1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ về giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc

112 88 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản sắc văn hóa dân tộc là giá trị cốt lõi nhất của một nền văn hóa nó thể hiện tâm hồn, cốt cách, tình cảm, lý trí, sức mạnh của cả dân tộc, tạo nên chất keo kết nối các cộng đồng người để cùng tồn tại và phát triển. Luận văn này được tác giả nghiên cứu đúc kết từ thực tế, cơ sở lí luận chặt chẽ. Được Hội đồng chấm luận văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội chất điểm cao

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC VÀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

HÀ NỘI, NĂM 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng

Mã số: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC VÀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Cẩm Tú

HÀ NỘI, NĂM 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Được học tập, nghiên cứu tại trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, em

đã được các thầy cô giảng dạy, trang bị thêm kiến thức sâu rộng.Thầy cô tạo điều kiện giúp đỡ về mọi mặt Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, emxin chân thành gửi tới Ban lãnh đạo trường Đại học Sư Phạm Hà Nội cùngtoàn thể các thầy cô giáo lời cảm ơn trân trọng nhất

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trần Thị Cẩm Tú, người

đã trực tiếp giúp đỡ, tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu,thực hiện và hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Sở giáo dục, các phòng chuyênmôn Sở Phòng văn hóa thông tin huyện, các thầy cô, các đồng chí cán bộ,giáo viên, nhân viên, phụ huynh và học sinh THPT Than Uyên và các trườngTHPT trong địa bàn huyện đã tạo điều kiện thuận để tôi thu thập số liệu,khảo sát thực trạng, giúp tôi hoàn thành luận văn

Trong quá trình nghiên cứu thực hiện hoàn thiện luận văn tuy khôngthể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự chỉ dẫn của cácthầy, cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện áp dụng vàothực tế có hiệu quả

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Phạm Văn Hùng

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HĐGDNGLL Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và văn hóaLiên Hiệp Quốc

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và Đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Bố cục của luận văn 5

CHƯƠNG 1 7

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC CHO HỌC SINH NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 7

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7

1.2 Giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số 9

1.2.1 Khái niệm GDBSVH cho học sinh người dân tộc thiểu số 9

1.2.1.1 Mục tiêu GDBSVH cho học sinh người dân tộc thiểu số 12

1.2.1.2 Nội dung GDBSVH cho học sinh người dân tộc thiểu số 13

1.2.1.3 Phương pháp giáo dục 16

1.2.2 Các đặc trưng văn hóa của học sinh người dân tộc[30] 17

1.2.2.1 Văn hóa dân tộc Thái 18

1.2.2.2 Văn hóa dân tộc Mông 19

1.2.2.3 Văn hóa dân tộc Tày 21

1.2.2.4 Văn hóa dân tộc Khơ Mú 22

1.2.2.5 Văn hóa dân tộc Dao 24

1.3 Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số 25

1.3.1 Khái niệm về phối hợp lực lượng cộng đồng 25

Trang 6

1.3.2 Quá trình phối hợp các lực lượng cộng đồng 26 1.3.2.1 Mục đích, ý nghĩa của việc phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số 26 1.3.2.2 Nội dung của công tác phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số 28 1.3.2.3 Các hình thức phối hợp lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số trường THPT 31 1.3.2.4 Các nguyên tắc phối hợp các lực lượng cộng đồng trong GDBSVH cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường THPT 34

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phối hợp các lực lượng cộng đồng tronggiáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số trường THPT 35

1.4.1 Nhận thức của của các lực lượng trong cộng đồng và học sinh 35 1.4.2 Công tác tổ chức, chỉ đạo, phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh người dân tộc thiểu số 36 1.4.3 Công tác kiểm tra, đánh giá kết quả công tác phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh 37

Tiểu kết chương 1 38

CHƯƠNG 2 39 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC CHO HỌC SINH NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG THPT THAN UYÊN, HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU 39

2.2 Thực trạng về giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu sốtrường THPT Than Uyên 42

2.2.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lí, giáo viên, cha mẹ học sinh và học sinh về hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số 42 2.2.2 Thực trạng nhận thức của lực lượng cộng đồng về mục tiêu giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số 44 2.2.3 Thực trạng về hành vi giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của học sinh người dân tộc thiểu số 46 2.2.4 Thực trạng mức độ thực hiện của các nội dung giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh người dân tộc thiểu số 48 2.2.5 Thực trạng mức độ thực hiện phương pháp giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh người dân tộc thiểu số 50

Trang 7

2.2.6 Thực trạng mức độ sử dụng các hình thức giáo dục bản sắc văn hóa cho

học sinh người dân tộc thiểu số 51

2.3 Thực trạng việc phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường THPT Than Uyên, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu 53

2.3.1 Thực trạng về thực hiện mục đích phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường THPT Than Uyên, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu 53

2.3.2 Thực trạng về nội dung phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường THPT Than Uyên, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu 55

2.3.3 Thực trạng về hình thức phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường THPT Than Uyên, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu 59

2.3.4 Thực trạng về yếu tố ảnh hưởng đến việc phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường THPT Than Uyên, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu 60

Tiểu kết chương 2 63

CHƯƠNG 3 65

BIỆN PHÁP PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG VIỆC GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HÓA CHO HỌC SINH NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG THPT THAN UYÊN, HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU 65

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số ở Trường THPT Than Uyên, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu 65

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ và hệ thống 65

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 65

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn ở địa phương 66

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi và hiệu quả 66

3.2 Các biện pháp phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh học sinh người dân tộc ở Trường THPT Than Uyên, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu 67

Trang 8

3.2.1 Xây dựng kế hoạch phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện,

đặc điểm thực tiễn 67

3.2.2 Nâng cao nhận thức, kiến thức về giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho đội ngũ giáo viên, cha mẹ học sinh, các lực lượng cộng đồng và học sinh 71

3.2.3 Phát huy nội lực trong nhà trường gắn giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số vào các môn học, các hoạt động ngoài giờ lên lớp và hoạt động ngoại khóa 75

3.2.4 Đẩy mạnh hình thức liên lạc giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số 79

3.2.5 Tăng cường vai trò hỗ trợ của các tổ chức, đơn vị xã hội với công tác giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số 82

3.2.6 Định kỳ sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm về phối hợp giữa các lực lượng trong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số 85

3.4 Khảo nghiệm về mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số ở Trường THPT Than Uyên, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu 86

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91

1 Kết luận 91

2 Kiến nghị 92

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bản sắc văn hóa dân tộc là giá trị cốt lõi nhất của một nền văn hóa nó thểhiện tâm hồn, cốt cách, tình cảm, lý trí, sức mạnh của cả dân tộc, tạo nên chất keokết nối các cộng đồng người để cùng tồn tại và phát triển

Năm 1998, nghị quyết TƯ 5 ( Khóa VIII ), nghị quyết chuyên đề về “xâydựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc” khẳng định vai trò củavăn hóa trong tiến trình lịch sử dân tộc, tương lai đất nước văn hóa là nền tảng tinhthần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hộivới mục đích làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội,vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư vàomọi sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần caođẹp.[10,Tr.2]

Môi trường sống của chúng ta đang ngày càng được hiện đại hoá nhờ nhữngthành tựu khoa học Quá trình toàn cầu hóa, sự hội nhập quốc tế với một tốc độ rấtnhanh, từ đó phát triển nhu cầu mở rộng giao lưu giữa các nền văn hóa Văn hóaViệt Nam đa dạng hơn, phong phú hơn, tiên tiến hơn nhờ sự tiếp thu những yếu tốlành mạnh của văn hóa thế giới Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “văn hóa phải đisâu vào tâm lý quốc dân” để từ đó “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”.[18,Tr.4]

Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đã trực tiếp ảnh hưởng đến việc giữ gìn, pháthuy BSVH dân tộc Đây là quy luật tất yếu khách quan và sự tác động đó tạo điềukiện cho nước ta trong việc mở rộng giao lưu giữa các nền văn hóa, sáng tạo ra giátrị mới, trực tiếp bổ sung, làm giàu BSVH dân tộc; thông qua đó cũng kiểm chứngtính bền vững của giá trị BSVH dân tộc Việt Nam, nâng cao vị thế của đất nướctrong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực còn có những mặttiêu cực tồn tại Đó là nguy cơ xói mòn, phai nhạt và biến dạng hệ thống giá trịtrong BSVH dân tộc, sự du nhập của lối sống tư sản, suy giảm thuần phong mỹtục, sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trên lĩnh vực tưtưởng, văn hóa Vì vậy việc giữ gìn BSVH dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tếhiện nay là vô cùng quan trọng

Đề phát triển kinh tế, phát triển đất nước trong giai đoạn đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế nhưng vẫn giữ gìn được nét vănhóa truyền thông và bản sắc riêng của dân tộc đòi hỏi phải có một mặt bằng dân trímới, một nguồn nhân lực với trình độ cao hơn Làm được điều này, yếu tố hàngđầu phải là phát triển giáo dục, đặc biệt với đối tượng đang hình thành, phát triển

Trang 10

mạnh về nhân cách, thế giới quan và nhân sinh quan như học sinh tiểu học (TH),trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông(THPT).

Thân Nhân Trung (1484) viết: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia,nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nướcyếu mà càng xuống thấp” Đào tạo hiền tài mở ra tương lai tươi sáng cho nước nhà.Học sinh THPT đang ở ngưỡng cửa bước ra xã hội với tư cách công dân chèo láicon đường của đất nước Vì vậy cần chuẩn bị hành trang thiết yếu để các em tự tin,chủ động với cuộc sống mới Các em phải xác định trách nhiệm với vấn đề pháttriển kinh tế, ổn định chính trị, gìn giữ BSVH Tuy nhiên, học sinh THPT cũng làđối tượng có tâm sinh lí của tuổi vị thành niên chưa ổn định, rất dễ có nhiều suynghĩ, hành vi lệch chuẩn Các em cần được định hướng để hiểu đúng, hiểu đủ vàhành động phù hợp thuần phong mĩ tục

Than Uyên là một huyện vùng cao thuộc tỉnh Lai Châu, là nơi sinh sống và

cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu số như: Thái, Kinh, Mông, Khơ Mú, Dao,Tày, Mường với nhiều BSVH khác nhau Trường THPT Than Uyên đóng trên địabàn trung tâm là ngôi trường nuôi, dạy con em của bà con đồng bào dân tộc vớinhiều BSVH đa dạng Bên cạnh các nội dung giáo dục kiến thức, nhà trường rấtquan tâm đến công tác quản lý giáo dục giữ gìn BSVH dân tộc truyền thống củacác dân tộc cho học sinh, đây là một vấn đề quan trọng góp phần không nhỏ vào sựthành công trong sự nghiệp giáo dục chung của nhà trường Nhiều học sinh còn tự

ti về truyền thống văn hóa của dân tộc mình như việc ngại sử dụng trang phục dântộc mình, thích trang phục theo mốt hiện đại, không biết hết những nét văn hóa đặcsắc của dân tộc mình Những lý do trên sẽ làm cho một bộ phận học sinh dân tộckhông còn yêu thích và quý trọng truyền thống văn hóa của dân tộc mình, thậm trímuốn rũ bỏ để tiếp cận văn hóa hiện đại, những nét văn hóa đặc sắc của dân tộccác em dần phai nhạt Do đó, ngoài nhiệm vụ tăng cường chất lượng trong giảngdạy thì một vấn đề đặt ra với đội ngũ giáo viên của nhà trường là giúp các em luônbiết giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc mình Tuy nhiên các giải pháp trong nhàtrường THPT Than Uyên, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu hiện nay chưa toàndiện, hệ thống, chưa phù hợp thực tế ở địa phương

Việc phối hợp các lực lượng trong giáo dục BSVH cho học sinh người dântộc ở nhà trường THPT là một mặt quan trọng của hoạt động giáo dục nhằm hìnhthành những con người có đầy đủ phẩm chất về Đức, Trí, Thể, Mỹ Đó là nền tảngcủa giáo dục toàn diện

Trang 11

Một con người có xuất phát điểm từ môi trường giáo dục gia đình tiếp cậnvới hệ thống giá trị văn hoá qua ngôn ngữ, thuần phong mĩ tục trong sinh hoạt.Bước vào tuổi tới trường, hệ thống chương trình giáo dục các cấp giúp cá nhân gọtgiũa, nâng cao học vấn, trình độ văn hoá Chặng đường con người trưởng thành vàhoàn thiện văn hoá được đặt trong mối quan hệ xã hội với những quy tắc ứng xử.

Muốn nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và phát triển nhân cách nóiriêng, cần tạo ra sự thống nhất tác động toàn xã hội; cần xây dựng được một môitrường xã hội lành mạnh Song hiện nay ở nhiều nơi, việc phối hợp các lực lượng

xã hội – gia đình – nhà trường chưa thường xuyên, một phần là do chưa xác địnhđược mục tiêu, nội dung, chưa xây dựng được một cơ chế tổ chức thống nhất, đồngthuận toàn xã hội

Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường THPT Than Uyên, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu”.

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn của việc phối hợp các lực lượngcộng đồng trong giáo dục ý thức giữ gìn BSVH dân tộc cho học sinh người dân tộcthiểu số, luận văn đề xuất một số biện phápphối hợp các lực lượng cộng đồng tronggiáo dục gìn giữ BSVH cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường THPT ThanUyên, tỉnh Lai Châu góp phần nâng cao ý thức, thái độ và hành vi giữ gìn BSVHdân tộc của học sinh người dân tộc thiểu số trường THPT Than Uyên , huyện ThanUyên, tỉnh Lai Châu

3 Khách thể và Đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh dân tộc

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Các biện pháp phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục gìn giữ bảnsắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số ở THPT Than Uyên, huyện ThanUyên, tỉnh Lai Châu

4 Giả thuyết khoa học

Hiện nay, việc phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục văn hóatruyền thống cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường THPT Than Uyên, tỉnhLai Châu chưa đạt kết quả cao do có nhiều yếu tố tác động như nhận thức của cáclực lượng cộng đồng, dân trí, hoàn cảnh địa lý, môi trường sống Nếu đánh giá mộtcách toàn diện về thực trạng này, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp mang tính

Trang 12

khoa học và hợp lý, phù hợp với đặc điểm học sinh dân tộc thiểu số trường THPTThan Uyên và phát huy vai trò chủ thể của việc phối hợp chính là nhà trường thìgóp phần nâng cao hiệu quả giáo dục bản sắc văn hóa, nâng cao nâng cao ý thứccủa học sinh và góp phần bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống cho học sinhdân tộc thiểu số trường THPT Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về phối hợp các lực lượng trong cộng đồng trongviệc giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng phối hợp các lực lượng trong cộng đồng về giáodục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường THPT ThanUyên, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu

5.3 Đề xuất biện pháp phối hợp lực lượng trong cộng đồng trong việc giáo dục bảnsắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường THPT Than Uyên, huyệnThan Uyên, tỉnh Lai Châu

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn địa bàn nghiên cứu

Đề tài được tiến hành nghiên cứu ở trường THPT Than Uyên, huyện ThanUyên, tỉnh Lai Châu

6.2 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các lực lượng cộng đồng tham gia vào giáo dục việc giữgìn bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường THPTThan Uyên bao gồm:

- Cán bộ Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lai Châu: 05 người

- Cán bộ quản lý nhà trường (hiệu trưởng, hiệu phó): 04

- Giáo viên: 43

- Cha mẹ học sinh: 50

- Học sinh người dân tộc thiểu số: 150

- Đoàn Thanh niên: 13,

- Chính quyền địa phương: 12

- Phòng Văn hóa: 02

- Hội Phụ nữ: 06

- Câu lạc bộ văn hóa của địa phương: 05

6.3 Giới hạn về thời gian nghiên cứu

Số liệu khảo sát được thu thập từ tháng 8/2018 đến tháng 12/2019

7 Phương pháp nghiên cứu

Trang 13

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp, khái quát hoá và hệ thống hóa các vấn đề về liên quan đếngiữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường THPT

Thu thập thông tin bằng phương pháp nghiên cứu số liệu và các báo cáochuyên đề hàng năm của các cơ quan chức năng và nhà trường

Thu thập, theo dõi thông tin cần quan tâm qua các phương tiện truyền thông

về tình hình văn hóa, xã hội của địa phương và cả nước

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Điều tra bằng bảng hỏi và thu thập thông tin thực tiễn về giáo dục bản sắcvăn hóa dân tộc cho học sinh người dân tộc thiểu số, việc phối hợp các lực lượngcộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số

7.2.2 Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát: khảo sát thực tế cách thức tổ chức của các cán bộ,thầy cô giáo về công tác giáo dục giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinhtrường THPT, sự phối hợp giữa các lực lượng cộng đồng

7.2.3 Phương pháp khảo nghiệm

Thực hiện khảo sát tính khả thi của các biện pháp phối hợp các lực lượngcộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số ởtrường THPT Than Uyên

7.3 Phương pháp xử lý dữ liệu bằng thống kê toán học

Sử dụng toán thống kê để xử lý và phân tích số liệu, thông tin thu được quacác phiếu điều tra và các mẫu biểu thống kê

8 Bố cục của luận văn

Đề tài gồm các phần mở đầu, nội dung nghiên cứu, kết luận và kiến nghị, tài liệutham khảo và phụ lục Phần nội dung nghiên cứu bao gồm ba chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứuvề phối hợp các lực lượng cộng đồngtrong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường trunghọc phổ thông

- Chương 2: Thực trạng phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dụcbản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường THPT Than Uyên,huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu

- Chương 3: Biện pháp phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bảnsắc văn hóa chohọc sinh người dân tộc thiểu số ở trường THPT Than Uyên, huyệnThan Uyên, tỉnh Lai Châu

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC CHO HỌC SINH NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề.

Bảo tồn và phát huy BSVH dân tộc là chiến lược phát triển bền vững quốcgia, là nhiệm vụ chung của toàn xã hội trong đó giáo dục giữ vai trò quan trọngnhất, bằng con đường giáo dục và thông qua giáo dục, các giá trị về vật chất vàtinh thần, các kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, kinh nghiệm ứng xử, lối sống,ngôn ngữ, phong tục, tập quán… của các dân tộc được lưu truyền, tồn tích, vậnhành nối liền các thế hệ Giáo dục giúp cho học sinh hiểu biết về truyền thống,BSVH dân tộc, tôn trọng, giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống văn hóa củadân tộc mình, tôn trọng BSVH của các dân tộc anh em

Những năm gần đây có nhiều công trình, đề tài khoa học, hội thảo khoa học

về lĩnh vực văn hóa đã công bố liên quan đến đề tài văn hóa với nhiều góc độ tiếpcận khác nhau GS.Trần Văn Giàu với "Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộcViệt Nam" (NXB KHXH, HN, 1980) GS Phan Huy Lê - Vũ Minh Giang với “Cácgiá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay” (Chương trình KHCN cấpNhà nước đề tài KX.07-02, gồm 2 tập xuất bản năm 1994 và 1996) PGS.Viện sĩTrần Ngọc Thêm, với tác phẩm: "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam"(NXB Thànhphố Hồ Chí Minh, 2001); “Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB GD,1997” đã cung cấpnhững kiến thức, khái niệm cơ sở nền tảng cho ngành văn hóa học Tác phẩm "Bảnsắc văn hóa Việt Nam" của GS Phan Ngọc (NXB Văn học, 2002) Tác giả TrầnMạnh Thường có tác phẩm "Việt Nam văn hóa và giáo dục – NXB VH-TT, 2010.Với quan điểm dân tộc học, GS-TS Phan Hữu Dật có tác phẩm "Góp phần nghiêncứu dân tộc học Việt Nam" (NXB CTQG, HN, 2004) Tác giả Nguyễn Hồng Hà

"Văn hóa truyền thống dân tộc với giáo dục thế hệ trẻ " (NXB VHTT, HN, 2001);Tác giả Nguyễn Trung Hoà (Trung tâm nghiên cứu phát triển các dân tộc thiểu số

và miền núi) với tham luận: “Tri thức bản địa bảo tồn và phát triển chữ, tiếng Tháivùng Tây Bắc” Bên cạnh đó cũng có đề tài luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm ĐứcLong " Biện pháp quản lí phát triển các hoạt động giữ gìn BSVH dân tộc ở Trungtâm học tập cộng đồng huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La”(2009) Đề tài "Nhà trườngvới vai trò bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnhĐiện Biên" của sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên (2012)

Ngoài ra có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến

Trang 16

vấn đề giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc Như bài viết “Thực trạng giáo dục bảnsắc văn hóa dân tộc cho học sinh trường THPT nội trú huyện Mộc Châu tỉnh SơnLa” của tác giả Đỗ Thị Thanh Thủy đăng trên tạp chí giáo dục kì 2 tháng 10 năm

2017 Luận án tiến sĩ “Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạmmiền núi đông bắc việt nam thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lênlớp” của tác giả Trần Thị Minh Huế “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam” (2001)của tác giả Trần Ngọc Thêm; “Giáo dục hệ giá trị đạo đức nhân văn” (1998) củatác giả Hà Nhật Thăng; “Giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc” (2002) của tác giảPhạm Hồng Quang; “Thực trạng và giải pháp giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức,lối sống cho thanh niên, học sinh, sinh viên trong chiến lược phát triển toàn diệncon người Việt Nam thời kì CNH-HĐH đất nước” (9/2001) của tác giả Trần Kiều

và cộng sự Một số công trình của tác giả Phạm Minh Hạc như: “Nghiên cứu conngười và nguồn nhân lực đi vào CNH- HĐH” (2001); “Nghiên cứu con người”(2001) Trong đó, công trình “Giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc” (2002) của tác giảPhạm Hồng Quang đã thể hiện một số nghiên cứu cơ bản về giáo dục bản sắc vănhóa dân tộc Tác giả đã đề cập đến ý nghĩa của giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc vàcác con đường để giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc Ở những mức độ khác nhau,các công trình nghiên cứu trên đã tổng hợp một số kinh nghiệm cụ thể, khái quátthành những nguyên tắc lý luận, cung cấp cho chúng tôi cơ sở khoa học về vấn đềvăn hoá, bản sắc văn hóa dân tộc, giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc trên các mặtphương pháp luận, giáo dục học

Hầu hết các tài liệu, công trình nghiên cứu cũng đã đề cập đến những nétvăn hóa truyền thống của các dân tộc, việc bảo tồn và phát huy những giá trị vănhóa đó Cũng có một số công trình nghiên cứu về việc giữ gìn bản sắc văn hóa dântộc trong giai đoạn hội nhập nhưng đối tượng không phải là giáo dục học sinh.Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Đức Long cũng đã đề cập đến vấn đề quản líphát triển các hoạt động giữ gìn BSVH dân tộc song đối tượng ở các trung tâm họctập cộng đồng không phải học sinh dân tộc thiểu số Một số khác các công trìnhnghiên cứu chủ yếu về quản lý giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc Còn lại các đề tàiphối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho họcsinh người dân tộc thiểu số hầu như còn ít, nếu có chủ yếu là huy động các nguồnlực xã hội Các nghiên cứu trên chưa phân tích sâu sắc và có hệ thống về phối hợpcác lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho HS người dântộc thiểu số ở trường THPT Vì vậy, nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện rất

có ý nghĩa

Trang 17

1.2 Giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số

1.2.1 Khái niệm GDBSVH cho học sinh người dân tộc thiểu số.

Khái niệm dân tộc thiểu số: Theo định nghĩa tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc thì "Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có sốdân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam Đây là một khái niệm được dùng để chỉ những nhóm người mangnhững sự khác biệt về một số phương diện với cộng đồng người sinh sống chungtrong xã hội Họ có thể mang những khác biệt với nhóm người chiếm đa số vềngônngữ, văn hoá, sự khác biệt về khả năng nhận thức, tôn giáo, kinh tế, điều kiện sinhsống và nguồn thu nhập v.v cũng như sự khác biệt về lối sống, cách ứng xử củacộng đồng đối với chính họ

Văn hóa là khái niệm rất phức tạp, từ xưa cho đến nay vẫn có nhiều quanniệm khác nhau về nội hàm của khái niệm này

Tại Venise năm 1970 tổ chức hội nghị liên chính phủ về các chính sách vănhoá, UNESCO đã đưa ra định nghĩa: “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm chodân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đếntín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”[28,Tr.41]

Việt Nam cũng có nhiều định nghĩa về văn hóa, trong số đó có một số địnhnghĩa được nhiều người quan tâm, sử dụng như trong tác phẩm: Việt Nam văn hoá

sự cương, năm 1938, giáo sư Đào Duy Anh đã đưa ra quan niệm về văn hoá: "Haitiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loàingười cho nên ta có thể nói rằng: Văn hoá tức là sinh hoạt”.[1,Tr.691]

Vào năm 1943, Hồ Chí Minh đã nêu ra một định nghĩa về văn hoá: “Vì lẽsinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh

ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật,những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.Toàn bộ các sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp củamọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ranhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn".[10,Tr.431]

Năm 1996, PGS.VS Trần Ngọc Thêm trong cuốn giáo trình Cơ sở văn hoáViệt Nam đã định nghĩa văn hoá: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vậtchất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thựctiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xãhội"[26] PGS Phan Ngọc (1998) định nghĩa: “Văn hoá là mối quan hệ giữa thếgiới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít

Trang 18

nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hoá theo mô hình tồn tại trongbiểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hoá dướihình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân haytộc người, khác các kiểu lựa chọn của cá nhân hay tộc người khác”[23,Tr.19-20].

Trong đề tài này chúng tôi tiếp cận văn hóa là một phức thể, tổng hợp cácđặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất khắc họa nên bản sắc của một cộngđồng, gia đình, làng xóm, vùng miền, quốc gia, xã hội Văn hóa bao gồm nghệthuật, văn chương lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thốnggiá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…

Than Uyên, Lai Châu là một huyện miền núi của khu vực Tây Bắc cho nênđặc trưng văn hoá của người dân tộc thiểu số ở đây cũng chính là bản sắc văn hóacác dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc: Các sắc thái văn hóa khá đa dạng, có thể thấy

rõ điều này trên các khía cạnh về nhà cửa, trang phục, ẩm thực; các biểu hiện vềquan hệ gia đình và cộng đồng; các hình thức tổ chức xã hội Trong quá trình pháttriển, tiếp xúc và giao lưu văn hóa, mỗi tộc người ở nơi đây đã tạo nên những nétvăn hoá độc đáo, có bản sắc riêng, được gìn giữ, trao truyền, làm giàu và phát triểntheo thời gian, qua các thế hệ trong một không gian văn hóa tộc người Những đặctrưng văn hóa đó được thấy rõ qua phương thức canh tác và các hoạt động sinhhoạt hàng ngày, nó tồn tại rất đa dạng, phong phú và độc đáo, phù hợp với điềukiện cảnh quan nơi cư trú của từng dân tộc, đồng thời có tính giao thoa văn hóagiữa các tộc người ngày càng cao, nhất là trong bối cảnh tác động của quá trìnhbiến đổi, phát triển, hội nhập và toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ

Tuy nhiên, nhiều giá trị văn hoá đang đứng trước nguy cơ bị mai một, chưađược đầu tư sưu tầm, phục dựng và bảo tồn, nhất là đối với các dân tộc có số dân

ít Ví dụ người Khơ Mú ở Than Uyên, Lai Châu không còn giữ được tiếng nóiriêng Vốn di sản chữ cổ cùng kho tàng sách cổ vô giá của người Dao, người Thái,đang dần biến mất Nhiều lễ hội cổ truyền không được tổ chức Nhiều lễ hội gầnđây được khôi phục nhưng do nhiều nguyên nhân không giữ được tính nguyên gốc,thậm chí nhiều lễ hội bị sân khấu hóa Các giá trị văn hóa dân gian trong lễ hội bịbóp méo, việc bảo tồn và phát huy không đạt hiệu quả như mong muốn Vốn dân

ca, dân vũ do mất môi trường bảo lưu cũng bị thất truyền khá nhiều Kho tàng sửthi Thái, Hà Nhì… cũng đang đứng trước nguy cơ tương tự

Bản sắc văn hoá dân tộc theo Từ điển Tiếng Việt, “bản sắc” có nghĩa là

“màu sắc, tính chất riêng tạo thành đặc điểm chính” “Bản sắc văn hoá” được hiểu

Trang 19

là “hệ thống những đặc tính bên trong, những sắc thái riêng có tính nguồn gốc, gắn với những đặc tính của chủ thể, trở thành nguồn cội, khuôn mặt, nền tảng, bản thể của một nền văn hoá; là căn cước, chứng minh thư của văn hoá bất kỳ dân tộc nào”.[29]

GS.TS Trần Văn Bính: Bản sắc văn hoá nhìn một cách tổng thể của bất kỳdân tộc nào, đều gắn bó với lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của chính dântộc đó [5,Tr.20]

Tóm lại BSVH dân tộc là một khái niệm phức tạp, bởi vì đứng dưới góc độnhìn nhận khác nhau ta có khái niệm BSVH dân tộc với nhiều lớp nghĩa và nộihàm khác nhau Từ các nghiên cứu của các nhà nghiên cứu ta có thể khẳng địnhrằng BSVH dân tộc là tập hợp các giá trị, truyền thống, thẩm mĩ và lối sống củadân tộc tạo thành một hệ thống với những đặc trưng tiêu biểu, tiến bộ, riêng biệt,không thể trộn lẫn giữa các dân tộc với nhau Trong khuôn khổ của luận văn, bảnsắc văn hóa dân tộc được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, đó là những đặc trưng tiêu biểu,tiến bộ, riêng biệt về giá trị vật chất, giá trị tinh thần trong văn hoá của các dân tộcthiểu số ở trường THPT Than Uyên, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu

“Giáo dục là hoạt động chuyên biệt nhằm hình thành và phát triển nhâncách con người theo những yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn lịch sửnhất định”.[24] Dưới các góc độ nhìn nhận khác nhau giáo dục có các địnhnghĩa khác nhau, ví dụ trong đề tài này dưới góc độ phạm vi thì giáo dục làmột hoạt động có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của cácnhà sư phạm trong các tổ chức giáo dục, trong nhà trường nhằm giúp người họcphát triển trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ, thể chất… Đây chính là quá trình sư phạm tổngthể

Giáo dục BSVH dân tộc là một quá trình xã hội được tổ chức có mục đích,

có kế hoạch Trong đó, dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục, đối tượng giáo dụctích cực, chủ động tiếp nhận, bổ sung và hoàn thiện hệ thống giá trị BSVH truyềnthống, tinh hoa của dân tộc và nhân loại đồng thời gạt bỏ những giá trị thói quen,tập tục lạc hậu, lỗi thời đề những giá trị bền vững luôn sống động với thực tiễn

Vận dụng các giá trị văn hóa để giáo dục học sinh là một trong những mụctiêu lớn của ngành giáo dục đã được đề ra trong luật giáo dục: “thừa kế và phát huytruyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”.[22, Tr.2] các trường phổ thông có chức năng giáo dục văn hóa dân tộc cho họcsinh người dân tộc thiểu số nhằm đảm bảo quyền của học sinh trong giáo dục Nhờ

Trang 20

có giáo dục văn hóa dân tộc, học sinh người dân tộc thiểu số của trường THPTđược phát triển toàn diện, giữ được BSVH dân tộc, trở thành những công dân có trithức, có văn hóa của dân tộc mình Giáo dục văn hóa dân tộc trong trường THPTcòn góp phần quan trọng vào thực hiện nhiệm vụ bảo tồn và phát triển văn hóa dântộc.[22, Tr.243]

1.2.1.1 Mục tiêu GDBSVH cho học sinh người dân tộc thiểu số.

Giáo dục BSVH cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường THPT là thựchiện quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về phát triển văn hóa Đảng ta xácđịnh: "Văn hóa là một trong ba mặt trận: kinh tế, chính trị, văn hóa", vì vậy, "phảihoàn thành cách mạng văn hóa mới hoàn thành được công cuộc cải tạo xã hội" và

"Đảng tiên phong phải lãnh đạo văn hóa tiên phong"; đồng thời, đề ra ba nguyêntắc cuộc vận động văn hóa mới: Dân tộc, đại chúng, khoa học.[Nguyễn Đình Minh(2016 chủ biên), Đề cương về văn hoá Việt Nam 1943 – giá trị lịch sử và hiện thực,NXB Quân đội nhân dân]

Giáo dục BSVH cho học sinh người dân tộc ở trường THPT là góp phầnphát triển bền vững nhân cách cho thế hệ trẻ người dân tộc thiểu số về các phươngdiện: Nhận thức, thái độ, tình cảm, hành vi, thói quen Mỗi cá nhân, mỗi nhóm họcsinh người dân tộc thiểu số trong trường THPT là đại diện văn hóa của một vùngquê, một dân tộc Nhà trường tạo điều kiện để học sinh được tiếp xúc và thể hiệncác giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình để bảo tồn và phát triển nhữnggiá trị tốt đẹp Nhở việc tiếp xúc thường xuyên với các hoạt động văn hóa và thôngqua các hoạt động văn hóa, học sinh người dân tộc thiểu số luôn nhớ về nguồn cộivăn hóa của dân tộc mình, đồng thời còn là người hiểu biết và tôn trọng bản sắcvăn hóa dân tộc anh em

Về nhận thức: Bản sắc văn hoá của học sinh người dân tộc được bảo tồn vàphát triển tốt nhất là thông qua giáo dục Trong môi trường giáo dục trường THPT,giáo dục BSVH cho học sinh người dân tộc là nhằm giúp học sinh người dân tộcnhận thức được giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình, có ý thức về dântộc, về những giá trị tinh thần và vật chất của dân tộc, về lịch sử, về xã hội, cáckinh nghiệm trong cuộc sống Giáo dục BSVH cho học sinh người dân tộc còn cótầm quan trọng đặc biệt ở chỗ giúp cho học sinh nhận thức được rằng trong quátrình vận động của lịch sử xã hội cộng đồng, có những giá trị truyền thống khôngphù hợp với quy luật của sự phát triển sẽ bị gạt bỏ, tự tiêu vong và đương nhiên, sẽ

có những giá trị mới được hình thành, bồi tụ trong quá trình hội nhập, tiếp biếngiữa các nền văn hóa Từ đó các em có nhận thức chủ động trong việc loại bỏ

Trang 21

những yếu tố văn hóa không phù hợp, còn lạc hậu, để tiếp nhận những tri thức vàhành động văn hóa mới phù hợp, tránh tư tưởng bảo thủ, máy móc trong lối sống,cách sống và trong sinh hoạt của hình thức văn hóa cổ hủ, lạc hậu từ quá khứ.Đồng thời, học sinh cần mở mang nhận thức để tiếp nhận tri thức mới một cách cóchọn lọc, sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh sống, tâm lý và nhu cầu đánhgiá chung của cộng đồng…

Về thái độ, tình cảm: hình thành ở học sinh những tình cảm tốt đẹp vềVHDT, có tình yêu thương gắn bó với cộng đồng, có ý thức trách nhiệm với sựphát triển của quê hương, biết tôn trọng, yêu quý, giữ gìn và phát huy bản sắctruyền thống của dân tộc, hình thành nhân cách con người mới có tri thức và nănglực chuyên môn, đáp ứng công cuộc phát triển kinh tế, xã hội ở các vùng dân tộcmiền núi Đặc biệt qua đó các em thể hiện sự tự hào về các giá trị văn hóa của dântộc mình như tiếng nói, trang phục, phong tục, tập quán…

Về hành vi, thói quen: Giáo dục BSVH cho học sinh người dân tộc thiểu sốcòn giúp cho học sinh hình thành hành vi và lối sống văn hóa, phù hợp chuẩn mực

xã hội, giá trị văn hóa truyền thống dân tộc vì các em hiểu rằng, việc giữ gìnBSVH có tầm quan trọng đối với việc nhận thức về sự tồn tại của chính cộng đồng

đó Hành vi văn hóa được thể hiện trong lối sống, trong mối quan hệ, giao tiếp vớinhững người xung quanh như gia đình, làng xóm, thầy cô, bạn bè, cộng đồng xãhội Bài học lịch sử đã cho thấy nhiều dân tộc đã đánh mất ngôn ngữ, đặc điểmtrang phục và các nếp sinh hoạt truyền thống của dân tộc mình làm cho các thế hệsau không còn được thừa hưởng những giá trị đó nữa Một dân tộc cắt đứt quan hệvới truyền thống thì sẽ không thể tạo ra cơ sở cho bước tiến vào tương lai

1.2.1.2 Nội dung GDBSVH cho học sinh người dân tộc thiểu số.

Với nội dung của nền giáo dục hiện nay, chúng ta đang hướng tới là nền giáodục theo UNESCO là một tổ chức giáo dục – Khoa học – văn hóa của Liên HiệpQuốc đã đưa ra đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học đểkhẳng định mình” thì việc GDBS VHDT cần gắn với những hoạt động thực tế,những nhiệm vụ cụ thể trong cuộc sống hàng ngày để HS có cơ hội tìm hiểu, hiểubiết và vận dụng, chính các em là trung tâm của quá trình hoạt động Giáo dục BSVHDT các em được tham gia vào hoạt động, các em là chủ thể, là trung tâm củaquá trình giáo dục Và từ đó, học sinh sẽ rút ra được những bài học, những kinhnghiệm thực tiễn một cách chủ động và hiệu quả nhất

Trong chương trình giáo dục phổ thông hiện nay chưa có ban hành nội dung

và quy định chương trình riêng biệt về lĩnh hoạt động giáo dục BSVH dân tộc Nội

Trang 22

dung này mới chỉ được đề cập trong các văn bản hướng dẫn dạy tích hợp vào nộidung các môn học, lồng ghép vào các hoạt động Tuy nhiên, trong khuôn khổ của

đề tài và thực tiễn đối tượng giáo dục của các trường THPT, của địa phương luậnvăn đề cập một số nội dung sau:

* Giáo dục các chuẩn mực về truyền thống văn hóa dân tộc

Các chuẩn mực về truyền thống văn hóa dân tộc là những quy tắc sống, thóiquen sinh hoạt và chuẩn mực trong giao tiếp xã hội, hành vi ứng xử với mọi ngườiđược hình thành, đúc rút từ lâu đời được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác.Đối với phạm vi gia đình – môi trường văn hoá đầu tiên tác động tới nhậnthức của học sinh cần xây dựng và hình thành học sinh hiểu giá trị gia đình làm hạtnhân xây dựng xã hội văn minh Học sinh biết bổn phận người con hiếu thảo, biếtchia sẻ, giúp đỡ anh chị em, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộcmình tại gia đình Mỗi thành viên có chung tay vun đắp gia đình văn hoá

Đối với phạm vi xã hội các em học sinh trong vai trò công dân Hành trangcần có là hệ ý thức về trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân biết tuân thủ pháp luật,phòng chống tệ nạn, tham gia cống hiến xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp.Đứng trước cơ chế thị trường, học sinh nhận rõ ý nghĩa giá trị truyền thống, khôiphục bản sắc đang bị mai một cũng như rèn luyện bản lĩnh vượt qua cám dỗ tiêucực, vị kỉ Giữ mối quan hệ giao tiếp, ứng xử tốt đẹp với người xung quanh nơimình sinh sống, nơi mình học tập

Văn hoá là sản phẩm của cộng đồng cho nên cũng cần nhấn mạnh để học sinhhoá thân thành các đại sứ quảng bá hình ảnh Việt Nam tới bạn bè thế giới Bồi đắplòng tự hào, tự tôn dân tộc qua trang thơ, bài văn, di tích lịch sử, lễ hội, phongtục…Các em được trang bị tri thức lịch sử để hiểu, trân trọng thành quả máuxương của các thế hệ cha anh gây dựng, từ đó có ý thức gìn giữ, bảo vệ bảo toànlãnh thổ

Nói đến truyền thống là đề cập đến những quy tắc, thói quen tốt đẹp cần giữgìn, phát huy như: truyền thống cách mạng, truyền thống dân tộc, truyền thống giađình, truyền thống địa phương, đơn vị, Việc giáo dục truyền thống cho học sinhqua các tiết học là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của thầy cô giáo tớicác em học sinh để hình thành cho các em ý thức, tình cảm, niềm tin, niềm tự hàovới những quy tắc, thói quen tốt đẹp, những giá trị chuẩn mực của thế hệ đi trước,

từ đó tạo lập cho học sinh thói quen, hành vi ứng xử theo các chuẩn mực truyềnthống văn hóa của dân tộc

* Giáo dục những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, truyền

Trang 23

thống cách mạng, của địa phương, đơn vị không phải là nhiệm vụ của riêng ai, củamỗi một thầy cô phụ trách bộ môn nào mà là sự huy động của tập thể cán bộ giáoviên nhà trường, các lực lượng xã hội nhằm tạo nên hiệu quả trong giáo dục đạođức nhân cách, những truyền thống văn hóa tốt đẹp cho học sinh.

Giá trị văn hóa của dân tộc được biểu hiện một cách sinh động, cụ thể trongtừng con người, từng hành vi của họ Điều 5 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Các dântộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục,tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”; Luật Giáo dục năm 2009 sửađổi: “Nhà nước tạo điều kiện để người DTTS được học tiếng nói, chữ viết của dântộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giúp học sinh ngườiDTTS dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường và cơ sở giáo dụckhác”;[22] Sưu tầm, giữ gìn, nghiên cứu, giới thiệu các giá trị văn hoá vật thể củacác dân tộc thiểu số trong các bảo tàng, các trung tâm văn hoá, các triển lãm vàtrong đời sống hằng ngày; ngăn chặn việc thất thoát, hư hại các di vật, cổ vật quýcủa các dân tộc còn đang tiềm ẩn trong đồng bào sưu tầm, nghiên cứu, giới thiệu,lưu giữ các loại hình văn hoá phi vật thể từ đó kế thừa và phát huy những nét độcđáo riêng của văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số; hướng dẫn và triểnkhai những biện pháp bảo tồn và phát huy các hoạt động văn hoá lễ hội truyềnthống, bài trừ những hủ tục lạc hậu của các dân tộc thiểu số

* Giáo dục kỹ năng, hành vi thực hiện các chuẩn mực văn hóa truyền thống dân tộc.

Nhạy bén trước cái mới vừa là điều kiện để thế hệ trẻ bắt kịp xu thế thời đạivừa là thách thức đòi hỏi bản lĩnh tỉnh táo nhận rõ giá trị đích thực trước nhữngluồng văn hoá du nhập trong thời mở cửa Giáo dục học sinh trở thành công dân cóvăn hoá biết hành động lịch thiệp, ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức

Trước tiên, cần cho các em nhận thức phân biệt một cách rõ ràng đâu là bảnsắc, đâu là hủ tục Tiếp cận với những giá trị thuần phong mĩ tục, học sinh hìnhthành thước đo hành vi, cách ứng xử để đưa ra những phán đoán, đánh giá về bảnthân và người khác Tuy nhiên ranh giới rạch ròi giữa sự tiên tiến và sự lai cănghỗn tạp, giữa nét đẹp truyền thống và bước lùi do tính chất lạc hậu không phải lúcnào cũng dễ dàng phân định Nó chỉ được nhận ra khi đặt học sinh vào tình huốngứng xử cụ thể Các em được hoá thân vào các nhân vật trong hoạt động sân khấuhoá, diễn thuyết cách giải quyết các tình huống trong những buổi toạ đàm, sinhhoạt dưới cờ…Hệ thống các hành vi cần hình thành với học sinh bao gồm:

Một là hành vi ngôn ngữ biết nói lời hay ý đẹp, biết gìn giữ sự trong sáng của

Trang 24

tiếng Việt, giữ gìn ngôn ngữ nói và viết của dân tộc mình, bài trừ lối du nhập ngôn

từ pha tạp lai căng

Hai là hành vi sinh hoạt hình thành nếp sống trong sáng, lành mạnh tránh xa

tệ nạn xã hội, những cám dỗ dục vọng, biết vượt lên toan tính ích kỉ cá nhân, hoànthiện bản thân biết bảo vệ, bảo tồn những di sản văn hóa dân tộc bao gồm cả giá trịvăn hóa vật chất và văn hóa tinh thần

Ba là hành vi ứng xử biết kính trên những dưới phù hợp với chuẩn mực đạo đức,thể hiện trách nhiệm công dân xây dựng cộng đồng văn minh và nhân ái; biết họchỏi BSVH từ trong cộng đồng mình sinh sống và học tập sau đó tác động ngược lại

để phát triển, phát huy BSVH dân tộc

1.2.1.3 Phương pháp giáo dục.

Phương pháp giáo dục bản sắc VHDT rất phong phú, đa dạng Nhà giáo dụccần phải vận dụng linh hoạt cho phù hợp với mục đích đối tượng và tình huống cụthể Người ta nói rằng phương pháp giáo dục là nghệ thuật giáo dục, đòi hỏi nhàgiáo dục cần có năng lực sư phạm để biết cách phối hợp vận dụng các phươngpháp giáo dục cho phù hợp với đối tượng HS Giáo dục bản sắc VHDT là một bộphận của một quá trình giáo dục tổng thể Giáo dục bản sắc VHDT có thể thôngqua khai thác nội dung các môn học có ưu thế như môn Giáo dục công dân, Ngữvăn, Lịch sử, Địa lý Nhưng theo định hướng đổi mới chương trình năm 2018, việcgiáo dục bản sắc VHDT cho HS được thực hiện theo cách tiếp cận mới, đó là sửdụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để tạo điều kiện, cơ hội cho HSđược hoạt động tập thể, trải nghiệm trong quá trình học tập Dưới đây là một sốphương pháp giáo dục bản sắc VHDT qua sử dụng các phương pháp và các kĩthuật tích cực:

- Phương pháp giảng giải:

Giảng giải là phương pháp dạy học thông dụng nhất, nhưng không phải lúcnào cũng là hiệu quả nhất Giảng viên dùng lời nói kết hợp với các phương tiệnnghe nhìn như: Bảng - phấn, video/film, máy tính, máy chiếu… để giảng giảng chongười học nghe, phát hiện và hiểu các khái niệm, hiện tượng, qui luật, nguyên lýcủa các quá trình

- Phương pháp hợp tác theo nhóm:

Đây là phương pháp mà giáo viên tổ chức cho HS cùng trao đổi thảo luận đểđưa ra suy nghĩ, quan điểm, quyết định và giải quyết một vấn đề trong những nhómnhỏ để HS cùng thực hiện một nhiệm vụ nhất định trong thời gian nhất định Trongnhóm, dưới sự chỉ đạo của nhóm trưởng, HS chia sẻ kinh nghiệm và họp tác để

Trang 25

cùng nhau giải quyết nhiệm vụ được giao Hơn nữa, chính cách thức tổ chức giáodục này cũng tạo cơ hội để HS giao tiếp, chia sẻ quan điểm, chấp nhận sự khác biệttrong quan điểm của mình và của các bạn Qua đó hình thành cách ứng xử có vănhóa với các bạn và với thầy cô.

- Nghiên cứu trường hợp, tình huống: là phương pháp giáo viên đưa học sinhvào tình huống có tính thực tiễn, HS tự giác nghiên cứu tình huống thực tiễn vàgiải quyết các vấn đề của một tình huống đặt ra

- Phương pháp tổ chức trò chơi: Đây là phương pháp tổ chức cho HS tìmhiểu một vấn đề/thể nghiệm hành động Trò chơi gồm nhiều loại Trò chơi có thểđược điều chỉnh theo nội dung bài học và được sử dụng khi ôn tập Trò chơi có thểđược sử dụng bởi cá nhân, trong nhóm hay với cả lớp

- Phương pháp giao việc: Là phương pháp đưa học sinh vào các hoạt độngcông việc cụ thể, trong đó phải thực hiện một số nhiệm vụ nhất định Qua đó, họcsinh sẽ vận dụng kiến thức và kinh nghiệm của mình hình thành được những hành

vi phù hợp với công việc được giao, thu nhận kiến thức phù hợp

- Phương pháp nêu gương: Minh họa bằng những tấm gương người tốt việctốt để nêu gương, phương pháp này có sức lan tỏa rất mạnh mẽ trong cá nhân vàtập thể nhóm và lớp

Để giáo dục bản sắc VHDT cho HS có hiệu quả, yếu tố tập thể giữ vai tròhết sức quan trọng Công tác giáo dục chỉ đạt kết quả tốt khi có sự tác động của cáclực lượng giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội

Quá trình giáo dục bản sắc VHDT bao giờ cũng mang tính cụ thể, phụ thuộcvào từng cá nhân, người được giáo dục phải thông qua những tình huống giáo dụcriêng biệt, cụ thể nhất định Quá trình giáo dục mang tính biện chứng, đó là quátrình biến động và phát triển không ngừng về nội dung và con đường, tính chất saocho phù hợp với đối tượng giáo dục là những con người đang phát triển trong điềukiện xã hội thay đổi

Cũng như các nội dung giáo dục khác, việc giáo dục bản sắc VHDT cũngcần các nhà giáo dục cần phải nắm vững đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, nắm vữnghoàn cảnh sống cụ thể của từng HS để có sự tác động thích hợp

Giáo dục BSVH dân tộc cho học sinh người dân tộc là nhiệm vụ đặc thù,quan trọng trong các trường THPT Thực hiện có hiệu quả hoạt động giáo dụcBSVH dân tộc sẽ góp phần quan trọng trong việc giáo dục học sinh phát triển toàndiện

1.2.2 Các đặc trưng văn hóa của học sinh người dân tộc[30]

Trang 26

1.2.2.1 Văn hóa dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc

Khao)

Ngôn ngữ: Dân tộc Thái sớm có chữ viết thuộc hệ sanskrit (dòng chữ Phạn

– một kiểu chữ Ấn Độ cổ xưa)

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa

xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm

Hoạt động sản xuất: Người Thái định cư ở những thung lũng màu mỡ, ven

các sông suối, có truyền thống canh tác ruộng nước và sáng tạo ra hệ thống thủylợi gồm: mương, phai, lái, lín, cọn độc đáo và hiệu quả Ngoài ruộng nước, nươngrẫy, chăn nuôi, khai thác tự nhiên và thủ công gia đình đóng vai trò bổ trợ quantrọng trong kinh tế truyền thống của người Thái Ở một số trung tâm mường trướckia, hệ thống chợ phiên đã phát triển khá nhộn nhịp Đặc biệt, tuy là cư dân miềnnúi, nhưng việc chèo thuyền trên sông của người Thái khá phát triển

Ăn: Thức ăn chính của người Thái là cơm nếp, sau này có cả cơm tẻ Đồng

bào thích ăn luộc hoặc đồ, ăn sống hoặc tái có nhiều chất cay, chát "Nậm pịa" vàcác món nướng rất được ưa chuộng

Mặc: Trang phục của các ngành, NĐP Thái cơ bản giống nhau (chỉ khác ở

vài chi tiết nhỏ), đặc sắc hơn cả là trang phục nữ vừa đẹp, gọn nhưng không cầu

kỳ, làm nổi bật những đường nét thân hình phụ nữ Áo điểm hàng khuy bạc đơngiản nhưng rất nghệ thuật

Nơi ở: Dân tộc Thái sớm định cư thành bản, mường Đơn vị cư trú nhỏ nhất

là bản Mỗi bản đều có ranh giới rất cụ thể, có khu rừng, ruộng đất, rừng cấm, bãitha ma, nguồn nước riêng Nhà sàn của người Thái được dựng theo những quy địnhchặt chẽ Khi dựng nhà, đáng lưu ý là sự kiện dựng cột chính và dọn sang nhà mớigắn với vai trò của ông cậu

Phương tiện vận chuyển: Người dân vận chuyển trên đồ dùng, hàng hóa

thường gánh là phổ biến, bên cạnh đó họ còn gùi đồ theo cách chằng dây đeo vắtqua trán, bên cạnh đó có sử dụng ngựa Người dân sinh sống ở dọc các con sônglớn họ xuôi ngược bằng thuyền đuôi én rất độc đáo và nổi tiếng

Quan hệ xã hội: Người Thái có ba quan hệ họ hàng là: ải noọng, lúng ta và

nhinh sao, xuất phát từ hình thái hôn nhân thuận chiều Tiểu gia đình phụ quyền làhình thức phổ biến Chủ nhà luôn nằm cạnh cột chính, cạnh bàn thờ ma nhà Ởvùng Thái Trắng, con gái phải ngủ ở gian dành cho khách Đám cưới của người

Trang 27

Thái có nhiều nghi thức cho thấy tàn dư mẫu hệ còn đậm nét Khi sinh nở, trướccửa nhà sản phụ thường treo một tấm phên đan mắt cáo với một cục than và mộtcành cây xanh nhằm xua đuổi "ma quỷ" hay "hồn" khách lạ làm hại hồn vía hai mẹcon Sau khi đẻ, bên ngoại thường cho cháu quà Trong tang ma, người Thái thựchiện nhiều nghi thức để người chết là tiếp tục "sống" ở thế giới bên kia.

Thờ cúng: Người Thái tin vào sự tồn tại của các lực lượng siêu nhiên Trên

trời có Then Luông cai quản trời đất, vạn vật Ở trần gian chỗ nào cũng có các macai quản như ma ruộng, ma rừng, ma suối, ma nhà… Việc thờ cúng trời đất, bảnmường… có lễ xên bản, xên mường, xên hươn… vào đầu xuân, cúng ma bếp, tổtiên… Ngoài ra, đồng bào còn có nhiều nghi lễ liên quan đến nông nghiệp Cúng tổtiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch Người Thái Trắng ăn tết theo âmlịch Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột

Văn nghệ: Người Thái nổi tiếng với điệu “khắp” hồn nhiên, da diết, nhiều

điệu "xòe" đắm say Nhờ có văn tự mà vốn kho tàng văn học dân gian của ngườiThái vẫn được giữ lại và được bổ sung ngày càng phong phú

Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền,

bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ Nhiều trò chơi cho trẻ em.

1.2.2.2 Văn hóa dân tộc Mông.

Tên tự gọi: Mông.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Đen, Mông Hoa, Mông Xanh và

Mông Súa

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông – Dao, có chữ viết theo bộ

vần chữ quốc ngữ nhưng chưa phổ biến

Hoạt động sản xuất: Người Mông trước đây làm nương, phần đông du canh

du cư Tuy nhiên, cũng có một bộ phận sớm định canh định cư và làm ruộng nước.Nguồn sống chính của người Mông ở Than Uyên, Lai Châu nương rẫy Nông sảnngoài ngô lúa và hoa màu còn có lanh làm nguyên liệu may mặc Để khắc phụctình trạng đất nương nhiều đá nhô đầu và gốc cây to, người Mông sáng tạo chiếccày to, ngắn, khỏe Chăn nuôi ở người Mông khá phát triển, nhất là các loại gia súcnhư trâu làm sức kéo, ngựa để thồ hàng

Đàn ông người Mông rất thạo săn bắn, nhất là việc sử dụng súng kíp Cácnghề đan lát, đồ gỗ, dệt vải, làm giấy, trang sức bạc, rèn đúc… của người Mông đạttrình độ kỹ thuật khá cao Các sản phẩm thủ công của người Mông không chỉ đápứng nhu cầu sử dụng trong gia đình mà còn là hàng hóa trao đổi ở các chợ phiên

Trang 28

Phụ nữ Mông giỏi dệt vải lanh và trang trí hoa văn trên vải bằng các kỹ thuật: thêu,ghép vải, in sáp ong ở trình độ cao.

Với người Mông, những phiên chợ cuối năm thực sự là những ngày hội, nơianh em, bạn bè có thể gặp gỡ, hàn huyên… là nơi trai gái trao gửi tâm tình, hẹnước trăm năm

Ăn: Thức ăn chính của người Mông là cơm gạo hoặc bột ngô đồ Gạo và

ngô còn là nguyên liệu để nấu rượu trong mỗi gia đình Người Mông hút lào bằngống điếu to Nạp thuốc vào điếu mời người khác hút được coi là cử chỉ quý mến

Mặc: Trang phục truyền thống của phụ nữ Mông đa dạng theo từng nhóm;

nhưng cơ bản có váy, áo cánh, áo xẻ ngực, thắt lưng, khăn quấn đầu.v.v… Váyhình nón cụt, xếp nếp xòe rộng, khi đi váy đung đưa lượn sóng Váy nhóm MôngTrắng làm bằng lanh trắng, váy nhóm Mông Đen nhuộm chàm sẫm thành màu đen;váy nhóm Mông Hoa màu chàm có hoa văn thêu hoặc in sáp ong

Nơi ở: Người Mông ở nhà đất, gồm ba gian hai chái Chính giữa vách hậu

gian giữa là nơi thờ ma nhà, hai bên là bếp và buồng ngủ Mỗi nhà thường mở từ 2– 3 cửa, nhưng thường ngày các thành viên trong gia đình nhất là phụ nữ chỉ đi lạiqua cửa phụ

Người Mông có nhiều dòng họ, phổ biến là Giàng, Thào, Lù, Vù, Vàng,Thèn… Những người cùng dòng họ có thể đẻ hoặc chết trong nhà nhau Mỗi dòng

họ có nghi lễ riêng Hôn nhân những người cùng dòng họ bị cấm triệt để Sự tươngtrợ trong dòng họ rất lớn Trưởng họ có vai trò lớn, được coi là linh hồn của dònghọ.Với người Mông, quan hệ dòng họ giữ vị trí quan trọng, nếu mang cùng một tên

họ, giống nhau về lễ vật và cách sắp bày lễ vật cúng tổ tiên thì dù ở xa mấy cũng làanh em, không được thiết lập quan hệ hôn nhân với nhau nhưng có thể sinh đẻhoặc chết ở nhà nhau mà không cần kiêng cữ

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng

như nơi thờ tổ tiên, nơi thờ ma nhà, ma cửa và ma bếp Có nhà còn lập bàn thờ cúngnhững vị tổ sư nghề của mình với những người làm nghề thuốc, làm thầy Nhiều lễcúng còn kiêng kỵ tuyệt đối không cho người lạ vào nhà, không cho vào bản Saukhi cúng ma để cầu xin ai cũng thường đeo bùa để lấy khước

Lễ tết: Trong một năm, người Mông ăn hai tết lớn: năm mới và mồng 5

tháng 5 năm Tết năm mới vào khoảng đầu tháng 12 âm lịch Theo cách tính củangười Mông, mỗi tháng có 30 ngày, hết tháng 12 là Tết Đầu xuân, người Mông cóhội Gầu Tào thu hút sự tham gia của cả cộng đồng

Văn nghệ: Nghệ thuật trình diễn dân gian của người Mông phong phú với

Trang 29

nhiều loại hình dân ca, dân vũ, dân nhạc Nhạc cụ đặc trưng của người Mông ngoàichiếc khèn còn có đàn môi, kèn lá, sáo, trống, thanh la Trong dịp Tết, trai gái hátống tự tình qua sợi lanh căng dài.

1.2.2.3 Văn hóa dân tộc Tày.

Tên gọi khác: Thổ.

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai),

Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảngthế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng…

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Than Uyên, Lai Châu mới chỉ xuất hiện trong

khoảng 10 năm trở lại đây, chủ yếu là di cư làm ăn từ vùng khác đến

Hoạt động sản xuất: Người Tày có truyền thống làm ruộng nước, từ xa xưa

họ đã biết thâm canh, biết áp dụng các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắcmáng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới tiêu cho ruộng đồng Họ có tập quán dùng

loỏng là những máng gỗ để đập lúa ngay trên cánh đồng sau đó mới gánh thóc về

nhà bằng dậu Bên cạnh trồng lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, biết trồng hoamàu, cây ăn quả Chăn nuôi cũng phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưngcách phổ biến là chăn nuôi thả rông Nghề thủ công gia đình được chú ý Nghề dệtthổ cẩm là nghề thủ công nổi tiếng nhất với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo.Chợ là địa điểm diễn ra hoạt động kinh tế quan trọng

Ăn: Trước kia, người Tày ăn gạo nếp là chính , gia đình nào cũng có đồ dùng

là ninh và chõ đồ xôi Trong các ngày tết, ngày lễ các loại bánh trái không thể thiếunhư bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánhkhảo Ðặc biệt có bánh bột hấp dẫn với nguyên liệu độc đáo đó là nhân bằng trứngkiến, cốm phải làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi sau đó đem giã

Mặc: Trang phục cổ truyền của người Tày được tự dệt làm bằng vải sợi

bông, nhuộm màu chàm, thường không thêu thùa, trang trí

Nơi ở: Khi làm nhà việc chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt rất

được coi trọng Trong ngày về nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và ngọn lửa ấyphải cháy suốt đêm đến sáng hôm sau Chọn nơi ở, họ thích sống thành bản làngđông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà Ngôi nhà truyền thống của ngườiTày mang đặc trưng riêng đó là nhà sàn với bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6hoặc 7 hàng cột Nhà phải có 2 hoặc 4 mái lợp bằng ngói, tranh hay lá cọ Xungquanh nhà dùng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa

Hôn nhân: Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có nên vợ thành

Trang 30

nên chồng hay không còn phụ thuộc vào bố mẹ hai bên quyết định cùng "số mệnh"của họ có hợp nhau hay không Do vậy trong quá trình đi tới hôn nhân bắt buộcnhà trai xin lá số của cô gái về để so với lá số của con mình Cô dâu sau khi cướivẫn ở nhà bố mẹ đẻ, họ chỉ về ở hẳn bên nhà chồng khi đã có mang và sắp đếnngày sinh nở

Thờ cúng: Người Tày có tập tục thờ cúng tổ tiên Bên cạnh đó họ còn thờ

cúng thổ công, vua bếp, bà mụ Ðám ma được tổ chức rất to với nhiều nghi lễ đểbáo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới Sau khi chôn cất 3 năm, đưahồn người chết lên bàn thờ tổ tiên sau khi làm lễ mãn tang Hàng năm vẫn cúng giỗvào một ngày nhất định

Lễ tết: Hàng năm có rất nhiều ngày lễ tết với nhiều ý nghĩa khác nhau Tết

Nguyên đán để mở đầu cho một năm mới năm mới và tết rằm tháng 7 để cúng cácvong hồn Đây là hai tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả Ngoài ra còn có Tết gọihồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổchức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồnglúa nước

Văn nghệ: Người Tày có làn điệu dân ca rấ phong phú và độc đáo như lượn,

phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng Lượn là lối hát giao duyên phổ biến ở nhiều vùng, lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong các đám cưới, đám mừng nhà mới, hát lượn

cả khi có khách đến bản Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương còn có múarối với những con rối bằng được chế tạo từ gỗ khá độc đáo

1.2.2.4 Văn hóa dân tộc Khơ Mú.

Tên tự gọi: Khơ Mú.

Tên gọi khác: Xá Cẩu, Khạ Klẩu, Mãng Cẩu, Tày Hạy, Mứn Xen, Pu

Thềnh, Tềnh

Ngôn ngữ: Người Khơ Mú có tiếng nói riêng nhưng cũng như hầu hết các

DTTS khác ở Than Uyên, Lai Châu, người Khơ Mú không có chữ viết

Lịch sử: Tổ tiên người Khơ Mú đã sớm có mặt ở Lai Châu Tuy nhiên, sau

này, số đông họ đã hòa vào dân tộc Thái, chỉ còn lại vài bộ phận nhỏ

Hoạt động sản xuất: Người Khơ Mú sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy

trồng lúa nếp và một số loại hoa màu Công cụ canh tác chủ yếu là dao, rìu, gậychọc lỗ Ở Nậm Nhùn, nương của người Khơ Mú có độ dốc cao, năng suất thấp ỞTân Uyên, người Khơ Mú gần đây chú trọng trồng lúa nước và nuôi trâu để kéocày cùng nhiều loại gia súc gia cầm khác Ngoài ra, họ còn có một số nghề phụ gia

Trang 31

đình, trong đó, nghề dệt khá phát triển Các hoạt động săn bắt, hái lượm, đánh cácũng còn có vị trí đáng kể trong đời sống thường ngày.

Ăn: Người Khơ Mú thường đồ xôi hay đồ ngô và cho cả sắn vào cùng Sở

thích của học là ăn những món có vị cay, chua, đắng, các thức ăn nướng thường cómùi như chẻo, nậm pịa, cá chua

Mặc: Để đáp ứng nhu cầu về lương thực và các nhu yếu phẩm khác như vải,

muối, đồ sắt, đồ trang sức…, người Khơ Mú thường đem các sản phẩm đan lát traođổi với các dân tộc láng giềng Vì thế, trang phục của người Khơ Mú ở Than Uyên,Lai Châu giống với trang phục của người Thái: Nam thường mặc bộ quần áo cánh,màu chàm Nữ mặc váy, áo “cỏm”

Nơi ở: Trước kia, do du canh, du cư nên bản của người Khơ Mú nhỏ bé, đời

sống cũng tạm bợ Nhà cửa sơ sài, đồ dùng đơn giản để khi di chuyển khỏi mangvác cồng kềnh Ngày nay, do đã định cư, người Khơ Mú dựng nhà theo kiểu nhàngười Thái Nhà của người Khơ Mú được phân đôi theo chiều dài, một phần dànhhẳn để tiếp khách, nửa phần còn lại dùng để sinh hoạt gia đình

Cưới xin:Đám cưới của người Khơ Mú trải qua các bước: tìm hiểu, đi dạm,đưa rể về nhà vợ, lễ nộp các khoản tiền, đưa dâu về thăm bố mẹ chồng, tổ chức lễcưới, đưa dâu về nhà chồng, đưa rể về lại mặt nhà vợ Khi gia đình có người chết,

rể cả sẽ phải chủ trì tang lễ Các rể khác làm rể phụ Sau tang lễ, rể cả sẽ cùng các

rể khác được một phần tài sản của người đã khuất

Lễ tết: Bên cạnh tết Nguyên đán ra, người Khơ Mú còn tổ chức ăn tết cơm

mới Thời gian tổ chức tết cơm mới thường được tổ chức sau vào tháng 10 âm sau

vụ gặt Ðây là dịp vui của cả bản sau thời gian lao động mệt nhọc Tết cơm mới thểhiện hiện bản sắc văn hóa của người Khơ Mú một cách đậm nét Ngoài ra trongnông nghiệp, trồng trọt họ còn rất nhiều nghi lễ

Thờ cúng: Cũng như các dân tộc khác, người Khơ Mú tin sự sống là do kết

hợp giữa hồn và xác Khi linh hồn không ở trong thể xác nữa là khi người chết vàhồn người biến thành ma Mọi hành động trong đời sống hàng ngày của con ngườiđều do các lực lượng siêu nhiên chi phối Ma có hai loại là ma lành và ma ác.Trong các loại ma lành, người Khơ Mú coi trọng ma nhà Khi cúng ma nương, họkiêng nói tiếng Thái vì xưa kia tổ tiên họ chưa sử dụng ngôn ngữ này Người Khơ

Mú tin rằng tinh linh của lúa sẽ giúp cho lúa và hoa màu sinh sôi nảy nở Trongnăm, những nghi lễ chính đó là cúng ma mường, ma bản, thờ cúng tổ tiên và cácnghi lễ liên quan đến hoạt động lao động sản xuất

Văn nghệ:Người Khơ Mú ở Thahn Uyên, Lai Châu sử dụng tiếng Thái khá

Trang 32

thành thạo Thơ ca dân gian người Khơ Mú chủ yếu thể hiện bằng tiếng Thái.

1.2.2.5 Văn hóa dân tộc Dao.

Tên tự gọi: Dao

Tên gọi khác: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Trồng trọt nương rẫy là sinh kế chủ đạo của người

Dao Hiện nay, người Dao đã định canh, định cư kết hợp canh tác nương rẫy vớiruộng nước Chăn nuôi ở người Dao khá đang dạng Trâu, bò, ngựa, dê được nuôiphổ biến Nhiều gia đình phát triển nghề nuôi ong, nuôi cá Trong các nghề phụ giađình, đáng chú ý nhất là nghề làm vải, rèn, làm giấy Người Dao biết nhiều bàithuốc nam Các vị thuốc chủ yếu hái trong rừng, bên suối ít khi trồng sẵn Có loạilấy rễ, có loại lấy lá, có loại lấy vỏ, cũng có loại lấy quả và hoa Thuốc của ngườiDao chủ yếu dùng để chữa bệnh đường ruột, gãy xương, trị thương, tắm gội

Ăn: Hai bữa ăn chính của người Dao chính trong ngày đó là bữa trưa và bữa

tối, vào những mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng Trong ăn uống, mặc dù ngườiDao nuôi nhiều gia súc, gia cầm nhưng chỉ dùng thịt trong các dịp ma chay, cướixin, lễ tết Người Dao để dành thịt bằng cách phơi khô, hun khói hoặc ướp chua

Mặc: Trang phục người Dao nổi bật ở trang phục nữ Phụ nữ Dao Đỏ để tóc

dài vấn xung quanh đầu và đội khăn màu đỏ Quần và áo chàm, thêu nhiều hoa vănbằng chỉ màu, chủ yếu là chỉ đỏ Trang phục phụ nữ Dao Khâu đen suốt một màuchàm, quần có thêu nhiều hoa văn nhưng cũng là màu tối Phụ nữ Dao Tuyển, DaoĐầu Bằng độc đáo với chiếc mũ kim loại trên đầu Phụ nữ các ngành Dao đều thíchđeo trang sức bạc

Nơi ở: Nhà cửa của người Dao ở Than Uyên, Lai Châu chủ yếu là nhà đất

nhưng dấu ấn nhà nửa sàn nửa đất vẫn còn tồn tại ở một số nơi Gian giữa dànhlàm nơi thờ cúng và thực hiện các nghi lễ đông người Người Dao có nhiều dòng

họ Họ Bàn được coi là họ gốc Chủ gia đình là cha hoặc con trai trưởng Hôn nhâncòn tồn tại nhiều tàn dư nguyên thủy như tục ở rể; ông cậu là chủ hôn và chứngkiến lễ tơ hồng của cháu gái Hôn nhân trải qua nhiều nghi lễ như: lễ đánh tiếng, lễdạm hỏi, lễ ăn hỏi chính thức, lễ cưới…

Thờ cúng: Người Dao tin rằng vạn vật đều có linh hồn Riêng con người có

12 hồn Trong cuộc sống, họ có rất nhiều kiêng kỵ Nghi lễ rất quan trọng là cúngthóc giống Trong thời gian làm lễ 1 ngày 1 đêm, người ta không cho ai vào nhà vàngười nhà cũng không đến nhà người khác Người Dao thờ tổ tiên 9 đời, nhưng khicúng, người ta chỉ cầu khấn tới ông tổ 3 đời

Trang 33

Văn nghệ: Hát, tiếng Dao là “dủng”, với nhiều làn điệu Nghệ thuật trang trí

trên trang phục đạt trình độ cao Mô típ hoa văn phổ biến là: hình kỷ hà, hoa lá,muông thú, hình người.v.v

1.3 Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số.

1.3.1 Khái niệm về phối hợp lực lượng cộng đồng.

Cộng đồng (community) là một khái niệm đã và đang được sử dụng

khá rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học, như sử học, văn hóa học, xã hội học,tâm lý học, triết học, nhân học, sinh học, nghiên cứu phát triển v.v Nói cách khác,đây là một khái niệm có tính chất đa ngành và liên ngành Do là đối tượng nghiêncứu của nhiều khoa học chuyên ngành khác nhau nên khái niệm cộng đồng cũngđược tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau và cũng được định nghĩa khác nhau Mộtcách chung nhất, cộng đồng thường được hiểu là tập hợp người có sức cố kết nộitại cao, với những tiêu chí nhận biết và quy tắc hoạt động, ứng xử chung dựa trên

sự đồng thuận về ý chí, tình cảm, niềm tin và ý thức cộng đồng, nhờ đó các thànhviên của cộng đồng cảm thấy có sự gắn kết họ với cộng đồng và với các thành viênkhác của cộng đồng

Phát triển cộng đồng (community development) là một tiến trình giải quyếtcác vấn đề của cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, nhằm phát triển

về đời sống vật chất, tinh thần thông qua việc nâng cao năng lực của cộng đồng,tăng cường sự tham gia, liên kết giữa các thành viên trong cộng đồng nhờ yếu tốnội lực và yếu tố bên ngoài

Giáo dục là nhân tố đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển xã hội, nhưng giáodục muốn tồn tại và phát triển cũng chịu sự tác động từ trình độ phát triển xã hội.Theo tâm lí học xã hội thì bản chất của con người nói chung là tổng hòa của cácmối quan hệ xã hội Do đó cộng đồng có ảnh hưởng rất lớn tới việc hình thànhnhân cách con người Nhân cách của mỗi cá nhân là nhân cách của cộng đồng,nhưng đã được cá thể hóa một cách chọn lọc Hành vi và hoạt động của cộng đồng

có ảnh hưởng chi phối lệ thuộc lẫn nhau hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp Như vậy làkhông thể tách rời giáo dục ra khỏi đời sống xã hội, giáo dục có bản chất xã hội và

là sự nghiệp của toàn xã hội

Lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh ngườidân tộc thiểu số là huy động các nguồn lực cộng đồng như: chính quyền, nhàtrường, các đoàn thể, ban ngành huyện, xã, hội phụ huynh… nhằm giúp nâng cao

Trang 34

nhận thức và ý thức pháp luật, chuyển đổi hành vi trong việc giữ gìn BSVH củahọc sinh DTTS

Phối hợp là hoạt động cùng nhau của hai hay nhiều cá nhân, tổ chức hỗ trợ chonhau trong công việc chung nhằm đạt được một hay nhiều mục tiêu chung nào đó

Phối hợp lực lượng cộng đồng trong giáo dục BSVH cho học sinh người dântộc thiểu số là hoạt động cùng nhau của hai hay nhiều cá nhân, tổ chức hỗ trợ chonhau trong công việc chung nhằm đạt được một hay nhiều mục tiêu giáo dụcBSVH cho học sinh người dân tộc thiểu số

Phối hợp các lực lượng giáo dục ngoài trường hay huy động cộng đồng thamgia xây dựng và phát triển giáo dục là quá trình vận động (động viên, khuyếnkhích, thu hút) và tổ chức mọi thành viên trong cộng đồng tham gia vào việc xâydựng và phát triển nhà trường, từ việc xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục

vụ cho việc dạy và học, chăm lo đời sống giáo viên, tạo môi trường giáo dục thốngnhất giữa nhà trường - gia đình - xã hội, đến việc tham gia giáo dục học sinh

Sự tham gia của các thành viên trong cộng đồng là rất quan trọng Sự thamgia của chính quyền địa phương phải được coi như là một nhân tố bên trong, nókhông phải là một lực lượng đứng bên ngoài hoặc bên trên cộng đồng mà là mộtthành phần quan trọng của cộng đồng

Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục BSVH dân tộc cho họcsinh DTTS chính là tạo ra ở các đơn vị cơ sở (gia đình, làng, bản, xã ) các vùngdân cư (đồ thị, nông thôn, miền núi ) thực hiện những tiến trình, qua đó nỗ lựccủa người dân kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh

tế, xã hội, văn hóa của cộng đồng, đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng nhữngnhu cầu văn hoá đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân, giúpcác cộng đồng này hòa nhập và đóng góp vào tiến trình phát triển chung của quốcgia

1.3.2 Quá trình phối hợp các lực lượng cộng đồng.

1.3.2.1 Mục đích, ý nghĩa của việc phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số.

Mục đích cơ bản và xuyên suốt của công tác phối hợp các lực lượng cộngđồng trong giáo dục BSVH dân tộc cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trườngTHPT là huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân gópsức xây dựng nên giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước

Trang 35

Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục BSVH cho học sinh ngườidân tộc thiểu số nhằm:

Nâng cao nhận thức của cộng đồng về ý nghĩa, tầm quan trọng phối hợp cáclực lượng để giáo dục việc giữ gìn BSVH dân tộc cho học sinh dân tộc thiểu số,làm cho xã hội nhận thức đúng đắn về vai trò của giáo dục trong quá trình pháthuy, giữ gìn BSVH các dân tộc, tiến tới xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc

Đánh giá đúng vai trò chủ đạo của lực lượng nhà trường trong việc giáo dụcgiữ gìn BSVH dân tộc mở cửa nhà trường với xã hội bên ngoài, tạo sự gắn bó giữanhà trường với xã hội, để nhân dân có thể xây dựng, giám sát kiểm tra nhà trườngtrong việc thực hiện mục tiêu giáo dục cũng như việc giúp học sinh nhận thức đúngđắn về văn hóa dân tộc của mình

Nhận thức trách nhiệm của mỗi lực lượng cộng đồng trong việc giáo dục.Trên cơ sở khai thác và phát huy tối đa các điều kiện và khả năng đáp ứng của xãhội cho giáo dục, vận động mọi thành viên trong cộng đồng, không phân biệt thànhphần, lứa tuổi, vùng miền, tham gia học tập mọi lúc, mọi nơi nhằm đáp ứng yêucầu: học để biết, học để làm, học để chung sống, để xây dựng sự phồn vinh củaquốc gia, dân tộc

Tạo ra sự thống nhất đồng bộ trong việc giáo dục giữ gìn BSVH dân tộc chohọc sinh dân tộc thiểu số của các lực lượng giáo dục

Góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục nói chung và giáo dục BSVH dân tộccho học sinh dân tộc thiểu số nói riêng của nhà trường

Góp phần thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về giáodục việc giữ gìn BSVH dân tộc Đặc biệt, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 của Đảng xác định một trong sáu đặctrưng của xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là: “Có nền văn hóa tiên tiến,đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc” Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảngtiếp tục nhấn mạnh: “phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nâng caochất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; quan tâm chăm

lo xây dựng, hoàn thiện những phẩm giá nhân cách tốt đẹp của con người ViệtNam”.[13]

Góp phần đảm bảo các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, nguồn kinh phí

Trang 36

để thực hiện giáo dục việc giữ gìn BSVH dân tộc cho học sinh dân tộc thiểu số trong điều kiện nước ta còn nghèo, Đảng và Nhà nước đã không ngừng tăng đầu tưngân sách cho giáo dục và đào tạo nhưng vẫn chưa đáp ứng tốt những yêu cầu của

sự nghiệp giáo dục Do đó, vừa phải tiếp tục tăng đầu tư ngân sách cho giáo dục, vừa phải huy động nhiều nguồn đầu tư khác từ các lực lượng xã hội, các cá nhân cho giáo dục; thực hiện phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm" để đầu tư cho giáo dục

1.3.2.2 Nội dung của công tác phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số.

Chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước từ luôn nhất quánkhẳng định: “Giáo dục là quốc sách” từ việc nhận thức rõ ý nghĩa chiến lược pháttriển kinh tế xã hội gắn bó chặt chẽ với nhiệm vụ giáo dục: “Nâng cao dân trí, đàotạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Chính vì vậy xây dựng nền giáo dục không chỉ

là bài toán riêng với các đơn vị sự nghiệp “trồng người” mà còn đòi hỏi sự chungtay của các tổ chức, lực lượng đặt trong mối quan hệ mật thiết giữa NHÀTRƯỜNG – GIA ĐÌNH – XÃ HỘI

Trong công tác phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục BSVH chohọc sinh người dân tộc thiểu số thì nhà trường nắm vai trò chủ đạo, tổ chức, thựchiện việc lên kế hoạch, tham mưu cho quản lý cấp trên, phối hợp với các lực lượngngoài nhà trường để triển khai kế hoạch, nội dung, thường xuyên thực hiện kiểmtra, giám sát và điều chỉnh kế hoạch, nội dung phù hợp với tình hình thực tế

Lực lượng giáo viên: là lực lượng chủ yếu trực tiếp tham gia, xây dựng kếhoạch và tổ chức thực hiện, giáo viên có kiến thức, tri thức khoa học vữngvàng Vì vậy cần tăng cường tổ chức các hoạt động bồi dưỡng nâng cao trình độ lýluận cũng như năng lực tổ chức các hoạt động GDBSVH cho học sinh người dântộc thiểu số

Lực lượng học sinh và phụ huynh học sinh: Nhận thức đầy đủ về vị trí, vaitrò, ý nghĩa của hoạt động GD BSVHDT cho bản thân, hình thành và phát triểnnhân cách toàn diện giữ gìn và phát huy BSVH các dân tộc

Lực lượng Đoàn thanh niên trong nhà trường và các xã, thị trấn, Hội phụ nữ

có vai trò phối hợp với nhà trường và các lực lượng cộng đồng khác trong giáo dụcBSVH cho học sinh người dân tộc thiểu số như tuyên truyền, tham gia tổ chức,phát động, thực hiện các phong trào, các hoạt động nhằm gìn giữ và phát triển văn

Trang 37

hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn.

Chính quyền địa phương, phòng văn hóa thông tin thực hiện chỉ đạo, giámsát thực hiện các nội dung văn hóa dân tộc, tổ chức các cuộc thi, lễ hội, khôi phụccác lễ hội văn hóa, đưa ra các nội dung tổng kết, đánh giá theo nội dung phối hợpvới nhà trường và các ban ngành trong giáo dục BSVH cho học sinh người dân tộcthiểu số

Các câu lạc bộ văn hóa xã có vai trò quan trọng trong việc duy trì BSVH củatừng dân tộc và văn hóa địa phương, tuyên truyền, hướng dẫn học sinh người dântộc thiểu số tham gia các hoạt động văn hóa

Huy động các lực lượng cộng đồng trong giáo dục học sinh người dân tộcthiểu số ý nghĩa, tầm quan trọng, cách thức, thói quen, tính tích cực, chủ độngtrong việc bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống và ý nghĩa củahoạt động phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục bảo tồn và phát triểnBSVH Vấn đề nhận thức là vấn đề đặc biệt quan trọng, khi có nhận thức đúng đắnthì mới có những hành động đúng đắn Nhận thức của các lực lượng xã hội thônghiểu sâu sắc thì việc thực hiện hoạt động giáo dục bảo tồn và phát huy văn hóa dântộc thiểu số cho học sinh người dân tộc thiểu số sẽ hiệu quả hơn qua đó tạo sựthống nhất trong nhận thức, hành động và nâng cao ý thức trách nhiệm của của cán

bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ học sinh trong hoạt động giáo dục bảo tồn và pháthuy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số cho học sinh

Huy động các lực lượng cộng đồng tham gia công tác tổ chức, quản lí hoạtđộng giáo dục học sinh người dân tộc thiểu số có ý thức bảo tồn và phát triểnBSVH dân tộc Năng lực thực hiện các chức năng quản lý gồm: năng lực lập kếhoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, cuối cùng

là tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục BSVH dân tộc chohọc sinh dân tộc thiểu số ở trường THPT Các lực lượng cộng đồng như ban phụhuynh, đoàn Thanh niên, các cơ quan ban ngành huyện, xã sẽ tham gia quá trình tổchức, quản lí này Lập kế hoạch giúp cho nhà trường có một bức tranh toàn cảnh vềthực trạng hoạt động giữ gìn giá trị văn hóa dân tộc cho học sinh dân tộc thiểusố: phân tích tình hình, đánh giá thực trạng của nhà trường; xác định điểm mạnh,điểm yếu, cơ hội và thách thức; xác định mục tiêu cần đạt, nội dung và chươngtrình phù hợp đặc điểm, tình hình của nhà trường; xác định các lực lượng tham gia,phối hợp; lực lượng chủ trì; phân tích nguồn tài chính, lựa chọn phương tiện, con

Trang 38

đường, chương trình hành động cụ thể để thực hiện các mục tiêu đã đề ra trong kếhoạch; hoàn thành kế hoạch, phê duyệt kế hoạch, điều chỉnh, bổ sung kếhoạch (nếu có)

Huy động các lực lượng cộng đồng tham gia hoạt động bồi dưỡng, phát triểnnăng lực cho các lực lượng chính giáo dục học sinh người dân tộc thiểu số ý thứcbảo tồn và phát triển BSVH dân tộc: xác định chức năng, nhiệm vụ của từng bộphận công tác, từng mảng công việc Phân chia toàn bộ công việc thành các nhiệm

vụ cụ thể cho các thành viên hay các bộ phận trong tổ chức một cách khoa học; lậpdanh sách công việc cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu đã đề ra trong kếhoạch; xác định thứ tự ưu tiên công việc của từng cá nhân, bộ phận; tổ chức khaithác và tiếp nhận nguồn lực phục vụ cho hoạt động; thiết lập cơ chế phối hợp, tạo

sự liên kết hoạt động giữa các thành viên và bộ phận trong nhà trường, cung ứngcác nguồn lực để đạt được mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục bảo tồn và pháthuy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số cho học sinh dân tộc, huy động các lực lượngcộng đồng tham gia phát triển hệ thống cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụhoạt động giáo dục người dân ý thức bảo tồn và phát triển BSVH dân tộc

Huy động các lực lượng cộng đồng tham gia quản lí, sử dụng các nguồn lựcphục vụ hoạt động giáo dục học sinh người dân tộc thiểu số ý thức bảo tồn và pháttriển BSVH Phối hợp đầu tư hạ tầng, cung cấp các trang thiết bị cần thiết phục vụhoạt động giáo dục Huy động mọi nguồn lực xã hội chăm lo cho sự nghiệp giáodục, tham gia xây dựng phong trào học tập và đảm bảo môi trường giáo dục lànhmạnh, an toàn

Huy động các lực lượng cộng đồng tham gia đánh giá kết quả của hoạt độnggiáo dục ý thức bảo tồn và phát triển và phối hợp sự tham gia của các lực lượng xã

hội, để thực hiện tốt công tác kiểm tra, đánh giá cần thực hiện theo trình tự các nội

dung dưới đây: Lập kế hoạch kiểm tra, xây dựng các tiêu chí đánh giá; thành lậpđoàn, tổ, nhóm kiểm tra, đánh giá; tiến hành kiểm tra, đánh giá; báo cáo đánh giákết quả kiểm tra, đánh giá

Xây dựng cơ chế liên kết, xác định vai trò trách nhiệm của chính quyền địaphương, các thành viên của cộng đồng trong giáodục, gia đình học sinh có tráchnhiệm thường xuyên trao đổi, phối hợp cùng nhà trường và kết hợp các tổ chức

Trang 39

đoàn thể chính quyền giáo dục con em mình; đồng thời đứng ra chịu trách nhiệm

về hành vi vi phạm do con em mình gây ra

Cha mẹ học sinh được quyền tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến về nộidung, chương trình, phối hợp với nhà trường để giáo dục học sinh như đề nghị nhàtrường thường xuyên gửi sổ liên lạc có đánh giá rõ mức độ tiến bộ học tập và rènluyện đạo đức của con em mình; chủ động tham gia các hoạt động giáo dục theo kếhoạch của nhà trường; yêu cầu nhà trường, cơ quan quản lý giáo dục giải quyếtmọi vấn đề có liên quan đến việc giáo dục con em mình theo qui định

Chính quyền địa phương các xã, thị trấn có quyền yêu cầu nhà trường báocáo kịp thời về kết quả thực hiện nhiệm vụ giáo dục của đơn vị; yêu cầu nhàtrường thực hiện phối hợp để triển khai, những chủ trương, chính sách, nhiệm vụ

có liên quan tới giáo dục cho học sinh

1.3.2.3 Các hình thức phối hợp lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh người dân tộc thiểu số trường THPT.

- Phối hợp các lực lượng cộng đồng thông qua các cuộc họp, hội nghị, tọa đảm phổ biến kiến thức:

Các cuộc họp, hội nghị hội thảo, tọa đàm phổ biến kiến thức về giáo dục, vềvăn hóa, xây dựng đất nước trong thời kỳ hội nhập là rất bổ ích Thông qua buổinói chuyện, chia sẻ với những chuyên gia, người tham dự sẽ tiếp thu được nhiềukiến thức, nhìn rõ vấn đề Từ đó đưa ra các phương hướng và biện pháp khắc phụcmột cách hiệu quả nhất

Nhà trường và chính quyền địa phương cần kết hợp, đầu tư tổ chức nhiềucuộc hội thảo, tọa đàm và đại đa số là phụ huynh học sinh, các tầng lớp dân cư vàthanh thiếu niên tham dự Đây chính là hình thức tuyên truyền hữu hiệu nhất đểnâng cao nhận thức vào sự hiểu biết cho cộng đồng xã hội

Việc giáo dục BSVH dân tộc cho học sinh cần sự kết hợp của nhà trường,gia đình và xã hội Chính vì vậy thông qua các buổi chia sẻ kinh nghiệm của cácchuyên gia, cộng đồng xã hội, nhất là các bậc phụ huynh sẽ tìm ra phương hướng

và biện pháp giáo dục để đạt được mục tiêu trong giáo dục con em mình về kiếnthức, phẩm chất, kỹ năng sống, pháp luật, rèn luyện đạo đức, xây dựng lối sốnglành mạnh để trở thành người công dân có ích cho xã hội

Trong giáo dục, tổ chức các cuộc họp phụ huynh là rất quan trọng để giađình năm bắt được ý thức học tập và đạo đức của con em mình Từ đó về nhà, cha

mẹ sẽ có biện pháp uốn nắn và giáo dục các em

Trang 40

Mặt khác thông qua các cuộc họp phụ huynh, giáo viên chủ nhiệm sẽ nắmbắt rõ hơn về hoàn cảnh gia đình các em, có sự kết nối chặt chẽ giữa phụ huynh vàgiáo viên chủ nhiệm Từ đó giáo viên có thể đổi mới được phương pháp giáo dụctheo chiều hướng tích cực đối với từng cá nhân học sinh.

Đề cuộc họp phụ huynh thành công và có hiệu quả đòi hỏi giáo viên chủnhiệm phải vận động được các em, liên lạc trực tiếp qua điện thoại tới từng giađình học sinh trong việc cố gắng bảo bố mẹ các em có mặt đầy đủ trong cuộc họp

Có như vậy sự kết hợp giữa gia đình và nhà trường trong giáo dục học sinh mới đạtkết quả tốt nhất

Giáo dục nhân cách con người một cách toàn diện không những cần giáodục tốt trong nhà trường mà còn phải giáo dục tốt ở địa phương cư trú Sự tham giavào giáo dục các học sinh tại địa phương cư trú thông qua các buổi họp củaphường, xã, thôn cũng là yếu tố rất quan trọng để giáo dục các em nhân cách sống,xây dựng nếp sống văn hóa lành mạnh, biết tránh xa các tệ nạn xã hội, bảo vệ môitrường sống và làm việc thiện

Hình thức phối hợp này đòi hỏi có sự quan tâm của chính quyền địa phươngtrong khâu tổ chức để lôi kéo đông đảo các em học sinh trên địa bàn tham gia

- Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng:

Sự phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục thông qua hình thức làcác phương tiện truyền thông đại chúng như : tivi, báo, đài, website, mạng xã hội

sẽ đem lại hiệu quả rất cao trong việc huy động toàn bộ lực lượng cộng đồng trong

xã hội để giáo dục cho thế hệ trẻ, phấn đấu xây dựng tương lai đất nước văn minh

và hiện đại trong thời kỳ đối mới

Đề làm tốt hình thức này đòi hỏi sự đầu tư và lên kế hoạch triển khai của nhàtrường và các Ban ngành, chính quyền Liên quan đến giáo dục và địa phương.Tăng cường các bài viết tuyên truyền, các hình ảnh và các thước phim về phối hợpcộng đồng trong sự nghiệp giáo dục

- Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục thông qua tổ chức các cuộc thi, ngoại khóa:

Thông qua việc tổ chức ngoại khóa ở nhà trường để giáo dục BSVH cho họcsinh THPT với các hình thức như:

Với bộ môn văn học có thể tổ chức ngoại khóa với chủ đề: thi tìm hiểu vănhóa, trình diễn trang phục dân tộc, thi văn nghệ, ca dao, dân ca các dân tộc qua đólàm cho các em học sinh thêm yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào về dân tộc mình

Ngày đăng: 06/08/2020, 16:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2001), Việt Nam văn hoá sử cương, NXB Hội nhà văn, Hà Nội 2. Đặng Quốc Bảo – Nguyễn Thị Thu Hiền (2013), Một số vấn đề lý luận và thựctiễn về quản lý trường THPT vùng cao, NXB Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương", NXB Hội nhà văn, Hà Nội2. Đặng Quốc Bảo – Nguyễn Thị Thu Hiền (2013), "Một số vấn đề lý luận và thực "tiễn về quản lý trường THPT vùng cao
Tác giả: Đào Duy Anh (2001), Việt Nam văn hoá sử cương, NXB Hội nhà văn, Hà Nội 2. Đặng Quốc Bảo – Nguyễn Thị Thu Hiền
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2013
3. Ngô Vĩnh Bình, Nguyễn Khắc Tụng (1975), Đại gia đình các dân tộc Việt Nam, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại gia đình các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Ngô Vĩnh Bình, Nguyễn Khắc Tụng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1975
4. Trần Văn Bính (2004), Văn hóa các dân tộc Tây Bắc - thực trạng và những vấn đề đặt ra, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Tây Bắc - thực trạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
5. Trần Văn Bính (1996), Văn hóa dân tộc trong quá trình mở cửa ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Văn hóa dân tộc trong quá trình mở cửa ở nước ta hiện nay
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
7. Hoàng Hữu Bình (1998), Các tộc người ở miền núi phía Bắc, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tộc người ở miền núi phía Bắc
Tác giả: Hoàng Hữu Bình
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1998
8. Bộ văn hóa – thông tin (2004), Tiếp tục đẩy mạnh công tác văn hóa – thông tin ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, NXB Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đẩy mạnh công tác văn hóa – thông tin ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Tác giả: Bộ văn hóa – thông tin
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 2004
9. Nông Quốc Chân – Hoàng Tuấn Cư – Vi Hồng Nhân (1996), Giữ gìn, bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, NXB văn hóa dân tộc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn, bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Nông Quốc Chân – Hoàng Tuấn Cư – Vi Hồng Nhân
Nhà XB: NXB văn hóa dân tộc Hà Nội
Năm: 1996
12. Khổng Diễn (1996), Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phíaBắc
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1996
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn Kiện Đại Hội Đảng Thời Kỳ Đổi Mới Và Hội Nhập (Đại Hội VI, VII, VIII, IX, X, XI), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Kiện Đại Hội Đảng Thời Kỳ Đổi MớiVà Hội Nhập (Đại Hội VI, VII, VIII, IX, X, XI)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2013
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2016
15. Nguyễn Khoa Điềm (2001), Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, NXB Văn hoá – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: NXB Văn hoá – Thông tin
Năm: 2001
16. Nguyễn Kim Liên (2008), Giáo trình phát triển cộng đồng , NXB Lao động - Xã hội 17. Hồ Chí Minh (1996), Báo cáo chính trị tại đại hội toàn quốc lần 2 của Đảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phát triển cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Kim Liên (2008), Giáo trình phát triển cộng đồng , NXB Lao động - Xã hội 17. Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội17. Hồ Chí Minh (1996)
Năm: 1996
19. Vũ Ngọc Khánh (2004), Truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tập I, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tập I
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2004
20. Ngô Văn Lệ (1998), Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Văn Lệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
21. Hoàng Lương (2002), Lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ở miền BắcViệt Nam
Tác giả: Hoàng Lương
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2002
24. Trần Thị Tuyết Oanh (Chủ biên, 2006), Giáo trình Giáo dục học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Giáo dục học
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
25. Nguyễn Ngọc Thanh (Chủ biên, 2018), Đặc trưng văn hóa Tây Bắc, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng văn hóa Tây Bắc
Nhà XB: NXBKhoa học xã hội
27. Ngô Đức Thịnh (2006), Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2006
28. Thông báo tại Hội nghị Venise (1970), Chính sách văn hóa, do UNESCO tổ chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách văn hóa
Tác giả: Thông báo tại Hội nghị Venise
Năm: 1970
31. Ủy ban nhân dân huyện Than Uyên (2018), “Báo cáo tình hình phát triển kinh tế xã hội 6 tháng cuối năm 2018 và những nhiệm vụ trọng tâm cơ bản” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo tình hình phát triển kinhtế xã hội 6 tháng cuối năm 2018 và những nhiệm vụ trọng tâm cơ bản
Tác giả: Ủy ban nhân dân huyện Than Uyên
Năm: 2018

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w