trình của các nhà nghiên cứu về vần đề này ở mức độ đậm nhạt khác nhau, trực tiếp hoặc gián

tiếp

Cuốn Gia Long khai quốc văn thần, tập 1 của Hồ Biểu Chánh, Nxb Đại Việt, Sài Gòn,

1942 đã tập hợp 30 quan chức phò tá Gia Long từ năm 1778 đến năm 1788 Qua các trang viết

giới thiệu về các văn thần khai quốc, chúng tôi thấy được chính sách đãi ngộ của nhà nước đối

với đội ngũ quan chức này Tác giả viết về sự đãi ngộ của nhà nước với công thần Tống Phước

Đạm như sau:

“Năm Gia Long thứ 3 liệt thờ vào Hiền trung từ Năm thứ 6 định Vọng các công sắp ngài vào nhị đẳng và cấp mộ phu Năm Minh Mạng thứ 5 lấy cốt về táng tại Hưng Cần

Vua cấp tiền và vải san sai quan cúng tế và truy tặng Đặc tấn Tráng võ Tướng quân,

Cuốn Việc đào tạo và sử dụng quan lại của triều Nguyễn từ 1802 đến năm 1884 của tác

giả Lê Thị Thanh Hòa được xuất bản năm 1998 trên cơ sở nội dung của Luận án Tiến sĩ đã giới

thiệu khái quát và cô đọng về đào tạo và sử dụng quan chức triều Nguyễn Tác giả dành 32

trang để bàn đến việc sử dụng quan chức thời Nguyễn với các nội dung: đãi ngộ, thanh tra,

thưởng phạt, thuyên chuyển, hồi tị cũng như chế độ hưu trí của quan chức nhà Nguyễn Tác giả

nhận định đội ngũ quan chức được Nhà nước được nhận ưu đãi về mọi mặt: Về tinh thần là

chức tước, phẩm hàm; về vật chất, đó là lương bổng, tiền xuân phục, dưỡng liêm; về vật chất

đó là ruộng đất và tiền lương

Tác giả Trần Trọng Kim với phương pháp chép sử biên niên đã dành khá nhiều trang viết

giới thiệu, phân tích về khoa cử, quan chức Việt Nam trong tác phẩm Việt Nam sử lược, Nxb

Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2006 Liên quan đến đãi ngộ quan chức, tác giả nhận định do tiền

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

4!Hồ Biểu Chánh, (1942), Gia Long khai quốc văn thần, Nxb Đại Việt, Sài Gòn, tr14-15!

Trang 11

lương của quan địa phương quá ít ỏi nên triều đình Nguyễn đã chủ trương mỗi năm lại phát

thêm tiền dưỡng liêm cho quan chức cấp tỉnh và phủ huyện

Tác giả Lê Nguyễn Lưu và Phan Tấn Tô trong cuốn Vua Minh Mạng với thái y viện và

ngự dược, Nxb Thuận Hóa, Huế năm 2007 dành 25 trang viết bàn về cơ cấu tổ chức và hoạt

động, cách thức tuyển chọn và đào tạo thái y, chế độ thăng giáng, lương bổng đối với quan lại

trong thái y viện thời Minh Mệnh Tuy nhiên, tác giả chưa đưa ra những nhận xét đánh giá về

hiệu quả hoạt động của cơ quan này

Cuốn “Ngàn năm mũ áo” của Trần Quang Đức, Nxb Thế giới, 2013 đã dựng lại bức tranh

trang phục Việt Nam trong cung đình và ngoài dân gian trong khoảng một nghìn năm từ thời

Lý đến thời Nguyễn (1009-1945) Qua đó có thể thấy sự thay đổi của trang phục vua, quan qua

các triều đại và sự khác biệt so với trang phục thường dân Trong các trang viết đề cập đến

trang phục thời Nguyễn, tác giả Trần Quang Đức đã phân tích sự kế thừa, học tập từ trang phục

quan lại ở Trung Quốc và các triều đại trước ở Việt Nam Đồng thời, tác giả có sự bảng thống

kê trang phục dưới triều Minh Mệnh, Thiệu Trị hay bảng so sánh quy chế cổn miện của các

quan theo phẩm hàm

Năm 2015 luận án của Lê Quang Chắn với nhan đề Chính sách xã hội triều Nguyễn (giai

đoạn 1802 - 1884), trên cơ sở nguồn tư liệu tin cậy đã phân tích, đánh giá chính sách xã hội

triều Nguyễn đối với từng đối tượng cụ thể trong xã hội Đặc biệt, những phân tích về chính

sách đãi ngộ đối với quan lại, binh lính trong chương 3: Chính sách xã hội đối với các đối

tượng cụ thể trong xã hội đã cung cấp những thông tin cho chúng tôi trong quá trình thực hiện

đề tài

Nguyễn Minh Tường với các tác phẩm như: Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh

1820 -1840; đề tài nghiên cứu cấp Bộ được xuất bản năm 2016 với nhan đề Tổ chức bộ máy

nhà nước quân chủ phong kiến Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội đã dành sự chú ý hơn về quyền

lợi của quan chức từ nhà Ngô đến nhà Nguyễn về lương bổng, chế độ hưu trí, dưỡng liêm và

đãi ngộ đối với gia quyến của quan chức Đặc biệt bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch

sử năm 2015 số 5 và số 6 với nhan đề Sự ra đời của tiền lương trong lịch sử và chế độ tiền

lương dưới thời quân chủ Việt Nam đã khái quát nguồn gốc chế độ tiền lương, diễn biến và

việc áp dụng chế độ tiền lương từ thời Lý đến thời Nguyễn Bài viết cô đọng, súc tích và có sự

thống kê chi tiết cùng những lý giải phù hợp về đãi ngộ lương bổng đối với quan chức của nhà

nước quân chủ Việt Nam Tác giả nhận định chế độ tiền lương dưới thời quân chủ Việt Nam là

Trang 12

quá thấp và ít ỏi nhưng người làm quan được hưởng nhiều quyền lợi về tinh thần bản thân họ

cũng được dòng tộc, làng xóm kính trọng và tự hào

2.2 Ngoài nước

Cho đến hiện nay, các công trình của các học giả nước nước ngoài nghiên cứu về vấn đề

này chưa nhiều Có thể kể đến một số công trình sau:

Trong cuốn “Vietnam and the Chinese model: a comparative study of Nguyen and

Ch’ing civil government in the first half of the nineteenth century”, 1988, tác giả Alecxander

Barton Woodside đã dành ra 3/5 chương bàn về mô hình nhà nước, chế độ giáo dục, thi cử, nhà

vua và quan chức Việt Nam duới triều Nguyễn Theo Woodside, các vua Việt Nam cố gắng

đảm bảo cho những chính quyền của mình cũng như hệ thống quan chức, thi cử đạt đến một sự

tương xứng như những chính quyền của Trung Quốc; đồng thời khẳng định sự tương đồng

trong mô hình nhà nước của triều Nguyễn với triều Thanh Trung Quốc là do nhiều nguyên

nhân: quan chức đi sứ sang Trung Quốc; triều Nguyễn có nguồn gốc miền Trung và miền Nam;

truyền thống sưu tầm các điển tích điển cố Liên quan đến khoa cử, tác giả đã chỉ ra một số nét

khác nhau giữa các kì thi và hệ thống trường thi ở Việt Nam và Trung Quốc Tác giả cũng

khẳng định ở triều đình có một tầng lớp những người không có chức vụ nhưng được hưởng

nhiều lợi lộc, đó là công thần Vọng các

Hay bài viết Chính quyền trung ương triều Nguyễn và nhà Thanh Cơ cấu quyền lực và

quá trình giao tiếp trong Nguyệt san Xưa và Nay, Những vấn đề lịch sử Việt Nam, Nxb trẻ,

tác giả A.B Woodside, trên cơ sở phân tích quá trình tiếp biến văn hóa chính trị pháp lý giữa

Trung Quốc và Việt Nam đã khẳng định cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, pháp luật, đãi ngộ

quan chức, đánh giá quan chức có sự tương đồng và khác biệt Cùng lời nhận xét trên, tác giả

đưa ra những dẫn chứng như: quan cấp tỉnh của nhà Nguyễn được nhận lương dưỡng liêm, Nội

các nhà Nguyễn có cơ cấu nhỏ hơn và phẩm hàm quan chức thấp hơn Thượng thư Lục Bộ so

với Nội các nhà Thanh

Cuốn Việt Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, Nxb Trẻ, 1999, tác giả Yoshiharu

Tsuboi bằng nhiều nguồn tài liệu của Việt Nam, Nhật và Pháp đã đề cập đến giáo dục, khoa cử

của Việt Nam khá chi tiết Trong mục “Quan chức và tầng lớp văn thân” ông đã khẳng định

triều Nguyễn chọn quan chức bằng khoa cử theo kiểu Trung Hoa Trong tương quan so sánh

quan chức Việt Nam với Trung Quốc, tác giả nhận định

“Quan chức chính ngạch suốt đời được miễn sưu thuế mà dân chúng phải gánh chịu nặng Họ ở trong một dinh thự rộng lớn, bàn ghế do nhà nước trang bị, giữa vùng đất

Trang 13

rộng lớn có tường hoặc lũy tre hay đôi khi ở một trong tòa thành Tục lệ và pháp luật cho họ được hưởng nhiều danh dự đặc biệt, họ được mặc lễ phục bằng lụa nâu tươi sáng, tân khách nói chuyện với họ nhỏ tiếng vì cung kính Di chuyển bằng cáng đẹp và

có người hộ tống ” 5

Nhận định trên giúp cho chúng tôi khẳng định rõ thêm quan chức luôn được hưởng các đãi ngộ và ràng buộc với nhà nước bằng những nghĩa vụ nhất định

Cuốn sách của Emmanuel Poisson với nhan đề Quan và lại ở miền Bắc Việt Nam – một

bộ máy hành chính trước thách thức (1820-1918), Nxb Đà Nẵng, 2006 đã phân tích cấu trúc

nền hành chính xưa, về cách thức đào tạo và tập sự, về thể thức chi trả lương bổng và thang bậc

thăng tiến dưới triều Lê và Nguyễn; đồng thời lập một hệ thống bảng biểu chi tiết về lương

bổng, chức quan, số lượng quan chức ở địa phương, tỷ lệ quan chức xuất thân ở các làng xã

trong 3/8 chương Liên quan đến chế độ đãi ngộ với quan chức, bằng phương pháp thống kê,

tác giả khẳng định quan chức được trả lương bằng gạo và tiền và được trả bằng nhiều đợt; mức

lương giữa các bậc chênh lệch nhau và có sự khác nhau giữa nhà Lê và nhà Nguyễn, do đó, “từ

sự khác biệt về địa lý và lương bổng đã đưa đến một sự vận động ngấm ngầm khi bổ nhiệm

Việc chọn một vị trí tốt đã trở thành một yếu tố chủ chốt trong chiến lược thăng tiến của một

sử dụng, nguồn gốc xuất thân của quan chức cũng như sắp đặt quan chức của các triều đại quân

chủ Việt Nam hơn là nghĩa vụ của quan chức

Những năm gần đây cuốn sách của tác giả Taylo K.W với nhan đề A history of the

Vietnamese, Cambridge University press, 2013 được đánh giá là có nhiều điểm nghiên cứu mới

về lịch sử Việt Nam trên nhiều bình diện Liên quan đến đề tài, phần khoa cử, tác giả khẳng

định, thời nhà Lê đã đưa ra “các quy tắc để bước vào các kỳ thi Hương: điều tra lí lịch gia

pháp để tạo ra một bầu không khí học tập” 8

Tóm lại, các bài viết và công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã cung cấp những tư liệu cùng với quan điểm đánh giá đa chiều cho nghiên cứu của chúng tôi về

quan chức cũng như đãi ngộ quan chức Những nghiên cứu trên đã tạo nên bức tranh tổng thể

về con đường hình thành, vị trí cũng như vai trò của quan chức và phương thức tuyển chọn

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

5!Yoshiharu Tsuboi, (1999), Việt Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa”, Nxb Trẻ, tr.274-276

6 !Emmanuel Poisson, (2006), sđd, tr 76!

7 Taylo K.W (2013), A history of th Vietnamese, Cambridge University press, tr.207

8 Taylo K.W (2013), A history of th Vietnamese, sđd ,Tr.209

Trang 14

quan chức như trong các công trình nghiên cứu của Trần Văn Giáp, Lê Thị Thanh Hoà Mặt

khác, các công trình nghiên cứu cũng quan tâm đến đãi ngộ quan chức ở hai khía cạnh đó là

đãi ngộ vật chất và đãi ngộ phi vật chất, tuy nhiên chỉ tập trung chủ yếu làm rõ đãi ngộ quan

chức về khía cạnh vật chất, đó là lương bổng như các bài viết của tác giả Nguyễn Minh Tường

hay Emmanuel Poisson

Tuy nhiên, các bài viết, công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào con đường tuyển dụng quan chức qua khoa cử (tức thông qua các kì thi của nhà nước: thi Hương, thi Hội, thi

Đình), chưa định hình rõ khái niệm quan chức và vai trò của họ trong bộ máy nhà nước quân

chủ Đồng thời, chưa có một công trình hay bài viết nào hoặc ở mức độ đậm nhạt đề cập đến

yếu tố hình thành cũng như giá trị chính sách đãi ngộ, nguyên tắc đãi ngộ quan chức thời quân

chủ Nguyễn đối với chính sách đãi ngộ cán bộ, công chức hiện nay Do đó, có thể thấy, chế độ

đãi ngộ quan chức thời quân chủ chưa được nghiên cứu toàn diện và có hệ thống Vì vậy, những

khía cạnh chưa được làm rõ của các công trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ tiếp tục bổ sung, nghiên

cứu và hoàn chỉnh, đó là các quy định về đảm bảo quyền lợi trong thực thi công vụ, quyền lợi

trong hưu trí, tử tuất, ốm đau… và những giá trị kế thừa

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Pháp luật bởi những lý do sau:

- Những tư liệu phục vụ cho môn học này, đặc biệt là các bộ chính sử tại Thư viện trường Đại học Luật Hà Nội không nhiều Sự không phong phú về tư liệu đã hạn chế khả năng tra cứu,

chuẩn bị thảo luận và làm bài tập của sinh viên các khóa theo học Do đó, nghiên cứu về đãi

ngộ quan chức của nhà nước Việt Nam thời quân chủ Nguyễn cũng như các nghiên cứu khác

của các thành viên trong tổ bộ môn sẽ tạo ra một khối lượng thông tin hay các bản tập hợp tư

liệu phục vụ cho việc học tập và tra cứu của sinh viên khi lựa chọn môn học Lịch sử Nhà nước

và Pháp luật

Trang 15

- Do sự sáp nhập của môn học nên giáo trình đang sử dụng phần nào không còn phù

hợp, đã đặt ra nhu cầu bức thiết cho tổ bộ môn về việc viết lại giáo trình

mạnh và tồn tại của chính sách đãi ngộ thời quân chủ Nguyễn

- Xuất phát từ thực trạng đãi ngộ cán bộ công chức hiện nay và thực tế chính sách đãi ngộ thời quân chủ Nguyễn để rút ra một số giá trị kế thừa đối với chính sách đãi ngộ cán bộ

công chức

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cách tiếp cận

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi vừa sử dụng cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu trước

(nghiên cứu về nội hàm chính sách đãi ngộ thời Nguyễn; nghiên cứu về cách thức quy định đãi

ngộ của các vương triều quân chủ Nguyễn), vừa tiếp cận theo hướng mới, đó là nghiên cứu về

cơ sở pháp lý, lí luận và thực tiễn và dưới góc độ hệ thống hóa

4.2 Các phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, ngoài các phương pháp nghiên cứu có tính chất cơ sở phương pháp luận cho các ngành khoa học xã hội nói chung như phương pháp duy vật biện chứng, phương

pháp duy vật lịch sử chúng tôi còn sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là hai phương pháp chủ yếu được sử dụng kết hợp nhằm làm rõ nội dung của đề tài Sử dụng phương pháp lịch sử, tác giả muốn tái hiện

trung thực bức tranh về chính sách đãi ngộ quan chức dưới thời quân chủ Nguyễn theo đúng

trình tự thời gian và không gian như nó từng diễn ra Phương pháp logic được sử dụng kết hợp

giúp chúng tôi thấy được bản chất, sự chân thực khách quan, sự vận động liên tục của chính

sách đãi ngộ thời quân chủ Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1884

Trang 16

- Phương pháp so sánh đặc biệt có ý nghĩa khi phân tích, khái quát về mức đãi ngộ vật chất và phi vật chất của các đời vua triều Nguyễn; giữa triều Nguyễn với các triều đại trước đó,

đặc biệt là Hậu Lê

- Phương pháp phân tích định lượng và thống kê được sử dụng trong đề tài nhằm xử lý các tư liệu để tìm ra đặc trưng Trong khả năng cho phép, chúng tôi cố gắng lượng hóa thông

tin, số liệu, qua đó đưa lại những nhận thức chân xác về chế độ đãi ngộ quan chức

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách đãi ngộ đối với quan chức ở Việt Nam

thời Nguyễn

5.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: từ lãnh thổ nhỏ hẹp ở vùng Bắc Bộ đến khi thống nhất lãnh thổ một

dải từ Bắc đến Nam

- Về thời gian: Tác giả chọn lựa mốc thời gian từ năm 1802 đến năm 1884 với lí do sau:

Thứ nhất, đây là giai đoạn độc lập tự chủ và phát triển thịnh trị của nhà nước quân chủ Nguyễn;

Thứ hai, các vị vua triều Nguyễn từ Gia Long đến Tự Đức đã ban hành nhiều chính sách đãi

ngộ có giá trị

- Về nội dung: đề tài giới hạn nội dung chính sách đãi ngộ quan chức của nhà nước quân

chủ Nguyễn từ thời vua Gia Long đến vua Tự Đức về nguyên tắc đãi ngộ, các đãi ngộ vật chất

(lương bổng về ruộng đất và tiền khi tại chức, về hưu hay khi mất) và phi vật chất (bảo vệ sức

khoẻ, tính mạng; tước phẩm, học tập,…) đối với bản thân và thân thuộc Các khía cạnh trên

được phân tích chủ yếu dưới thời vua Minh Mệnh bởi đây là vị vua có đóng góp lớn trong việc

cải tổ bộ máy nhà nước đặt nền tảng cho sự vận hành bộ máy quân chủ chuyên chế và được các

đời vua Nguyễn sau kế thừa, bổ sung Từ sự phân tích đó đề tài sẽ nhìn nhận những đóng góp,

hạn chế và rút ra một số giá trị kế thừa trên một số khía cạnh nhất (tiền lương, đánh giá thành

dụng các chính sách đối với quan chức trong việc điều chỉnh các chính sách đối với cán bộ,

công chức hiện nay

Trang 17

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng tham khảo trong:

- Giảng dạy môn Lịch sử Nhà nước và pháp luật tại trường Đại học Luật và các cơ sở

đào tạo khác

- Có thể tham khảo trong việc nghiên cứu chính sách đãi ngộ nói riêng và chế độ quan chức, chế độ công vụ ở Việt Nam qua các thời kì lịch sử

7 Cơ cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận về chính sách đãi ngộ đối với quan chức thời quân chủ Nguyễn Chương 2: Chính sách đãi ngộ của nhà nước quân chủ Nguyễn đối với quan chức Chương 3: Một số giá trị kế thừa từ chính sách đãi ngộ quan chức thời quân chủ Nguyễn đối với chính sách đãi ngộ cán bộ, công chức hiện nay

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ QUAN CHỨC THỜI QUÂN CHỦ NGUYỄN

1.1 Khái quát về hệ thống quan chức trong nhà nước quân chủ Nguyễn

1.1.1 Quan niệm về chính sách đãi ngộ quan chức thời quân chủ

Theo Từ điển Tiếng Việt, Chính sách: là “sách lược và các chủ trương, biện pháp cụ thể

học: Chế độ “là tổng thể các quy tắc cần phải tuân theo; là hệ thống các quy định pháp luật

cần phải được tuân thủ trong một quan hệ xã hội nhất định” Từ đó có thể thấy, khái niệm

chính sách và chế độ có nội hàm khác nhau Nếu như chế độ là quy định của pháp luật bắt buộc

phải tuân theo, thì chính sách được hiểu đó là chủ trương chính sách được xây dựng, ban hành

và thực hiện như thế nào

Đãi ngộ là “Cho hưởng các quyền lợi theo chế độ, tương xứng với sự đóng góp” Quan

lại: là một danh từ ghép, bao gồm quan và lại

Theo Từ điển Hán – Việt, Lại “là làm việc quan, chức phụ thuộc trong nha môn” 10

Quan là “người làm việc cho nhà nước, làm chủ trong một công việc” 11 Theo Từ điển Hán

nước quân chủ nói chung và nguyên tắc “Liên kết dòng họ”, lấy Hoàng thân Quốc thích làm bệ

đỡ cho sự tồn tại của vương triều, nên thân thuộc của nhà vua và Hoàng hậu được hậu đãi về

mặt vật chất và ban phong tước vị, do đó trong hệ thống thang bậc của quan chức cũng hàm

chứa nhiều đối tượng trong hàng ngũ quý tộc Tuy không đảm nhận chức vụ cố định trong bộ

máy nhà nước nhưng đội ngũ quý tộc này vẫn được trao một số nhiệm vụ nhất định hoặc đảm

nhận một số chức vụ và cũng gánh chịu những hình phạt nhất định nếu không hoàn thành nhiệm

vụ như chính sử có chép: Tôn Thất Đạo được trao chức Chánh giám sơn lăng sứ vì phòng giữ

không cẩn thận nên giáng 3 cấp đánh 40 roi; Chánh đội trưởng Tôn Thất Tại vì phòng giữ

không cẩn thạn bị đóng gông, phạt trượng cách lưu; Kiến An công là Đài không biết quản quân

phạt lương thân công 1 năm hay Tôn Thất Loan không hoàn thành nhiệm vụ quân sự bị giáng

4 cấp… Vì vậy, khái niệm quan chức thời quân chủ cần được hiểu rộng hơn so với khái niệm

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

9 http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn

10!Đào Duy Anh (2010), Từ điển Hán Việt, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, tr.387!

11!Đào Duy Anh (2010), Từ điển Hán Việt, sđd, tr 600!

12 Bửu Kế, sđd, trang tr.1502

Trang 19

hiện tại Quan chức trong bộ máy nhà nước quân chủ chuyên chế Nguyễn không chỉ bao gồm

những người giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước và còn bao gồm đội ngũ quý tộc được ban

phong tước vị và các đại thần giữ vai trò tư vấn, giúp việc cho nhà vua

Từ việc phân tích các thuật ngữ cấu thành và thực tiễn tổ chức, vận hành bộ máy nhà

nước quân chủ chuyên chế Nguyễn có thể hiểu Chính sách đãi ngộ quan chức thời quân chủ

là các biện pháp, kế hoạch, đường lối, chủ trương của nhà nước đối với những người được ban

phong tước vị, giữ chức vụ hoặc thực hiện nhiệm vụ tư vấn, giúp việc cho nhà vua

1.1.2 Vị trí, phương thức tuyển chọn và sử dụng quan chức trong bộ máy nhà nước quân

chủ Nguyễn

Với bổn phận là tôi trung của Hoàng đế, quan chức có vị trí, vai trò quan trọng trong nền hành chính quốc gia Quan chức không chỉ là đội ngũ tư vấn, giúp Hoàng đế hoạch định

chính sách cai trị và quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, mà còn là người những triển khai

mọi chủ trương, chính sách của nhà nước, là cầu nối giữa nhà nước với người dân

Hệ thống quan chức thời Nguyễn cũng có sự sắp xếp và phân loại giống như các triều đại quân chủ Việt Nam trước đó Tùy theo tiêu chí phân loại, quan chức có thể được phân thành

nhiều ngạch khác nhau Theo địa bàn làm việc: quan chức được phân thành quan trong (quan

làm việc tại trung ương) và quan ngoài (quan làm việc tại địa phương) Theo lĩnh vực quản lý:

quan được phân thành ba ngạch, bao gồm quan văn, quan võ và nội quan (quan phục vụ cho

vua và hậu cung) Việc phân loại quan chức thành ngạch bậc có ý nghĩa rất lớn trong việc hoạch

định chính sách, quyết định phương thức tuyển bổ và chính sách đãi ngộ đối với quan chức

Quan chức thời quân chủ Nguyễn cũng như các triều đại quân chủ trước được tuyển dụng bằng ba phương thức chủ yếu sau:

- Nhiệm tử (tập ấm): là phương thức tuyển dụng con cháu của quý tộc công thần và quan

chức dựa trên ân trạch của ông cha Lệ tập ấm này được quy định trong Hoàng Việt luật lệ tại

điều điều 1 Q IV chương Lại luật và một số văn bản đơn hành của các vị vua Nguyễn: các con

đẻ của quan từ tứ phẩm trở lên và một con trưởng của quan ngũ phẩm từ 15 tuổi trở lên13 Các

đối tượng này phải sung vào ngạch Nho sinh để học tập Chức vụ và phẩm hàm của đối tượng

được ấm sung lệ thuộc vào kết quả thi khảo hạch và dựa trên tước phẩm của ông cha

- Khoa cử: đây là phương thức tuyển chọn quan chức được đặt ra lần đầu tiên vào thời

kì nhà Lý và trở thành một phương thức tuyển chọn quan chức chủ yếu vào từ thế kỉ XV trở đi

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

13 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam hội điến sự lệ tập 2, NxbThuận Hóa, Huế, tr 318

Trang 20

Với tinh thần “Khoa mục là con đường bằng phẳng của học trò, thực không thiếu được” 14 các

kì thi dưới triều Nguyễn diễn ra dưới 2 hình thức thường niên và không thường niên (gồm ân

khoa và chế khoa) Theo thống kê, trong suốt thời gian trị vì từ thời vua Gia Long đến thời vua

Tự Đức, nhà Nguyễn đã tổ chức 33 kì thi Hương lấy đỗ 3991 Cử nhân; 25 kì thi Hội với 371

người đỗ và 19 kì thi Đình, lấy đỗ 141 Tiến sĩ và 121 Phó bảng15 Dựa trên kết quả khoa cử,

người đỗ các kỳ thi có thể được bổ nhiệm chức quan lớn nhỏ khác nhau Trước khi được bổ

nhiệm chính thức, người đỗ đạt trong các kì thi buộc phải trải qua thời gian thực tập Thời gian

thực tập có thể kéo dài 3 năm đối với tú tài và cử nhân hoặc thu gọn trong 1 năm đối với tiến

- Đề cử: Xuất phát từ việc “mong mỏi người hiền, cầu nhân tài như khát cầu nước”16 và yêu cầu không được lạm cử, quan chức đã thực hiện việc đề cử, bảo cử những người hiền tài ra

giúp nước Việc tiến cử, bảo cử thể hiện nghĩa vụ của bề tôi đối với nhà vua, đó là lòng trung

Theo đó, quan chức được đề cử cần đem chức vụ, phẩm hàm của mình làm đảm bảo để đề cử

những người có đức có tài Quan chức không được vì lòng riêng, nể nang vì tình thân nghĩa cũ

trong đề cử để “dẫu có đứng một mình không thẹn với bóng, nằm một mình không thẹn với

chí tài và đức; tuân theo quy định của nhà nước như: Thượng thư đề cử người có khả năng làm

Bố chính các tỉnh, Thị lang Lục bộ và các ấn quan chánh, tòng tam phẩm ở các nha đề cử người

có khả năng làm Tri phủ, Đồng tri phủ; Chưởng phủ, Đô thống cử người làm Vệ uý, Lãnh

binh…18

Trong quá trình sử dụng, quan chức còn được sắp xếp theo một tôn ti trật tự do nhà nước định sẵn Tôn ti trật tự đó thể hiễn rõ trong hệ thống phẩm, tước mà nhà nước gia phong Xét

về thứ bậc, với hai ngạch quan văn, võ, quan chức được chia thành 9 phẩm, ở mỗi phẩm lại

được chia thành 2 bậc chánh và tòng Thông thường trong triều Nguyễn thứ bậc là căn cứ để

nhà nước giao chức trách và đãi ngộ Với tầm quan trọng ấy, ngay từ đời vua Gia Long việc

định thứ bậc của quan chức đã được quan tâm Thời Minh Mệnh, xác định việc đặt quan, chia

chức là việc lớn của triều đại nên nhà vua đã đưa ra quy định khá tỉ mỉ, chi tiết19

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

14 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 1, Nxb Giáo dục, tr .527

15!Phạm Đức Thành Dũng, Vĩnh Cao… (2000), Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn, sđd, tr.105-108!

16 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, t4, sđd, tr.491-492

17 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục t4, sđd, tr.826-827

18!Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục t4, sđd, tr.491-492!

19 !Xem chuyên đề 1: phần 1.4!

Trang 21

Ngoài phẩm, vinh hàm, chức vụ để phân biệt thứ tự cao thấp cho hệ thống quan chức, các vị Hoàng đế trong nhà nước quân chủ Nguyễn còn đặt ra hệ thống tước vị Tước là danh

hiệu cao nhất Nhà nước thường dùng để phong tặng cho hoàng tử, hoàng thân, quốc thích và

người có công với triều đại, bao gồm 6 bậc: Vương, công, hầu, bá, tử, nam Trong đó, tước

vương, công thường chỉ dành phong tặng cho các hoàng tử20 với tiêu chí về độ tuổi (15 tuổi)

và đủ đức hạnh21 Còn các tước khác được phong tặng cho quan chức có công khác trong quá

trình thực thi công vụ

Trong quá trình làm việc, quan chức trong bộ máy nhà nước thường xuyên phải luân chuyển, đổi bổ và chịu sự khảo xét định kì của nhà nước Đồng thời, là bề tôi của nhà vua, do

đó, quan chức cần có nghĩa vụ và bổn phận minh trung với nhà vua, có trách nhiệm “tu thân”

và trách nhiệm đối với đồng liêu trong quá trình thực thi công vụ

1.2 Cơ sở hình thành chính sách đãi ngộ quan chức của nhà nước quân chủ Nguyễn

1.2.1 Kinh tế, xã hội

Sau khi thống nhất đất nước, nền kinh tế nông nghiệp sa sút, dân phiêu tán khắp nơi do hậu quả của nội chiến, điển hình là năm 1827, riêng 13 huyện ở Hải Dương có 118 xã thôn bị

phiêu tán22 Trước thực trạng trên, các Hoàng đế triều Nguyễn với tinh thần “việc làm ruộng là

gốc lớn của thiên hạ” đã ban hành một số chính sách phát triển nông nghiệp và ổn định xóm

làng, do vậy, từ năm 1820 đến năm 1840, số ruộng đất trong cả nước đã tăng từ 3.076.300 mẫu

lên 4.063.892 mẫu23 Về công thương nghiệp, ngoài các xưởng của nhà nước (tượng cục) như

đúc tiền, đúc súng, đặc biệt là chế tạo thuyền máy chạy bằng hơi nước được thử nghiệm thành

công trên sông Hương, việc khai mỏ phát triển mạnh với ngót 140 mỏ được khai thác (vàng,

bạc, đồng, kẽm, chì…) Ngành công nghiệp khai mỏ thời Nguyễn có những bước phát triển

mới về cả số lượng và quy mô, tuy còn hạn chế về kỹ thuật và tổ chức khai thác Các nghề thủ

công ở nông thôn và thành thị tiếp tục phát triển với nhiều làng và phường chuyên môn nổi

tiếng (dệt, gốm, làm đường, đúc đồng, làm giấy, dệt chiếu…) Trong điều kiện quốc gia thống

nhất, xu thế phát triển kinh tế thị trường càng rõ nét với sự xuất hiện những đô thị mới cùng

với sự mở mang nhiều tuyến giao thông thủy bộ xuyên suốt và dọc ngang đất nước, chuyên chở

thóc gạo từ Nam ra Bắc, sản phẩm thủ công từ Bắc Hà vào tận Gia Định Các vua Nguyễn cũng

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

20 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam hội điến sự lệ tập 2, sđd tr123

21 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam hội điến sự lệ tập 2, sđd, tr123

22!Nguyễn Danh Phiệt (1993), Suy nghĩ về bộ máy nhà nước quân chủ trung ương tập quyền Nguyễn nửa đầu thế kỉ XIX,

Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6 (271), tr 17!

23 Phan Huy Lê (1959), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội.tr.440

Trang 22

không coi nhẹ việc giao thương với nước ngoài, nhất là các nước trong khu vực, đồng thời vẫn

cho các tàu buôn phương Tây được tự do đến trao đổi hàng hoá với cư dân các địa phương tại

một số cảng nhất định

Trên cơ sở đó, nhà nước đã thực thi những chính sách tạo cơ sở vật chất đảm bảo cho sự vận hành của bộ máy nhà nước cũng như việc chi trả lương, ban thưởng cho quan chức Nguồn

tài chính này có được chủ yếu là thuế đinh, thuế điền, thuế mỏ và thuế thuyền buôn24 Bên cạnh

các loại thuế trên, để tăng nguồn thu cho nhà nước, triều đình nhà Nguyễn còn đánh thuế đầm,

thuế bãi, thuế yến, thuế ao cá Theo thống kê của bộ Hộ, nguồn tài chính của nhà nước trong 2

năm 1820 là 925.920 quan tiền từ thuế điền, thuế đinh sưu, thuế quan tân25, thuế thuyền, thuế

cảng; 2.266.650 hộc thóc; 580 lạng vàng; 12.040 lạng bạc và 1840 là 2.852.462 quan tiền;

2.804.744 hộc thóc; 1.470 lạng vàng; 121.114 lạng bạc26 Do chưa có sự thống kê đầy đủ và

không được ghi chép chi tiết trong chính sử nên từng năm thu và chi như thế nào chúng ta chưa

thể biết rõ Tuy nhiên, theo tính toán của bộ Hộ, số tài sản tích trữ của nhà nước cho đến cuối

thời Minh Mệnh còn lại sau khi đã chi tiêu cho đến năm 1840 là: 6.544.376 hộc thóc và phương

gạo; 14.335.337 quan tiền; 37.480 lạng vàng và các hạng tiền vàng (trong đó có 31.261 lạng 2

tiền làm đồ quý); 2.506.670 lạng bạc (trong đó có 2.000.169 lạng làm ra đồ quý)

Xã hội Việt Nam thời quân chủ nói chung và thời Nguyễn nói riêng đều phân chia thành bốn tầng lớp cơ bản: sĩ, nông, công, thương Sĩ là thành phần cư dân được xếp vào hàng thứ

nhất trong bốn thành phần cư dân làng xã Họ là những người có học, được cả làng tôn trọng,

đề cao, nhiều người đỗ đạt ra làm quan, sau khi về hưu cũng gia nhập thành phần này Nông

dân là những người làm ruộng thuần túy, là bộ phận cư dân cơ bản, đông đảo nhất ở làng xã

công” tức là đội ngũ thợ thủ công làng xã Tầng lớp “thương” bao gồm những người chuyên

hoạt động buôn bán trong làng xã Trong đó, giới sĩ phu luôn gia nhập vào bộ máy quan chức

và giữ những chức vụ nhất định trong bộ máy nhà nước Từ quá trình dùi mài kinh sử, đọc sách

thánh hiền, tham gia khoa thi cho đến khi trở thành quan viên, họ được coi là một tầng lớp trí

thức trong xã hội và đem theo trách nhiệm của người làm bề tôi với vua Họ chính là lực lượng

“dự bị” của bộ máy quan liêu, là chỗ dựa của nhà nước quân chủ trong việc đề ra, thực hiện và

đưa các chính sách của nhà nước tới người dân Để yêu cầu con người ứng xử theo lễ, hình

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

24 Xem bảng 3,4,5,6,7,8,9 chuyên đề 1

25 Thuế áp dụng cho các loại thuyền buôn chuyến, hay còn gọi là thuế tuần ti

26 Phan Huy Lê (1959), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Tập 2, sđd, tr.466-467

Trang 23

thành quy tắc sống tôn vua, kính trên làm đầu, năm 1834, vua Minh Mệnh đã soạn Thập điều

huấn dụ ban hành khắp thiên hạ:

- Đôn hậu luân thường: coi trọng tam cương ngũ thường

- Chính tâm thuật: làm việc gì cũng giữ cho lòng dạ ngay thẳng

- Vụ bản nghiệp: mỗi người phải chọn lấy một nghề, siêng năng với nghề nghiệp của mình để làm cái gốc lập thân

- Thượng tiết kiệm: cần phải tiết kiệm

- Hậu phong tục: giữ phong tục cho thuần hậu

- Huấn đệ tử: phải chăm dạy bảo con em

- Sùng chính học: cần chuộng học đạo chính

- Giới dâm thắc: răn giữ những điều gian tà dâm dục

- Thận pháp thủ: cẩn thận mà giữ pháp luật

- Quảng thiện hạnh: rộng làm việc thiện

Ngoài ra còn có cách phân chia thứ bậc xã hội dựa trên tập quán làng xã (chính cư và ngụ cư; quan viên và dân hàng xã), theo địa vị xã hội (quý tộc quan liêu và bình dân) Vị trí,

thứ bậc của mỗi người trong làng được thể hiện ở ngôi thứ chốn đình trung Đó là trật tự đẳng

cấp theo khoa bảng, theo quan trường, theo tuổi tác…có sự uyển chuyển Chế độ đẳng cấp

trong làng xã còn thể hiện trong chỗ ngồi và hương ẩm Tục ngữ có câu “một miếng giữa làng

bằng một sàng xó bếp” “bầu dục đâu đến bàn thứ năm” Người ta coi trọng miếng ăn ở chốn

đình trung không phải vì tham ăn uống mà là vì đẳng cấp xã hội Ngôi đình đồng nghĩa với sắp

xếp trật tự xã hội của làng Cũng từ sự phân chia này, triều Nguyễn cũng như triều Hậu Lê xây

dựng chính sách tuyển chọn và đãi ngộ đội ngũ chức dịch trong các làng xã, đó là Lí dịch, Phó

Mặt khác, theo thống kê trong Đại Nam thực lục, tính riêng từ năm 1802 đến năm 1840

có 133 lần xảy ra hiện tượng bão lũ, hạn hán, vỡ đê, dịch bệnh và các bất ổn thời tiết khác có

tác động lớn đến đời sống cư dân Do đó, mức độ chăm lo đời sống của cư dân trước những

hiện tượng trên của quan chức chính là thước đo, là chuẩn mực giúp vua đánh giá tư cách đạo

đức và năng lực cai trị của đội ngũ quan chức trong quá trình thực thi công vụ; đồng thời đây

cũng chính là cơ sở để thực hiện chính sách ban thưởng, xét thành tích của nhà nước đối với

quan chức

1.2.2 Chính trị, pháp luật

Trang 24

Năm 1802, sau khi nội chiến chấm dứt, Nguyễn Ánh đặt niên hiệu Gia Long và năm

1806 lên ngôi Hoàng đế, xuống chiếu bố cáo thiên hạ, đặt kinh đô tại Huế, mở đầu cho sự thiết

lập triều Nguyễn Tiếp nhận của quá khứ một di sản khá nặng nề, ngay một lúc triều đình nhà

Nguyễn phải hướng mọi cố gắng và trí lực vào việc thiết lập mọi cơ sở vững chắc cho triều đại

mới, đồng thời khắc phục những hậu quả sau chiến tranh Đặc biệt, trước tình trạng phân tán

về chính trị, sự nổi lên của giặc cướp và những thế lực chống đối, vua Minh Mệnh với tinh thần

học hỏi từ triều Minh, Thanh (Trung Quốc), các triều đại trước và nhận thấy Lê Thánh Tông là

minh quân không phải đời nào cũng có, đã thực hiện công cuộc cải cách hành chính nhà nước

từ trung ương đến địa phương Kết quả của cuộc cải cách hành chính đó đã xoá bỏ tình trạng

phân quyền thời vua Gia Long và xây dựng nhà nước tập quyền mạnh theo nguyên tắc Tôn

quân quyền, đặt nền tảng cho chế độ quân chủ chuyên chế Nguyễn sau này

Đứng đầu nhà nước là vua với quyền lực chí tôn, thiêng liêng Các vị vua quân chủ nói chung và Hoàng đế Nguyễn nắm trong tay vương quyền, thần quyền, quyền kinh tế và quân sự

Để củng cố quyền lực trong tay, các vua Nguyễn còn đặt lệ “Tứ bất”27, tản quyền trong các cơ

quan và tăng cường giám sát quan chức từ trung ương đến địa phương Ví dụ, đứng đầu Lục

bộ là một tập thể viên quan có chức vụ phẩm hàm khác nhau: Thượng thư, Tả Hữu Tham Tri

và Tả hữu Thị lang Kế thừa cải cách thời Lê Thánh Tông28, tham khảo cải tổ bộ máy nhà nước

thời Minh – Thanh, Minh Mệnh cũng đã thiết lập sự cai quản theo chế độ tập thể đối với cấp

tỉnh bao gồm: Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát và Lãnh binh với sự phân công trách

nhiệm rõ ràng, trong đó: Tổng đốc giữ việc cai trị quân dân, cầm đầu các quan văn võ trong

toàn hạt, khảo hạch các quan, sửa sang bờ cõi; Tuần phủ giữ việc tuyên bố đức y của triều đình,

vỗ yên nhân dân, coi giữ các việc chính trị, giáo dục, mở điều lợi; Bố chánh giữ việc thuế khóa,

tài chính, tuyên đạt ân trạch, chính lệnh của triều đình; Án sát giữ việc kiện tụng, chấn hưng

phong hóa kỉ cương, thanh trừng quan chức tha hóa, kiêm coi công việc bưu trạm; Lãnh binh

28 thời Lê Thánh Tông, cấp hành chính địa phương cao nhất trực thuộc trung ương là Đạo, đã bãi bỏ chức Đại Hành khiển

thay bằng chế độ Tam ty với 3 viên quan đứng đầu 3 cơ quan với chức năng: Đô Tổng binh sứ ty là tổng quản binh lính nơi

biên giới khống chế vùng xung yếu, bắt bớ, khống chế trộm cướp; Thừa chính sứ ty năm giữ lệnh về việc kiện tụng, hộ

khẩu của quân dân một phương; Hiến sát sứ ty chuyên về các việc trần ngôn, bày tỏ ý kiến, thị sát, hặc tội, điều tra, xét hỏi,

soát nghiệm, tuần hành Sự phân định giữa các quyền Binh – Chính – Hình ở Tam ty là để thu bớt quyền hành của quan

chức địa phương, tâp trung quyền lực ở trung ương và hạn chế khuynh hướng phân tán

Trang 25

cơ quan xét xử (Tam pháp ty, Đô sát viện, Lục bộ…)… Tiếp đó, các vua Nguyễn từ thời Minh

Mệnh trở đi đã xây dựng hệ thống chính quyền địa phương mạnh nhiều cấp theo đơn vị hành

chính lãnh thổ: tỉnh, phủ, huyện, xã với sự phân định chức năng, quyền hạn rõ ràng Trong đó,

đứng đầu cấp tỉnh là 5 viên quan (Tổng đốc, Tuần phủ, Lãnh binh, Án sát, Bố chính); Đứng

đầu phủ là Tri phủ, Đồng tri phủ; đứng đầu Huyện là Tri huyện, Đồng tri huyện; đứng đầu Tổng

là Cai tổng, Phó Cai tổng; Lý trưởng và Phó Lý trưởng đứng đầu cấp xã Tuy nhiên, tuỳ theo

quy mô số hộ dân hay tính chất công việc giữa các địa phương, các chức quan đứng đầu phủ,

huyện đến tổng xã được đặt ra theo số lượng phù hợp

Đồng thời để quản lý bách quan, trên cơ sở tham khảo bộ Đại Thanh luật lệ nhà Thanh

và bộ Quốc triều hình luật thời Lê, năm 1811, vua Gia Long giao cho Nguyễn Văn Thành làm

Tổng tài soạn Hoàng Việt luật lệ và năm 1812 thì hoàn thành Năm 1815, nhà vua cho ban hành

và áp dụng rộng rãi trên phạm vi cả nước Bộ luật này cũng như các bộ luật khác của Trung

Quốc và Việt Nam đều là bộ luật mang tính tổng hợp, điều chỉnh mọi mối quan hệ trong xã hội

Khi ban hành bộ luật, Hoàng đế Gia Long khẳng định các quan viên giữ chức vụ phải vâng

Vua

Cơ quan văn phòng

Cơ quan xét xử

Cơ quan chuyên môn

Cơ quan trọng yếu

Cơ quan giám sát

Tỉnh ()

Tổng

Huyện (châu)Phủ

Trang 26

chiếu theo luật Bộ luật được bổ sung bởi các đời vua Nguyễn sau và có hiệu lực đến năm năm

1884 Trong tổng số 398 điều29, Bộ luật có 10 điều quy định về quyền lợi của quan chức:

- Luật danh lệ: Điều 3,4,5,6

- Lại luật: Điều 1, chương 1, q IV

- Lễ luật: Lệ điều 12 chương 2, q.IX

- Hình luật: Điều 5, 9 chương 5 q.XV; điều 2 chương 7 q.XVI, điều 8, chương 14, q.XIX

Các quy định này chủ yếu bàn về những ưu đãi dành cho quan chức trong khía cạnh tố tụng, bảo vệ tính mạng, danh dự khi thực thi công vụ Bên cạnh đó, các vua nhà Nguyễn còn

ban hành nhiều văn bản pháp luật như chiếu30, lệ31, lệnh32, chỉ33, dụ34, sắc để thực thi các chính

sách đãi ngộ của nhà nước đối với quan chức

1.2.3 Tư tưởng

Vua Gia Long khi lên ngôi thiết lập triều Nguyễn đã chủ trương sử dụng Đức – Pháp kết

hợp bởi “Thánh nhân cai trị thiên hạ đều dùng luật pháp để xử tội, dùng đạo đức để giáo hóa

trị (Nho giáo) và Pháp trị là điểm tựa vững chắc để các vị Hoàng đế triều Nguyễn hoạch định

chính sách quản lí đất nước nói chung và đãi ngộ đối với quan chức nói riêng

Theo quan điểm của Nho giáo, tuy chỉ là đội ngũ giúp việc song quan chức trong bộ

máy nhà nước là yếu tố quan trọng quyết định sự thịnh suy của một triều đại: “Nước trị hay

thể thiếu trong hoạt động cai trị: “Vua giỏi không có tôi hiền không cùng cai trị được Tôi hiền

quan chức an tâm cống hiến, luôn nêu cao đức hạnh, nhà vua còn phải đãi ngộ thỏa đáng Sự

đãi ngộ đó không chỉ hướng tới lợi ích của người làm quan mà còn đảm bảo cho toàn bộ gia

31 Do vua ban hành, trong đó đề ra các quy định, thể lệ về 1 vấn đề, 1 lĩnh vực cụ thể

32 Là văn bản dùng để thể hiện các mệnh lệnh có tính chất bắt buộc của nhà vua

33 Ban bố 1 mệnh lệnh cụ thể có tính bắt buộc thần dân và bề tôi thi hành

34 Ghi lại lời truyền dạy, khuyên nhủ của nhà vua đối với về tôi và thần dân

35 Nguyễn Văn Thành – Vũ Trinh – Trần Hựu, Hoàng Việt luật lệ tập1, Nxb Văn hóa thông tin, tr 1

36 Kinh Thư (1965), Bộ Văn hóa giáo dục, trung tâm học liệu, Sài gòn, 1965, tr.181

37 Kinh Thư, sđd, tr.188

Trang 27

“Các người tại chức có tài năng, làm được việc, nên để đức hạnh của họ càng tiến lên, thì trong nước mới được xương thịnh Phàm các quan đứng đắn nhà đã phú túc mới khuyên họ làm điều thiện được Nếu nhà vua không biết để cho họ được phú túc, hòa hảo trong gia quyến, thì người ấy tất mắc phải tội lỗi ngay”38

Bên cạnh đó, muốn quốc gia thịnh trị bậc vua chúa phải đặc biệt chú trong việc lựa chọn

người tài: “Bậc vua sáng đặt ra các quan chức, tước lộ để tiến cử người tài giỏi và khuyến

cần đãi ngộ thỏa đáng dựa trên năng lực và công trạng: “Người tài giỏi thì được bổng lộc hậu

1.2.4 Tiếp thu chính sách đãi ngộ của các vương triều quân chủ trước

Trong quá trình bổ nhiệm cũng như giao nhiệm vụ cho quan chức, các vương triều trước triều Nguyễn đã quan tâm đến việc xây dựng chính sách đãi ngộ đối với quan chức trên hai

phương diện vật chất và phi vật chất Theo ghi chép trong chính sử, bắt đầu từ thời Trần, việc

cấp lương bổng cho quan chức mới được đặt định theo thứ lớp Thời nhà Lê, từ năm 1473, vua

Lê Thánh Tông định quy chế bổng lộc cho các quan trong và ngoài Bên cạnh đó, ngoài lương

tiền, quan chức nhà Lê được nhận thêm khá nhiều bổng lộc về ruộng đất như: ruộng quân điền,

ruộng thế nghiệp, ruộng tứ, bãi dâu, ruộng tế, vườn đất theo thứ bậc, phẩm hàm mà số lượng

mẫu ruộng khác nhau41 Mặt khác, theo thống kê, có 23 điều trong Quốc triều hình luật, quan

chức thời Lê nhận được nhiều sự ưu đãi đối với bản thân và gia quyến về sức khoẻ nhân phẩm

và tố tụng Sự đãi ngộ đó đã tạo ra động lực cho quan chức trong quá trình thờ vua, “chăn dân”

Cụ thể:

- Quyển 1: Điều 3,4,6,7,10,12,13,20

- Quyển 2 (Vi chế): Điều 130

- Quyển 4 (Đạo tặc): Điều 8, 32

- Quyển 4 (Đấu tụng) Điều 8,9,10,23,28,29,41

- Quyển 5 (Trá nguy): Điều 15,16,17,18,19

Tiểu kết

Quan chức là một bộ phận không thể thiếu trong thể chế nhà nước, có vai trò quyết định

sự thịnh trị của một quốc gia Đội ngũ này được tuyển chọn bằng nhiều con đường khác nhau

Trang 28

và có tôn ti, trật tự rõ ràng Tham gia vào bộ máy nhà nước, quan chức được bố trí sắp xếp vào

vị trí nhất định, thường xuyên được luân chuyển, được giao nắm giữ những trọng trách nhất

định và tuân theo luật nước như luật Hồi tỵ42, diện kiến nhà vua bởi theo vua Minh Mệnh “nhân

tài có cao thấp lớn nhỏ khác nhau, nếu không xem xét dần dần cho kỹ thì ít khi khỏi dùng lầm…

trình làm việc, đội ngũ quan chức luôn được luân chuyển giữa các huyện, phủ, giữa trung ương

và địa phương đã góp phần hạn chế nạn kéo bè, kết đảng

Để thể hiện sự quan tâm, khuyến khích đội ngũ thực thi quyền lực nhà nước, các vị vua triều Nguyễn đã kế tiếp truyền thống của các triều đại trước trong việc xây dựng chính sách đãi

ngộ về tiền lương ruộng đất, tước phẩm đối với bản thân và thân thuộc của quan chức Chính

sách này được xây dựng trên nền tảng kinh tế thuỷ nông kết hợp với thủ công nghiệp, với nguồn

ngân sách chủ yếu là thuế đinh và thuế điền Đồng thời với quan điểm chính danh của Nho giáo

và theo Pháp trị, bậc đế vương có hai cán cân trong tay là “thưởng”, “phạt”, các Hoàng đế triều

Nguyễn đã căn cứ vào chức vụ, phẩm hàm, công lao, tài đức của quan chức để xây dựng và

thực thi chính sách đãi ngộ Mặt khác, để có thể thực thi được chính sách đãi ngộ này, các vị

vua quân chủ Nguyễn luôn cố gắng xây dựng một nhà nước tập quyền mạnh, được tổ chức và

hoạt động theo nguyên tắc “tôn quân quyền” Các cơ quan trong bộ máy nhà nước đó có sự

phối hợp nhịp nhàng để giải quyết mọi công việc; đồng thời có sự giám sát chặt chẽ lẫn nhau

Số lượng các chức quan trong bộ máy nhà nước qua từng đời vua cũng được bố trí sắp xếp theo

hướng tinh gọn để từ đó có sự xây dựng chính sách đãi ngộ, đặc biệt là lương tiền phù hợp

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

42!Từ năm 1822 đến năm 1837, luật Hồi tỵ đã được ban bố như sau:

- Các quan viên ở thành, doanh, trấn về kinh vào chầu, chuẩn cho từ Tham biện trở lên được dự Đình nghị Nếu trong khi đang bàn, gặp có việc can thiệp đến địa phương mình thì phải xin tránh mặt

- Các lại dịch ở các Bộ, các nha môn trong Kinh và ngoài các tỉnh có bố, con cùng anh em ruột, anh em chú bác cùng làm ở một bộ đều phải trích ra đổi bổ đi nha môn khác (trừ hai ti Chiêm hậu coi về lịch, Hiệu lễ sinh coi về lễ nghi, viện

Thái y chuyên chữa bệnh cần phải cha truyền con nối)

- Thông phán, Kinh lịch ở hạt mình phải đổi đi hạt khác

- Những chức Tri sự, Lại mục phủ, huyện ở các tỉnh có người cùng hạt thì đều đổi đi nơi khác

- Lại mục, Thông lại các nha thuộc hạt, phủ, huyện ai là người cùng làng, cùng những người làm ở nha đã hơn 3 năm trở lên thì chuyển bổ đi nha khác, ai là quê ở cùng phủ huyện cũng cho chuyển bổ

- Quan lại có quan hệ với người kiện tụng, như họ hàng thân thuộc, thông gia với nhau, thầy thụ nghiệp cũ hoặc trước đó có thù hằn hiềm khích

- Nhân viên dự phái việc trường thi như có họ thân chú, bác anh em cậu cháu cùng một nhà cũng chuẩn cho kiêng tránh cả để giữ nghiêm trường quy!

43 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, t2, tr.640

Trang 29

CHƯƠNG 2 CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ CỦA NHÀ NƯỚC QUÂN CHỦ NGUYỄN ĐỐI VỚI QUAN CHỨC

2.1 Đãi ngộ đối với bản thân quan chức

2.1.1 Đãi ngộ vật chất

Đãi ngộ vật chất là hình thức đãi ngộ tiêu biểu nhất bởi nó đảm bảo những nhu cầu thiết yếu của đội ngũ quan chức trong cả đời sống cũng như quá trình thừa hành công vụ Đây cũng

là hình thức đãi ngộ dễ định lượng nhất để qua đó thấy được mức độ và tầm quan trọng của

việc đãi ngộ đối với quan chức

2.1.1.1 Ruộng đất

Đãi ngộ quan chức thông qua ruộng đất là việc làm thường xuyên của các nhà nước, ngay từ thời cổ đại và xuyên suốt cho tới tận ngày nay Đối với giai đoạn quân chủ, đãi ngộ

bằng ruộng đất luôn có ý nghĩa quan trọng bởi đây là tư liệu sản xuất chủ yếu Ruộng đất được

ban cấp cho quan chức bao gồm: lộc điền, ruộng khẩu phần Tuy nhiên, nếu vào thời Lê sơ,

quy mô của chế độ “lộc điền” được đánh giá là “lớn chưa từng có”, với mức thấp nhất là 39

mẫu dành cho quan tòng tứ phẩm và tước vương lên tới hàng ngàn mẫu44 thì vào thời Nguyễn,

chỉ có một trường hợp duy nhất cấp lộc điền ở mức 200 mẫu nhưng lại được “chiết cấp” tức là

quy đổi sang tiền chứ không thực cấp45 Như vậy, có thể thấy chính sách cho quan chức hưởng

lộc điền đã giảm cả về số lượng lẫn cách thức thực hiện

Đối với chính sách quân điền, ruộng đất công ở mỗi địa phương được chia thành các khẩu phần và chia cho mọi người với những mức độ khác nhau, trong đó quan chức bao giờ

cũng được chia ở mức cao hơn Đây là một chính sách khá đặc biệt bởi ở Việt Nam tồn tại chế

độ sở hữu đa thành phần, trong đó ruộng đất công của làng xã luôn chiếm những mức độ nhất

định Dưới thời Nguyễn, chính sách này cũng được thực hiện khá đầy đủ Về thời gian chia

ruộng đất được rút ngắn so với các triều đại trước, từ 6 năm xuống 3 năm nhằm mục đích tăng

cường kiểm soát của nhà nước, hạn chế tư hữu hóa về ruộng đất Nếu như thời Lê, phép quân

điền chỉ áp dụng đối với quan tam phẩm (chưa có hoặc ít lộc điền) trở xuống từ 11 phần tới các

loại cô nhi, quả phụ được 3 phần thì dưới thời Nguyễn, số ruộng khẩu phần này được chia từ

quan nhất đến cửu phẩm Đặc biệt đến thời Minh Mệnh (năm 1839) thì quan chức, binh lính và

dân đinh cùng được nhận một phần đất công như nhau, tức là không còn ưu tiên nữa Trên

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

44 Lê Thị Sơn (chủ biên), Quốc triều hình luật, lịch sử hình thành, nội dung và giá trị, Nxb Khoa học xã hội, tr.7-42

45 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, sđd, t7, tr 676

Trang 30

phương diện phạm vi, chính sách quân điền cũng không được thực hiện một cách toàn diện mà

chủ yếu tập trung ở khu vực Bắc Bộ và Trung Bộ bởi đa số ruộng đất ở Nam Bộ đều nằm trong

tay địa chủ46 Sự tụt giảm dần về chính sách quân điền này cũng có thể được giải thích là do sự

giảm sút của số lượng ruộng đất công Cụ thể, vào khoảng những năm 1820-1843, ruộng đất tư

phát triển và chiếm tới 82.92% tổng diện tích thực canh, còn ruộng đất công chỉ chiếm

17/08%47 Vì vậy, thực tế số ruộng đất được cấp theo chế độ quân điền không thể nhiều như

các triều đại trước Bên cạnh đó, quan chức còn được cấp “tự điền”48 Nếu như vào thời Lê,

đây là chính sách phổ biến cho tất cả quan chức từ tòng tứ phẩm trở lên thì vào thời Nguyễn,

tự điền chỉ được cấp cho những trường hợp cá biệt như: cấp cho Chiêu thảo sứ Thanh Hoa là

Đinh Đạt Biểu 20 mẫu ruộng tự điền, Chiêu thảo sứ Nghệ An là Vũ Nguyên Lượng 19 mẫu tự

điền, cấp tự điền 70 mẫu cho Ngô Tòng Châu,… cấp 200 mẫu ruộng tự điền cho thái bảo Miên

quốc công, sai Nguyễn Thích giữ việc thờ cúng, cấp cho Chưởng tượng quân Quận công

Nguyễn Đức Xuyên 100 mẫu tự điền…49 Vậy, nhà nước lấy ruộng đất nào để ban tự điền cho

công thần? Theo ghi chép trong Đại Nam thực lục, có thể được lấy từ ruộng công theo như ghi

chép năm 1804 vua Gia Long chuẩn định trích ruộng các hạt ban tự điền cho các công thần;

hoặc mua ruộng đất tư như năm 1815 có ghi cấp tự điền cho nhà thờ An Quán, sai Lưu thủ

Quảng Nam là Trần Đăng Long chi tiền kho 3 vạn quan, bạc 3000 lạng mà mua nhiều ruộng

dân, thu lợi hàng năm chi việc thờ cúng50

Nhìn chung, việc nhà Nguyễn tiếp tục duy trì các chính sách đãi ngộ thông qua ruộng đất thể hiện sự tiếp nối truyền thống trong chính sách dùng người của cha ông Tuy nhiên, trong

thời Nguyễn, chính sách này đã bị co hẹp do: triều Nguyễn chuyển sang trả lương cho quan

chức bằng tiền và gạo; hệ quả của chế độ ban cấp ruộng đất của các triều đại trước đã khiến

cho chế độ sở hữu tư nhân phát triển, đe doạ đến cơ sở kinh tế của nhà nước trung ương tập

48 cấp ruộng đất cho việc thờ cúng sau khi quan chức chết

49 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, t1, sđd, tr 620,621,681 !

50 Vũ Huy Phúc (1979), Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.80

!

Trang 31

tiền xuân phục, tiền hưu trí và tiền tử tuất Chính sách lương bổng này được dựa trên một số

tiêu chí:

Thứ nhất, theo hệ thống tước, phẩm: Thông thường, đãi ngộ theo tước vị luôn cao hơn

đãi ngộ theo phẩm trật Ví dụ, quan chánh nhất phẩm (phẩm hàm cao nhất) lương cũng chỉ gần

bằng hương công (tước vị xếp thứ 7), tức là bằng 1/3 của thân vương là tước vị cao nhất51 Qua

đây có thể thấy mặc dù hoàng thân quốc thích thường không được đảm nhiệm các chức vụ

trọng yếu trong bộ máy nhà nước, nếu có thường chỉ là những chức vụ mang tính vinh hàm, cố

vấn nhưng họ vẫn được phong các tước vị rất cao và hưởng chế độ đãi ngộ hậu hĩnh Đội ngũ

này vẫn được coi là chỗ dựa, hậu thuẫn chính trị cho nhà vua

Thứ hai, theo địa bàn cai trị và tính chất công việc: Để đảm bảo quan chức địa phương

có đủ phương tiện, điều kiện làm việc, vua Gia Long cho rằng “Phủ, huyện ở gần nhân dân,

chức nhỏ nhưng việc nhiều, ngoài bổng chính ra, cấp thêm tiền gạo dưỡng liêm để tỏ đặc

hoá theo địa phương cai trị Số tiền dưỡng liên cao hay thấp là do đặc điểm của địa phương đó

Những địa phương có điều kiện khó khăn hơn thì tiền dưỡng liêm của quan ở đó cao hơn Vua

Minh Mệnh đã phân loại các phủ huyện thành 4 loại: Tối yếu khuyết (Khó khăn nhất), Yếu

khuyết (Rất khó khăn), Trung yếu khuyết (khó khăn trung bình) và giản khuyết (khó khăn ít)

Theo sự phân loại ấy tiền dưỡng liêm của quan chức cũng giảm dần Ví dụ, tiền dưỡng liêm

của Tri phủ tương ứng với 4 loại địa phương là 1,512 tấn gạo, 1,260 tấn gạo, 1,008 tấn gạo và

0,756 tấn gạo Như vậy tiền dưỡng liên cho quan Tri phủ, Tri huyện ở những nơi khó khăn nhất

(tối yếu khuyết) cơ bản gấp đôi so với những nơi khó khăn ít (giản khuyết) Việc cấp dưỡng

liêm là cơ sở để hạn chế sự tham nhũng của quan chức địa phương Cùng với việc ban hành

biểu tiền dưỡng liêm để khuyến khích tiết tháo trong sạch của quan lại phủ huyện, vua Minh

Mệnh cũng quy định về thời điểm được nhận và dừng cấp: các viên phủ huyện mới được thăng

bổ, đến nhận việc vào tháng mạnh53 thì cấp tiền dưỡng liêm cả quý ấy, vào tháng trọng54 thì

cấp cho một nửa, vào tháng quý55 thì không cấp; quan viên nào mà thăng điệu hay đến Kinh

hậu bổ hoặc vào Kinh ra mắt vua rồi lại về cung chức cũ nếu vào tháng mạnh đã lĩnh tiền dưỡng

liêm rồi thì trả lại, vào tháng trọng thì trả một nửa, vào tháng quý thì không phải trả56 Sang đến

thời vua Tự Đức, tiền dưỡng liêm này được cấp thêm cho các quan chức đầu tỉnh Việc cấp tiền

Trang 32

nuôi dưỡng lòng liêm khiết của quan chức đã đặt ra vào thời nhà Lê, tuy nhiên chưa được quy

định rõ ràng về đối tượng, mức cấp cũng như thời điểm nhận và thôi cấp Quy định về dưỡng

liêm được các vị vua quân chủ Nguyễn học tập từ Trung Quốc và áp dụng với mức cấp phù

hợp với tính chất công việc và ngân khố của nhà nước

Thứ ba, theo quá trình công tác: Triều đình nhà Nguyễn nhìn chung là quan tâm tới quá

trình phục vụ của quan chức nên khi họ về hưu hoặc chết thì sự đãi ngộ vẫn còn được duy trì

Năm Minh Mệnh thứ 4 (1823), triều đình chuẩn định:

“những người có quan chức đến 70 tuổi trở lên đều cho giữ nguyên hàm về hưu trí Nếu

là lão thành mà khoẻ mạnh thì vẫn cho ở lại cung chức, đến kỳ đợi dụ chỉ của vua”57…Còn viên quan nào tuổi già yếu, có tật nặng xin về hưu trí, mà viên ấy đã từng

đi đánh trận bị thương, thì gia ân cấp cho nửa lương để nuôi tuổi già”58 Như vậy, về cơ bản theo quy định từ năm 1823, quan chức về hưu do tuổi già thì lương hưu sẽ là một nửa so với khi đang đương chức Còn sau khi quan chức chết, nhà nước cũng cấp

tiền tử tuất với ý nghĩa là một đặc ân thể hiện sự xót thương của vua Số tiền ân tuất mà triều

đình cấp cho quan chức khi mất khá cao, nhất là những quan cao chức trọng Những quan đầu

triều tiền ân tuất là hàng trăm quan tương đương với khoảng từ 5 – 10 tấn gạo59

Khi về hưu ngoài việc vị quan nhà Nguyễn mỗi năm được phát 100 đến 400 quan tiền

gọi là ân cấp của vua, thu từ một đến năm xã địa phương gọi là dân lộc còn được hưởng các

quyền lợi khác như: tham gia vào Hội đồng kì mục, góp tiếng nói vào những việc hệ trọng của

làng xã, được dân làng kính nể, được miễn khỏi các cung ứng tạp dịch như dân thường (đắp đê,

đắp đường…) Với các viên quan về hưu sống thọ, các chức quan lớn nhỏ, tuổi 80 trở lên được

thưởng cấp tiền lụa theo thứ bậc: quan nhất nhị tam phẩm mà thọ đến 100 tuổi thì thưởng 100

lạng bạc, 10 tấm lụa; từ ngũ lục phẩm thì 80 lạng bạc, 8 tấm lụa; thất bát cửu phẩm thì 60 lạng

bạc, 6 tấm lụa, đồng thời đều cấp cho mỗi viên quan một biển ngạch, dựng đình ở cửa làng để

nêu khen Nếu viên quan sống thọ đến 110 tuổi thì thưởng thêm 50 lạng bạc, 5 tấm lụa; cứ thêm

10 tuổi thì số tiền lụa lại gấp đôi lên60

Bên cạnh đó, để tỏ ân điển của mình với quan chức, đặc biệt là trong các dịp lễ lớn hay trong một số trường hợp đặc biệt, nhà vua lại có các hình thức ban thưởng bằng bổng lộc khác

Đây là những khoản thưởng không thường xuyên nhưng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

57 Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 3, tr 411

58 Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 5, tr.177

59 Xem bảng 7, chuyên đề 3.!

60!Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, sđd,!t.2, tr.256-257!

Trang 33

thể hiện sự ghi nhận của nhà nước đối với công lao của từng vị quan chức Chính sử chép nhiều

quan chức được ban thưởng như sau: Tham tri Hình bộ Bắc Thành là Nguyễn Duy Hòa Bắt

được bọn giặc ở huyện Thiên Thi thưởng 300 quan tiền, Phủ lại Lạng Giang là Hoàng Thúc

Đạt Bắt được Tướng giặc ở Kinh Bắc thưởng 100 quan tiền, Trấn thủ Sơn Nam hạ là Nguyễn

Văn Hiếu làm quan có thành tích thưởng cho một cấp trác dị và cho một ống kính thiên lý Tây

mạ bạc, một thanh gươm chạm mạ vàng và một khẩu súng chữ vàng ở nội thảng, Tham tri Binh

bộ là Nguyễn Khoa Minh xây đài Điện Hải ở Quảng Nam 30 lạng bạc, 2 tấm sa, 1 lần kỷ lục,

Thự Bố chính Hưng Hóa là Ngô Huy Tuấn có công dẹp giặc được thưởng 3 đồng kim tiền Phi

long hạng nhỏ, 10 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn…

Nhận xét chung có thể thấy, lương bổng của quan chức thời Nguyễn khá cao Tác giả

Emmanuel trong “Quan và Lại ở Miền Bắc Việt Nam, một bộ máy hành chính trước thử thách”

đã tính toán một gia đình 4 người tiêu thụ tối thiểu bằng giá trị 1kg gạo cho một người một

ngày, tức là 1,5 tấn gạo một năm Ví dụ, Quan Hiệp trấn tỉnh Bình Định hàm Chánh tam phẩm

hưởng lương mỗi năm tương đương với khoảng 7 – 8 tấn gạo có thể nuôi sống gia đình họ (4

người) trong khoảng 4 năm rưỡi đến 5 năm; quan Tri huyện hàm tòng cửu phẩm nhận lương

mỗi năm tương đương khoảng 1,3 tấn gạo có thể nuôi sống gia đình họ trong khoảng 9 tháng

Đấy là mới chỉ kể lương, chưa kể tiền dưỡng liêm, ruộng đất và các loại đãi ngộ khác Do vậy,

đây có thể được coi là sự bảo đảm vật chất cơ bản để đội ngũ quan chức có thể thực thi hoạt

động của mình Đồng thời, việc cấp lương, bổng của nhà nước thời Nguyễn có sự phân biệt

nhất định giữa các cấp bậc khác nhau, dựa trên tước và phẩm Điều này cho thấy vai trò và địa

vị của đội ngũ thân tộc luôn được coi trọng và bảo đảm nhằm khẳng định uy quyền của nhà

vua Bên cạnh đó, tính trật tự trong bộ máy nhà nước cũng luôn được đề cao thông qua việc đãi

ngộ dựa trên cấp bậc

2.1.1.3 Được đảm bảo điều kiện vật chất trong thực thi công vụ

Quan chức được tuyển mộ thuộc binh để sai phái, giúp việc Chế độ thuộc binh của nhà Nguyễn đã có từ thời Gia Long, tuy nhiên đến thời vua Minh Mệnh, chế độ tuyển mộ thuộc

binh được quy định rõ hơn đối với quan viên ở trung ương và địa phương Số lượng thuộc binh

cấp cho quan chức cũng được phân theo quan tước và phẩm hàm Qua ghi chép của chính sử

có thể thấy, số lượng mộ phu của Tổng đốc, Tuần phủ khá cao, ngang với Tham tri và Thượng

bảo khanh Ngoài ra các viên quan đầu tỉnh còn được cấp thêm phu võng và phu gánh Điều

này cho thấy nhà nước đã có sự ưu đãi cao đối với các quan đầu tỉnh do họ phải di chuyển xa

trong việc nhận chức và quản dân

Trang 34

Quan chức được cấp trang phục đại triều, thường triều, lễ tế và hành nghi trong quá trình

làm việc Qua ghi chép trong Hội điển và Hoàng Việt luật lệ có thể thấy, trang phục hay phương

tiện sử dụng của quan chức văn võ khác nhau về họa tiết, màu sắc, hình thêu trên bổ tử, đai hay

mũ đội, số lượng y phục Sự quy định trên thể hiện sự phân định phẩm cấp, chức vụ của quan

lại Đồng thời, sự cụ thể hóa trong từng chi tiết của phẩm phục, ô, long, yên ngựa… và màu

sắc là cơ sở phân biệt với tầng lớp khác trong xã hội và với nhà vua Mặt khác, với họa tiết và

sự điểm tô của trân châu hay bạc, vàng làm tăng thêm sự uy nghi và giá trị của trang phục, hành

nghi Đặc biệt, phẩm phục cho quan lại dự nghi lễ tế Nam giao khá cầu kì thể hiện sự coi trọng

của vua quan nhà Nguyễn đối với một sự kiện quan trọng khẳng định yếu tố “thần quyền” trong

tay nhà vua So với thời Lê – Trịnh, về phẩm phục có sự trang trí cầu kì hơn và có sự sáng tạo

đa dạng Thời Lê – Trịnh loại mũ dùng chủ yếu là mũ phác đầu và giải trãi; áo mãng bào màu

hồng và bổ tử thêu sa kê, công, chim nhạn, mây, giải trãi Dựa theo mũ thời Lê – Trịnh và tham

khảo mũ thời Minh, các vua Nguyễn sáng tạo ra các loại mũ như mũ phác đầu tròn, văn công,

đông pha, văn tú tài được trang trí cầu kì Áo được thiết kế đa dạng với kiểu áo cổ tròn, giao

lĩnh (cổ chéo) với màu sắc đa dạng, khác với thời Lê, màu chủ đạo là màu hồng

2.1.2 Đãi ngộ phi vật chất

Bên cạnh hình thức đãi ngộ vật chất, nhà nước quân chủ Nguyễn cũng rất quan tâm tới việc tưởng thưởng về mặt tinh thần cho quan chức Đây là điều thường tình trong bối cảnh một

nền văn hóa “trọng danh” đã ăn sâu trong xã hội Việt Nam61 Vì thế, thậm chí ngay từ khi mới

đỗ đạt, các Tân khoa đỗ đầu đã được hưởng lệ xướng danh và vinh quy62 Và trong quá trình

làm quan, những đãi ngộ về mặt tinh thần này cũng luôn luôn được chú trọng, cụ thể là trên các

61 Mai Văn Thắng, Nhà nước kiến tạo phát triển trong bối cảnh văn hóa, chính trị ở Việt Nam hiện nay, trích sách: Trịnh

Quốc Toản, Vũ Công Giao (chủ biên), Nhà nước kiến tạo phát triển – Lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2017, trang 355

62 Từ triều Lê Thánh Tông năm 1481 đã đặt ra lệ xướng danh và vinh quy cho các tân khoa hương cống Tân khoa ra nhận

áo, mũ, và hia hay giày vân hài của nhà vua ban rồi tên thì đem yết ở bảng bằng gỗ vẽ hình hổ Sau đó họ lần lượt ra lễ tạ

vua cùng các quan hàng tỉnh và quan trường Phần lễ nghi xong thì các vị tân khoa sửa soạn về quê quán nhưng có sức về

phủ, huyện, xã để sửa soạn đón rước gọi là đám rước "vinh quy bái tổ"- “vinh” tức là vinh dự, vẻ vang; “quy” tức là trở về;

“bái”: lạy, vái, bái kiến; “tổ”: tổ tiên, các thế hệ đi trước

Trang 35

nhân vật xuất chúng được tuyển bổ làm quan Cụ thể, việc trao tước, phẩm được thực hiện

thông qua một số căn cứ sau:

Dựa trên nguồn gốc xuất thân Căn cứ này chủ yếu áp dụng khi gia phong cho người

trong tôn thất Những tước vị cao nhất: vương, công được dành phong tặng cho các thân thuộc

gần gũi của nhà vua Trong tôn thất, dù không phải là Hoàng thân cũng có cơ hội được phong

phẩm hàm sau khi đưa vào Quốc tử giám để học tập Điểm khác so với các triều đại trước, tước

vương được phong khá hạn chế (thời Lý – Trần tước vương được phong khá nhiều) và không

phong cho người ngoài hoàng tộc (như thời vua Lê chúa Trịnh) Điều này xuất phát từ “lệ tứ

bất” của nhà Nguyễn

Dựa trên kết quả thi tuyển, tư cách đạo đức của người được phong Kết quả thi tuyển là

một tiêu chí để bổ dụng quan ở những vị trí khác nhau Ví dụ, dưới triều Tự Đức, nhà nước đã

định rõ về việc gia phong phẩm hàm cho những người đỗ tiến sĩ63 Tiêu chí đạo đức cũng được

nhà nước xem xét đến trong quá trình bổ nhiệm Tước công dù quy định phong cho hoàng tử

song trước khi phong tặng, nhà vua cũng tiến hành sát hạch Trong trường hợp nhà vua sát hạch

thấy “Đức nghiệp chưa sáng tỏ… hãy đình phong một lần đợi 5 năm sau lại làm sớ xin nêu

Dựa trên công trạng, thành tích Thấm nhuần tư tưởng trọng đãi người có công, những

chức vụ nhà nước cao cấp nhất được trao cho các đại công thần, năm 1826 vua Minh Mệnh ra

chỉ dụ: “Đặt ra chức tam công, tam cô vốn để hậu đãi các trọng thần có công nghiệp, quan

được nhiều quân công như năm 1833 do lập được quân công trong việc trấn áp các thế lực

chống đối nhiều quan chức đã được ban tặng tước vị như Trần Văn Năng chuẩn làm Lương Tài

Hầu, Tống Phúc Lương chuẩn làm Vĩnh Thuận hầu” hay từ một viên Lãnh binh, do trấn áp

phong trào nổi dậy của nhân dân ở Sơn Tây, Tuyên Quang mà Vũ Đình Quang chuẩn đặc cách

phong làm Duyên gia nam, Tôn Thất Bật chuẩn đặc cách phong làm Vũ Khê nam66 Theo ghi

chép trong Đại Nam thực lục và Mục lục Châu bản triều Nguyễn, có 221 văn quan được nhận

tước phẩm từ triều đình Trong đó, chức quan Tham tri luôn được phong tước hầu; các Tri phủ,

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

63 Phan Đại Doãn, Nguyễn Minh Tường, Hoàng Phương, Lê Thành Lân, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Một số vấn đề về quan chế

triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, 1996, trang 121 “Tam giáp tiến sĩ bắt đầu bổ Hàn lâm viện biên tu (7a – chánh thất phẩm)

ngoại bổ tri huyện Tam giáp tiến sĩ bắt đầu bổ Hàn lâm viện biên tu (7a – chánh thất phẩm) ngoại bổ tri huyện Nhị giáp

tiến sĩ bắt đầu bổ Hàn lâm viện biên tu (6b – tòng lục phẩm) ngoại bổ tri phủ Nhất giáp tiến sĩ thứ 3 bắt đầu bổ Hàn lâm

viện trước tác biên tu (6a – chánh lục phẩm) Nhất giáp tiến sĩ thứ 2 bắt đầu bổ Hàn lâm viện thưa chỉ (5b – tòng ngũ

phẩm) Nhất giáp tiến sĩ thứ 1 bắt đầu bổ Hàn lâm thị độc (5a – chánh ngũ phẩm)”

64 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam hội điến sự lệ tập 1, sđd, tr 124

65 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam hội điến sự lệ tập 3, sđd, tr 199

66!Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam hội điến sự lệ tập 3, sđd, tr 201!

Trang 36

Lang trung và các quan trong Hàn Lâm viện được ban tước bá; tước tử chủ yếu được ban cho

Tri huyện; tước nam được ban chủ yếu cho Bát cửu phẩm Thư lại

Công trạng thành tích tích lũy trong quá trình tiến hành các hoạt động quản lí của quan chức được xét qua các kì khảo khóa cũng được coi là nguồn quan trọng để nhà nước thăng hoặc

giáng tước, phẩm Sau mỗi kì khảo khóa (3 năm 1 lần), dựa trên thành tích trong các lĩnh vực;

hình án, thu thuế, quân lương nhà nước sẽ thăng hoặc giáng tước phẩm cho quan chức: “3 năm

lại đến kì đại kết, công trạng các quan, thăng người hiền tài, làm trong sạch phương pháp làm

Nói chung tước phẩm là căn cứ quan trọng để đánh giá và xếp hạng trên phương diện tư cách và địa vị của quan chức Điều tất yếu là người nào có tước phẩm cao hơn thì sẽ nhận được

sự coi trọng hơn Vì thế, có thể coi việc ban tước phẩm chính là một sự khẳng định của chính

quyền đối với vị thế của cá nhân người làm quan Tước phẩm từ đó cũng là căn cứ để dẫn tới

những hình thức đãi ngộ khác Chẳng hạn trong trang phục, hành nghi của quan chức (áo, mũ,

đai, lọng, yên ngựa.v.v.) cũng có những sự phân biệt rõ ràng đến từng chi tiết như họa tiết, màu

sắc, hình thêu.v.v Trong cuốn “Ngàn năm áo mũ”, tác giả Trần Quang Đức đã khẳng định

rằng việc nhà nước quân chủ Việt Nam dùng màu sắc trang phục làm tiêu chí phân biệt phẩm

trật của bá quan đã có từ thời Ngô (939) và còn tiếp tục đến sau này68 Như vậy, tước phẩm

được coi là một giá trị trung tâm của quan chức để từ đó phản ánh sang những góc độ khác như

lương bổng, triều phục.v.v

2.1.2.2 Ưu đãi bảo vệ sức khỏe, tính mạng, danh dự và tư pháp

Theo Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn, các hành vi xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng

và danh dự của quan chức sẽ bị xử phạt nặng hơn khi vi phạm với dân thường Chẳng hạn, trên

khía cạnh tính mạng, nếu so sánh điều 256 và 257 Hoàng Việt luật lệ, hình phạt dành cho hành

vi mưu giết quan chức cao hơn nhiều so với hành vi mưu giết người thường Tương tự như vậy,

điều 297 và 298 cũng cho thấy việc mắng chửi quan chức cũng phải chịu tội nặng hơn so với

mắng chửi thường dân Bên cạnh việc bảo vệ danh dự, tính mạng cho các quan chức trong quá

trình thực thi công vụ, nhà nước cũng quan tâm đến việc chăm sóc, hỏi han sức khỏe khi quan

chức khi bị ốm đau, bệnh tật Đồng thời, có trường hợp được vua ban cấp thuốc quý, ban tiền

để chữa bệnh, cũng có trường hợp vua phái Thái y đến để điều trị hoặc cử người về phụng

dưỡng cho quan khi ốm đau, bệnh tật, trường hợp bệnh nặng cho về quê an dưỡng Đại Nam

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

67 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam hội điến sự lệ tập 3, sđd, tr 135

68 Trần Quang Đức, Ngàn năm áo mũ, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2013, trang 30

Trang 37

thực lục còn ghi lại những trường hợp trước vì ốm đau bệnh tật được về quê dưỡng bệnh nhưng

sau bệnh khỏi lại tiếp tục được vua vời vào giao giữ chức vụ69

Về mặt tư pháp, đội ngũ quan chức cũng được hưởng những đặc ân trong việc được xem

xét miễn, giảm hình phạt Cũng như Quốc triều hình luật thời Lên, Hoàng Việt luật lệ của nhà

Nguyễn quy định: Phàm những người trong diện Bát nghị mà phạm tội (trừ tội Thập ác70) (phải

khai cặn kẽ sự tình phạm tội), thì phải phong gói kín gửi lên nhà vua chờ chỉ dụ, không được

tự tiện giữ cầm tra hỏi Nếu vâng theo chiếu chỉ bắt giữ tra hỏi thì phải cho khai rõ việc phạm

tội và tình hình đáng được xét miễn giảm71 (Điều 4 Hoàng Việt luật lệ) Bát nghị là tám trường

hợp được xem xét miễn giảm tội bao gồm:

- Nghị thân, là họ tôn thất từ hàng đản miếu 72 trở lên; họ hoàng thái hậu từ hàng phải để

tang ty ma 73 ; họ hoàng thái hậu từ tiểu công trở lên

- Nghị cố, là những người cố cựu74

- Nghị hiền, là những người có đức hạnh lớn

- Nghị năng, là những người có tài năng lớn

- Nghị công, là những người có công huân lớn

- Nghị quý, là những quan viên có chức sự từ tam phẩm trở lên, những quan viên tản chức 75 hay có tước từ nhị phẩm trở lên

- Nghị cần, là những người cần cù chăm chỉ

- Nghị tân, là những con cháu các triều trước

Nói chung, việc nhà nước dành những ưu tiên trong việc bảo hộ về sức khỏe, tính mạng, danh dự và tư pháp cho quan chức nhiều hơn so với thường dân không chỉ do nhu cầu bảo đảm

điều kiện làm việc cho họ mà còn phản ánh sự cao quý của đội ngũ này so với thường dân

Trong một xã hội mà sự phân chia đẳng cấp hết sức rõ ràng thì sự phân biệt quý-tiện, sang-hèn

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

69 Đại Nam thực lục, tập 6, tr 432 Thống chế Nguyễn Văn Hiếu trước ở Nghệ An, vì ốm giải chức, đến bấy giờ vào chầu,

vua yên ủi hỏi rằng : “Khanh tuổi già, nhân ra cõi ngoài bị ốm Nay sức lực thế nào ?” Hiếu tâu rằng : “Bệnh thần dẫu chưa

được thực khỏi, mà sức lực còn khoẻ” Vua nói : “Khanh làm việc không có gì giỏi hơn người, nhưng làm quan liêm cần,

đãi người hoà nhã thì không ai kịp Vả khanh trước ở Sơn Nam vốn có tiếng là tuần lương, quan dân tin yêu Kịp Trấn thủ

Nghệ An bỗng có việc biên, mấy lần ra ngoài không từ khó nhọc Những điều ấy Trẫm đã biết rõ Nay các phủ Trấn Ninh,

Trấn Tĩnh thuộc hạt Nghệ An đều mới vào bản đồ, dân man còn sợ hãi, mà Nguyễn Văn Quế làm việc mới được ít ngày,

Trẫm thực không yên dạ Khanh nên đi lần nữa, vì triều đình mà ngồi trấn, ngày nào tuổi đến bảy tám mươi, hoặc về Kinh

chầu hầu hoặc về quê vui nhàn, muốn thế nào cũng được” Hiếu cúi đầu tạ, bèn sai đến trấn ngay

70 !Thập ác: 10 trọng tội bị xử tử hình ngay: mưu phản, mưu đại nghịch, mưu phản bội, ác nghịch, bất đạo, đại bất kính, bất

hiếu, bất mục, bất nghĩa, nổi loạn!

71 Viện sử học (2009), Cổ luật Việt Nam: Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ, sđd, tr 284

72 Đản miếu: là họ nhà vua trong 5 thế hệ

73 Ty ma: hạng để tang 3 tháng

74 chỉ những người cũ, đã theo giúp vua lâu ngày, hoặc những người giúp việc từ triều trước

75 Tản chức: chức quan nhàn tản, như những chức học quan, hàn lâm

Trang 38

là dễ hiểu Chính vì thế mà đội ngũ quan chức cũng nhận được những đãi ngộ tương đối đặc

biệt so với thứ dân

2.1.2.3 Được cấp mộ phần và thờ cúng

Khi quan chức qua đời cũng nhận được những đặc ân từ nhà nước Với những quan chức

có nhiều đóng góp cho triều đại, nhà nước không chỉ lo toan chu toàn việc tang lễ, cấp tử tuất76,

cấp tiền cho gia đình quan chức mà còn cấp mộ phần và truy tặng danh hiệu, lập đền thờ ghi

công để lưu danh hậu thế Các vua triều Nguyễn luôn chuẩn định việc thờ cúng ba đối tượng:

công thần khai quốc (như Nguyễn Hữu Dật, Đào Duy Từ tức những người giúp chúa Nguyễn

giữ và mở cõi), công thần trung hưng (những công thần giúp vua Gia Long chống Tây Sơn như

Võ Tánh, Ngô Tòng Chu…) công thần tiết nghĩa (các bề tôi chết vì giữ lòng trung thành với

nhà vua như trường hợp Bố chính Bùi Tăng Huy, quyền Án sát Phạm Đình Trạc, Lãnh binh

Phạm Văn Lưu khi thành Cao Bằng bị Nông Văn Vân vây đánh năm 1834) Đó là một đặc ân

lớn lao của không chỉ bản thân quan chức mà của cả gia đình, dòng họ, làng xóm

2.1.2.4 Ưu đãi phụng dưỡng, chăm sóc cha mẹ

Căn cứ vào các trường hợp cụ thể, mức độ quan trọng của công việc nhà vua quyết định thời gian nghỉ phép cho quan lại Sau thời gian phép, quan lại quay trở về làm việc và giữ

nguyên chức, hàm Đối với trường hợp về thăm cha mẹ già yếu, nhà nước có chính sách đãi

ngộ hậu hĩnh với tinh thần “chính sách vương giả lấy việc trọng già làm trước, các đại thần ở

Kinh có cha mẹ già 60, 70 tuổi trở lên hậu thưởng” 77

Liên quan đến việc tang cha mẹ, ông bà, năm 1815 và 1818, vua Gia Long đã đặt lệ định

về thời gian cư tang theo thứ bậc trưởng thứ trong gia đình và phẩm hàm, chức quan trong triều

Theo đó, nhất phẩm, Đốc học, Tri huyện, Tri châu, Trợ giáo: con trưởng 12 tháng, con thứ 6

tháng, cháu đich 9 tháng; Nhị phẩm: con trưởng 9 tháng, con thứ 4 tháng, cháu đích 6 tháng

Trong trường hợp đang thực thi công việc khẩn yếu như đi sứ hay đem quân đi dẹp bắt trộm

cướp thì đều xong việc mới được về quê chịu tang Năm 1838, vua Minh Mệnh chuẩn định

quan viên có mẹ đích chết, nếu mẹ đích không có con thì quan nhất phẩm chiểu lệ cha mẹ chết

nghỉ 12 tháng lo việc tang, mẹ đích có con thì nghỉ 6 tháng Quan nhị phẩm đến tứ phẩm cũng

theo lệ ấy giảm dần Quy định về cư tang này thể hiện quan điểm ưu đãi của vua đối với bề tôi

bởi nếu không làm tròn chữ hiếu thì không thể làm tròn chữ trung Đặc biệt, quan viên trong

Kinh và ngoài các tỉnh có tang 3 năm vẫn theo lệ trước, trong 27 tháng, đều miễn lễ triều hạ;

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

76 !Xin xem Bảng 7 chuyên đề 2!

77 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, sđd, t5, tr.87

Trang 39

nếu gặp tang 1 năm, thì tứ phẩm trở lên cho miễn triều hạ 3 tháng; ngũ phẩm trở xuống miễn 1

tháng

2.2 Đãi ngộ đối với thân thuộc của quan chức

Những người bề trên trực hệ hoặc vợ của quý tộc, công thần và quan chức cao cấp trong triều đình được hưởng lệ truy phong và phong tặng Phạm vi thân thuộc được ân hưởng theo lệ

truy phong cũng có sự khác nhau theo từng giai đoạn Nếu thời Gia Long, để trả ơn các công

thần có công sáng lập nên triều đại phạm vi ân hưởng lên tới 3 đời Thời Minh Mệnh quy định:

chánh tòng nhất phẩm, phong tặng 3 đời; chánh tòng nhị phẩm, phong tặng 2 đời; chánh tòng

tam phẩm và chánh tòng tứ phẩm ngạch chính thì phong tặng 1 đời Tuy nhiên, nếu đối tượng

phong tặng phạm phải thập ác tội thì không áp dụng lệ này bởi bản thân người đó đã phạm phải

các tiêu chí đạo đức và các mối quan hệ xã hội được Nho giáo bảo vệ Quy định về phong tặng

trên, đặc biệt là truy phong đến 3 đời, các vua triều Nguyễn muốn để cho mọi người dân thấy

được ân điển của nhà nước bởi đó vinh hạnh của chính bản thân quan chức và những người

thân của viên quan đó Các mệnh phụ phu nhân của quan chức nhận được sự đãi ngộ từ nhà

nước Nếu như quan chức được ban phẩm hàm thì vợ của họ được phong tặng tên hiệu theo

phẩm hàm của chồng: vợ quan nhất nhị phẩm được phong là Phu nhân, vợ quan tam phẩm được

phong là Thục nhân, vợ quan tứ phẩm được phong là Cung nhân, vợ quan ngũ phẩm được

phong là Nghi nhân, vợ quan lục thất phẩm được phong là An nhân, vợ quan bát cửu phẩm

được phong là Nhụ nhân

Như các triều đại quân chủ trước, con cháu của quan chức được hưởng lệ tập ấm và hưởng ưu đãi về giáo dục Đối với lệ tập ấm, bổ dụng con các quan viên thực thi công vụ, theo

thống kê trong Đại Nam thực lục riêng dưới thời vua Gia Long và Minh Mệnh là 168 người

Chức vụ văn quan sung bổ chủ yếu là Hàn Lâm viện, Cống sĩ viện hoặc bát cửu phẩm thư lại

theo các nha để học tập chính sự; đối với võ quan là chức Cai đội, Vệ uý, Phó vệ uý Về giáo

dục, các quan Kinh, quan văn Tứ phẩm trở lên, Ngũ phẩm thì 1 người con trưởng, 15 tuổi trở

lên, nếu tình nguyện vào Giám học tập thì bổ làm học sinh Quốc Tử Giám, về sau tuỳ tài bổ

dụng Quan Tứ phẩm trở lên hưu trí hay đã chết đều cho 1 người con làm học sinh78

Ngoài ra, thân thuộc của quan chức cũng được quan tâm, chăm sóc về sức khỏe cũng như hưởng ưu đãi về tư pháp Năm 1838, Minh Mệnh định lệ, các địa phương ở Kinh và tỉnh

ngoài, trong hạt nếu có quan chức làm quan xa văn từ tứ phẩm, võ từ tam phẩm trở lên, ở nhà

còn có cha mẹ già, thì thượng ty trong hạt trên phải thời thường cho người thăm hỏi, nếu có

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

78!Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, t2, sđd, tr.904-905!

Trang 40

tình trạng ốm đau bệnh nặng, phải phái thầy thuốc điều trị, để cho người con được yên lòng

làm việc79 Hay Điều 5 Hoàng Việt luật lệ quy định về trường hợp ông, cha của người thuộc

diện Bát nghị phạm tội: Phàm là ông bà, cha mẹ, vợ và con cháu người thuộc diện Bát nghị mà

phạm tội thì phải phong kín tâu lên chờ lệnh chỉ, không được tự tiên tra hỏi Những người thuộc

diện Bát nghị, ngoài bản thân còn được xét cả đến hàng thân thuộc Trên đến ông bà, cha mẹ,

trong đến cả vợ, dưới đến cả con cháu Tất cả đều xét giảm như đối với bản thân

“Về sự đãi ngộ, bề tôi thì đủ ơn, lễ; lựa dùng người tài, thì ai nấy đều được thích hợp

Kẻ làm thiện, dù việc nhỏ đến đâu cũng ghi khen, kẻ có công, dù ở xa đến đâu cũng được biết đến Ôm gối thân mật, coi bề tôi như con; chia đất thưởng phong, với nước cùng hưởng phúc Lại còn cho vẻ vang tới cha mẹ, lục dụng đến con cháu Ai đã được ghi công vào Nhà nước thì cho phụ thờ ở miếu đình, ai đã lập công ở cương trường thì cho dựng bia ở Vũ miếu; thói nhân nghĩa, trung hậu vượt hẳn các đời xưa”

Tất cả những biện pháp đãi ngộ trên đều nhằm mục đích cổ vũ, khích lệ quan chức tận trung với vua và triều đình, mang tài năng giúp nước, vinh danh bản thân và gia đình, tạo điều

kiện vật chất và tinh thần để quan chức làm tròn nhiệm vụ, ngăn chặn lòng ham muốn vật chất

dẫn đến tình trạng lộng quyền và lạm quyền, đảm bảo vững chắc ngôi vị và quyền lực trong tay

nhà vua

Tuy nhiên, chế độ đãi ngộ của nhà nước đối với quan chức gây nên một số hệ lụy nhất

định Thứ nhất, sự cách biệt quá lớn giữa quý tộc, quan chức với dân thường cùng những hậu

đãi mà quan chức và gia đình quan chức đó được hưởng đã tạo nên tâm lí háo danh, thích làm

quan, bằng mọi giá phải giành vị thế cao trong hệ thống ngôi thứ làng xã để thoát khỏi thân

phận bị đè nén của đông đảo bộ phận dân cư trong làng xã Thứ hai, do lương bổng của quan

chức quá ít ỏi, không đủ trang trải cuộc sống phần nào đó đã tạo ra tâm lý “tự tạo ra sự bù đắp,

tự tạo ra sự công bằng” là cái cớ biện minh cho các thói hư, tật xấu - tham nhũng; Thứ ba, sự

đãi ngộ đa dạng đó đã tạo nên tâm lý tư tưởng “vinh thân phì gia” trong một số bộ phận quan

chức

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

79 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 3, sđd, tr 393!

Ngày đăng: 28/07/2019, 17:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w