Vấn đề trách nhiệm của quan chức nói chung và trách nhiệm vật chất đối với quan chức trong pháp luật thời Nguyễn nói riêng được đề cập trong một số công trình nghiên cứu cũng như trong m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LẠI SƠN TÙNG
TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT ĐỐI VỚI QUAN CHỨC THEO
PHÁP LUẬT THỜI NGUYỄN Ở VIỆT NAM
(GIAI ĐOẠN 1802 – 1884)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Văn Động
HÀ NỘI – NĂM 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, cho phép tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới các thầy cô giáo của trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô trong tổ bộ môn Lý luận nhà nước và pháp luật đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đặc biệt, tôi xin được gửi lời cảm tạ sâu sắc nhất tới PGS TS Nguyễn Văn Động - người đã tận tình hướng dẫn, động viên tôi trong suốt thời gian hoàn thành luận văn thạc
sĩ của mình Tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành, kính chúc thầy sức khỏe và công tác tốt
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ nhiệt thành trong suốt quãng thời gian học tập tại Trường Đại học Luật Hà Nội,
để tôi có thể hoàn thiện luận văn thạc sĩ của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 2 tháng 8 năm 2016
Tác giả
Lại Sơn Tùng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Văn Động Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
về nội dung luận văn của mình
Hà Nội, ngày 2 tháng 8 năm 2016
Tác giả
Lại Sơn Tùng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn 3
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn 4
5 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu của Luận văn 5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn 5
7 Kết cấu của Luận văn 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT ĐỐI VỚI QUAN CHỨC THEO PHÁP LUẬT THỜI NGUYỄN Ở VIỆT NAM (GIAI ĐOẠN 1802-1884) 7
1.1 Bối cảnh nhà Nguyễn khi thiết lập vương triều 7
1.2 Tiền đề tư tưởng của trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884) 9
1.2.1 Sự tiếp thu tư tưởng từ Trung Quốc về trách nhiệm vật chất đối với quan chức 10
1.2.2 Sự kế thừa tư tưởng pháp lý về trách nhiệm vật chất đối với quan chức từ triều Lê Sơ 18
1.3 Tiền đề thực tiễn của trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884) 21
1.4 Khái niệm, đặc điểm và phân loại trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884) 24
1.4.1 Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm vật chất đối với quan chức 24
1.4.2 Phân loại trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884) 30
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT THỜI NGUYỄN Ở VIỆT NAM (GIAI ĐOẠN 1802-1884) VỀ TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT ĐỐI VỚI QUAN CHỨC 34
2.1 Hình thức của pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884) về trách nhiệm vật chất đối với quan chức 34
2.2 Nội dung của pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884) về trách nhiệm vật chất đối với quan chức 37
Trang 5lạm dụng chức quyền nhằm bớt xén chiếm đoạt tài sản công 37 2.2.2 Các quy định pháp luật về trách nhiệm vật chất đối với quan chức khi trì hoãn làm chậm trễ, sai lệch công vụ hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm gây thiệt hại về tài sản công 41 2.2.3 Các quy định pháp luật về trách nhiệm vật chất đối với quan chức khi gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe và tính mạng của người dân 46 2.2.4 Trình tự, thủ tục và chủ thể áp dụng trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884) 53
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT ĐỐI VỚI QUAN CHỨC THEO PHÁP LUẬT THỜI NGUYỄN (GIAI ĐOẠN 1802-1884) VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ THAM KHẢO ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY 61
3.1 Thực tiễn áp dụng trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884) 61 3.2 Những giá trị tham khảo trong việc hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về trách nhiệm vật chất đối với cán bộ, công chức, viên chức ở Việt Nam hiện nay 75
3.2.1 Những giá trị tham khảo trong việc hoàn thiện các quy định pháp luật
về trách nhiệm vật chất đối với cán bộ, công chức, viên chức ở Việt Nam hiện nay 77 3.2.2 Những giá trị tham khảo trong việc tổ chức thực pháp luật về trách nhiệm vật chất đối với cán bộ, công chức, viên chức 80
KẾT LUẬN CHUNG 88 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Duy trì công bằng xã hội là điều nên làm và buộc phải làm của một nhà nước dân chủ, chân chính Người gây ra thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại, điều đó phù hợp với đạo lý, phong tục tập quán của người Việt Nam Đương nhiên, cán bộ, công chức, viên chức không nằm ngoài quỹ đạo đó, nhưng tìm ra phương thức xử lý đối với cán bộ, công chức, viên chức trong khi thi hành công vụ sao cho phù hợp, vừa thể hiện công bằng, vừa thể hiện chính sách bảo hộ chế độ công vụ, giúp họ yên tâm, chủ động, mạnh dạn trong khi thi hành công vụ là điều cần thiết Xã hội muốn phát triển bền vững phải được tạo dựng bởi những con người hết lòng trung thành, có trí tuệ và năng lực Pháp luật về trách nhiệm vật chất đối với cán bộ, công chức, viên chức là một trong những yếu tố góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của họ
Tuy nhiên, hiện nay vấn đề trách nhiệm vật chất đối với cán bộ, công chức, viên chức gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ chưa được đánh giá đúng mức, mặc dù rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trong thời gian gần đây điều chỉnh vấn đề này, tiêu biểu là Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010 và Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước năm 2009
Do vậy, để hoạt động thực thi công vụ ngày càng hiệu quả hơn trên thực
tế, bên cạnh việc nghiên cứu cách thức tổ chức, hoạt động của các quốc gia có nền văn hóa pháp lý cao thì việc nghiên cứu một cách hệ thống những kinh nghiệm xây dựng pháp luật cũng như áp dụng pháp luật về trách nhiệm vật chất đối với quan chức của ông cha ta, nhằm kế thừa những yếu tố tinh túy, hợp lý phù hợp với nền văn hóa, lối sống và phong tục tập quán của dân tộc là điều hết sức cần thiết Trong các triều đại phong kiến Việt Nam thì hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật dưới triều Nguyễn quy định về trách nhiệm vật chất của quan chức rất phong phú Bên cạnh đó, các vụ án xảy ra trên thực tế cũng được các sử gia ghi chép cẩn thận
Trang 7Ngoài mục đích “ôn cố tri tân”, tìm hiểu quá khứ để phục vụ hiện tại, tác giả Luận văn cũng muốn làm sáng tỏ hơn một trong những “góc khuất” của lịch sử triều Nguyễn - vấn đề quan chức gây thiệt hại trong khi thi hành công
vụ và cách phòng, chống hành vi đó của Triều đình - để nhận diện cụ thể hơn
về lịch sử vương triều và vị trí của triều đại này trong tiến trình lịch sử dân tộc, góp phần đánh giá triều Nguyễn một cách khách quan và chân thực hơn
Trên cơ sở nhận thức đó, để có cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về vấn đề này, tôi đã chọn vấn đề “Trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884)” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu các vấn đề có liên quan tới đề tài Luận văn
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về triều Nguyễn trên hầu hết các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, tôn giáo, quân sự, luật pháp, nghệ thuật, văn học…Có không ít các cuộc hội thảo trong và ngoài nước về chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong lịch sử dân tộc Các đề tài đã khai thác các góc độ khác nhau về thời Nguyễn từ quá trình ra đời, phát triển đến giai đoạn suy tàn
Hệ thống tư liệu gốc về triều đại này rất phong phú Tuy nhiên, vẫn còn nhiều mảng đề tài vẫn chưa khai thác triệt để về mặt tư liệu, trong đó có vấn đề trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật triều Nguyễn (giai đoạn 1802-1884) Đây là một hướng nghiên cứu khá mới mẻ, chưa có nhiều bài viết, công trình đề cập
Vấn đề trách nhiệm của quan chức nói chung và trách nhiệm vật chất đối với quan chức trong pháp luật thời Nguyễn nói riêng được đề cập trong một số công trình nghiên cứu cũng như trong một số sách, tài liệu tham khảo, chuyên
khảo như: “Nghiên cứu pháp luật hành chính và quân sự triều Nguyễn (1802 –
1884)”, Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ, Đại học Sư
phạm, Đại học Huế năm 2012; “Về pháp luật dành cho quan lại thời Nguyễn
(1802-1883)”, Trần Thị Thanh Thanh, Hội thảo quốc tế về Việt Nam học,
Trung tâm KHXH&NV quốc gia, Nxb Thế Giới, Hà Nội, 1998; “Các biện
pháp chế tài để điều tiết cực quyền của bộ máy nhà nước tập quyền triều
Trang 8Nguyễn” và “Các biện pháp phòng chống tham nhũng của triều Nguyễn trong việc xây dựng Kinh đô Huế: Tác dụng và bài học kinh nghiệm”, trong “Thuận
Hóa – Phú Xuân – Thừa Thiên Huế: 700 năm hình thành và phát triển”, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010; “Một số vấn đề quan chế triều Nguyễn”, Nxb Thuận hóa, Huế, 1998; “Mấy vấn đề về quản lý nhà nước và củng cố
pháp quyền trong lịch sử Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995;
“Nhà nước và pháp luật thời phong kiến Việt Nam những suy ngẫm” của Bùi
Xuân Đính, Huỳnh Công Bá, 2012,…
Nội dung về trách nhiệm vật chất đối với quan chức chỉ là một khía cạnh nhỏ trong các công trình nghiên cứu này Còn đối với trách nhiệm vật chất nói chung đối với cán bộ, công chức hiện nay thì chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu về vấn đề này, chỉ có một số ít đề tài như Luận án tiến sĩ luật học
“Trách nhiệm vật chất đối với công chức theo pháp luật Việt Nam hiện nay” của Trần Thị Hiền, Trường đại học Luật Hà Nội, 2008
Tóm lại, cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật triều Nguyễn (giai đoạn 1802-1884)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các quy định pháp luật về trách nhiệm vật chất đối với quan chức trong một số văn bản pháp luật triều Nguyễn như: Hoàng Việt luật lệ, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ,…; thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về trách nhiệm vật chất đối với quan chức ở bộ chính sử Đại Nam thực lục trong giai đoạn độc lập, có chủ quyền của Vương triều Nguyễn
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là giai đoạn từ năm 1802 đến năm 1884 của Vương triều Nguyễn Sở dĩ tác giả Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu
là Vương triều Nguyễn bởi lẽ: triều Nguyễn là một hiện tượng lịch sử khá đặc biệt trong thời kì phong kiến Việt Nam nói riêng và lịch sử Việt Nam nói chung Đặc biệt ở chỗ, đây là triều đại phong kiến cuối cùng “là phép cộng dồn của lịch sử thế kỉ XIX” thể hiện được một cách đầy đủ nhất đặc trưng và bản
Trang 9chất của chế độ phong kiến Việt Nam Nghiên cứu về triều Nguyễn sẽ làm sáng
tỏ nhiều vấn đề của lịch sử Việt Nam thời kì trước đó Đồng thời, đây cũng là triều đại phong kiến gần chúng ta nhất về mặt thời gian Những dấu ấn của thời Nguyễn đối với xã hội ngày nay hiện hữu đậm nét hơn bất kì một triều đại phong kiến nào Bên cạnh đó, trong tình hình hạn chế về tư liệu lịch sử thời phong kiến của nước ta hiện nay, hệ thống tài liệu đồ sộ và đa dạng mà chúng
ta có được về triều Nguyễn sẽ thuận lợi hơn cho quá trình nghiên cứu so với các triều đại khác Qua đó, tìm ra những giá trị của nội dung này trong các văn bản pháp luật giai đoạn trước, để từ đây làm cơ sở rút ra những giá trị tham khảo cho hiện nay
Triều Nguyễn có 13 đời vua, kéo dài từ năm 1802 đến năm 1945, nhưng đến năm 1884, sau khi ký Hiệp ước Patonot (6-6-1884), nước An Nam đã hoàn toàn nằm trong quyền bảo hộ của Pháp, Nhà nước phong kiến Nguyễn bắt đầu
lệ thuộc vào chính quyền thực dân Pháp, khiến cho chính sách của triều đình phong kiến, trong đó có hệ thống pháp luật mất đi tính tự chủ Do đó, hệ thống pháp luật triều Nguyễn thể hiện đặc trưng, với những đóng góp lớn lao nhất trong khoảng thời gian từ 1802 đến năm 1884 Trong 82 năm từ năm đó, triều Nguyễn trải qua 7 đời vua: Gia Long (1802-1819), Minh Mệnh (1802-1840), Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức (1848-1883), Dục Đức (làm vua 3 ngày), Hiệp Hoà (6/1883-11/1883), Kiến Phúc (12/1883-8/1884) Luận văn tập trung chủ yếu vào 4 đời vua đầu triều Nguyễn là Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức Những đời vua sau đó trị vì trong thời gian hết sức ngắn ngủi và không có đóng góp đáng kể cho Vương triều Nguyễn nên chúng tôi không đề cập đến trong Luận văn
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
Mục đích của Luận văn là nghiên cứu về trách nhiệm vật chất đối với quan chức trong pháp luật phong kiến thời Nguyễn (giai đoạn 1802-1994) nhằm tìm ra những bài học kinh nghiệm, những giá trị lịch sử và đương đại có thể vận dụng sáng tạo vào công cuộc cải cách Nhà nước, pháp luật, cải cách
Trang 10nền hành chính ở Việt Nam, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay
Để đạt được mục đích đó, Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu cơ sở lý luận của trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802 – 1884); phân tích hình thức, nội dung pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884) về trách nhiệm vật chất đối với quan chức; phân tích thực tiễn áp dụng trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật thời Nguyễn (giai đoạn 1802-1884) và rút ra những giá trị tham khảo đối với việc hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về trách nhiệm vật chất đối với cán bộ, công chức, viên chức ở Việt Nam hiện nay
5 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu của Luận văn
Ngoài các phương pháp nghiên cứu có tính chất cơ sở phương pháp luận cho các ngành khoa học xã hội nói chung như phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước, pháp luật luận văn còn sử dụng các phương pháp đặc thù như thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp để đưa ra nhận định, đánh giá đối với các quy định pháp luật của nhà Nguyễn, rút ra những kinh nghiệm có thể tham khảo cho ngày nay
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
Qua việc tìm hiểu các quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật thời Nguyễn giai đoạn 1802-1884 về trách nhiệm vật chất đối với quan chức, tác giả nêu lên những thành tựu cũng như hạn chế của các quy định pháp luật đó Kết quả nghiên cứu này góp phần nhất định vào việc làm phong phú thêm hệ thống tri thức khoa học về trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật thời Nguyễn (giai đoạn 1802-1884)
Về mặt thực tiễn, trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu cơ sở xây dựng pháp luật về trách nhiệm vật chất đối với quan chức thời Nguyễn giai đoạn 1802-
1884, đánh giá về những điểm tiến bộ và rút ra giá trị tham khảo cho việc hoàn
Trang 11thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về trách nhiệm vật chất đối với cán bộ, công chức, viên chức ở Việt Nam hiện nay
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận chung, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884)
Chương 2: Pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884) về trách nhiệm vật chất đối với quan chức
Chương 3: Thực tiễn áp dụng trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật thời Nguyễn (giai đoạn 1802-1884) và những giá trị tham khảo đối với Việt Nam hiện nay
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT ĐỐI VỚI QUAN CHỨC THEO PHÁP LUẬT THỜI NGUYỄN Ở VIỆT NAM (GIAI ĐOẠN 1802-1884)
1.1 Bối cảnh nhà Nguyễn khi thiết lập vương triều
Năm 1802, sau khi đánh bại triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã lập ra nhà Nguyễn, tự đặt niên hiệu là Gia Long Thành lập và thống trị trong thế kỉ XIX, nhà Nguyễn thừa hưởng được thành quả to lớn của phong trào nông dân Tây Sơn trong sự nghiệp thống nhất đất nước, làm chủ một lãnh thổ trải dài từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau bao gồm cả Đàng Trong và Đàng Ngoài cũ Cũng bởi mặc cảm với vị trí của mình, năm 1803, Gia Long cử sứ bộ do Lê Quang Định đứng đầu, sang nhà Thanh xin quốc hiệu và đầu năm 1804 chính thức công bố tên nước là Việt Nam Do phản ứng của nhân dân, năm 1813, Gia Long cho trở lại tên Đại Việt Năm 1838, Minh Mệnh bất bình đã khẳng định lại quốc hiệu là Đại Nam và cấm nhân dân “không được nói lại hai chữ Đại Việt” Kinh đô đóng ở Phú Xuân (Huế) 40, tr 437
Về chính trị, khác với các vương triều trước, nhà Nguyễn giành vương quyền bằng việc tiêu diệt nhà Tây Sơn, một vương triều tiến bộ đã lập được hai
võ công hiển hách đối với dân tộc là đánh bại quân xâm lược Xiêm và Mãn Thanh Thế nên, mặc dù là một Hoàng đế sáng nghiệp nhưng, Gia Long không những ít được thiện cảm của nhân dân mà còn bị phê phán là kẻ “cõng rắn cắn
gà nhà”, câu kết với giặc ngoại xâm, phản bội lợi ích của dân tộc Do đó, mâu thuẫn nảy sinh giữa dân tộc – nhân dân và ngôi vị Hoàng đế của Gia Long Từ mâu thuẫn này đã dẫn đến tình trạng làm suy yếu sức đề kháng của dân tộc dưới thời nhà Nguyễn trị vì là điều dễ hiểu Trong hơn 80 năm thống trị của nhà Nguyễn, đã có hơn 500 cuộc khởi nghĩa của nhân dân dưới danh nghĩa phù
Lê, phù Trịnh hoặc chống tham quan ô lại Bên cạnh đó, sự xâm thực của các thế lực tư bản phương Tây, nhất là của người Pháp ngày càng gia tăng mạnh
mẽ Các lực lượng Cờ Đen, Cờ Vàng và nạn giặc cướp trên đất liền, trên biển cũng gây áp lực không nhỏ đối với triều Nguyễn 47, tr 277
Trang 13Về kinh tế, nhà Nguyễn phải gánh chịu những hậu quả nặng nề do kinh tế nông nghiệp bị đình đốn, tàn phá vì nội chiến kéo dài hàng thế kỷ Đồng thời, mâu thuẫn giữa chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất với chế độ ruộng đất tư ngày càng chiếm ưu thế đã ở mức cao nhất (khoảng 83% tổng diện tích ruộng đất toàn quốc) cũng đòi hỏi nhà Nguyễn phải có chính sách giải quyết phù hợp Những biểu hiện của tính chất hàng hóa trong sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp và sự hiện hữu của hệ thống các chợ nhỏ phồn thịnh trong nửa đầu thế kỉ XIX đang đòi hỏi sự thống nhất, sự liên hệ thường xuyên để lưu thông hàng hóa, tiến tới hình thành thị trường trong nước Từ thế kỉ trước và ngay trong nửa đầu thế kỉ XIX, nhiều nước phương Tây như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Mỹ, Đức, Pháp, Tây Ban Nha đã đến xin đặt quan hệ thông thương với Việt Nam Trong điều kiện trong nước và quốc tế như trên, nhưng nhà Nguyễn
đã không có được những chính sách kinh tế phù hợp ở tầm vĩ mô để mở đường cho sản xuất phát triển, ổn định tình hình chính trị, bảo vệ sự thống nhất đất nước và củng cố nền độc lập dân tộc trước sự xâm lược của người Pháp mà vẫn thi hành những chính sách cai trị lỗi thời 47, tr 278
Về xã hội, thì cũng như các triều đại trước, dưới thời Nguyễn, xã hội Việt Nam chia thành hai giai cấp lớn: thống trị và bị trị Giai cấp thống trị bao gồm vua, quan, lại trong hệ thống chính quyền và giai cấp địa chủ Với vị thế của mình, họ trở thành lớp người đối lập với nhân dân, hạch sách, bóc lột nhân dân Tất nhiên, trong số họ cũng có cũng người thanh liêm, trung thực, biết lo lắng cho cuộc sống của nhân dân, sự ổn định của xã hội Còn giai cấp bị trị là tuyệt đại đa số cư dân như là nông dân, dân bản mường, plây ở vùng dân tộc ít người Họ có ít nhiều ruộng đất tư để cày cấy, sinh sống Thêm vào đó là khẩu phần ruộng công nhỏ nhoi vừa xa, vừa xấu Nhiều người phải chạy vạy buôn bán ở các chợ làng, chợ huyện hoặc làm thủ công, gánh vác thuê cho các nhà buôn bán Họ là lớp người gánh chịu mọi tai họa của tự nhiên, mọi thiệt thòi, bất công của xã hội 40, tr 454 Thế nên, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt Các cuộc đấu tranh cũng do đó mà bùng lên, như nửa đầu thế kỉ XIX đã có 400 cuộc khởi nghĩa nổ ra trên khắp toàn
Trang 14quốc nhằm chống lại ách áp bức bóc lột của tầng lớp thống trị dưới triều Nguyễn
Nhà Nguyễn ra đời và tồn tại không những trong một bối cảnh rất bất lợi của đất nước Một trong những khó khăn nan giải nhất đó chính là tệ quan liêu, tham nhũng được đẩy lên cao nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam Chính vì thế, ngay từ buổi đầu, việc áp dụng các chế tài pháp luật trong đó có trách nhiệm vật chất nhằm răn đe, hạn chế tình trạng quan liêu, lộng quyền đang xảy ra cũng như để chấn chỉnh đội ngũ quan chức và xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, đủ sức gánh vác các trọng trách lịch sử của đất nước chính là một trong những yêu cầu cấp thiết nhất bấy giờ
1.2 Tiền đề tư tưởng của trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884)
Tư tưởng về đường lối trị nước là sự phản ánh ý chí, chủ trương của các triều đại phong kiến trong lịch sử, đồng thời quyết định sự tồn vong của mỗi triều đại Trong lịch sử Việt Nam gắn với các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, tư tưởng về đường lối trị nước được hình thành và phát triển cùng với sự hoàn thiện của bộ máy nhà nước phong kiến Luật pháp được xem là mấu chốt cho việc trị quốc, giữ vững cơ nghiệp của các triều đại Đến giai đoạn 1802-
1884, khi nhà Nguyễn đang nắm quyền trị vì đất nước và chưa bị sự đô hộ của thực dân Pháp, đường lối cai trị đã được thể chế thành các quy định pháp luật trong các văn bản như Hoàng Việt luật lệ, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ,… Các văn bản trên của nhà Nguyễn ra đời trên cơ sở kinh tế và kết cấu giai
tầng của xã hội lúc bấy giờ Vì thế, “là công cụ trong tay giai cấp phong kiến
thống trị, pháp luật là ý chí của giai cấp địa chủ phong kiến được nâng lên thành luật pháp mà nội dung của ý chí đó được quy định bởi điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp phong kiến.” [13, tr 201] Là một bộ phận của hệ
thống pháp luật triều Nguyễn, các quy định pháp luật về trách nhiệm vật chất đối với quan chức cũng đã được xây dựng dựa trên tư tưởng của giai cấp thống trị Tư tưởng đó chính là sự tiếp thu có chọn lọc từ Trung Hoa cũng như kế thừa từ các triều đại trước nhà Nguyễn, tiêu biểu là nhà Lê Sơ
Trang 151.2.1 Sự tiếp thu tư tưởng từ Trung Quốc về trách nhiệm vật chất đối với quan chức
Năm 1802, vua Gia Long sau khi nhận thụ phong của triều đình Mãn Thanh, trong vấn đề xây dựng các điển chương chế độ của vương triều mình đã
mô phỏng theo nhà Thanh Tức là xây dựng nền chính trị theo chuẩn mực của Nho giáo Nhà Nguyễn đề cao Nho giáo với vai trò độc tôn trong quản lý và xây dựng đất nước Điều này đồng nghĩa với việc triều Nguyễn cai trị đất nước chủ yếu dựa vào Đức trị và Nhân trị (quan điểm trị nước của Nho giáo) Tuy nhiên, để bảo vệ vương quyền và xây dựng một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền chuyên chế cao độ, buộc nhà Nguyễn phải sử dụng đến công
cụ pháp luật Đó là sự kết hợp giữa đề cao tư tưởng đức trị của Nho giáo và tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử Nho giáo đã cùng với pháp luật ổn định trật tự
kỷ cương xã hội, đảm bảo cho sự phát triển của đất nước trong giai đoạn này
Có thể nói rằng sự ra đời của các quy định pháp luật về trách nhiệm vật chất đối với quan chức chính là một minh chứng cho phương pháp cai trị mới của nhà Nguyễn, có sự kết hợp giữa pháp trị của Hàn Phi Tử với đức trị, nhân trị của Nho gia Tiền đề tư tưởng của các quy định pháp luật đó thể hiện ở những điểm cơ bản sau:
Một là, quan chức phải trung thành với vua và tận tụy phục vụ nhà nước,
nhân dân
Lên ngôi sau sự sụp đổ của một dòng họ phong kiến khác, vua Gia Long hoàn toàn ý thức được tầm quan trọng của việc xây dựng hình ảnh một vị vua hiền cùng với các quan liêm khiết trong mắt dân chúng Vậy nên đường lối chính trị của triều Nguyễn có nguồn gốc từ các học thuyết Nho giáo và đều được các vua triều Nguyễn am hiểu và sùng bái Sau khi lật đổ nhà Tây Sơn lập
ra nhà Nguyễn, vua Gia Long tiếp tục học theo Lê Thái Tổ chọn Nho giáo làm
hệ tư tưởng chính thống Đến thời Minh Mệnh tiếp tục khẳng định và nâng cao hơn nữa vị trí của Nho giáo Tự Đức là nhà một nhà Nho uyên bác, tinh thông văn học lịch sử cổ kim Ông đã đề xướng nhiều hoạt động học thuật của Nho gia nhằm khẳng định hơn nữa vị trí, vai trò của Nho học trong xã hội Với
Trang 16mong muốn duy trì dài lâu sự tồn tại của nền quân chủ chuyên chế, nhà Nguyễn đã tìm mọi cách thực thi đường lối đức trị, vận dụng các nguyên tắc đạo đức như “tam cương, ngũ thường”, nguyên tắc chính danh, tôn quân quyền,… để xây dựng một xã hội hoà mục, trị bình theo đúng lý tưởng của Nho giáo Với tư cách là học thuyết chính trị - xã hội đã được các triều đại phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XIX vận dụng, Nho giáo đã được sử dụng làm hệ tư tưởng chính trị, là công cụ để xây dựng, quản
lý và bảo vệ triều đại từ thời Lê sơ đến thời Nguyễn Tính từ khi tiêu diệt triều Tây Sơn lập nên nhà Nguyễn đến trước khi thực dân Pháp hoàn thành quá trình xâm lược Việt Nam, triều Nguyễn đã tạo ra những điều kiện hết sức thuận lợi cho sự độc tôn và thực hiện Nho giáo hoá toàn bộ đời sống xã hội để duy trì quốc gia và địa vị thống trị của mình [60]
Nho giáo đề cao mối quan hệ tam cương ngũ thường, trong đó mối quan
hệ vua-tôi được đặc biệt quan trọng bởi vì nó gắn với vận mệnh đất nước, được
các nhà Nho chú ý bàn nhiều nhất Quan điểm Thiên mệnh của Nho giáo cho
rằng Trời là đấng hóa công sinh ra muôn vật, sinh ra dân: “Trời giúp kẻ hạ
dân, dựng ra vua” Vua là người đại diện cho Thượng đế (Trời) cai trị dân –
“thay trời hành đạo”, đồng thời là người đại diện cho dân trước Thượng đế
Cơ sở lý luận của triết lý phương Đông dựa trên thuyết Thiên – Địa – Nhân Các Hoàng đế cho rằng, chính mình thay Trời để cai trị thiên hạ nên gọi đó là Thiên Mệnh, chữ “Hoàng” và chữ “Đế” đều chỉ về Trời cả Có thể nói, nhà vua lĩnh thiên mệnh và được trời trao cho địa vị làm chủ thiên hạ Tuy nhiên, vua thừa hành thiên đạo phải thông qua hệ thống văn võ bá quan Các quan là những người giúp vua thi hành thiên đạo Theo Khổng Tử, để cai trị đất nước, Thiên tử toàn quyền đặt ra bộ máy giúp việc, bao gồm các viên quan có vai trò
lớn trong đạo trị nước của thiên tử: “Đùi và bắp tay mạnh thì người khỏe, bề
tôi giỏi giúp vua thì vua hóa bậc Thánh nhân” 48, tr 380 Các quan là chân
tay, tai mắt của vua, là người áp dụng, thi hành những mệnh lệnh của vua đối với dân, đường lối cai trị của vua được thực thi đến đâu tùy thuộc vào các
quan Tuân Tử có nói: “Trời sinh dân không phải vì vua, trời sinh vua chính là
Trang 17vì dân”, vua đặt ra quan chức là vì dân Các quan lại đại diện cho vua, thay vua
chăm lo cho dân chúng do đó, “Nước trị hay loạn cốt ở trăm quan, được người
giỏi thì nước trị, dùng người xấu thì nước loạn Các bậc đế vương đời trước sở
dĩ hưng được nghiệp là nhờ dùng người quân tử, bị mất nước là vì dùng kẻ tiểu nhân” [6, tr 111] Bởi vậy, vua thường xuyên ban chiếu, sắc để răn quan lại
phải tu thân, làm tròn nghĩa vụ với vua, với dân chúng
Trong đạo làm tôi, Khổng Tử đề cao chữ “Trung”, nhấn mạnh lòng biết
ơn, sự phục tùng, tinh thần phục vụ hết lòng hết sức của bề tôi đối với vua, với quốc gia Theo ông, người làm tôi, làm quan trước hết phải là người có đức trong mọi hành động, có thái độ hành xử đúng mực ở mọi nơi, mọi lúc, chứ
không phải khi nhận chức tước mới là làm quan “Làm tôi thì ở cho trung Chớ
ở hai lòng mà hóa dở dang” 48 Khổng Tử luôn khẳng định về việc cần thiết
phải có sự tôn trọng của người dưới với người trên Nếu quan lại làm đúng
chức trách bổn phận của mình “Làm tôi trên phải vì vua dưới phải vì dân”,
giúp vua giáo hóa dân chúng, giữ yên phép nước thì nhà nước thịnh trị, vua giữ được thiên mệnh, mang tiếng thơm muôn đời
Thực hành đạo trung của phận làm tôi không phải một chốc, một lát, cũng không phải chỉ ở trước mặt mà phải có “tâm trung” trong suốt cuộc đời Khổng
Tử yêu cầu bề tôi thờ vua phải “Dốc một niềm phụng sự bề trên/ Tận trung lúc bước chân lên Sử mình khi xuống, nghĩ bền lòng tôi” [3, tr 87] và “Thờ vua thì phải tận tâm tận lực làm tốt trọng trách của mình sau mới nghĩ đến bổng lộc” [41, tr 455] Nghĩa là nhận được chức trách vua ban thì trước phải dốc lòng trung làm cho tốt, sau mới nghĩ đến bổng lộc của bản thân Học với mục đích để ra làm quan, giúp triều đình nhưng nếu có tài mà chưa được cắt cử giữ trọng trách thì quyết không được vì thế mà bất trung Nhưng thế nào là người trung? Điều này không được Khổng Tử trình bày thành nguyên tắc mà thường được nêu ra trong trường hợp cụ thể Chẳng hạn:
“- Tử Trương hỏi rằng: Quan lệnh doãn Tử Văn, ba lần làm chức lệnh doãn, không có sắc mặt vui mừng, ba lần thôi chức ấy, không có sắc mặt oán
Trang 18giận Lại đem việc của lệnh doãn cũ nói cho lệnh doãn mới biết Người như thế
ra sao?
- Khổng Tử nói: Người trung vậy
- Tử Trương hỏi: Có phải người nhân chăng?
- Khổng Tử đáp: Chưa biết, sao được là người nhân?” [45, tr 175]
Qua đây có thể thấy trong quan điểm Khổng Tử người trung chưa chắc đã
là người nhân Người có nhân “trước hết phải làm những việc khó, sau mới hưởng thành quả mới có thể gọi là nhân” [45, tr 217] Người nhân có thể sống
trong bất kỳ hoàn cảnh nào, khác với những người bất nhân: “người bất nhân
không thể ở lâu trong cảnh cùng khốn, cũng không thể ở lâu trong cảnh khoái lạc” [45, tr 122]
Như vậy “trung” trong quan niệm của Khổng Tử phải xuất phát từ “tâm trung” Khi có “tâm trung” sẽ dốc lòng phụng sự bề trên mà không vụ vì bổng lộc, chức tước Người trung sẽ gắng sức khuyên can vua khi vua lầm đường lạc lối, dẫn vua theo đường nhân chính đồng thời cũng làm cho những người xung quanh có lòng trung như mình Trung theo quan điểm này của Khổng Tử có tính mềm dẻo, linh động và cũng phân ra cấp độ khác nhau tuỳ vào từng ông
vua 10, tr 39
Mặt khác, theo quan điểm của những nhà Nho thì nếu quan chức cậy quyền thế, làm những việc sai trái, chỉ chăm chú về lộc vị, chỉ vơ vét cho đầy túi tham, làm lòng dân oán thán, thì oán khí sẽ xông lên trời, âm dương bất hòa, ắt sinh tai biến Vây nên theo quan điểm của các nhà Nho, Nhà nước cần làm một việc nghĩa cao cả: đó chính là lo cho dân được sống trong hòa bình, lo cho dân giàu, lo cho dân có học hành và có công bằng 43, tr 77 Nho gia cho rằng một quốc gia muốn ổn định, thịnh trị và vững bền thì người cầm quyền phải được lòng dân, phải trọng dân, lấy dân làm gốc Khổng Tử tin rằng, trong
ba thứ thiết yếu cho sự trường tồn của một quốc gia là lương thực, binh lực và lòng tin của dân, bất đắc dĩ phải bỏ một thứ thì có thể bỏ binh lực và lương thực, còn lòng tin của dân là cái quan trọng nhất, nhất thiết không thể bỏ Muốn vậy, phải đặt lợi ích của thiên hạ lên trên lợi ích của vua quan
Trang 19Có thể nói rằng hệ thống quan chức có vai trò và vị trí không hề nhỏ đối với đời sống của nhân dân Người làm quan cần hiểu rõ và kịp thời dân tình cũng như phải làm tròn trách nhiệm đối với an ninh và cuộc sống của nhân dân Tuy nhiên, vẫn xuất hiện bộ phận quan chức tham nhũng, cậy quyền thế ức hiếp nhân dân Khổng Tử và Mạnh Tử thường nhắc nhở người cầm quyền không được lạm dụng, phí phạm sức lực, tài sản của dân Khi muốn sử dụng
sức dân vào việc gì thì phải chú ý tới thời vụ (sử dân dĩ thời), tránh làm ảnh
hưởng đến công việc sản xuất của dân, phải hết lòng phục vụ dân, đừng đòi hỏi đãi ngộ Nho giáo coi những người làm quan mà ức hiếp dân chúng, tham nhũng là những kẻ độc ác, những kẻ đội lốt thú ăn thịt người Thậm chí, vua tàn bạo thì dân có thể giết vua như giết một tên thất phu, một kẻ tàn giặc [49,
tr 66] Do vậy, quan chức trong triều đình cần ra sức tích đức, tu thân để vừa giúp vua đảm nhiệm việc nước vừa là tấm gương đạo đức để nhân dân noi theo Tư tưởng cai trị này chính là một trong những nguyên nhân lý giải đường lối trừng trị nghiêm khắc và triệt để các hành vi phạm tội của quan chức thời Nguyễn (giai đoạn 1802-1884) trong đó có các quy định về trách nhiệm vật chất đối với người làm quan
Hai là, pháp luật là công cụ để quản lý và điều chỉnh hành vi của quan
pháp trị trong việc quản lý hệ thống quan chức triều đình Ông cho rằng: “Hiện
nay có nhiều vị Quốc trưởng đủ lòng nhân và được tiếng nhân, nhưng chẳng chịu ban bố ân huệ cho dân nhờ, những vị ấy không thể làm khuôn mẫu cho
Trang 20đời sau, như thế, tức là không thi hành nền đạo lý của các bậc Thiên tử thủa xưa vậy
Cho nên người ta thường nói rằng: “Chỉ có lòng thiện mà thôi thì chẳng
đủ sức cai trị, chỉ có luật pháp mà thôi thì luật pháp chẳng đủ sức làm cho người ta tuân theo Mà nhà cầm quyền phải làm theo lòng thiện của mình và phải thi hành luật pháp mới được
… Nếu bề trên chẳng theo đạo lý mà xét nét, bề dưới chẳng theo pháp luật
mà giữ gìn, trong triều đình người ta chẳng tường đạo nghĩa, ngoài châu quận người ta chẳng tường pháp độ, quân tử có trí thức thì phạm nghĩa tiết, tiểu nhân vô học vấn thì phạm hình luật Một quốc gia như thể mà được tồn tại đó
là may mắn lắm vậy” [50, tr 9]
Còn Tuân Tử thì chủ trương trị nước bằng pháp luật, pháp luật có thưởng phạt phân minh nhưng thưởng không quá đức, phạt không quá tội Ông coi hình luật là điều tất nhiên, nhưng không chỉ có mục đích xử tội kẻ làm quan phạm pháp mà có ý nghĩa sâu xa là giáo dục, ngăn cấm sự vi phạm tái diễn Nhìn chung, nếu lấy tính thực tiễn là tiêu chuẩn thì tư tưởng chính trị của Tuân
Tử và Mạnh Tử đã có bước tiến bộ quan trọng so với Khổng Tử
Thậm chí theo quan điểm của Hàn Phi tử - Pháp gia thời Chiến quốc viết
tại Thiên Ngoại trừ thuyết hữu hạ - Kinh 4 rằng: “Văn hữu lại tuy loạn nhi hữu
độc thiện chi dân, bất văn hữu dân loạn nhi hữu độc trị chi lại, cố minh chủ trị lại bất trị dân”.(Nghĩa là chỉ từng nghe quan lại tuy loạn mà vẫn có hạng dân hiền lành, chứ chưa từng nghe quan lại cai trị tốt mà dân nổi loạn Vì vậy bậc
minh chủ trị quan lại chứ không (trực tiếp) trị dân) Bởi vậy, trong “Định pháp” Hàn Phi viết: “Nhà vua không có thuật trị nước thì trên bị che đậy, còn bề tôi
mà không có pháp luật thì cái loạn sinh ra ở dưới” [29, tr 479] Vậy nên pháp
luật trước tiên là cần quản lý hệ thống quan chức, cần đưa họ vào quy củ trước
khi thực hiện giáo hóa dân chúng
Khi thực hiện việc tiếp quản đất nước, đi đôi với việc củng cố bộ máy nhà nước, Gia Long rất coi trọng hình luật nên ông đã chỉ thị biên soạn bộ luật của triều Nguyễn gọi là Hoàng Việt luật lệ vào năm 1815 Vua Gia Long chủ
Trang 21trương dùng pháp luật để cai trị đất nước và quản lý xã hội sau thời gian dài chiến tranh liên miên Ngay sau khi lên ngôi hoàng đế, ông đã cho xây dựng một bộ luật mới của triều đại mình dựa trên tinh thần kế thừa, phát triển và hoàn thiện bộ Luật Hồng Đức cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước lúc bấy giờ
Gia Long cho rằng: “Trẫm nghĩ bậc thánh nhân trị vì thiên hạ, hình phạt
cùng với đức hoá chưa hề bỏ lệch bên nào Bởi vì nhân sinh nhiều ham muốn, việc đời không bờ bến, phải dùng hình phạt để ngăn ngừa, không thể nào dựa vào giáo hoá mà làm cho dân biết được Cho nên nói rằng hình phạt là công
cụ giúp cho bình trị, há có phải là rỗng suông đâu Luật lệnh là điều lệ để phán đoán hình phạt…” [5, tr 318] “Vậy ra lệnh cho đình thần, chuẩn theo lệnh điển các triều, tham khảo luật Hồng Đức và Đại Thanh, lấy bỏ cân nhắc, cốt sao cho chính đáng, biên tập thành sách Trẫm thân tự sửa chữa, ban hành ra thiên hạ, khiến cho biết phép lớn phòng cấm sáng rõ như mặt trời mặt trăng, không giấu giếm Lời răn bảo, điều nghiêm cấm mạnh như sấm sét, không ai được phạm đến…” [5, tr 319] Hoàng Việt luật lệ đã kế thừa những nội dung
đức trị của Nho giáo kết hợp với pháp trị Thế nên, nội dung của Hoàng Việt
luật lệ nói riêng và pháp luật thời Nguyễn nói chung, bên cạnh việc đề cao vị thế của nhà vua thì còn dùng để quản lý hệ thống quan chức phong kiến, những người trực tiếp thi hành mệnh lệnh, ý nguyện của nhà vua Thông qua đó, pháp luật sẽ giúp đảm bảo trật tự xã hội và bảo vệ quyền thống trị của vương triều
Ba là, quan chức khi gây thiệt hại cho nhà nước và nhân dân thì phải bồi
thường thiệt hại
Dưới triều Nguyễn giai đoạn 1802-1884, đối với việc quản lý quan chức trong việc thi hành công vụ, thì các nhà vua đề cao tư tưởng thưởng phạt công minh thông qua việc tiếp thu quan điểm của Hàn Phi Tử về “Thuật” trong trị nước
“Thuật” là cách thức, là phương pháp, mưu lược, thủ đoạn…trong việc tuyển người, dùng người, giao việc, xét đoán…mà nhờ nó, pháp luật được thực hiện và nhà vua có thể “trị quốc, bình thiên hạ” Tóm lại, “thuật” là nghệ thuật
Trang 22cai trị của nhà vua Nhiệm vụ chủ yếu của thuật cai trị là phân biệt rõ những quan lại trung thành, tận tâm và những quan lại xu nịnh, thử năng lực của họ, kiểm tra công trạng và những sai lầm của họ với mục đích thanh lọc, tăng cường bộ máy cai trị trên cơ sở luật pháp và chế độ chuyên chế Để thực hiện được nhiệm vụ này “thuật” phải được giữ kín, không muốn cho người khác thấy,… dùng thuật thì những kẻ yêu mến, thân cận cũng không được nghe
“Thuật”, trước hết, thể hiện ở “là thuật trị quan lại và trừ gian tà” Trong sách “Hàn Phi Tử” có hàng chục chương bàn về việc trị quan như: Bát thuyết, Bát gian, Bát kinh, Nam diện, Gian kiếp thí thần… và các thiên: Ngoại trữ thuyết thượng, Ngoại trừ thuyết hạ Hàn Phi Tử cho rằng, cái lợi của vua chúa
và bề tôi khác nhau, mà trong xã hội ai cũng có tư lợi, vì vậy, muốn kiềm chế hạng người có địa vị cao, có quyền hạn lớn, đặc biệt đối với kẻ tham lam thì phải tước lộc thật hậu để an định họ Tước lộc ở đây chính là tước đi những bổng lộc mà quan chức được nhận từ vua, tước đi những lợi ích vật chất mà họ nhận được khi thực hiện những hành vi tham lam, nhũng nhiễu khi thi hành công vụ, buộc phải bồi thường đối với những tổn thất về tài sản cho nhà nước
và nhân dân Đây chính là nền tảng bước đầu cho việc xây dựng các quy định
về trách nhiệm vật chất của quan chức triều Nguyễn sau này
“Thuật” còn thể hiện trong “thuật dùng người” (tâm thuật) Nguyên tắc cơ bản của thuật này là “chính danh”, “hình danh” hay “thực danh”, tức “theo danh mà trách thực” “Danh” và “thực” hợp nhau thì là “chính danh”, ngược lại
là không “chính danh” Khi phải – trái, đúng – sai đã phân định thì cứ theo đó
mà thưởng, phạt một cách nghiêm minh Chính vì vậy, mọi người trong xã hội đều nhất nhất làm tròn bổn phận, chức vụ của mình, không ai dám làm trái hay làm quá danh phận đã định Vậy nên như một lẽ dĩ nhiên là nếu như quan chức không làm đúng phận sự của mình thì họ sẽ bị trừng phạt Trong trường hợp quan chức trì hoãn làm chậm trễ, sai lệch công vụ hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm gây thiệt hại về tài sản của nhà nước và nhân dân thì bên cạnh những chế tài hình sự thì cũng phải có trách nhiệm bồi thường cho những tổn thất của
Trang 23họ gây ra Điều này sẽ giúp răn đe, giáo dục quan chức buộc họ phải hành động theo chức phận của mình
Để chọn đúng người, giao đúng việc thì vua cần phải dùng “thuật”: “Bề
tôi muốn làm gì thì vua sẽ theo lời mà trao việc, cứ theo việc mà trách công Công xứng việc, việc xứng lời thì thưởng Công không xứng việc, việc không xứng lời thì phạt” (Hàn Phi Tử, Nhị bính) Theo đó, người tham danh vọng mà
không có đủ tài đức cũng không dám đảm nhận chức vụ Vì vậy, vua sẽ chọn được người đủ tài đức để trao quyền hành, công việc Để vua biết được thế nào
là hình hợp với danh mà thưởng cho đúng công, phạt cho đúng tội, Hàn Phi Tử đưa ra phép “tham nghiệm” theo hai cách: Một là, vua đem kết quả trực tiếp kiểm tra và thử lại Hai là, vua dùng người khác để kiểm tra thểm định lại kết quả, và người thay vua kiểm tra cũng bị ràng buộc bởi bổn phận, trách nhiệm
cụ thể tương ứng với chức vụ địa vị của mình Đây cũng chính là cơ sở để các vua triều Nguyễn thiết lập hệ thống các cơ quan kiểm tra giám sát quan lại, nhằm qua đó đảm bảo việc thi hành công vụ một cách nghiêm túc và đúng đắn nhất
Từ những điều trên, ta có thể thấy rằng, Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc các luồng tư tưởng từ Trung Hoa, đặc biệt là tư tưởng Đức trị của Nho giáo, Pháp trị của Hàn Phi Tử Các vua triều Nguyễn đã thấy được ưu điểm của Pháp trị, biết lấy Đức trị để khắc phục nhược điểm của Pháp trị, và đã vận dụng một cách tài tình trong quản lý, sử dụng quan chức Từ những điều này, đã tạo ra những bước tiền đề tư tưởng cho việc xây dựng các quy định pháp luật về trách nhiệm vật chất đối với quan chức trong giai đoạn 1802-1884
1.2.2 Sự kế thừa tư tưởng pháp lý về trách nhiệm vật chất đối với quan chức từ triều Lê Sơ
Nhà Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam nên ngay từ khi nắm quyền cai trị đất nước, các vua Nguyễn đã thực hiện sự kết hợp giữa đức trị với pháp trị trong việc quản lý hệ thống quan chức đồng thời tiếp tục phát triển đường lối trị nước của thời Lê Sơ Bởi khi đó nhà Nguyễn, đứng đầu là Nguyễn Ánh dù được người Pháp giúp đỡ lật đổ nhà Tây Sơn,
Trang 24nhưng không vì thế mà khiến ông học tập và xây dựng mô hình nhà nước phương Tây Việc Nguyễn Ánh ra lệnh cho các quần thần biên soạn bộ Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) trên cơ sở kế thừa Luật Hồng Đức và tham khảo luật lệ nhà Thanh cho thấy ảnh hưởng của đường lối cai trị nước thời Lê sơ đối với triều Nguyễn đến mức nào Thậm chí chính vua Minh Mạng cũng mong muốn trở thành một vua Lê Thánh Tông thứ hai sau khi nắm quyền quản lý đất nước Và như một lẽ dĩ nhiên, tư tưởng pháp lý về trách nhiệm vật chất đối với quan chức thời Nguyễn đã mang đậm nét tư tưởng của nhà Lê Sơ mà cụ thể là
ở thời Lê Thánh Tông
Hoạt động lập pháp nhằm duy trì trật tự xã hội và kỷ cương phép nước được xem là công việc hệ trọng nhất của các bậc vua chúa Bên cạnh việc củng
cố bộ máy nhà nước, Lê Thánh Tông rất coi trọng tới việc xây dựng thể chế pháp luật Ông chủ trương dùng pháp luật để cai trị đất nước cũng như quản lý
hệ thống quan chức Điều ấy thể hiện ở nhiều chỉ dụ cho văn võ bá quan như: Tháng 7 năm Quang Thuận thứ 5 (1464), khi biếm chức Binh bộ Tả Thị
lang vì mắc lỗi tham tang, vua dụ chung các quan: "Pháp luật là phép công của
nhà nước, ta cùng các ngươi phải tuân theo.” [15, tr 189]
Tháng 8 năm Hồng Đức thứ 2 (1471), nhân ban hành Hiệu định quan chế, thực chất là cuộc cải tổ chính trị, sắp xếp lại một cách có hệ thống bộ máy Nhà nước quân chủ tập quyền, vua dụ các quan và trăm họ rằng đặt ra pháp luật là
“để lớn nhỏ cùng ràng buộc với nhau, khinh trọng để cùng kiềm chế nhau Uy quyền không bị lợi dụng, thế nước vậy là khó lay Thành thói quen theo đạo giữ phép, không có lỗi trái nghĩa phạm hình.” [52, tr 13,14]
Trong sắc dụ quan lại cả nước vào tháng 9 năm Hồng Đức thứ 5 (1474),
vua lại khẳng định: “Đặt luật là để trừ gian, sao dung được bọn coi thường
pháp luật” [15, tr 251]
Với quan điểm nhất quán trên, Lê Thánh Tông luôn quan tâm đến việc soạn thảo và ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý quan lại Theo thống kê từ Đại Việt sử ký toàn thư cho thấy, trong 38 năm trị vì trên ngai vàng, Lê Thánh Tông đã ban bố 83 sắc lệnh, chỉ dụ liên quan đến công
Trang 25việc hành chính và thể chế quan chức, 8 sắc chỉ liên quan đến quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của quan lại trông coi pháp luật, 11 sắc chỉ về chống tham tang, buôn lậu, hối lộ và móc ngoặc Đặc biệt là vào năm 1483, Quốc triều hình luật
mà ta quen gọi là Bộ luật Hồng Đức chính thức được han hành Các văn bản này đã lồng ghép các quy định về trách nhiệm vật chất đối với quan chức gây thiệt hại về tài sản khi thi hành công vụ, nhằm hạn chế hành hành vị lạm quyền nhũng nhiễu của đội ngũ quan lại, từ đó tạo đà cho sự ổn định và phát triển xã hội
Từ những chính sách đã đề ra, nước Đại Việt thời Lê Thánh Tông được xem là giai đoạn đỉnh cao của chế độ phong kiến Việt Nam Từ đó trở thành giá trị tham khảo để vua quan triều Nguyễn làm cơ sở để xây dựng các quy định về trách nhiệm vật chất trong luật pháp, để qua đó thể hiện thái độ rất nghiêm khắc của vua triều Nguyễn đối với những hành vi phạm pháp của quan chức, bất kể họ ở cương vị nào trong bộ máy nhà nước
Có thể thấy rằng trong nhà nước phong kiến, bổn phận thiên chức của quan chức nhằm thiết lập, duy trì trật tự xã hội Khi thi hành công vụ, quan chức với danh nghĩa đại diện cho nhà nước để thi hành quyền lực công Trong quá trình đó, không thể loại trừ tuyệt đối khả năng xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác một cách vô tình hay cố ý Mặt khác, theo đạo lý từ xưa đến nay thì gây thiệt hại là phải bồi thường Đó là một quy ước
hình thành từ lâu gắn liền với các quan hệ tài sản cũng như nhân thân Vây nên
với sự tiếp thu tư tưởng trong và ngoài nước về pháp luật thì Minh Mệnh đã
khẳng định: “Kỷ cương phải cho nghiêm minh, thưởng người có công mà răn
kẻ có tội, một khi có tội thời không cứ vị quan lớn hay nhỏ đều phải theo pháp luật làm việc lúc phạt là để chúng tự xét mình, mà lúc tha là để chúng biết đổi lỗi, như thế cũng là trong oai mà biết ơn, ngoài pháp luật mà ngụ điều nhân”
[63] Trong nhà nước phong kiến, các quyết định của đội ngũ quan chức được ban hành có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội, có thể tạo động lực hoặc ngược lại kìm hãm sự phát triển của xã hội Vậy nên dù là quan lớn hay nhỏ nếu gây thiệt hại trong quá trình thi hành công vụ thì vẫn phải có trách nhiệm
Trang 26bồi thường về tài sản theo quy định của pháp luật Cũng bởi tài sản của nhà nước phong kiến, vô hình chung cũng là tài sản của chính nhà vua, nếu quan chức là thất thoát trong việc thi hành công vụ thì họ phải bồi hoàn lại trước khi phải gánh chịu thêm những hậu quả pháp lý khác Bên cạnh đó, với chính sách thân dân của các vua triều Nguyễn nên dù cho vô tình hay cố ý ảnh hưởng đến sức khỏe hay tài sản của dân thì người làm quan phải bồi hoàn với số tài sản nhất định Bởi như đã nói ở trên, theo quan điểm Nho giáo, thì quan chức không được phí phạm sức lực, tài sản của dân Thông qua đó sẽ góp phần làm
ổn định xã hội, tránh những mâu thuẫn có thể xảy ra Quan điểm đó của các vua triều Nguyễn chính là tiền đề bước đầu để xây dựng các quy định về trách nhiệm vật chất đối với quan chức
1.3 Tiền đề thực tiễn của trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884)
Hoạt động thực thi công vụ là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, quan lại nhà nước theo quy định của pháp luật Trong nhà nước phong kiến, công vụ được xem như một sứ mạng thiêng liêng cao cả và cũng là nơi quy tụ các lợi ích vật chất, quyền thế vế tinh thần đối với nhân dân Người gia nhập công vụ có niềm vinh quang, tự hào, được xã hội tôn vinh 4, tr 188 Việc tuân thủ mệnh lệnh của nhà vua tức là thực thi bổn phận công vụ
Dưới thời Nguyễn thì nguyên tắc bao trùm, chi phối trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là tập trung thống nhất quyền lực vào một cá nhân - Hoàng đế, tăng cường sự quản lý, giám sát chặt chẽ của nhà nước trung ương đối với tất cả các địa phương, quan lại các cấp Trong thực tế, việc làm đó đã
có tác dụng củng cố chế độ trung ương tập quyền, thúc đẩy bộ máy chính quyền các cấp hoạt động thực thi công vụ một cách hiệu quả hơn
Tuy nhiên, từ trong ý đồ, chủ trương và trong hiện thực, bộ máy nhà nước thời Nguyễn là một nhà nước quân chủ tập trung quan liêu chuyên chế nặng nề Thực tế, nhà vua chỉ nắm giữ một vai trò biểu tượng được thần thánh hoá, thì quyền lực thật sự của vương triều đã nằm trong tay tầng lớp quan chức, mà đại
Trang 27bộ phần xuất thân từ giới trí thức Nho học, được tuyển lựa chủ yếu qua chế độ khoa cử Họ không phải là những lãnh chúa quý tộc thế tập, chiếm hữu đất đai (như ở Tây Âu), cũng không phải là giai tầng võ sĩ dạn dày chinh chiến (như ở Nhật Bản) hoặc đẳng cấp tăng lữ nắm giữ thần quyền (như ở các nước Nam Á
và Tây Á) Trên nguyên tắc mọi thành viên thuộc tất cả các tầng lớp xã hội, không phân biệt nguồn gốc xuất thân, bằng tài năng, học vấn và đức độ của mình, đều có thể thành đạt trong khoa cử, thăng tiến trong hàng ngũ quan liêu, tạo nên một chế độ sĩ trị
Sự bình đẳng tiến thân và phương thức lựa chọn người cai trị theo tiêu chuẩn học vấn đã là một tính ưu việt rõ rệt nếu so với những giai tầng thống trị trong các loại hình chế độ phong kiến khác, từng được nhiều học giả phương Tây tán tụng, đánh giá cao
Quan chức được xem là tầng lớp ưu tú trong xã hội, được kính trọng về uy tín và địa vị xã hội là một đẳng cấp có đặc quyền, trước hết là về mặt tinh thần, sau đó đã chuyển hoá thành những lợi ích kinh tế Có thể nói đó là một tầng lớp ưu tú được dán nhãn Những người quan chức vốn là những trí thức, nhưng không phải là những trí thức độc lập, mà là người trí thức dấn thân, gắn bó (hoặc bị trói buộc) chặt chẽ với nhà cầm quyền và hệ tư tưởng thống trị Cũng chính từ đó mà trong nhiều trường hợp, đã dẫn đến hiện tượng tha hoá, biến chất, qua đó, thân phận người quan chức đã giết chết nhân cách người trí thức Văn bia Văn Miếu cũng đã từng phê phán nghiêm khắc về một loại quan liêu nho sĩ “xấu xa nhơ nhuốc”, “cái thực kém hẳn cái danh” Ở đây, thể chế đã làm
hư hỏng con người, nói cho đúng hơn, tính cứng nhắc của thể chế đã làm thoái hoá nhân cách [61]
Trên thực tế, một bộ phận không nhỏ quan chức triều đình thường xuyên lạm dụng chức quyền để vơ vét, sách nhiễu cũng như quan liêu, vô trách nhiệm trong khi thi hành công vụ Cũng bởi xã hội Việt Nam thời phong kiến là một
xã hội kết hợp đức trị và pháp trị Việc quan chức được tập trung quá nhiều quyền hành, vừa là người thi hành luật pháp, lại cũng vừa là người xét xử luật pháp, cai trị dân đồng nghĩa với ban ơn đức cho dân cũng khó có thể tránh khỏi
Trang 28tệ lộng quyền Lộng quyền là cha đẻ của tham nhũng 46 Theo thống kê từ bộ chính sử lớn nhất của triều Nguyễn là Đại Nam thực lục thì từ năm 1858 đến năm 1884 có đến 207 vụ án tham nhũng 18, tr 30 Có một thực tế khó chối cãi là ở Thăng Long - Hà Nội thời trung đại, nhất là thế kỷ XVII, XVIII, XIX, lúc mà nền kinh tế hàng hoá tiền tệ phát triển và lễ giáo phong kiến suy đồi, tệ nạn tham nhũng đã trở thành phổ biến Năm 1819, đời vua Gia Long, khi nhà vua cử Lê Văn Duyệt đến Nghệ An, hỏi thăm nỗi khổ của dân Bọn giặc cướp nghe tin tan vỡ, hoặc đến cửa quân xin thú, hoặc bị quan quân bắt giết, trong
cõi nghiêm hẳn Lê Văn Duyệt dâng sớ nói: “Dân Nghệ An điêu hao quá lắm
Xét về cớ đến nỗi như thế thì có hai mối là quan thì không có tài năng vỗ trị, lại thi đua nhau tham lam tàn ngược Dân đi trộm cướp là do đấy cả” Gia
Long nghe tin dụ rằng: “Quan tham lại nhũng là mọt hại dân, giặc cướp nổi
lên là bởi đó cả, trẫm rất chán, rất ghét ” [31, tr 984]
Năm 1855, Tự Đức nhắc lại điều tương tự: “Trẫm đã xét nguyên do về
việc loạn khởi ra, thực không phải vì cớ một sớm, một tối mà đã gây nên được, chỉ vì mối tệ Nay tạm nói đại lược: Triều đình nhiều lần cứu giúp cho dân rất hậu, mà quan lại địa phương, noi theo thói quen, xẻo xén không chán, phàm một việc hay một vật gì, đều lấy tiền làm được thua, khiến cho ơn huệ không xuống đến người dưới, dân đều chứa oán, khinh đời sống, dấn thân vào chỗ chết, mà không biết Thế thì bọn giặc sở dĩ nổi lên làm loạn, tuy do những kẻ ngoan ngạnh hung tợn xui bẩy, mà thực tự bọn quan lại không tốt tham lam hà khắc lắm ngón để khơi ra” [37, tr 361]
Mà như ở trên đã đề cập thì chính do tệ lạm quyền, quan liêu, vô trách nhiệm đã là cơ sở để dẫn đến tham nhũng ngày càng tăng và phức tạp Cụ thể
là các hành vi vơ vét, nhũng nhiễu, trì hoãn, làm sai lệch trong khi thi hành công vụ Trên thực tế, các hành vi này của quan chức đã không ít lần đã gây thiệt hại về mặt tài sản cho nhà nước và người dân Nguyên nhân sâu xa cũng
là bởi người làm quan đã thiếu sự tu dưỡng, dùi mài tinh thần trách nhiệm, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, tự tư, tự lợi,… Thế nên, một vấn đề cấp bách và cần thiết là phải ngăn chặn được tệ nạn này nhằm hạn chế sự lạm
Trang 29quyền của quan lại, đồng thời đảm bảo lợi ích của nhà nước và dân chúng Chính vì lẽ đó, triều đình nhà Nguyễn đã đưa ra nhiều biện pháp nhằm đối phó với tệ nạn đó mà đỉnh cao là việc cho ra đời Bộ Hoàng Việt luật lệ và một số văn bản khác như bộ Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Hội điển toát yếu,…
đã quy định cụ thể và chi tiết các chế tài nhằm nghiêm trị và phòng chống tệ lạm dụng chức vụ, quyền hạn của quan chức để đục khoét, nhũng nhiễu dân chúng, gây thiệt hại về tài sản cho xã hội và nhà nước
1.4 Khái niệm, đặc điểm và phân loại trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884)
1.4.1 Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm vật chất đối với quan chức
Xã hội chỉ có thể tồn tại và phát triển trên cơ sở có sự ổn định về trật tự xã hội Trật tự xã hội đó được tạo lập bởi hệ thống các loại quy phạm rất phong phú, đa dạng điều chỉnh các quan hệ xã hội hết sức phức tạp, đan xen và luôn ở trạng thái vận động Trong các mối quan hệ xã hội đó, bất kì chủ thể nào cũng
bị chi phối bởi nhiều loại quy phạm và đều phải gánh chịu những trách nhiệm nhất định Có rất nhiều dạng trách nhiệm xã hội khác nhau, tương ứng với mỗi loại quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi một loại quy phạm sẽ có một loại trách nhiệm xã hội nhất định như trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý,…
Trong tiếng Việt, thuật ngữ “trách nhiệm” là “điều phải làm, phải gánh
vác hoặc phải nhận lấy về mình” 54, tr 1678] Như vậy có thể hiểu, trách
nhiệm là sự ràng buộc trong các mối liên kết của con người, trong đó cá nhân hoặc tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ vì người khác hoặc vì cộng đồng Về phương diện đạo đức, trách nhiệm là sự ràng buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện những nghĩa vụ nghiêng về bổn phận mang tính luân lí đạo đức Trách nhiệm gắn liền với lương tâm, đạo đức, trình độ văn hóa,… nếu không làm đúng sẽ bị cộng đồng lên án Qua đó, có thể hiểu trách nhiệm quan chức ở đây
là bổn phận, nghĩa vụ của họ phải có ý thức về vị trí của mình trong bộ máy nhà nước, có thái độ tinh thần làm việc tận tụy, quán triệt tinh thần lấy nhân dân cũng như nhà vua và nhà nước phong kiến làm mục đích phục vụ Từ đó,
Trang 30quan chức có cách xử sự phù hợp với vị trí, chức năng, nhiệm vụ của mình, không tham nhũng, tham ô tài sản của nhà nước và của nhân dân, thực hiện công vụ với thái độ không đòi hỏi, sách nhiễu, gây khó khăn cho người dân Trách nhiệm của người làm quan còn thể hiện ở tinh thần hợp tác, phối hợp với các cơ quan triều đình để cùng thực hiện công vụ, biết tập hợp và phát huy trí tuệ, sức mạnh tập thể
Về phương diện pháp lý, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức phát sinh trên
cơ sở pháp luật, được bảo đảm thực hiện bằng pháp luật được gọi là trách nhiệm pháp lý Trong khoa học pháp lý, trách nhiệm pháp lý được hiểu theo hai nghĩa: theo nghĩa rộng, trách nhiệm pháp lý là nghĩa vụ thực hiện tất cả các yêu cầu của pháp luật, bao gồm nghĩa vụ thực hiện các yêu cầu gắn liền với bổn phận tích cực thực hiện quyền, nghĩa vụ pháp lý bắt buộc nhằm duy trì sự tồn tại, phát triển của xã hội và nghĩa vụ gánh chịu hậu quả bất lợi, khi cá nhân hoặc tổ chức thực hiện hành vi trái pháp luật xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, theo nghĩa hẹp, trách nhiệm pháp lý là sự gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi, phát sinh trên cơ sở có vi phạm pháp luật, đồng thời có hoạt động áp dụng các biện pháp cưỡng chế được xác định trong chế tài pháp luật, thể hiện sự phản ứng của Nhà nước đối với những đối tượng đã thực hiện hành
vi trái pháp luật 8, tr.12-13] Tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà mỗi tổ chức cá nhân sẽ phải gánh chịu các dạng trách nhiệm pháp lý khác nhau
Hiện nay, trong các văn bản pháp luật của nước ta chưa có quy định cụ thể giải thích thuật ngữ trách nhiệm pháp lý, nhưng thực tế thuật ngữ này được sử dụng theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp Tùy từng trường hợp cụ thể, thuật ngữ
“trách nhiệm” có thể được sử dụng để quy định về quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật hoặc quy định về nghĩa vụ của
cá nhân, tổ chức buộc phải gánh chịu những hạn chế khi thực hiện hành vi trái pháp luật
Trong xã hội phong kiến, người có quyền hành trong bộ máy nhà nước thường được gọi là quan chức Họ là những người có chức, giữ một trọng trách
Trang 31trong bộ máy chính quyền phong kiến, chịu trách nhiệm về một khâu nào đó trong hoạt động của bộ máy nhà nước như Thượng thư, Thị lang, Tổng đốc, Tri phủ, Tri huyện, Tri châu… Quan chức triều Nguyễn gồm hai ban là văn và
võ Mỗi ban có 9 phẩm, mỗi phẩm gồm 2 trật là chánh và tông, nhỏ nhất là tòng cửu phẩm và lớn nhất là chánh nhất phẩm
Hành vi công vụ của quan chức nhằm thiết lập, duy trì và bảo vệ trật tự xã hội Khi thực thi công vụ, người làm quan mang danh nghĩa đại diện cho vua
và nhà nước phong kiến để thi hành quyền lực công Trong quá trình quan chức thực thi công vụ, khả năng có thể xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác là điều không thể tránh khỏi Chính điều này đã làm phát sinh các quan hệ xã hội cần được điều chỉnh bằng pháp luật Việc buộc quan chức phải gánh chịu trách nhiệm vật chất là một đòi hỏi tất yếu nhằm đảm bảo uy tín
và sự cai trị của nhà vua cũng như nhà nước phong kiến
Ở đây chúng tôi đề cập đến trách nhiệm vật chất đối với quan chức là loại trách nhiệm pháp lý theo nghĩa hẹp mà chủ thể là quan chức, phải dùng tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước hoặc người dân do vi phạm pháp luật trong khi thi hành công vụ, gây thiệt hại tài sản của hai đối tượng trên Đây là loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại đặc biệt, phát sinh trên cơ sở hành vi trái pháp luật, có lỗi của quan chức trong khi thi hành công vụ Ở góc
độ này, trách nhiệm vật chất đối với quan chức được định nghĩa như sau:
Trách nhiệm vật chất đối với quan chức là hậu quả pháp lý bất lợi về tài sản, mà quan chức phải gánh chịu trước đối tượng bị thiệt hại do họ đã vi phạm pháp luật trong khi thi hành công vụ, gây tổn thất vật chất cho nhà nước hoặc người dân
Trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật phong kiến, xuất phát từ bản chất quan hệ công vụ, có những đặc điểm sau:
- Trách nhiệm vật chất đối với quan chức phát sinh trên cơ sở vi phạm pháp luật của người làm quan, gây thiệt hại về vật chất trong khi thi hành công
vụ
Trang 32Trước tiên, đặc điểm này xác định căn cứ thực tế làm phát sinh trách nhiệm vật chất của quan chức là hành vi vi phạm pháp luật Trách nhiệm vật chất được nhìn nhận từ góc độ là hậu quả pháp lý bất lợi thì chỉ phát sinh khi
đã có hành vi vi phạm pháp luật xảy ra Tức là đã có hành vi được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động trái với các yêu cầu của pháp luật, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, do quan chức nhà nước thực hiện Khi pháp luật quy định những hành vi bị coi là vi phạm pháp luật trong quá trình thực thi công vụ và dự liệu biện pháp áp dụng chế tài đối với những quan chức thực hiện hành vi vi phạm pháp luật có nghĩa là đã quy định về trách nhiệm vật chất Song, trách nhiệm vật chất đó mới chỉ được xác định chung trong các quy phạm pháp luật và sẽ được xác định cụ thể nếu vi phạm pháp luật
đó đã xảy ra trong thực tế
Tiếp đó, yếu tố gây thiệt hại về vật chất trong khi thi hành công vụ chính
là dấu hiệu đặc trưng quyết định việc bồi thường thiệt hại sẽ là trách nhiệm vật chất đối với quan chức hay việc bồi thường thiệt hại theo các dạng trách nhiệm pháp lý khác Thiệt hại về vật chất là những tổn thất có thể tính được giá trị thành tiền Trong thực tế, thiệt hại về vật chất có thể biểu hiện ở những dạng như:
Tài sản bị mất, tài sản bị hủy hoại không có khả năng sửa chữa, phục hồi
Những chi phí để nhằm khôi phục tình trạng ban đầu của tài sản hoặc những chi phí nhằm ngăn ngừa thiệt hại có thể xả ra do vi phạm pháp luật
Những chi phí nhằm khôi phục tình trạng, sức khỏe của người bị thiệt hại
Những lợi ích vật chất chắc chắn bị giảm sút do có thiệt hại xảy ra [7] Hành vi vi phạm pháp luật của quan chức trong hoạt động công vụ rất đa dạng về hình thức thể hiện Nó có thể là các hành vi vi phạm nghĩa vụ quan chức, vi phạm các điều pháp luật cấm, vi phạm do kéo dài việc giải quyết các vấn đề đã chín muồi hoặc có đủ khả năng, cơ sở pháp lý để giải quyết nhưng
Trang 33không chịu giải quyết, hay ra những quyết định không có căn cứ dẫn đến hậu quản gây thiệt hại về người hoặc tài sản cho nhà nước, cá nhân,…
- Chủ thể gánh chịu trách nhiệm vật chất là quan chức gây thiệt hại về vật chất trong khi thi hành công vụ
Trách nhiệm vật chất đối với quan chức là dạng trách nhiệm được xác định riêng cho trường hợp quan chức gây thiệt hại về tài sản trong khi thi hành công vụ Người làm quan trong mối quan hệ với nhà vua, được nhà vua trao cho những quyền hạn nhất định để thực hiện công vụ phục vụ nhà nước và nhân dân Thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được nhà nước giao phó là bổn phận, nghĩa vụ mang tính pháp lý của quan chức Người làm quan không thực hiện đúng bổn phận, nghĩa vụ pháp lý của mình, vi phạm những điều pháp luật ngăn cấm trong hoạt động công vụ thì tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm sẽ bị truy cứu các dạng trách nhiệm pháp lý nhất định Nếu trong khi thi hành công vụ, quan chức thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại về tài sản của nhà nước hoặc người dân, sẽ bị gánh chịu trách nhiệm vật chất nhằm khắc phục, bù đắp thiệt hại đã xảy ra, tạo sự ổn định và đảm bảo sự phát triển bình thường cho các quan hệ xã hội đã bị xâm phạm
- Trách nhiệm vật chất đối với quan chức chỉ được đặt ra khi có lỗi
Quan chức thực hiện hành vi trái pháp luật bị coi là có lỗi nếu tại thời điểm thực hiện hành vi, họ có khả năng nhận thức được hoặc pháp luật buộc phải nhận thức được tính trái pháp luật của hành vi, nhận thức được hậu quả do hành vi trái pháp luật gây ra hoặc có thể gây ra, đồng thời có khả năng lựa chọn cách xử sự đúng pháp luật nhưng quan chức đã lựa chọn cách xử sự trái pháp luật Cụ thể là pháp luật phong kiến đã có sự phân biệt giữa trường hợp cố ý và trường hợp vô ý để xác định mức độ trách nhiệm vật chất trong áp dụng cũng như trong việc quy định các hình phạt, mức độ bồi thường khác nhau ở một số tội phạm cụ thể Đối với trường hợp quan chức thi hành công vụ vi phạm pháp luật với lỗi cố ý gây thiệt hại hoặc nhằm mục đích vụ lợi thì việc bồi thường đối với họ được quyết định trên nguyên tắc bồi thường toàn bộ Còn với trường hợp quan chức vô ý gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ thì sẽ được cân
Trang 34nhắc, xem xét đến các yếu tố là căn cứ giảm mức bồi thường hoặc miễn bỗi thường
- Trách nhiệm vật chất đối với quan chức có thể mang tính liên đới
Đây là nguyên tắc được áp dụng khá phổ biến trong xã hội phong kiến Việt Nam trước đây, theo đó, quan chức trong khi cùng nhau thi hành công vụ
mà gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường Về mức bồi thường thì pháp luật phong kiến áp dụng nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự Sự phân hóa thể hiện ở quy định về chủ thể của tội phạm Quan chức nếu cùng nhau thực hiện công vụ mà gây thiệt hại thì cũng phải liên đới chịu trách nhiệm, nhưng mức
độ bồi thường khác nhau về chức vụ, trách nhiệm
- Trách nhiệm vật chất đối với quan chức thường được áp dụng đồng thời với trách nhiệm hình sự
Một hành vi vi phạm pháp luật có thể đồng thời xâm phạm đến nhiều khách thể khác nhau, có nghĩa là đồng thời xâm phạm đến nhiều quan hệ xã hội pháp luật bảo vệ Hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại tài sản do quan chức thực hiện trong khi thi hành công vụ luôn đồng thời xâm hại đến quan hệ sở hữu, quan hệ kỷ luật công vụ và có trường hợp là quan hệ nhân thân, do đó quan chức đồng thời phải chịu cả trách nhiệm vật chất và trách nhiệm hình sự khi vi phạm Thế nên bên cạnh việc truy thu, bồi thường thiệt hại thì quan chức phải chịu các hình phạt như: roi, trượng, đồ, lưu thậm chí là tử hình Việc pháp luật triều Nguyễn quy định như vậy cũng nhằm làm tăng tính trừng phạt, răn đe đối với các quan chức, hạn chế tối đa tình trạng quan chức gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ
- Phạm vi áp dụng về đối tượng và lĩnh vực trách nhiệm vật chất mà quan chức phải gánh chịu mang tính rộng khắp
Các đối tượng phải chịu trách nhiệm vật chất thời phong kiến là các quan
từ trung ương đến địa phương Qua đó thể hiện tính nghiêm khắc của pháp luật Cho dù là quan đại thần, quan có chức tước cao nhưng hễ vi phạm thì cứ chiểu theo luật mà xử tội Xử phạt đúng, xử phạt kịp thời quan chức phạm tội sẽ có tác dụng rất nhiều trong việc răn đe người phạm tội Việc tạo ra được một tinh
Trang 35thần nghiêm minh trong giữ gìn kỉ cương, phép nước sẽ làm cho quan chức không dám lạm dụng chức quyền mà lộng hành Nếu một khi có người nghĩ được rằng nếu phạm tội thì không tránh khỏi việc bị phát hiện, bị trừng trị thì người có ý định phạm tội cũng sẽ từ bỏ ý định đó của mình
Trong pháp luật phong kiến, sự xâm phạm về người hay về tài sản là cơ sở
để buộc người gây tổn thất phải chịu sự trừng phạt của Nhà nước, cũng như phải bồi thường cho nạn nhân nhằm khắc phục tổn thất về người hay tài sản cho người đó Nhằm đảm bảo cho việc thực thi quyền lực nhà nước của quan chức không xâm hại đến lợi ích của nhà nước và dân chúng, pháp luật phong kiến quy định về trường hợp quan chức khi thực hiện việc công mà vi phạm pháp luật, gây thiệt hại về tài sản của triều đình hoặc dân chúng thì phải bồi thường thiệt hại Việc quy định quan chức chịu trách nhiệm vật chất được áp dụng trong hầu khắp các lĩnh vực của chế độ công vụ từ thuế khóa, đất đai, quân chính đến việc quản lý kho tàng, tài sản công,… Cũng bởi đây là các lĩnh vực dễ xảy ra thiệt hại khi thi hành công vụ theo dự liệu của pháp luật thời phong kiến Qua đó, đã thể hiện sự quan tâm của các vua phong kiến đối với tình trạng quan chức gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ, nhằm mục đích bảo vệ tài sản, bảo vệ công vụ, bảo vệ trật tự xã hội tránh khỏi các hành vi vi phạm pháp luật của người làm quan
1.4.2 Phân loại trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884)
Trong pháp luật phong kiến thời Nguyễn (giai đoạn 1802-1884), sự xâm phạm về người hay về tài sản là cơ sở để buộc người gây tổn thất phải chịu sự trừng phạt của nhà nước, cũng như phải bồi thường cho nạn nhân nhằm khắc phục tổn thất về người hay tài sản cho người đó Sự tổn thất về người hay tài sản được gọi chung là sự tổn thất về vật chất Quan chức là những người được nhà vua trao quyền lực nhà nước để cai trị dân chúng Bằng pháp luật, nhà vua xác định những công việc của quan chức được phép nhân danh nhà vua thực hiện Do đó, để đảm bảo cho việc thực thi quyền lực nhà nước của quan chức không xâm hại đến lợi ích của nhà nước và dân chúng, pháp luật triều Nguyễn
Trang 36quy định về trường hợp quan chức khi thực hiện việc công mà vi phạm pháp luật, gây thiệt hại về tài sản của triều đình hoặc dân chúng thì phải bồi thường thiệt hại Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản đó của quan chức còn được gọi là trách nhiệm vật chất Mặc dù vậy cũng phải nói thêm rằng bản thân
sự tồn tại của các quy định về trách nhiệm vật chất của quan chức thời Nguyễn mang tính khách quan và được xây dựng xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi chung của sự phát triển xã hội chứ không phải chỉ do ý muốn chủ quan của bất cứ cá nhân nào mà thực tế là nhằm đảm bảo cho bộ máy quản lý nhà nước có thể hoạt động đúng hướng, đúng chức năng và hiệu quả
Trách nhiệm vật chất đối với quan chức là một dạng trách nhiệm bồi thường thiệt hại, được xác định trong trường hợp quan chức gây thiệt hại về tài sản trong khi thi hành công vụ Về mặt bản chất, cũng giống như các dạng bồi thường thiệt hại khác, trách nhiệm vật chất đối với quan chức chỉ được đặt ra khi có thiệt hại về tài sản (hoặc được quy thành tài sản) xảy ra Nếu không có thiệt hại về tài sản xảy ra sẽ không có trách nhiệm vật chất đối với quan chức Tài sản bị thiệt hại có thể là tài sản của Triều đình hoặc tài sản của bất kì chủ
sở hữu nào khác được pháp luật bảo vệ Sự thiệt hại về vật chất là một trong những tiêu chí quan trọng để xác định trách nhiệm vật chất đối với quan chức Song chỉ khi nào giữa việc thực thi trách nhiệm công vụ của quan chức và thiệt hại xảy ra có mối liên hệ với nhau mới xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đó là dạng trách nhiệm vật chất đối với quan chức
Trong giai đoạn 1802-1884, quan chức thời Nguyễn đã thường xuyên vi phạm pháp pháp luật và phải gánh chịu trách nhiệm vật chất Việc vi phạm này diễn ra trên nhiều lĩnh vực, dưới nhiều hình thức khác nhau Căn cứ theo chủ
thể bị thiệt hại thì có thể chia trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp
luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884) thành các dạng sau đây:
- Trách nhiệm vật chất đối với quan chức khi gây thiệt hại tài sản của nhà
nước Đây là dạng trách nhiệm vật chất phát sinh khi quan chức gây thiệt hại
tài sản của nhà nước trong khi thi hành công vụ Đó có thể là hành vi quan chức lạm dụng chức quyền nhằm chiếm đoạt tài sản công hoặc là trì hoãn, làm
Trang 37chậm trễ, sai lệch công vụ, thiếu tinh thần trách nhiệm gây thiệt hại về tài sản công Trách nhiệm vật đối với quan chức khi gây thiệt hại tài sản của nhà nước diễn ra trên hầu khắp các lĩnh vực quản lý nhà nước như thuế, quân chính, xây dựng, tư pháp, Điều đó đã thể hiện quyết tâm của các vua thời Nguyễn nhằm mục tiêu hạn chế mọi hành vi gây thiệt hại của quan chức khi thi hành công vụ
- Trách nhiệm vật chất đối với quan chức khi gây thiệt hại tài sản và sức
khỏe của người dân Dạng trách nhiệm vật chất này thường thể hiện dưới
những hành vi như lạm dụng chức quyền sách nhiễu, chiếm đoạt ruộng đất nhà của của dân dân chúng hoặc là làm trái pháp luật gây ảnh hưởng đến tính mạng của người dân
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nhà Nguyễn ra đời trong một bối cảnh khó khăn chồng chất và nhiều bất lợi, vậy nên để ổn định tình hình quốc gia và quản lý đội ngũ quan chức thì các vua triều Nguyễn đã có sự tiếp thu tư tưởng Nho giáo của Khổng Tử cũng như pháp gia của Hàn Phi Tử để từ đó chắt lọc ra những hạt nhân tiến bộ về trách nhiệm vật chất đối với quan chức Bên cạnh đó, tư tưởng cứng rắn của của các nhà vua thời Lê sơ đặc biệt là của vua Lê Thánh Tông để chống lại nạn tham quan, hối lộ, vô trách nhiệm của những người làm quan thông qua chế tài về trách nhiệm vật chất cũng được những nhà vua thời Nguyễn (giai đoạn 1802-1884) kế thừa Bên cạnh tiền đề tư tưởng thì trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật thời Nguyễn còn được hình thành qua những nền tảng thực tiễn, thể hiện thông qua thực trạng hoạt động thực thi công vụ của quan chức thời kì này Ở đó, các hành vi vi phạm của người làm quan trong khi thi hành công vụ dẫn đến thiệt hại về người và của là vô cùng nghiêm trọng Để giải quyết tình trạng này, các nhà vua triều Nguyễn đã áp dụng nhiều biện pháp, trong đó phải kể đến tầm quan trọng của các quy định pháp luật về trách nhiệm vật chất đối với quan chức được thể hiện trong các văn bản pháp lý quan trọng của triều đại này
Trang 39CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT THỜI NGUYỄN Ở VIỆT NAM (GIAI ĐOẠN 1802-1884) VỀ TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT ĐỐI VỚI QUAN CHỨC
2.1 Hình thức của pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884) về trách nhiệm vật chất đối với quan chức
Từ Gia Long đến Tự Đức, các Hoàng đế đều quan tâm đến xây dựng luật pháp và chú trọng đến áp dụng pháp luật Hoạt động lập pháp của triều Nguyễn cũng đã có những thành tựu đáng kể Trong thành tựu xây dựng pháp luật, trước hết phải kể đến sự phong phú đa dạng của các hình thức thể hiện pháp luật được nhà Nguyễn sử dựng để lồng ghép ý chí nhà nước thành chuẩn mực bắt buộc chung của xã hội Để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội cơ bản, nhà Nguyễn đã sử dụng nhiều hình thức nhằm thể hiện pháp luật trách nhiệm vật chất đối với quan chức thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884) Nhưng
về cơ bản, các quy định trách nhiệm vật chất đối với quan chức được chứa đựng trong hai dạng văn bản: Thứ nhất là trong bộ luật đó là bộ Hoàng Việt luật lệ và thứ hai là nằm trong các văn bản được nhà vua ban hành như Chiếu,
Dụ, Chỉ, Sắc, Lệnh, Chuẩn, Lệ, Sách
Bộ Hoàng Việt luật lệ
Ở buổi đầu, Gia Long sai quan tham khảo luật Hồng Đức, soạn ra 15 điều luật quan trọng nhất để ban hành Năm 1811, Tổng trấn Bắc Thành được lệnh chủ trì việc biên soạn bộ luật mới của thời Nguyễn Bộ luật đến năm 1812 thì
hoàn tất và được khắc in lần đầu ở Trung Quốc với bài Tựa của đương kim
Hoàng đế Gia Long Bộ luật được soạn xong và lần đầu tiên được khắc in tại Trung Quốc Năm 1815, bộ luật được in thành sách và ban hành trên phạm vi toàn quốc với tên gọi “Hoàng triều luật lệ” (hay “Luật Gia Long”)
Luật Gia Long chia thành 22 quyển, mỗi quyển chép nhiều điều luật và lệ theo thứ tự: Mục lục tên gọi luật lệ (45 điều), Mục lục về quan lại (27 điều), Mục lục luật về dân (66 điều), Mục lục về Lễ (26 điều), Mục lục về Lính (58 điều), Mục lục về luật Hình (176 điều), Mục lục về Công (10 điều), tổng cộng
Trang 40là 398 điều luật và nhiều lệ (tức gồm Danh lệ, Lại luật, Hộ luật, Lễ luật, Binh luật, Hình luật, Công luật và Tổng loại) ngoài ra còn có 30 điều “Tạp tụng”
Bộ luật này đã được sử dụng trong thời nhà Nguyễn, dùng tiếp ở Trung kỳ trong suốt 80 năm thực dân Pháp chiếm đóng Việt Nam Có thể nói Hoàng Việt luật lệ là bộ luật tổng hợp, bao gồm nhiều quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau, tác động và bao quát đến tất cả các lĩnh vực, từ chính trị đến kinh tế, văn hóa xã hội cùng với nhiều định chế nghiêm ngặt, khắt khe Bên cạnh đó, các điều luật trừng phạt kẻ có tội, trong bộ luật này được phân định rõ ràng, hình phạt nghiêm minh, nhất là đối với quan chức nắm luật pháp Luật Gia Long quy định rất ngặt và xử lý nghiêm các trường hợp tham nhũng nhận tiền của hối lộ, bắt dân phải nộp tiền…nếu như ai bị mắc vào mức nào thì căn cứ vào luật mà xử đoán Những viên quan nào đến mức bị tước bỏ bằng, sắc, cáo của vua ban và bị xóa tên trong sổ bộ quan là bị bãi chức hoàn toàn Còn lại tùy thuộc vào số lượng tiền của nhận hay chưa nhận mà có hình thức trách tội khác như lưu đày, đồ, bãi nhiệm, đánh đòn…Các quy định về trách nhiệm vật chất đối với quan chức thời Nguyễn cũng đã được ghi nhận trong một số điều ở phần danh luật, lại luật, lễ luật, hình luật và binh luật
Các văn bản quy phạm pháp luật khác
Dưới triều Nguyễn, bên cạnh bộ Hoàng Việt luật lệ được sử dụng làm quy tắc xử sự chung cho xã hội thì Chiếu, Dụ, Chỉ, Sắc, Lệnh, Chuẩn, Lệ của nhà Vua cũng được nâng lên thành pháp luật và được áp dụng rộng rãi cho cả nước Chiếu: là văn bản do vua ban hành nhằm công bố chủ trương, quyết sách quan hệ đến vận mệnh của quốc gia, dân tộc
Dụ: là văn bản chủ yếu của triều Nguyễn có hiệu lực như 1 Đạo luật, do vua trực tiếp ban hành
Chỉ: là văn bản vua ban hành để ra lệnh cho thần dân, chính quyền các cấp thi hành
Sắc: vua ban sắc trong các trường hợp ra lệnh cho Nha môn, thần dân thực hiện công việc cụ thể thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước; Sắc phong cho quan lại, Sắc phong tên đất tên sông tên tỉnh