1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BIỆN PHÁP TRỪNG PHẠT THAM NHŨNG của NHÀ nước PHONG KIẾN VIỆT NAM THỜI NGUYỄN (1802 1884)

59 236 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 890,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tham nhũng là một vấn đề chính trị xã hội nóng bỏng, là quốc nạn của mọi thời đại. Tệ tham nhũng xảy ra ở hầu hết các lĩnh vực, ở nhiều ngành, nhiều cấp và ngày càng diễn ra theo chiều hướng không giảm, nghiêm trọng và gây ra nhiều tác hại nặng nề về nhiều mặt: kinh tế, xã hội, chính trị, đạo đức, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, phá hoại mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, cản trở công cuộc đổi mới, tiếp tay cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá ta, uy hiếp sự tồn vong của chế độ ta. Nhận thức rõ tính nghiêm trọng của tệ tham nhũng trong tình hình hiện nay, Đại hội VIII, IX của Đảng đã xác định tham nhũng là một trong các nguy cơ lớn:“tình trạng tham nhũng, suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên là rất nghiêm trọng. Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ đe dọa sự sống còn của chế độ ta”1,tr50. Đại hội X lại tiếp tục khẳng định:“Hiện nay ở nước ta tình hình tham nhũng lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta”2,tr12. Do đó, để xã hội phát triển ổn định, đời sống nhân dân được ấm no, hạnh phúc đòi hỏi các nhà lãnh đạo đất nước phải đề ra các chính sách nhằm chống tham nhũng một cách hiệu quả, mà trước hết là đưa ra được các biện pháp trừng phạt tham nhũng thích đáng. Việc tìm hiểu tình hình tham nhũng và các biện pháp trừng phạt tham nhũng của Nhà nước Phong kiến thời Nguyễn giúp ta hiểu thêm được một phần sự phát triển xã hội thời Nguyễn. Đặc biệt, với tình hình xã hội nước ta hiện nay đang trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh những thành tựu rất quan trọng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội mà chúng ta đạt được, tình trạng tham nhũng, tiêu cực ở một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên cũng đang rất nghiêm trọng cho nên việc tìm hiểu các biện pháp chống tham nhũng thời xưa nhằm rút ra những bài học cho công tác chống tham nhũng ngày nay là rất cần thiết.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tham nhũng là một vấn đề chính trị - xã hội nóng bỏng, là quốc nạn củamọi thời đại Tệ tham nhũng xảy ra ở hầu hết các lĩnh vực, ở nhiều ngành, nhiềucấp và ngày càng diễn ra theo chiều hướng không giảm, nghiêm trọng và gây ranhiều tác hại nặng nề về nhiều mặt: kinh tế, xã hội, chính trị, đạo đức, làm xóimòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, phá hoại mối quan hệgiữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, cản trở công cuộc đổi mới, tiếp tay cho cácthế lực thù địch lợi dụng chống phá ta, uy hiếp sự tồn vong của chế độ ta Nhậnthức rõ tính nghiêm trọng của tệ tham nhũng trong tình hình hiện nay, Đại hộiVIII, IX của Đảng đã xác định tham nhũng là một trong các nguy cơ lớn:“tìnhtrạng tham nhũng, suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận khôngnhỏ cán bộ đảng viên là rất nghiêm trọng Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máycủa hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ đe dọa sựsống còn của chế độ ta”[1,tr50] Đại hội X lại tiếp tục khẳng định:“Hiện nay ởnước ta tình hình tham nhũng lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành,nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp gây hậu quả xấu

về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân là một trong những nguy cơlớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta”[2,tr12]

Do đó, để xã hội phát triển ổn định, đời sống nhân dân được ấm no, hạnhphúc đòi hỏi các nhà lãnh đạo đất nước phải đề ra các chính sách nhằm chốngtham nhũng một cách hiệu quả, mà trước hết là đưa ra được các biện pháp trừngphạt tham nhũng thích đáng Việc tìm hiểu tình hình tham nhũng và các biệnpháp trừng phạt tham nhũng của Nhà nước Phong kiến thời Nguyễn giúp ta hiểuthêm được một phần sự phát triển xã hội thời Nguyễn Đặc biệt, với tình hình xãhội nước ta hiện nay đang trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh những thành tựu rất quan trọng trên các lĩnhvực của đời sống xã hội mà chúng ta đạt được, tình trạng tham nhũng, tiêu cực ởmột bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên cũng đang rất nghiêm trọng cho nên

Trang 2

việc tìm hiểu các biện pháp chống tham nhũng thời xưa nhằm rút ra những bàihọc cho công tác chống tham nhũng ngày nay là rất cần thiết.

2 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Tham nhũng và đấu tranh phòng chống tham nhũng là vấn đề được cácngành, các cấp và mọi tầng lớp nhân dân quan tâm, là một trong những vấn đềphức tạp, thời sự và bức xúc hiện nay Tuy nhiên, đề tài này chỉ chủ yếu đề cậpđến tình trạng tham nhũng và các biện pháp trừng phạt tham nhũng trong Nhànước phong kiến Việt nam thời Nguyễn (1802-1884) để từ đó có thể kế thừađược những kinh nghiệm và biện pháp phòng chống tham nhũng có hiệu quả,góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng hiện nay.Trong khóa luận, em tập trung làm rõ những vấn đề sau:

1) Thực trạng tham nhũng dưới thời Nguyễn

2) Các biện pháp trừng phạt tham nhũng của nhà Nguyễn

3) Bài học lịch sử và những giá trị cần kế thừa trong công tác phòngchống tham nhũng

Nguồn tài liệu lịch sử được khai thác để phục vụ cho việc nghiên cứu

đề tài chủ yếu là bộ sử Đại Nam thực lục chính biên, bộ Hoàng Việt luật lệ, bộKhâm Định Đại nam hội điển sự lệ của triều Nguyễn

Về phương pháp nghiên cứu: ngoài các phương pháp nghiên cứu có tínhchất cơ sở phương pháp luận cho các ngành khoa học xã hội nói chung nhưphương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử, chúng tôi còn

sử dụng các phương pháp : thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp…

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đây là đề tài mang tính thời sự nóng bỏng của mọi thời đại, nó có ý nghĩathực tiễn và ý nghĩa khoa học to lớn Trên cơ sở các kinh nghiệm chống thamnhũng của cha ông ta ngày xưa, chúng ta rút ra những bài học quý báu, nhữngđịnh hướng chiến lược về công tác phòng chống tham nhũng trong hoàn cảnhxây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay

Trang 3

Chương 1

KHÁI QUÁT VỀ THAM NHŨNG TRONG NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN

VIỆT NAM THỜI NGUYỄN (1802-1884)

1.1 Khái niệm tham nhũng

1.1.1 Khái niệm về tham nhũng

Qua mỗi thời kỳ cách hiểu về tham nhũng có khác nhau Trong cách hiểucủa người Việt xưa, tham quan ô lại có hành vi sách nhiễu nhân dân, ăn hối lộ,đục khoét của công, vơ vét tiền của dân, cậy quyền làm bậy… được dùng để chỉnhững kẻ có chức, có quyền và lợi dụng chức quyền đó, bằng những thủ đoạn,cách thức khác nhau mưu lợi riêng cho mình Trong chế độ phong kiến, các triềuđại cũng thấy rõ tác hại của tham nhũng và cố gắng tìm cách chống lại LuậtHình triều Lê đã xác định hành vi tham nhũng gồm:

- Nhận hối lộ, đòi hối lộ

- Sử dụng tài sản, nhân lực của công vào việc riêng, ăn bớt của công

- Sách nhiễu, chiếm đoạt của dân, chậm nộp thuế, ăn bớt tiền thu thuế,lạm thu thuế

- Lạm chiếm đất đai quá tiêu chuẩn quy định

- Man trá để bắt người làm tôi tớ cho mình

- Tự tiện sử dụng dân đinh làm việc riêng

Đặng Huy Trứ (1825-1874) một viên quan của nhà Nguyễn, tác giả củatập sách “Từ thụ yếu quy”cho rằng điều khó nhất trong hành vi xử thế của ngườilàm quan là việc nhận hay không nhận những khoản thu nhập ngoài lương bổngcủa Nhà nước dưới hình thức những món quà biếu Vì thế ông đã dành nhiềuthời gian soạn ra bộ sách “Từ thụ yếu quy” để bàn về nguyên tắc của việc nhậnhay không nhận quà biếu Ông khái quát lên thành 5 dạng có thể nhận được vì

nó mang trong đó mối quan hệ giúp đỡ thân tình và hưởng lợi chính đáng, 104dạng không thể nhận vì đó thực chất là hối lộ Ví dụ như: Sĩ tử đi thi hối lộ cầu

Trang 4

được tiến, Quan lại xảo quyệt hối lộ cầu được tiến cử, Quan lại bị cách chức hối

lộ để phục chức…

Trong Hoàng Việt luật lệ - bộ luật được xem là sản phẩm có giá trị lớn vềmặt lập pháp của vương triều Nguyễn đã có nhiều quy định liên quan đến việcquan lại ăn trộm của công và có quyển riêng quy định tội phạm về đút lót(quyển 17, bao gồm 9 điều) Dưới thời Minh Mạng năm thứ 3 (1822) nhà vua cóquy định :“kẻ tư lại vào sách nhiễu lấy tiền và lễ vật của dân thì bất kể số tangnhiều hay ít đều chuẩn cho đem ra xử tử trước cho mọi người biết rồi làm tờbiểu đề đạt lên Bộ Hình sau” [9,tập6,tr.489]

Hiện nay, qua các sách báo pháp lý, tài liệu khoa học, văn bản phápluật…khái niệm tham nhũng có những cách giải thích, định nghĩa khá cụ thể.Theo từ điển Tiếng Việt :“tham nhũng là lợi dụng quyền hành để lấy tiền của vànhũng nhiễu dân” [14,tr.1029] Dưới góc độ pháp lý, khái niệm tham nhũng đãđược định nghĩa khá cụ thể tại khoản 2 Điều 1 luật phòng chống tham nhũng

2005 :“tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức

vụ quyền hạn đó vì vụ lợi” Trên thế giới cũng có nhiều định nghĩa về thamnhũng, theo tổ chức Minh bạch thế giới:“tham nhũng có nghĩa là lạm dụng chức

vụ cho lợi ích riêng, chức vụ là một vị trí công tác dựa trên cơ sở niềm tin, mà từ

đó người được nhận một thẩm quyền hành động nhân danh một chế định nàođó”[17,tr.78] Còn theo tài liệu hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về cuộc đấu tranhquốc tế chống tham nhũng thì định nghĩa:“tham nhũng đó là sự lạm dụng quyềnhạn Nhà nước để trục lợi riêng [18,tr.6]

Khái niệm tham nhũng gắn bó chặt chẽ và hữu cơ với sự tồn tại và pháttriển của bộ máy nhà nước, không thể có tệ tham nhũng ngoài Nhà nước, táchkhỏi bộ máy quản lý, cai trị Ngoài ra khi tìm hiểu khái niệm tham nhũng còn cónhiều quan điểm khác nhau, nhìn nhận tham nhũng từ nhiều khía cạnh khácnhau Nhìn từ khía cạnh đạo đức, tham nhũng là hành động phi đạo đức, bấtnghĩa, trái với luân thường đạo lý, trái nguyên tắc đạo đức của con người, của xãhội Nếu xét từ khía cạnh kinh tế thì tham nhũng là hành vi quan chức sử dụng

Trang 5

quyền lực của mình để lái hoạt động kinh doanh vào lĩnh vực mà việc thu lời,nhận hối lộ, lấy của cải được dễ dàng nhưng khó bị phát hiện.

Tóm lại, trên cơ sở tìm hiểu và kế thừa quan niệm về tham nhũng ta có thểkhái quát tham nhũng là hiện tượng xã hội gắn liền với những hoạt động trong

bộ máy nhà nước, đó là sự lợi dụng chức quyền của những người có chức vụquyền hạn để nhũng nhiễu chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, của tập thể, của xãhội, của người khác nhằm thỏa mãn lòng tham, làm giàu cho bản thân

1.1.2 Dấu hiệu đặc trưng của tham nhũng

Tệ tham nhũng là căn bệnh bao đời của giới quan lại hào lý, những người

có chức có quyền thời xưa Nhìn chung nạn này ở xã hội nào, nước nào cũng có,

ở mức độ ít hoặc nhiều Khái niệm tham nhũng bao gồm hai yếu tố: tham vànhũng Tham là hám lợi, tư lợi, vụ lơi, tham lam Nhũng là lợi dụng quyền hạn,chức trách được giao để thỏa mãn lòng tham, lợi ích cá nhân Hai yếu tố này gắn

bó chặt chẽ, thống nhất với nhau thể hiện ở một chủ thể là người có chức cóquyền

Khi thực hiện các hành vi như tham ô, nhận hối lộ…thì kẻ tham nhũngđều phải lợi dụng quyền hạn, chức trách được giao (có nghĩa là nhũng) để chiếmđoạt tài sản của Nhà nước, của Nhân dân nhằm đạt mục đích vụ lợi của mình (cónghĩa là tham) Do vậy, không thể tách rời khái niệm tham nhũng thành hai hànhvi: tham lam, vụ lợi và nhũng nhiễu, hạch sách Cũng không thể hiểu thamnhũng chỉ là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu dân và lấy của Bởi vì hành vilợi dụng quyền hạn, lạm quyền để nhũng nhiễu hạch sách chiếm đoạt tài sản của

cá nhân chỉ là một biểu hiện của tham nhũng Ngoài hành vi đó, kẻ tham nhũngcòn lợi dụng chức vụ, quyền hạn, chức trách được giao để chiếm đoạt tài sản củaNhà nước, của tập thể Khi người có chức có quyền mà lợi dụng chức quyền củamình để tham nhũng, lấy tiền, tài sản của công để sử dụng cá nhân thì mức độnguy hiểm cho xã hội lớn hơn rất nhiều

Điều 3 luật phòng chống tham nhũng 2005 đã quy định các hành vi thamnhũng bao gồm:

Trang 6

- Tham ô tài sản.

- Nhận hối lộ

- Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụlợi

- Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi

- Giả mạo trong công tác vì vụ lợi

- Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyềnhạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụlợi

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì

vụ lợi

- Nhũng nhiễu vì vụ lợi

- Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạmpháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra,kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi

Như vậy, các dấu hiệu đặc trưng của tham nhũng giúp chúng ta nhận diệnmột cách chính xác, đầy đủ hơn về các hành vi tham nhũng ở từng lĩnh vực cụthể trong thời phong kiến cũng như hiện nay

2.1 Thực trạng tham nhũng ở Việt Nam thời Nguyễn

2.1.1 Vài nét về xã hội thời Nguyễn

Năm 1802 sau khi đánh bại triều Tây Sơn, làm chủ toàn bộ lãnh thổ Đàngtrong và Đàng ngoài cũ, Nguyễn Ánh tự đặt niên hiệu là Gia Long, lập ra nhàNguyễn Các nhà vua nhà Nguyễn từ Gia Long (1802-1819), Minh Mệnh (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức (1848-1883) kế tiếp nhau xây dựng vàcủng cố nền thống trị, bảo vệ chế độ phong kiến trong bối cảnh khủng hoảng,suy vong Tuy nhiên trong gần một thế kỉ tồn tại dưới triều Nguyễn, xã hội Việt

Trang 7

Nam hầu như không phát triển được theo chiều hướng tiến bộ của thời đại; triềuNguyễn đã xây dựng và ngày càng củng cố chế độ quân chủ chuyên chế cựcđoan.

Về kinh tế, trong nông nghiệp, triều Nguyễn vẫn thi hành chính sách trọngnông, Nhà nước đặt các chức quan Doanh điền sứ để mộ dân khẩn hoang lậplàng mới, lập đồn điền Năm 1828 Minh Mạng cử Nguyễn Công Trứ làm DoanhĐiền Sứ Nguyễn Công Trứ đã mộ dân phiêu tán lập ra huyện Tiền Hải, khaikhẩn được 18.970 mẫu ruộng Cuối đời Minh Mạng, Nguyễn Công Trứ lập đượcmấy tổng thuộc huyện Hoành Bồ (Quảng Yên) Đời Tự Đức, Nguyễn TriPhương được cử làm kinh lược đại sứ đôn đốc việc lập đồn điền ở Nam Kỳ.Năm 1854 lập được 21 cơ, 124 ấp Đê điều cũng được triều Nguyễn chú ý bồiđắp, tu tạo Năm 1804 Nha đê chính ở Bắc Thành được lập ra phụ trách đê điều.Bên cạnh đó, các vua Nguyễn còn nhiều lần xuống chiếu cấm bỏ hoang ruộngđất, tiếp tục thi hành chính sách “ngụ binh ư nông” Tuy nhiên, từ nửa cuối thế

kỉ XIX kinh tế nông nghiệp vẫn rất sa sút, hiện tượng đồng ruộng bỏ hoang,nhân dân phiêu tán xảy ra khắp nơi, nạn chiếm đoạt ruộng đất của địa chủ cườnghào phát triển hết sức nghiêm trọng Về công thương nghiệp, các vua nhàNguyễn tiến hành chính sách kìm hãm sự phát triển của công nghiệp tư nhân,của thủ công nghiệp và thương nghiệp Trong các công xưởng của Nhà nước,người lao động bị bóc lột theo kiểu phong kiến Nhà Nguyễn vẫn duy trì thuếsản phẩm rất nặng đối với thủ công nghiệp Chính sách “ức thương” cấm chợ đãlàm cho thương nghiệp không phát triển được Về ngoại thương, thời kỳ đầu(Gia Long, Minh Mệnh) triều Nguyễn còn duy trì quan hệ thông thương với cácnước thuộc khu vực Đông Nam Á nhưng đời Tự Đức chính sách “bế quan tỏacảng” hầu như đã bóp nghẹt ngành ngoại thương Hầu hết các bến sông, bếncảng là nơi thông thương với tàu thuyền nước ngoài đều bị đóng cửa Ngoài rachính sách đối ngoại lạc hậu và mù quáng của nhà Nguyễn đã làm tiêu hao mộtphần nhân tài, vật lực của đất nước, kìm hãm sự phát triển tự nhiên của nền kinh

tế theo xu hướng kinh tế hàng hóa

Trang 8

Về tình hình xã hội, cũng như các triều đại trước, dưới thời Nguyễn xãhội vẫn chia thành hai giai cấp lớn, thống trị và bị trị Giai cấp thống trị bao gồmvua, quan, thơ lại trong hệ thống chính quyền và giai cấp địa chủ Vua và hoàngtộc giờ đây đã trở thành một lớp người đông đảo có đặc quyền nhất là con cháugần gũi của nhà vua Họ có dinh thự ruộng vườn rộng rãi và được một hệ thống

cơ quan, đứng đầu là Phủ Tôn nhân chăm lo, bảo vệ Các quan chức xuất thân từnhiều tầng lớp xã hội khác nhau nhưng do vị thế của mình trở thành lớp ngườiđối lập với nông dân, hạch sách, bóc lột nông dân Tất nhiên, trong số họ cũng

có những người thanh liêm, trung thực, biết lo lắng cho cuộc sống của nông dân,cho sự ổn định của xã hội Ở họ, hệ tư tưởng Nho giáo được củng cố Giai cấpđịa chủ giờ đây đã trở thành một lực lượng đông đảo, vừa có thế lực trong quantrường vừa có nhiều uy quyền ở làng xã

Giai cấp bị trị bao gồm toàn bộ nông dân, thợ thủ công, thương nhân, một

số dân nghèo thành thị Lớp người bị lưu đày, nô tì cùng gia quyến sống ở cácđồn điền cũng tăng lên đáng kể

Về đời sống nhân dân thì tuyệt đại đa số cư dân là nông dân, họ có ítnhiều ruộng đất tư để cày cấy, sinh sống, thêm vào đó là khẩu phần ruộng công

ít ỏi vừa xa, vừa xấu Nhiều người phải chạy vạy buôn bán ở các chợ làng, cáchuyện hoặc làm thủ công, gánh vác thuê cho các nhà buôn bán Họ là lớp ngườigánh chịu mọi tai họa của tự nhiên, mọi thiệt thòi, bất công của xã hội Ngoài ra

họ còn phải chịu chế độ binh dịch và công trượng của nhà Nguyễn khá nặng nề.Thiên tai, mất mùa thường xuyên đe dọa cuộc sống người dân nghèo Sau mỗilần vỡ đê, lụt lội lớn, mùa màng hư hại, nhân dân phải bỏ làng đi phiêu tán kiếmăn.Năm 1833 theo lời tâu Nguyễn Công Trứ, dân đói các tỉnh đến kiếm ăn ở HảiDương hơn 27.000 người Trận bão năm 1842 làm tỉnh Nghệ An đổ sập 40.753ngôi nhà, chết 5.240 người Vụ đói khủng khiếp năm 1856-1857 sau các trận lụtlớn đã làm chết hàng vạn người ở Bắc Kì và Bắc Trung Kì

Về chính trị, triều Nguyễn thiết lập hệ thống chính quyền trên nền tảngcủa một chế độ chính trị chưa thực sự ổn định Triều Nguyễn phải trực tiếp

Trang 9

chống lại các xu hướng đối lập, tàn dư của chính quyền Tây Sơn, tư tưởng “ phùlê”, sự phản đối triều đình của sỹ phu văn thân Bắc Hà và hàng trăm cuộc khởinghĩa nông dân Bên cạnh đó triều Nguyễn còn phải đối diện với sự bành trướnggia tăng của các thế lực phương Tây, sự mở rộng ảnh hưởng của Thiên ChúaGiáo và hệ thống kinh tế tư bản.

Về tư tưởng- văn hóa, triều Nguyễn vẫn coi Nho giáo là hệ tư tưởng chínhtrị- pháp lý cơ bản của Nhà nước, triết lý Khổng – Mạnh được thể hiện trong quátrình xây dựng, vận hành bộ máy nhà nước cũng như trong hệ thống luật pháp.Đồng thời triều Nguyễn cũng đề cao nguyên tắc pháp trị trong hoạt động của bộmáy nhà nước và thực thi pháp luật Gia Long đã khẳng định nguyên lý cai trị cơbản đó trong lời tựa bộ Hoàng Việt luật lệ :“thánh nhân cai trị thiên hạ đều dùngluật pháp để xử tội, dùng đạo đức để giáo hóa họ” [8,tập1,tr.1]…Mặt khác, cácvua Nguyễn đề cao tuyệt đối Nho giáo và tích cực tuyên truyền Nho giáo trongnhân dân Minh Mạng đã soạn thảo ra 10 điều huấn dụ và xuống chiếu ban ra đểcác địa phương lấy đó “dạy dân” Sau đó, Tự Đức đã diễn nôm 10 điều trênthành “thập điều diễn ca” để dễ phổ biến trong dân chúng Việc học và thi Nhogiáo được quy chế hóa chặt chẽ và là hình thức chủ yếu để tuyển dụng quan lạicủa Nhà nước Năm 1807, Gia Long mở khoa thi Hương đầu tiên Đến năm

1822 Minh Mạng mở các khoa thi Hội, thi Đình Đặc biệt vua Thiệu Trị, lênngôi 7 năm đã mở 11 khoa thi Tuy việc học tập đã được quan tâm, nhưng doviệc học Nho chỉ chú trọng vào Kinh điển của Nho giáo như ngũ Kinh, Tứ Thưnên mặc dù có một đội ngũ khoa bảng đông đảo tham gia, song bộ máy quan lạitriều Nguyễn vẫn trì trệ, thụ động, những viên quan có năng lực hoạt động thựctiễn như Nguyễn Công Trứ là rất hiếm hoi Về văn hóa thì triều Nguyễn cónhiều điểm tương đối tiến bộ Triều đình rất chú ý sưu tập tài liệu lịch sử vềtriều Tây Sơn Năm 1803 Gia Long xuống chiếu cho các nội thần thu thập “văn

tự còn sót lại của đời trước” Năm 1827 Minh Mạng ra lệnh sưu tập văn kiện,sách, bia…của triều Tây Sơn, cho rằng “đó cũng là dấu tích một thời”, khôngnên bỏ sót

Trang 10

Nhìn chung tình hình kinh tế, chính trị, xã hội thời Nguyễn tuy có nhữngthành tựu nhất định nhưng cơ bản là lạc hậu, trì trệ, trong một số lĩnh vực tệ nạn

xã hội diễn ra phổ biến đặc biệt là tệ tham nhũng

2.1.2 Thực trạng tham nhũng trong các lĩnh vực dưới thời Nguyễn

* Một số nguyên nhân tham nhũng dưới thời Nguyễn

Xã hội phong kiến dựa trên nền tảng của kinh tế nông nghiệp tự cấp, tựtúc, năng suất thấp và bấp bênh Nguồn thu của Nhà nước chủ yếu từ thuế nôngnghiệp và thuế đinh, còn thuế công thương nghiệp chiếm một tỷ lệ rất nhỏ

Trong khi đó bộ máy nhà nước các cấp cồng kềnh, lượng quan lại kháđông đảo Dù Nhà nước phong kiến thời Nguyễn có cố gắng trong việc bảo đảmchế độ lương bổng cho quan lại thì nhìn chung đời sống của họ rất thấp, khôngbảo đảm Cụ thể tình trạng lương bổng quá ít ỏi, lương còn cấp bằng hiện vật,nhất là lương của các viên quan phẩm trật thấp lại càng tệ hại hơn Lương đồngniên của Viên quan Thượng Thư (mà cả triều đình chỉ có 6 viên quan như vậy)chỉ có 300 quan tiền, 300 phương gạo và 50 quan tiền quan phục Mỗi tháng, họchỉ được lĩnh 25 quan tiền, 25 phương gạo và hơn 4 quan tiền quan phục Cònhàng viên chức thấp như chánh bát cửu phẩm hay tòng bát, cửu phẩm thì chỉ có

18 quan tiền, 18 phương gạo và 4 quan tiền quan phục (mỗi tháng chưa được 2quan tiền và 2 phương gạo) [11,tr.212] Đây là cơ sở nảy sinh tệ tham nhũngtrong một bộ phận quan lại khi lòng tham của họ nổi lên

Tệ tham nhũng còn có một cơ sở khác là tính quan liêu, mất dân chủ củanền hành chính phong kiến Dân sợ quan Đội ngũ quan lại các cấp quan hệ vớinhau theo một trật tự trên dưới rất nghiêm ngặt, trong đó, dưới phải phục tùngtrên một cách tuyệt đối Từ đó, dễ dẫn đến tình trạng lộng quyền, quan lại ápbức dân, quan trên chẹt quan dưới, càng ở những vùng xa trung ương, triều đình,

sự mất dân chủ càng lớn Ngoài ra, trong chế độ phong kiến nói chung, dưới thờiNguyễn nói riêng, pháp luật luôn mang đậm tính giai cấp, bảo vệ đặc quyền, đặclợi của giai cấp phong kiến thống trị,do đó, đội ngũ quan lại đương thời luôn có

Trang 11

xu hướng, điều kiện để trở thành tham quan, ô lại, đục khoét của chung, vơ véttiền của nhân dân.

Trong tình hình trên đây, nạn quan lại vơ vét của cải của Nhà nước, bònrút của dân và của cấp dưới (thông qua tệ nhận hối lộ) xảy ra như một hiệntượng tất yếu

* Tình hình tham nhũng trong một số lĩnh vực cụ thể

Tham nhũng trong Nhà nước phong kiến Việt Nam thời Nguyễn diễn rakhá phổ biến trên tất cả các lĩnh vực như: quản lý kho tàng; xây dựng; thuếkhóa; quân sự, giáo dục, tuyển bổ quan lại; tư pháp…Những ghi chép trong các

bộ chính sử của Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn cho thấy rất nhiều cáctrường hợp tham nhũng của quan lại

Trong lĩnh vực quản lý kho tàng

Đây là lĩnh vực nhạy cảm nhất, dễ nảy sinh tham nhũng nhất vì tronghàng ngũ quan lại nhà nước phong kiến, những người có chức, có quyền, quyềnhành nắm trong tay thì dễ nảy sinh lòng tham mà lộng quyền dẫn đến thamnhũng Đại Nam thực lục chính biên cho biết hành vi tham nhũng trong lĩnh vựcnày diễn ra rất phổ biến, có tới khoảng 26/103 vụ việc tham nhũng chiếmkhoảng 25,2 % tổng số vụ tham nhũng, trong đó chủ yếu là việc lợi dụng chứcquyền để ăn bớt thóc gạo và việc quan lại coi kho ăn bớt trong kho Điển hình làcác vụ việc được ghi lại sau đây: Bằng nhiều thủ đoạn hình thức khác nhau bọnquan lại lợi dụng chức quyền để ăn bớt thóc gạo Năm 1822 dưới thời MinhMạng ở Quảng Đức và Quảng Trị, nhằm vào năm đói kém mất mùa, vua saixuất kho 25.000 hộc thóc để bán cho dân Viên coi kho là Đặng Văn Khuê lúcđong thóc cố tình “lỏng tay” khiến mỗi hộc thóc kém đi vài cáp để thu lợi [7,tập

2, tr.245] Bốn năm sau (1826) lại xảy ra một việc tương tự, viên coi kho ở Kinh

là Trần Công Trung đòi ăn tiền gây khó dễ cho người đến lĩnh [7,tập2,tr.543].Năm 1842 bọn chủ thủ kho tỉnh Quảng Ngãi là Đào Tiến Toàn và Nguyễn VănNghị thông đồng lấy cắp kho thóc, tính tang vật đến 1.000 lạng bạc Bên cạnh

đó còn xảy ra rất nhiều trường hợp quan lại coi kho ăn bớt trong kho, năm 1808

Trang 12

(Gia Long năm thứ 5) Hiệp trấn Thái Văn Minh và Tham Hiệp Nguyễn VănHoàng lấy thóc kho 15.000 hộc, hay như trường hợp Nguyễn Đức Tuyên là tư

vụ Nội vụ phủ thời Minh Mạng Cũng như nhiều vị quan làm việc ở Nội vụ phủthời đó, Tuyên “mắc bệnh” bớt xén của công, đã nhiều lần ăn bớt nhựa thơm ởtrong kho mang ra ngoài bán, việc bị phát giác và đưa lên vua Minh Mạng Vuanhân đó dụ các quan lại :“Lại dịch các quan phần nhiều là các kẻ gian tham hènmạt, bớt xén dối trá, chẳng thiếu cái gì Từ trước tới nay, các vụ việc xảy ra tớiđâu đã bị trừng phạt đến đấy, chiếu luật làm tội nặng, lại nhiều lần truyền dụ,dạy bảo đến rát cổ họng, cốt cho kẻ gian tham thay lòng đổi dạ, trở thành lươngthiện Thế mà lòng người không ngờ khác xưa, ngày thêm gian giảo Năm nay

đã có vụ ăn cắp son vũ khố đã đem tội nặng đổi thành tội nhẹ vì khinh pháp luật,lừa dối vua, kẻ phạm tội đã bị xử tử, lại bắt chặt một tay để treo ở cửa kho màrăn những kẻ khác Gần đây lại xảy ra vụ án mất trộm sa đoạn hổ phách, hiệnđương tra xét rất khẩn cấp Nay sai dâng nhựa thơm thì mới phát hiện ra NguyễnĐức Tuyên đã ăn bớt từ trước, lại dám lấy mật trộn lẫn vào để ít hóa nhiều, ýđịnh lừa gạt che dấu Tuyên còn chối cãi, đến lúc cả kho xưng ra mới chịu thựctình Vậy những người tai nghe mắt thấy ai mà không ghét Vả lại, vụ mất sonchưa nguôi, án sa đoạn hổ phách còn nóng hổi, chúng nó mù điếc hay sao mà lạimất hết lương tâm, cố ý phạm tội đến như thế” [4,tr.198-199] Rõ ràng qua lời

dụ ta thấy tình trạng ăn bớt của công xảy ra rất phổ biến trong tầng lớp quan lại.Ngoài ra, việc ăn bớt của công còn được thực hiện bằng thủ đoạn khác, tinh vihơn thông qua việc gian dối thay đổi các kích cỡ tiêu chuẩn đề ra để trực tiếpchiếm đoạt, đó là trường hợp Hoàng Hữu Nhẫn là Khố lại ở kinh đô dưới thờiMinh Mạng (1831) Lợi dụng cương vị được giao, Nhẫn thường làm ngắn bớtcác son bạc theo kích cỡ Nhà nước quy định nhằm ăn bớt vật tư kiếm lợi, lạikhai báo không đúng định lượng cân lạng các son bạc mỗi khi xuất kho, mỗi sonbạc nhập vào và xuất ra, Nhẫn và đồng bọn gian lạm 90 phân [7,tập3,tr.132]

Một số trường hợp khác bọn quan lại còn lợi dụng quyền hành của mình

để ăn cắp, nhũng lạm tiền, của trong kho, như năm 1834 tên Đường lấy giấu

Trang 13

1000 quan tiền công ở kho đem xuống thuyền chạy trốn bị phát hiện, năm 1836Nguyễn Hi làm chức giữ tài chính phú thuế dám tự tiện mở kho, liệu chở và muariêng số thóc ở đơn làm lương Không chỉ ăn cắp tài sản của công mà nhiềutrường hợp còn lợi dụng quyền hạn để lấy tiền như năm 1838 Hiệp lãnh Thị Vệ

Vũ Huy Dung, Vũ Văn Trí vì được phái đi đường biển cùng với đồng sự là ViênNgoại Lang phủ Nội Vụ Nguyễn Long ăn bớt tiền công đến trên 300 lạng bạc[7,tập5,tr.405]; dưới thời Thiệu Trị năm 1841 có trường hợp viên giám thủ khocửa Tiên Thọ là Nguyễn Thịnh lấy trộm tiền của kho [7,tập6,tr.125], năm 1854người lính coi giữ ty Cẩn Tín là Trần Văn Cam lấy trộm tiền công ở ty ấy bịbắt…

Như vậy ta có thể thấy quản lý kho tàng là lĩnh vực trực tiếp quản lý tàisản, tiền của cho nên dễ xảy ra hiện tượng tham nhũng Trong lĩnh vực này xảy

ra nhiều và biểu hiện rõ nhất dưới thời Minh Mạng, thông qua việc phân tích ởtrên ta có thể thấy rõ điều đó Ngoài ra so với các triều vua khác thì các hìnhthức, thủ đoạn tham nhũng dưới triều vua Minh Mạng cũng đa dạng và tinh vihơn có thể là thay đổi các kích cỡ nhà nước quy định để lạm thu, ăn bớt bằngnhiều cách tinh vi…Còn dưới thời vua Gia Long, Thiệu Trị, Tự Đức các hành vitham nhũng trong lĩnh vực này chỉ chủ yếu là trực tiếp lấy thóc gạo, hay tài sản,tiền của trong kho, ít trường hợp dùng thủ đoạn để ăn cắp, lạm thu

Trong lĩnh vực quân sự, cấp phát tiền lương cho quân lính

Dưới thời Nguyễn, trong lĩnh vực này xảy ra nhiều hành vi nhũng lạm, ăncủa đút của bọn quan lại, xảy ra hơn 20/103 vụ, chiếm khoảng 19,4 %tổng số vụtham nhũng, chủ yếu là lấy tiền của quân, nhất là dưới thời Gia Long chiếm hơnmột nửa số vụ Đại Nam thực lục chính biên đã ghi lại một loạt trường hợpnhũng lạm tiền, như: năm 1806 Đinh Công Xuyên nhũng lạm lấy tiền của quân1.900 quan, năm 1807 Phó Vệ úy Vệ cung võ là Nguyễn Văn Phượng nhũnglạm tiền của quân hơn 2.900 quan, năm 1812 Vệ úy vệ ban trực tiền là Võ Cônglấy riêng tiền của quân hơn 600 quan, năm 1813 Nguyễn Văn Khánh lấy lạmtiền của quân 300 quan…Dưới thời Minh Mạng cũng đã ghi lại một số vụ như

Trang 14

năm 1828 thư lại Hoàng Thiên Chiểu nhũng lạm đối với quân lính, năm 1829đội trưởng tiền quân Bắc Thành là Bùi Hoặc nhũng lạm tiền của lính, có trườnghợp còn thông đồng với nhau nhận hối lộ để tha cho giặc là năm 1837 Án sát HàTiên là Hồ Công Hy thông đồng với thuộc ty nhận của đút lót tha cho bọn giặc,tính tang đến hơn 120 lạng bạc…Dưới thời Tự Đức cũng xảy ra một số vụ, năm

1864 Hữu tham tri Bộ binh, hiệp lý thủy sư là Nguyễn Luận nhũng nhiễu binhđinh sai bắt làm việc riêng, đòi lấy tiền đút lót Năm 1881 ở tỉnh Nam Định cósuất đội Nguyễn Đình Kế bóc lột, sách nhiễu quân lính…

Trong lĩnh vực xây dựng, tham nhũng diễn ra mạnh mẽ, một số người phụ

trách việc xây dựng lợi dụng quyền để bớt xén vật liệu, tiền công, “rút ruột côngtrình”gây ra thiệt hại, thất thoát lớn cho nhân dân Theo Đại nam thực lục thìxảy ra khoảng 12/103 vụ việc tham nhũng trong lĩnh vực này, chiếm khoảng11,6 % tổng số vụ tham nhũng Dưới thời Minh Mạng việc tham nhũng tronglĩnh vực này được thể hiện rất rõ với nhiều vụ việc được ghi lại Đối với một đấtnước nông nghiệp nhiệt đới gió mùa như ở Việt Nam, đắp đê ngăn nước lụt, bảo

vệ làng xóm, ruộng đồng ở vùng trung du và châu thổ là việc hệ trọng hàng đầuđược dân ta đặt ra từ rất xưa Nhà nước các thời đều luôn luôn quan tâm cùngdân tu bổ đê điều mỗi khi mùa mưa lũ đến Minh Mạng là người luôn có chínhsách trọng nông quan tâm đê điều Vậy mà, quan đứng đầu các trấn Bắc Thànhquan liêu cả tin kẻ dưới quyền; quan coi đê thì thiếu trách nhiệm Trong khi đó

cả một “bộ sâu” các quan lại ở hầu hết các trấn, huyện có đê lợi dụng việc đắp

đê để hà lạm, gây ra hậu quả là đê vỡ liên tiếp trong hai năm, gây thiệt hạinghiêm trọng cho dân, cho nước Điển hình là Vụ án đê Bắc Thành năm Mậu Tý(1828), bọn quan lại lợi dụng việc đắp đê để kiếm lời, tham lam của công đãkhiến đê đắp xong mà lụt năm sau đê vỡ, vụ việc này được xét ra mới biết bọntham quan tham gia đắp đê điều là bọn ngu dốt, hèn kém, ăn bớt tiền đắp đê

“Riêng bọn Nguyễn Đức Hội, Nguyễn Văn Nghị, Lê Phúc Bảo qua tra xét lộ ratội chi lạm tiền đắp đê ở huyện Yên Sơn, phải bồi hoàn đủ số tiền chi lạm đến1.800 quan tiền, đến tháng một cùng năm, các viên quan này bồi hoàn đủ số tiền

Trang 15

chi lạm Lê Phúc Bảo được khai phục nguyên hàm, Nguyễn Văn Nghị đượctriệu về Kinh Còn Nguyễn Đức Hội thì lại bị phát hiện còn oan án về việc thuếcửa quan và bến đò cho vào Kinh, đợi bồi thường đủ sẽ xét việc khôiphục”[4,tr.178,]; Trong xây dựng các công trình thời Nguyễn còn xảy ra nhiềutrường hợp người quản lý xây dựng thông đồng câu kết để chiếm đoạt các vật tư,vật liệu như vào khoảng đầu năm Minh Mạng thứ 12 (1831), Hồ Văn Trương làtrấn thủ Thanh Hóa, Nguyễn Văn Thắng là Tham Hiệp được lệnh đi mua gỗ limcho triều đình đã dung túng cho người nhà và thuộc lại thông đồng với nhau,thao túng mua tất cả Hậu quả là lạm chi công quỹ tới hơn 50.000 quan Tháng

ba năm đó, Nguyễn Kim Bảng được lệnh trù tính việc làm kho tàng và đóngthuyền bè cho triều đình Tiếp nhận số gỗ nói trên, đối chiếu với giấy tờ sổ sách,Nguyễn Kim Bảng biết được việc gian lận trên của bọn Trương, Thắng bèn đemviệc tâu lên Vua Minh Mạng nhận được lời tâu, dụ bảo các quan: “Việc đắt giá

gỗ lim và việc ích nước lợi dân, không tiếc phí tổn lớn Thế mà bọn Trương,Thắng không giữ được phép công làm việc lại dung túng cho người nhà và lạidịch tạ sự kiếm lợi nhiều món không thể kể xiết Những tệ như thế thực là đángghét” [4,tr.192] Còn có trường hợp khai khống khối lượng, vơ vét vật tư củacông về làm của tư, sách Đại Nam thực lục có ghi : Năm Minh Mạng thứ 15(1834), vua đến Mộc Thương đếm xem kho gỗ phục vụ xây dựng các công trình

ở kinh đô Huế sau đó hỏi bộ Hộ, và được bộ này tâu lên rằng: Năm ngoái theo

bộ Công tư báo thì gỗ hơn 7.900 cây giá trị lớn hơn 19.000 quan, khi hỏi bộCông thì đã dùng hết 3.700 cây, trong khi đó vào năm này không có công trình

gì xây dựng lớn Sau khi xem xét, vua truyền chỉ bởi bộ Công không chịu để ý,mặc cho Đốc công chấm mút, xẻ xén Kết quả Hồ Văn Hạ thông đồng nângkhống khối lượng vật tư tại công trình để lấy gỗ nhà nước, đã bị chém ngay[7,tập4,tr.201,], và năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) quy định các thủ kho tuyệt đốikhông được đem bất cứ thứ gì của nhà nước về nhà, nhưng Lang trung kho MộcThương là Nguyễn văn Chính vẫn lạm thu của công, bị người cạnh nhà tố cáo cóđem thứ gỗ cấm về nhà sử dụng

Trang 16

Trong lĩnh vực thuế khóa, ruộng đất

Dưới thời Nguyễn, nông dân phải chịu nhiều khoản thuế khóa rất nặng nềnhư thuế đinh, thuế thân…và đây là khoản thu chính của Nhà nước phong kiến.Mặt khác tệ tham nhũng trong lĩnh vực này vốn là “căn bệnh cố hữu” dưới thờiphong kiến cho nên đã xảy ra khá phổ biến các trường hợp tham nhũng trongtầng lớp quan lại, xảy ra khoảng 17/103 vụ việc tham nhũng, chiếm khoảng 16,5

% tổng số vụ tham nhũng Điển hình có trường hợp các thuyền buôn đút lót choquan lại trong tỉnh để ẩn lậu thuế, đã bị phát hiện và trừng trị nghiêm khắc dướithời Tự Đức (năm 1855) Ngoài ra tham nhũng trong lĩnh vực này chủ yếu làthông qua việc trực tiếp lạm thu tiền thuế, ăn của đút Năm 1806, dưới thời GiaLong, đô thống chế lĩnh trấn thủ Nghệ An là Hoàng Viết Toản lạm thu tiền quantân 1.000 quan lại bá chiếm ruộng đất ở Dũng Quyết hơn 80 mẫu [7,tập2,tr.654].Bọn quan lại còn lợi dụng chức quyền thông qua việc đấu thầu thuế quan để lấytiền bạc như Lê Đức Tiệm là bố chính tỉnh Sơn Tây, trong khi cho đấu thầu thuế

đã đòi tiền bạc của những người thầu tham tang đến trên 700 lạng bạc…Trongtham nhũng về đấu thầu thuế quan còn có trường hợp năm 1841, dưới thời ThiệuTrị năm thứ nhất, Thự bố chính Hà Tĩnh là Nguyễn Nghị và Án sát là NguyễnVăn Liễn có tội bị mất quan Nghị cho đấu trưng thuế quan giá hạ để kiếm lời.Liễn cũng dự bàn, bị dân hạt ấy là Nguyễn Ký Tế kiện vào kinh Khi Khải đếnxét được biết Nghị ăn của đút lót 40 lạng bạc, khi đấu trưng xong Liễn ăn lễ tính

số tham tang đến 20 lạng bạc [7,tập6,tr.122]…Về ruộng đất điển hình là trongcông cuộc đạc điền, lập địa bạ trên toàn cõi xứ Nam kỳ (1836),” có tên nhũng lại

ở Định Tường là Tống Hữu Tài nhân đưa quy thức đạc điền sách nhiễu lấy tiềncủa dân [7,tập4,tr.934], ngoài ra trong lĩnh vực này xảy ra nhiều trường hợpkhác…

Trong lĩnh vực giáo dục, tuyển bổ quan lại

Tham nhũng lĩnh vực nào cũng có, và diễn ra dưới nhiều hình thức khácnhau, trong lĩnh vực này dưới thời Nguyễn cũng đã ghi lại nhiều trường hợptham nhũng, cụ thể có khoảng 6/103 vụ việc tham nhũng đã được sử sách ghi

Trang 17

lại, chiếm khoảng 5,8 % tổng số vụ tham nhũng Việc tuyển bổ quan lại dướithời Nguyễn được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau như ấm sung,thi cử, tiến cử Khi tiến hành những công việc này cũng đã xảy ra không íttrường hợp quan lại ăn hối lộ, cụ thể đã có nhiều trường hợp quan lại tham chức,tham quyền nhận hối lộ để tiến cử những người không có năng lực, để gian lậntrong thi cử Trong thời Nguyễn tham nhũng trong thi cử thường là do bọn quanlại móc nối, câu kết để che dấu, ăn hối lộ để phê lấy đỗ những người hỏng, nhưtrường hợp năm 1826 ”Hữu Tham tri Hình bộ là Nguyễn Hữu Nghị và ThượngBảo Khanh là Hoàng Quýnh sung việc trường thi Nghệ An lúc mới đến họp,Đốc học và các phủ huyện thuộc trấn ở công quán, sai cử những học trò họ biết,ghi lấy họ tên, và điểm duyệt nhận những mảnh giấy ghi tên, đưa biên hiệu vàonội trường, phê lấy đỗ những người hỏng (kỳ đệ nhất đã hỏng mà lại lấy đỗ là 36người, nhân đó mà đỗ sinh đồ 6 người Kỳ đệ nhị, đã hỏng mà lấy đỗ là 21người nhân đó mà lấy đỗ hương cống 10 người) Lại ngày ra trường hát xướnguống rượu lan man, họp các hương cống mới đỗ đánh bạc, chơi bời”[7,tập2,tr.482].

Bên cạnh đó hằng năm vua còn ra lệnh cho các địa phương tìm người tàigiỏi đề cử lên vua để được cân nhắc , thế nhưng chính điều này đã tạo kẽ hở đểcho bọn quan lại đặt ô dù chọn những người thân cận làm vây cánh Thời bấygiờ các quan chức trong triều được tiến cử học trò hay những người thân ngườiquen ra làm việc Nhiều quan lại tiến cử được những người tài đức, song không

ít vị, do sơ suất hoặc do bè phái móc ngoặc đã tiến cử những kẻ kém đức thuatài, gây tai tiếng trong triều để rồi chính họ - cả người tiến cử và những ngườiđược cất nhắc phải chịu hậu quả việc mình gây ra Sách Đại Nam thực lục doQuốc sử quán triều Nguyễn đã nêu “vụ án đề cử” là : Vào mùa thu năm ĐinhHợi (1827), Nguyễn Đình Cấp vốn là Tri huyện đã mãn niên hạn (đã về hưu)nhưng lại được bọn Tham tri Nguyễn Công Hưng và Nguyễn Công Tiệp tiến cửlại, chọn làm Đồng Phủ phủ Thiên Trường Ở cương vị mới chưa được bao lâu,Nguyễn Đình Cấp đã tham nhũng và phải tội chết Vua Minh Mạng nhân đó dụ

Trang 18

các quan lại rằng: “cử người lên để thờ vua giúp nước là chức phận của bề tôi.

Từ trước tới nay, chức tri huyện trẫm nhất nhất không thể kén chọn từng ngườimột nên để cho đình thần kén chọn, may ra tìm được người khá để làm tốt côngviệc Nguyễn Đình Cấp là kẻ tham mọt mà bọn Hưng không biết xét kỹ, lạikhinh xuất xử lên…”[7,tập2,tr.678,679]

Trong lĩnh vực tư pháp

Không chỉ ngày nay mà ngay từ xưa trong Nhà nước phong kiến Việt namthời Nguyễn, hiện tượng tham nhũng đã xảy ra trong chính cơ quan bảo vệ phápluật, ăn đút lót để làm sai lệch pháp luật, và có khoảng 8/103 vụ việc chiếmkhoảng 8,0 % tổng số vụ tham nhũng Điển hình vào năm Giáp Thìn (1844) tạithôn Tân Mỹ của tỉnh này có một vụ kiện tranh chấp tài sản Người cần được lậplàm thừa tự tìm cách đút lót cho Phan Văn Xưởng 80 lạng bạc Xưởng khôngnhững nhận mà còn dung túng người nhà và lại dịch xuống sách nhiễu Nhữngngười kia bèn khiếu kiện Xưởng, nhưng họ lại kêu kiện ở Gia Định chứ không ởBiên Hòa Phan Văn Xưởng lo sợ, bèn thân chinh đến tỉnh Gia Định van xintổng đốc tỉnh này giao vụ kiện cho Bố Chính tỉnh Biên Hòa Đỗ Huy Cảnh traxét Các quan lại còn phát hiện ra việc Xưởng nhận của Nguyễn Khắc Điều hơn

100 quan tiền để nhờ Xưởng làm tờ tâu lên Vua biểu dương lòng thanh liêm vàhảo tâm của mình! Rõ ràng Phan Văn Xưởng không chỉ nhận của đút rồi xét xửsai mà còn phạm đủ thứ tội nhận hối lộ, sách nhiễu dân Hạng quan “đen tối,thấp hèn” lừa cả vua, tội to thế thì phải chịu án chết còn gì”; Trong khi xét xửquan lại còn nhũng nhiễu đòi tiền, ăn của đút, như là trường hợp Tri phủ phủLạc Hóa tỉnh Vĩnh Long là Trương Phúc Cương năm 1852 dưới thời Tự Đức, đãdùng cường quyền lấy của đút (lấy của đút của viên huyện là 460 quan tiền), vàcòn có các khoản nhũng nhiễu khác: một khoản là vợ người Thổ dân nhân giậnchồng mà tự tử, dân đã trót mang mai táng đi, viên ấy bức bách dọa nạt nhữngtên mai táng để lấy của đút, đến nỗi có kẻ phải bán vợ, đợ con để cung ứng Mộtkhoản là người đi buôn mất cắp, bắt được kẻ cướp, nhân thế bắt kẻ ấy khai vucho người dân thường để lấy đút lót, một khoản là dung ẩn kẻ môn hạ, không

Trang 19

cho dân điền làm lính, lại dọa giam tổng lý lấy của đút, tính thành bạc tất cả 126lạng bạc.[7,tập7,tr.259] Ngoài ra dưới thời Tự Đức còn xảy ra trường hợp nhậncủa đút làm trái pháp luật là năm 1876 tri huyện huyện Bất Bạt (thuộc Sơn Tây)

là Trần Chước nhận tiền của làm trái pháp luật Chước (cử nhân ở Nam Định)trong hạt phát ra cướp và án mạng, đã dẫn dân xã, khổ chủ đến tỉnh xin thôi, lạidám đòi tiền của dân 83 lạng bạc [7,tập8,tr.200]…

Ngoài ra trong hoạt động thanh tra, kiểm tra cũng xảy ra tham nhũngthông qua việc vòi vĩnh, ăn hối lộ điển hình như vụ Trịnh Nho là người trongkhoa đạo, nhận của đút lót chỉ 2 hốt bạc bị phát giác vào năm Thiệu Trị thứ 6(1846), hoặc như trường hợp năm 1844 nguyên Bố chính Trần Quang Tiếnkhám xét việc dân trong hạt tranh nhau trưng bãi sa bồi, nhận của lót của người

ta nhờ cậy…

Một số lĩnh vực khác

Trong một số lĩnh vực khác như trong lĩnh vực quản lý nhà nước, các lĩnhvực công…các hành vi tham nhũng có khoảng 14/103 vụ việc chiếm khoảng13,5 % tổng số vụ tham nhũng, chủ yếu việc lợi dụng chức quyền để mưu lợiriêng hay nhân việc công tham tang ăn hối lộ, tiêu hụt tiền công, ăn bớt tiền ânthưởng, tham ô… Nhiều trường hợp quan lại đã lợi dụng chức quyền để mưu lợiriêng Cụ thể, trong thời phong kiến Nhà nước thường đặt các nhà trạm dọc cáccon đường “thiên lý” Mỗi trạm có một số phu và ngựa để chạy công văn giấy

tờ, hộ tống quan lại các trấn tỉnh về kinh, từ phủ huyện về trấn tỉnh (và ngượclại), cả quan đi sứ nước ngoài Các trạm lần lượt chuyển giao công việc chonhau mỗi khi có quan hoặc việc quan tới Thế nhưng quan lại đã lợi dụng cáctrạm này để mưu lợi riêng Một số vụ việc điển hình về việc này đã được sử cũghi lại là: Vào tháng 11 năm Nhâm Thìn đời vua Minh Mạng (1832), HoàngVăn Đản, Trương Hảo Hợp, Phan Huy Chú khi đi sang sứ nhà Thanh (TrungQuốc) trở về đã bắt nhiều phu trạm phải chuyên chở đồ đạc, hàng hóa của riêng

họ mang từ nước ngoài về Vua lập tức cách chức họ, giao cho bộ Hình xét xử

Vụ thứ hai, vào năm Nhâm Dần đời Thiệu Trị (1842), Lê Ngọc Chấn là Viên

Trang 20

ngoại lang bộ Hình đi thanh tra công việc ở Hà Tĩnh trở về, tự tiện lấy 14 phutrạm và hai con ngựa của trạm để vận chuyển đồ đạc riêng của gia đình mình.Các quan tỉnh lại còn cắt cử binh lính đi hộ tống Không bao lâu sau vụ trên,Trịnh Ngọc Lâm là Thự Bố Chính tỉnh Khánh Hòa đi coi thi ở Gia Định về, tựtiện lấy 17 phu trạm về nhà mình để làm việc riêng Qua những vụ việc này ta

có thể thấy dưới thời Nguyễn qua triều vua nào cũng xảy ra nhiều việc lợi dụngviệc công để trục lợi của bọn quan lại Chúng thật đáng phải trừng phạt thíchđáng! Một số trường hợp khác như năm 1809 tham hiệp Cao Bằng là Võ VănChiêu tiêu hụt tiền công 2.600 quan, thu riêng bạc thuế 3 năm của sách Man hơn

500 lạng Thời Tự Đức còn có một số trường hợp nhân công việc ăn hối lộ, kiếmlợi riêng như năm 1875 Bọn quản đạo Lê Văn Phổ, phó quản đạo Tôn Thất Dực

ở Phú Yên và ty thuộc nhiều người đã nhân công việc ăn tiền hối lộ [7,tập8,tr.121], năm 1876 Đề đốc quân thứ Trương Văn Ban tự tiện sai quân lính lấy củichặt cây đem bán kiếm lợi riêng [7,tập8,tr.211]

Tình trạng nhận hối lộ và tham tang cũng khá phổ biến trong thời đạiphong kiến, có trường hợp quan lại trực tiếp lợi dụng chức quyền nhận hối lộcủa kẻ phạm tội, có trường hợp người nhà quan lại nhận hối lộ Năm 1817 Lưuthủ Quảng Trị là Phan Tiến Quý tham tang đến hơn 500 quan [7,tập1, tr 976],năm 1827 Thư Hiệp Trấn Vĩnh Thanh là Vũ Huy Đạt không theo pháp luật đãtham tang hơn 130 lạng bạc, năm 1829 Lý Văn Phức nhận hối lộ hơn 100 lạngbạc khi trưng thuế cửa quan cửa Bắc Thành Năm 1833 Thị Vệ Hoàng VănTường và Lê Quang Chúng nhân đi công sai nhận ăn hối lộ của bọn gian thươngGia Định rồi vì chúng mà xin việc, năm 1839 Án Sát Bình Định là Vũ ThếTrường dung túng người nhà ăn hối lộ, tang vật đến hơn 100 lạng bạc…;một sốtrường hợp cả người nhà quan lại ăn hối lộ như năm 1829 ở trấn Thanh Hoa cácquan chức trong trấn là Trấn thủ Lê Văn Hiếu, Hiệp trấn Đoàn Viết Nguyên,Tham Hiệp Tôn Thất Lương cho đấu thầu thuế cửa quan và bến đò Có ngườimuốn được trúng thầu đã hối lộ cho người thiếp của Lê Văn Hiếu 20 lạng bạc,cho người con của Đoàn Viết Nguyên 40 lạng bạc Khi việc đấu thầu xong xuôi,

Trang 21

người đó lại có quà tạ lại, Lê Văn Hiếu và Đoàn Viết Nguyên đều nhận, việc bịphát giác, năm 1838 vợ lẽ của Dương Văn Phong nhận hối lộ đến 100 lạng bạc

để tha thuyền lậu,…

Tóm lại, tham nhũng trong xã hội phong kiến Việt Nam thời Nguyễn đãdiễn ra hết sức phức tạp, phổ biến Trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

dù ít hay nhiều cũng xảy ra hành vi tham nhũng của quan lại, từ quan chức caocấp trong triều đình cho đến quan lại ở địa phương Việc phân chia các lĩnh vựctham nhũng trên đây chỉ là tương đối chủ yếu dựa vào các trường hợp xảy ra cáchành vi tham nhũng qua các triều vua Nguyễn Những biểu hiện của tham nhũngtrong thời kỳ này cho ta thấy rõ hơn thực trạng xã hội dưới thời Nguyễn

Trang 22

Chương 2

CÁC BIỆN PHÁP TRỪNG PHẠT THAM NHŨNG CỦA NHÀ NƯỚC

PHONG KIẾN VIỆT NAM THỜI NGUYỄN (1802-1884)

Trước thực trạng tham nhũng xảy ra phổ biến, thường xuyên trong nhiềulĩnh vực, Nhà Nguyễn đã có nhiều biện pháp để ngăn ngừa cũng như để chốngcác hành vi tham nhũng của bọn tham quan, mà trước hết là trừng phạt thíchđáng những người có hành vi tham nhũng Việc tìm hiểu các quy định của phápluật về xử lý người có hành vi tham nhũng và thực tiễn áp dụng các biện pháptrừng phạt tham nhũng của nhà Nguyễn dưới đây sẽ cho thấy rõ điều đó

2.1 Các quy định của nhà Nguyễn về việc xử lý người có hành vi

tham nhũng

Dưới thời Nguyễn các quy định về xử lý người có hành vi tham nhũngđược thể hiện trong Hoàng việt luật lệ, Khâm định đại nam hội điển sự lệ, cácchỉ, dụ…Trong đó Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là Bộ luật Gia Long) được xem làsản phẩm có giá trị lớn về mặt lập pháp của vương triều Nguyễn- triều đại cuốicùng ở Việt Nam và cũng là một trong những bộ luật lớn của chế độ phong kiếnViệt Nam, có nhiều điều luật quy định về tham nhũng

Trong Hoàng việt luật lệ có nhiều quy định về hành vi phạm tội của cácquan lại trong bộ máy nhà nước phong kiến triều Nguyễn, trong tổng số 353điều luật về tội phạm cụ thể có tới gần 150 điều quy định hành vi phạm tội củaquan chức, chiếm tỉ lệ hơn 1/3 Các hành vi phạm tội của quan chức được quyđịnh trong tất cả các mục theo thẩm quyền từng bộ, như phần về lại luật ( luật vềquan lại) 27 điều; luật về lính 58 điều…Đặc biệt trong Hoàng Việt luật lệ, mộttrong những tội được quy định rõ ràng, xét về nội dung cũng tương tự như cáctội do người có chức vụ quyền hạn thực hiện được quy định trong Bộ luật hình

sự 1999 đó là các tội phạm về đút lót (các tội phạm về nhận và đưa hối lộ) Cụthể trong các quy định của Luật Gia Long có một quyển riêng về Luật hình đốivới tội nhận hối lộ (đút lót) và gần 20 điều khoản quy định cụ thể về vấn đề này

Trang 23

Quyển 17 quy định về tội đút lót, bao gồm 9 điều, từ điều 312 đến điều 320, baogồm :

- Quan lại nhận của, tiền (điều 312)

- Vướng vào tang vật đưa đến tội (điều 313)

- Nhận của, tiền sau khi xong việc (điều 314)

- Quan lại hứa nhận của, tiền (điều 315)

- Có việc dùng tiền, của thỉnh cầu (điều 316)

- Quan mượn ép hàng hóa, tài sản của người (điều 317)

- Người nhà quan lại xin mượn (điều 318)

- Nhân việc công mà xử gom (điều 319)

- Giữ lại tang vật ăn trộm (điều 320)

Do tính chất nghiêm trọng của các tội phạm về đút lót, hình phạt đượcquy định cho các tội phạm này khá nghiêm khắc Điều đó được biểu hiện ở chỗ,trong số 9 tội phạm thuộc nhóm này có hai tội quy định hình phạt cao nhất là tửhình đều dưới hình thức treo cổ (các tội quy định tại điều 312 và điều 319) Hìnhphạt phổ biến nhất được quy định cho các tội phạm này là phạt trượng, sau đóđến phạt đồ và lưu Phạt roi cũng là hình phạt được quy định cho một số tộiphạm trong nhóm này, ví dụ, tại điều 313, điều 317…

Ngoài hình phạt được quy định áp dụng cho người phạm tội về đút lót,một số biện pháp xử lý bổ sung đem lại hậu quả pháp lý bất lợi cho quan lạiphạm các tội này cũng được quy định, ví dụ: một số trường hợp bị thu lại nhữngcáo sắc vua ban cho, quan chức bị xóa tên trong sổ quan, lại viên bị bãi dịch (cácđiều 312, 313, 314…)

Thông qua việc quy định các hình phạt đó ta không chỉ thấy được đườnglối xử lý các tội phạm về hối lộ trong Hoàng việt luật lệ, mà qua đó còn thấyđược rõ hơn thái độ của nhà Nguyễn đối với tội phạm tham nhũng Đó là :

Nguyên tắc nghiêm trị, biểu hiện trước hết của nguyên tắc này chính làtinh thần trừng trị nghiêm khắc quan lại ăn đút lót được quy định tại quyển 4 :Lại luật, Điều 52 “ Ăn của đút lót làm hại luật pháp, trị tội theo chỗ nặng” Bên

Trang 24

cạnh đó, nguyên tắc này còn thể hiện ở chính quy định về hình phạt nghiêmkhắc cũng như một số biện pháp xử lý bổ sung đối với người phạm tội về đút lót

đã phân tích ở trên Ngoài ra, quy định không cho phép chuộc tội bằng tiền, tàisản hoặc không cho phép được ân xá như những loại tội phạm khác cũng là biểuhiện của nguyên tắc nghiêm trị Điều 1 phần chuộc tội nêu rõ “còn những quanviên chức dịch tham lam ăn đút lót đều không được chuẩn cho chuộc”, hoặc điều

15 quy định những tội không được tha trong đó “ăn đút lót … dù gặp ân xá cũngkhông được tha”

Nguyên tắc nữa được biểu hiện đó là trừng trị triệt để, nghĩa là tất cả cáchành vi nhận hối lộ dưới bất kỳ hình thức nào ở bất kỳ mức độ nào cũng đều bịtruy cứu trách nhiệm hình sự và đều có tội danh riêng dành cho những hành vi

đó Biểu hiện cụ thể là dưới thời Nguyễn đã quy định đầy đủ những trường hợpnhận đút lót thành từng tội danh riêng: hành vi đã nhận của đút lót cấu thành tội

“quan lại nhận của, tiền”(điều 312), hành vi nhận đút lót “mua chuộc” cấu thànhtội “vướng vào tang vật đưa đến tội” (điều 313), hành vi nhận đút lót “tạ ơn” cấuthành tội “nhận của tiền sau khi xong việc (điều 314), hành vi hứa nhận của đútlót sau khi xong việc cấu thành tội “quan lại hứa nhận tiền của” (điều 315), hành

vi đòi mượn tài sản của người khác hoặc tài sản công cấu thành tội “quan lại éphành hóa, tài sản của người (điều 317) Thậm chí, quan lại có hành vi khôngngăn cấm người nhà đòi xin, mượn tài sản, hàng hóa của người khác cũng bịxem là đồng phạm của người nhà về tội “người nhà xin mượn” (điều 318) Quyđịnh trên cho thấy quyết tâm của Nhà nước phong kiến thời Nguyễn nói chung,dưới thời Gia Long nói riêng trong việc trừng trị hiện tượng ăn đút lót, đòi đútlót (hối lộ) cũng như bảo vệ sự thanh liêm của tầng lớp quan lại

Việc quy định tội ăn đút lót trong Hoàng việt luật lệ còn phân hóa mức

độ trách nhiệm hình sự của người phạm tội là quan lại so với người phạm tội làngười nhà hoặc nô bộc của quan lại Điều 318 quy định :”phàm người nhà củagiám lâm, quan lại…thì giảm 2 bực tội so với bản quan nơi đó” Mặt khác, nhìnvào mức độ nghiêm khắc khác nhau của hình phạt được quy định cho mỗi tội

Trang 25

trong Hoàng Việt luật lệ, có thể thấy, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt được thểhiện trong quy định về mức hình phạt cho từng trường hợp cụ thể tương ứng vớigiá trị “của đút lót” Cụ thể, trong nhiều điều luật về các tội phạm về đút lót,định lượng “của đút lót” được quy định một cách cụ thể với khoảng cách giữacác mức là rất nhỏ Tương ứng với mỗi mức “của đút lót” là một (hoặc một sốhình phạt) được quy định với một mức hình phạt duy nhất Ví dụ điều 312 quyđịnh hình phạt đối với quan lại nhận đút lót (trường hợp đó là người ăn lương)như sau:

- 01 lượng trở xuống, phạt 70 trượng,

- 01 đến 05 lượng, phạt 80 trượng,

- 10 lượng, phạt 90 trượng,

- 10 lượng đến 15 lượng, phạt 100 trượng,

- 80 lượng đúng, phạt treo cổ (giam chờ)

Và điều 313 (vướng vào tang vật đưa đến tội) cũng quy định:”Quan lạivướng vào tang vật, nếu không gom về mình thì xử phục chức dịch Người xuấttiền muốn trốn tránh việc nặng thì xử theo điều nặng

- 1 lượng trở xuống, phạt 20 roi,

- 1 lượng đến 10 lượng, phạt 30 roi,

- 20 lượng, phạt 40 roi

- 500 lượng, phạt 100 trượng đồ 3 năm.”

Ngoài ra, về vấn đề xử lý tham nhũng, điều 392 Hoàng Việt luật lệ quyđịnh:”Người nào dùng các thủ đoạn biển thủ, lấy trộm tiền lương, vật tư ở kho,cũng như mạo phá vật liệu đem về nhà Nếu tang vật lên đến 40 lượng thì bịchém”, người phụ trách việc xây dựng, không được lợi dụng quyền để mượn vật

tư, tiền công dù rất nhỏ, nếu bị phát giác sẽ bị quy tội nặng Các quan cậy thếhoặc dùng sức ép để buộc người khác cho mình mượn hàng hóa, vật tư, tiền

Trang 26

công thì tùy theo tang vật để xử phạt Nếu nhẹ thì mỗi thứ hàng hóa phạt 100trượng, bị lưu 3000 dặm, thu hồi hết tang vật, nếu nặng thì tử hình.

Trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ cũng ghi lại nhiều quy định vềhành vi tham nhũng, trong đó cũng có một quyển riêng (quyển 199) quy định vềluật hình- nhận tiền tang và nhiều điều khoản khác liên quan đến tham nhũng.Các hiện tượng lợi dụng chức quyền hay công việc của mình để lạm dụng chiếmđoạt trộm cắp tài sản công trong kho trên thực tế khá nhiều và đã có rất nhiềuđiều khoản quy định về tội này như quyển 193 quy định về việc lấy trộm tiềncủa, đồ vật ở Nội Phủ là :”Phàm kẻ lấy trộm tiền của đồ vật ở Nội Phủ đều phảitội trảm (về tội tạp phạm, nếu ăn trộm là phải tội, không nhiều hay ít, không chia

ra tội thủ tội tòng Nếu là tiền của đồ vật chưa tiến vào kho Nội Phủ, chỉ theoluật “lấy trộm đồ vật công”bắt tội) Phàm tiền của đồ vật ở Nội Phủ, nếu lànhững châu báu, đồ dùng của nhà vua, kẻ nào lấy trộm đều coi như tội thựcphạm, phải tội xử tử, còn ngoài ra giám thủ người thường lấy trộm bạc lạng tiềnlụa các thứ của kho tang đều chiếu theo lệ về tội”lấy trộm tiền lương của khotang”mà định tội”[9,tập12,tr.29]; Việc lấy trộm tiền lương ở kho tàng được quyđịnh là:”Phàm các giám lâm, chủ thủ lấy trộm tiền lương các thứ ở kho tàng,không chia ra tội thủ, tội tòng, gồm cả số tang lại mà xử đều phải thích 3 chữ

“trộm bạc công”(hoặc lương, vật cống) ở bắp thịt cánh tay, dưới bên hữu Từ 1lạng trở xuống phải phạt 80trượng, từ 1 lạng trở lên đến 2 lạng 5đồng cân phảiphạt 90 trượng, 5 lạng phải phạt 100 trượng, 7 lạng 5 đồng cân phải phạt 6trượng đày 1 năm…40 lạng phải tội trảm” [9,tập12,tr.35]…;

Mặt khác việc thực thi, xử lý theo pháp luật cũng đã được đề cập nhiềutrong sách Đại Nam thực lục, năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) vua ngự chuẩn:

“Trong chốn cung điện Hoàng thành, kẻ nào dám lén vào lấy trộm cắp, khôngcâu nệ đã chửa lấy được của, không phân thủ phạm hay tòng phạm đều chémngay, bêu đầu để bảo cho dân chúng biết Lại trong phủ Nội Vụ và các trại quâncầm y, loan giả, có kẻ nào dám trộm cắp, hễ đã lấy được tài vật không kể nhiều

ít, thủ phạm chém ngay [7,tập5,tr.142]; Năm Tự Đức thứ 34 (1881), vua cũng đã

Trang 27

định lệ về việc này đó là : Phàm lại dịch người coi kho, nếu có hụt thiếu củacông, trừ người nào tự trích phát ra đầu thú nhận và đền đủ thì vẫn được làmviệc như cũ Việc phát ra mà đền xong, người có chức hàm thì giáng 2 cấp, đổi

đi nơi khác, không có chức hàm thì làm việc như cũ, ba năm không được thăng

và các khoản trong hạn đền xong, trước xử trảm hậu thì giảm 2 bậc, xử tội mãn

đồ, trước xử trảm quyết thì giảm một bậc xử mãn lưu [7,tập8,tr.62]

Ngoài ra, tuy chưa ban hành một bộ đạo luật riêng về chống tham nhũngnhưng Nhà nước phong kiến thời Nguyễn luôn có các chỉ dụ, sắc,lệnh phòngchống “quốc nạn” này, điển hình là chỉ dụ chống tham nhũng của vua Tự Đứcban hành ngày vào ngày 2 tháng 6 năm Kỷ Dậu là: “Trẫm nghe rằng: quan sungsướng lắm thì dân càng khốn khổ Trên được lợi ích thì dưới phải chịu thiệt thòi.Cũng bởi những kẻ lộng phép vì lợi mà làm càng, nhân xử án thấm hình, dụngtâm thay đổi để sách nhiễu hối lộ, hoặc giả ý đốc sưu thuế nhúng tay vào việcbớt xén, hoặc bắt dân đóng góp, bóc lột nặng nề để làm của riêng cho mình, hayđem biếu đãi nịnh nọt để dọn đường tiến thân Xưa nay những mối tệ đoan kểkhông sao xiết! sau đó nhà vua đã nghiêm cẩn nhận trách nhiệm và chân thànhkhuyên răn các bề tôi của mình:”Trẫm vẫn quan niệm sâu xa rằng: giữ sự nghiệp

đã thành không dễ, mà lo kế thuật trị nước càng khó khăn, do vậy trẫm phải tusửa điều Nhân, yêu thương muôn dân, tu chỉnh cách cai trị…Về phần các khanhnên chăm lo bổn phận, theo đúng phép tắc làm quan, nhớ là luôn phải giữ phépthanh liêm…Đó là điều rất mong mỏi của trẫm vậy” Không chỉ có thế, vua TựĐức còn biểu lộ quyết tâm diệt tham nhũng qua việc ngài đã giao trách nhiệmthật cụ thể : Trẫm giao cho quan Ngự sử và Án sát, bất luận quan lại trong triềungoài nội, không tuân giữ phép công; mưu toan lợi lộc xoay xở riêng tư Nếuthám xét thực tình đúng vậy thì lập tức tại triều nếu đích danh, để đem ranghiêm thẩm rồi chờ chỉ trừng phạt cho nghiêm phép nước…”[21] Rõ ràng,thông qua việc quy định các biện pháp trừng phạt ta thấy được phần nào sựnghiêm khắc của pháp luật thời Nguyễn đối với tệ tham nhũng

Trang 28

2.2 Các biện pháp trừng phạt tham nhũng qua các triều đại nhà Nguyễn

Để ngăn chặn tham nhũng trong bộ máy nhà nước, Nhà nước phong kiếnViệt Nam thời Nguyễn đã thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp, từ việc cải cách

bộ máy nhà nước, tuyển chọn người hiền tài để giúp dân, giúp nước, giám sát bộmáy quan lại đến xử lí hành vi tham nhũng…Không những luôn đề cao các biệnpháp phòng ngừa tham nhũng, coi phòng ngừa là một trong những biện phápquan trọng, có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng, duy trì một bộ máy nhànước phong kiến trong sạch, không có chỗ cho những tên tham quan, ô lại, màthời Nguyễn còn đặc biệt chú trọng tới việc áp dụng các biện pháp trừng phạttham nhũng Tùy theo mức độ nguy hại của hành vi và mức độ quan trọng củaquan hệ xã hội bị xâm hại mà việc áp dụng các biện pháp, chế tài khác nhau.Trong thực tế nhà Nguyễn cũng đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để trừngphạt các hành vi tham nhũng, trên cơ sở đó ta có thể chia thành các loại biệnpháp sau

2.2.1 Các biện pháp hình sự

Biện pháp hình sự là biện pháp trừng phạt nghiêm khắc nhất trong hệthống các biện pháp trừng phạt tội tham nhũng, với những hình phạt gây chongười tham nhũng sự đau đớn về thể xác hoặc tinh thần Dưới thời Nguyễn, dochịu ảnh hưởng sâu sắc của pháp luật phong kiến Trung Quốc nên trong phápluật cũng như thực tiễn đã quy định và áp dụng ngũ hình và các hình phạt ngoàingũ hình Hình phạt ngũ hình cổ điển gồm xuy, trượng, đồ, lưu, tử; hình phạtngoài ngũ hình gồm xâm chữ, mang gông xiềng, sung vợ con làm nô tỳ, ngoài racòn quy định những hình phạt tàn khốc như chặt chân, chặt tay người phạm tội.Xuy, trượng đồ cũng có thể là phụ hình bổ sung cho chính hình (lưu, tử) trongtrường hợp mắc trọng tội Trong hình phạt ngũ hình, hình phạt xuy, trượng dùng

để trừng phạt những tội nhẹ, cụ thể xuy hình là đánh bằng roi mây nhỏ làm chongười phạm tội thấy xấu hổ, nhục nhã để tự sửa lỗi lầm cho mình, hình phạttrượng là hình phạt đánh bằng gậy Còn các hình phạt đồ, lưu, tử dùng để trừng

Trang 29

phạt những tội nặng, trong đó đồ hình là hình phạt nhằm trừng trị người phạmtội thông qua việc giam cầm và đày đi làm giao dịch, lưu hình là hình phạt đàyngười phạm tội đi nơi xa những nơi có môi trường sống khổ cực và vất vả, hìnhphạt cao nhất nghiêm khắc nhất là hình phạt tử hình thông qua việc tước bỏquyền được sống của người phạm tội có thể trảm (chém), giảo (thắt cổ), khiêu(chém bêu đầu), lăng trì (chặt chân tay, xẻo thịt cho đến chết) Trường hợp xử tửhình nhưng giam lại để chờ phúc thẩm vào mùa thu gọi là giảo giam chờ hoặctrảm giam chờ Trường hợp thi hành án ngay gọi là giảo quyết, trảm quyết.

Hầu hết việc xử lí các vụ việc tham nhũng trong thời phong kiến nóichung, trong thời Nguyễn nói riêng chủ yếu áp dụng các biện pháp hình sự Cácvua triều Nguyễn chủ trương dùng án tử hình mới ngăn chặn hữu hiệu tình trạngphạm tội Điều ấy được thể hiện qua lời dụ của Vua Minh Mạng vào thángGiêng năm Tân Mão (1831), khi ông xử chém một viên khố lại ăn bớt củacông :“Thánh nhân xưa đặt ra pháp luật là ý muốn trị tội để mong khỏi phải trịtội nữa, giết người để khỏi giết người nữa Thế là giết người mà làm muônngười sợ Nay nếu không theo luật mà trị tội thì chỉ được tiếng suông khoanhồng mà không đúng với cái đạo sáng hình phạt mà nghiêm khắc luật, sau này

sẽ phạm pháp nhiều ra thì giết không xuể” [7,tập3,tr.299]

Số trường hợp bị xử lý bằng biện pháp hình sự rất phổ biến khoảng hơn115/172 trường hợp, chiếm khoảng 66,9 % tổng số các biện pháp trừng phạttham nhũng, trong đó chủ yếu là áp dụng hình phạt tử hình, chiếm hơn một nửa

số trường hợp bị áp dụng biện pháp hình sự (hơn 50 trường hợp), còn lại là việc

áp dụng các hình phạt khác Việc thống kê các biện pháp này là dựa vào cáctrường hợp áp dụng các biện pháp xử lý trong từng vụ việc, trong nhiều vụ thamnhũng thường sử dụng đồng thời nhiều biện pháp trong cùng một vụ, có vụ xử lýbằng cả hai hình phạt đối với một người phạm tội (như trượng hình và đồ hình,hay trượng hình và lưu hình ), có vụ việc thì đều áp dụng biện pháp hình sự,nhưng phân hóa hình phạt theo mức độ vi phạm

Ngày đăng: 17/03/2018, 00:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w