1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo " Một vài nhận xét về giáo dục ngôn ngữ cho vùng dân tộc miền núi ở Việt Nam trong chặng đường 55 năm qua" docx

8 645 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 378,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và để thực hiện nhiệm vụ chung ấy, một trong những nhiệm vu cu thể được đặt ra là phải phát triển văn hoá của đồng bào dân tộc, /rong đó nhiệm vụ giáo dục ngôn ngữ có một vai trò quan t

Trang 1

MOT VAI NHAN XET VE GIAO DUC NGON NGU CHO VUNG DAN TOC MIEN NUI G VIET NAM TRONG CHANG DUONG 55 NAM QUA

PGS TS Tran Tri Doi

L Vùng dân tộc miền núi nước ta là một khu vực dân cư chủ yếu

là đồng bào các dân tộc thiểu số Hiện nay, đây là vùng lãnh thổ của khoang 40 tinh trong, cả nước, với diện tích tự nhiên là 230 ngàn kmỶ, bằng 75% đất đai của Tổ quốc, với số dân khoảng 24 triệu người, chiếm 30% dân số chung của cả nước Vùng lãnh thổ này có gần 4.000km đường biên giới chung với các nước Trung Quốc, Lào và

Campuchia Do đó, đây là một địa bàn trọng yếu về chính trị, kinh tế,

an ninh - quốc phòng, văn hoá - xã hội của đất nước

Tuy nhiên, vùng dân tộc miền núi nước ta lại là một vùng có điều

kiện tự nhiên hết sức khó khăn Do có địa hình phức tạp, giao thông kém phát triển, vùng lãnh thổ này tạo ra những tiểu vùng miền biệt lập đặc thù, gây nên những khó khăn không dễ vượt qua cho sự phát triển kinh tế-xã hội Cùng với sự khó khăn về điều kiện tự nhiên ấy, nơi đây

- còn là vùng lãnh thổ có đời sống kinh tế — xã hội rất thấp kém Vào thời điểm hiện nay, do hạ tầng xã hội lạc hậu, đời sống của đồng bào thiểu số vẫn còn hết sức nghèo nàn Theo con số thống kê năm 1995 của Ban Dân tộc miền núi Quảng Bình, thu nhâp bình quân tháng của đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây bình quân 33 000d/nguoi/thang, trong đó nguồn trợ giúp thường xuyên từ Nhà nước và các tổ chức xã hội chiếm gần 20% [3; 17] Hay như theo số liệu của Ban Dân tộc tỉnh Daklak, một tỉnh dân tộc miền núi có nền kinh tế khá phát triển, nơi đây còn hơn 100 thôn bản thuộc 30 xã phường, với hơn 145.000 người (mà chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số) thuộc diện đói nghèo, kinh tế tự cung tự cấp [4: 48] Trong diều kiện tự nhiên và xã hội như vậy, vùng dân tộc miền núi bị khép kín “trong thé bi bao vay cua hang rào lãnh thổ” [5; 33] Nói một cách khác, vùng dân tộc miền núi chưa

152

Trang 2

tương xứng với vị thế địa-chính trị của nó, nhất là trong đòi hỏi phát triển đất nước theo con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá

2 Trong một thực tế như vậy, ngay từ khi giành được độc lập dân tộc bằng cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 vĩ đại, Nhà nước ta đã

ý thức rất rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc miền núi Và để thực hiện nhiệm vụ chung ấy, một trong những nhiệm vu cu thể được đặt ra là phải phát triển văn hoá của đồng bào dân tộc, /rong

đó nhiệm vụ giáo dục ngôn ngữ có một vai trò quan trọng BỞI Vì,

trong địa bàn dân tộc của nước ta, có tới trên 50 ngôn ngữ khác nhau

là tiếng mẹ đẻ của các dân tộc Với bức tranh đa ngữ đó, để các dân tộc có thể giao tiếp được với nhau, bình đẳng cùng phát triển, vai trò

của ngôn ngữ với tư cách là công cụ giao tiếp thật nặng nề Vì thế nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá-xã hội của vùng đặc thù này

không thể không tính đến vắn đề giáo dục ngôn ngữ và rất có thể, nó

lại là bước đi đầu tiên và là công cụ để thực hiện nhiệm vụ to lớn đó

2.1 Có thể nói, một trong những thành tựu quan trọng trong 55

năm qua của Nhà nước ta trong lĩnh vực giáo dục ngôn ngữ cho vùng dân tộc miền núi là xác lập được một chính sách đúng đắn về vấn đề này Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Bộ Quốc gia Giáo đục (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã chỉ thị “Từ nay (tức niên

học 1946-1947 — T.T.D) tất cả các khoa học đều dạy bằng tiếng Việt”

Chính nhờ sớm xác định tiếng Việt có một vị trí xứng đáng của mình trong một quốc gia đa đân tộc độc lập như nước ta mà nó đã tạo tiên -

đề vững chắc cho vị thế ngôn ngữ quốc gia của tiếng Việt Điều này đã góp phần đảm bảo cho sự bình đẳng giữa các dân tộc ở nước ta, đảm

bảo cho sự đoàn kết dân tộc của nước ta, một thực tế mà không phải quốc gia nào ở khu vực Đông Nam Á sau khi giành được độc lập đều

làm được

Tiếp theo bước đi đúng đắn ấy, đến năm 1969, Quyết định 153 -

CP của Thủ tướng Chính phủ đã cụ thể hoá vai trò của tiếng Việt trong

đời sống đồng bào dân tộc thiểu số “Tất cả các dân tộc trên lãnh thổ

Việt Nam đều cần học và dùng tiếng, chữ phổ thông là ngôn ngữ

chung của cả nước Nhà nước cần ra sức giúp đỡ các dân tộc thiểu số

học biết nhanh tiếng, chữ phổ thông” Và với Quyết định 53-CP của

153:

Trang 3

Hội đồng Chính phủ (1980), tiếng Việt thật sự được công nhận như một công cụ giao lưu và phát triển về mọi mặt đời sống của người dân

tộc thiểu số, là phương tiện đoàn kết, là phương tiện thực hiện quyền

bình đẳng giữa các dân tộc Quyết định nêu rõ rằng “tiếng và chữ phổ thông là ngôn ngữ chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam Nó là

phương tiện giao lưu không thể thiếu được giữa các địa phương và các dân tộc trong cả nước, giúp cho các địa phương và các dân tộc có thể phát triển đồng đều các mặt kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật v.v tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và thực hiện quyền bình đẳng dân tộc” Quan điểm khoa học này được tiếp tục khẳng định trong Luật phổ cập giáo dục tiểu học (1991) và Luật giáo đục (1998) đã được Quốc hội nước ta thông qua

Có thể nói, những quyết định cực kỳ quan trọng của Nhà nước ta

về vai trò của tiếng Việt trong đời sống cộng đồng các dân tộc thiểu số

đảm bảo cho nhiều dân tộc dù hiện nay đang ở trình độ phát triển thấp

vẫn có cơ hội vươn lên ngang bằng với các dân tộc khác Bởi lẽ tiếng Việt là công cụ thực sự để phát triển các dân tộc thiểu số, nơi mà tiếng

mẹ đẻ của họ chưa thể hoặc không thể làm được chức năng ấy Sự phát

triển của nhiều dân tộc, trình độ học vấn cao của nhiều cán bộ người

dân tộc thiểu số mà chúng ta có hiện nay là bằng chứng sinh động của

55 năm qua chứng minh cho tính đúng đắn trong chính sách ngôn ngữ

của Nhà nước ta

_ 2.2 Tinh dung đắn của chính sách giáo duc ngôn ngữ cho vùng dân tộc thiểu sô không chỉ thuần tuý là việc xác định vai trò ngôn ngữ quốc gia của tiếng Việt mà còn là sự nhận thức đúng giá trị của tiếng

mẹ đẻ các dân tộc trong sự phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là phát

triển bản sắc văn hoá của họ Bên cạnh việc khuyến khích, tổ chức và tạo điều kiện để tiếng Việt thực sự là công cụ, động lực phát triển của

các đân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn tôn trọng và quan tâm đến quyền được sử dụng và phát triển tiếng mẹ đẻ của các dân tộc thiểu số Từ năm 1941 Đảng ta đã xác định trong nghị quyết của mình

là “văn hoá của mỗi dân tộc sẽ được tự do phát triển, tồn tại và được bảo đảm” Hiến pháp 1960 thừa nhận” các dân tộc có quyền duy trì

hoặc sửa đổi phong tục, tập quán, dùng tiếng nói, chữ viết phát triển văn hoá dân tộc mình” Điều này được khẳng định lại trong cả hai

154

Trang 4

Hiến pháp 1980 va 1992 rang “cdc dân tộc có quyền dùng tiếng nói

chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống văn hoá tốt đẹp của mình” |

Những quyền cơ bản của việc phát triển tiếng mẹ dé trong các dân

tộc thiểu số không chỉ có ở các luật cơ bản của Nhà nước mà còn được

thể hiện ngay trong các nghị quyết của Chính phủ Quyết định 53-CP

của Hội đồng chính phủ ghi rõ:“tiếng nói và chữ viết hiện có của các

dân tộc thiểu số được Nhà nước tôn trọng, duy trì giúp đỡ và phát triển” Và năm 1997, để hướng dẫn việc dạy và học tiếng nói chữ viết dân tộc theo tinh thần Quyết định 53-CP và Luật phổ cập giáo dục tiểu học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có thông tư số 1-GD-ĐT ghi rõ “các

dân tộc thiểu số có quyền sử dụng tiếng nói và chữ viết của dân tộc

mình cùng tiếng Việt để thực hiện giáo dục tiểu học”

Quan điểm của Nhà nước ta trong việc thực hiện chính sách giáo

dục ngôn ngữ cho đồng bào các dân tộc thiểu số để làm sao cho tiếng Việt cũng như tiếng mẹ đẻ các dân tộc trở thành công cụ đích thực cho

sự phát triển về mọi mặt đời sống xã hội của từng tộc người, từng vùng

lãnh thổ là một quan điểm đúng đắn và tiến bộ nhất Và đó chính là

thành tựu có tính chiến lược trong sự nghiệp giáo dục ngôn ngữ cho

vùng dân tộc miền núi ở nước ta

3 Chính nhờ có một chính sách đúng đắn như vậy mà trong 55 năm qua, sự nghiệp giáo dục ngôn ngữ cho vùng dân tộc miền núi đã

thu được những thành quả thật đáng trân trọng Thành quả ấy có được

ở cả nhiệm vụ giáo dục tiếng Việt, với tư cách là ngôn ngữ quốc gia, cho người dân tộc lẫn việc giáo dục tiếng dân tộc cho người dân tộc

Đó chính là thành quả thu được trong việc thực hiện giáo đục song ngit

tiếng Việt ~ tiếng mẹ để cho địa bàn đặc thù mà chúng ta đang nói tới

Ở bình diện giáo dục tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ quốc gia, chúng ta đã làm được nhiều việc Nét nổi bật nhất ở đây là nhờ sử

dụng tiếng Việt như một công cu học tập, hiện nay chúng ta đã có một đội ngũ các nhà khoa học thuộc cac dân tộc khác nhau, các nhà lãnh

đạo người dân tộc thuộc nhiều cấp khác nhau Trong thực tế nếu họ không được thụ hưởng một sự giáo dục tiếng Việt hoàn chỉnh, họ

155

Trang 5

không thể có được cương vị khoa học hay xã hội như hiện nay Hay như đối với một số dân tộc, ví dụ như những dân tộc sống ở địa bàn

tỉnh Lào Cai, đã có một số lượng không ít có học vấn từ tốt nghiệp đại học trở lên Số liệu của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lào Cai (1995) cho chúng ta thấy rõ điều đó [3; 33]

SL} % | SL | % [SL] % | SLI %

4 |Méng _ | 132.884} 338 | 0,3 | 47 | 0,03 | 82 | 0,06 | 11 | 0,11

2 |Tay 50.261 | 1392 | 2,6 | 86 | 0,10 | 130 | 0,20 | 25 | 0,05

3 |Dao 47.264 | 9549 | 20,2| 1676 | 4,00 | 528 | 1,00 | 580 | 1,50

4 |Thái 32.864 | 2155 | 6,8 | 115 | 0,30 | 203 | 0,06 | 33 | 0,10

5 |Nung | 32860 | 2694 | 82 | 289 | 0.90 |306 | 1/00 | 46 | 0,15 6_ |Giáy 18.040 | 1050 | 5,8 | 88 | 0,60 | 97 | 0,70 , 37 | 0,30

7 lHoa | 1.126 | 233 |20,7} 67 | 6,00 | 34 | 3,00 , 10 | 1,00

Trong tình trạng chưa đủ số liệu phản ánh toàn diện các vùng dân

tộc miền núi, con số nói trên ở tình Lào Cai đã phần nào cho chúng ta thấy những thành quả cụ thể của giáo dục nói chung trong đó có giáo dục tiếng Việt nói riêng ở vùng dân tộc thiểu số

Cùng với vấn đề giáo dục tiếng Việt là vấn đề giáo dục tiếng mẹ

đẻ cho các dân tộc thiểu số Trong 55 năm qua, ở địa hạt này chúng ta

đã thu được những thành tựu thực đáng trân trọng Ý thức được vai trò

của tiếng mẹ đẻ trong đời sống văn hoá xã hội vùng dân tộc miền núi, Nhà nước ta đã kiên trì chủ trương xây dựng và giáo dục ngôn ngữ

dân tộc cho người dân tộc Tính đến hiện nay trong số 53 dân tộc thiểu

số, ngoài một số dân tộc có chữ viết cổ truyền thống, chúng ta vừa

góp phần xây dựng vừa góp phần duy trì chữ viết La tỉnh cho 21 dân

tộc/ nhóm tộc người Đó là van tu La tinh của người Tầày- Ning, người - Thái, người Mông (Hmông) ở miền Bắc, là văn tự La tỉnh của người Van-Kiéu, Ko Tu, Pa C6, Mn4ng, Ko Ho, Edé, Chăm v.v ở miền Nam Nhờ có được văn tự La tinh này, đã timg cé thoi ky, nguoi Tay

Nùng, Mông ở phía Bắc có phong trào đi học chữ viết của dân tộc

mình khá đông đảo Ở phía Nam cho đến hiện nay người Chăm, người

156

Trang 6

Êđê, người Ba Na, người Gia Rai v.v vẫn đang duy trì phong trào học

chữ và tiếng của dân tộc mình cùng với việc thụ đắc tiếng Việt Những

_ kết quả thu được nhằm thực hiện chính sách giáo dục tiếng mẹ đẻ của

các đân tộc thiểu số, tuy chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tế, nhưng

là những kết quả cơ bản, phản ánh những cố gắng thực sự của giới

nghiên cứu ngôn ngữ văn hoá các dân tộc cũng như của những người

thực thi chính sách giáo dục nói chung, giáo dục ngôn ngữ cho địa bàn

dân tộc miền núi nói riêng

4 Tuy nhiên, theo đánh giá của chúng tôi, những gì chúng ta đã

làm được trong lĩnh vực giáo dục ngôn ngữ cho đồng bào dân tộc thiểu

số trong 55 năm qua là chưa đủ, đặc biệt là trong điều kiện phát triển

xã hội theo hướng hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước như hiện

nay Sự bất cập ấy thể hiện ở nhiều mặt khác nhau của vấn đề và rất có

thể chính nó gây ra những tác động tiêu cực cho xã hội dân tộc miền

- núi nói riêng và cả nước nói chung

Như chúng tôi đã phân tích ở trên, nếu như thành quả nổi bật nhất của sự nghiệp giáo dục ngôn ngữ cho vùng dân tộc miền núi là xác

_định được một chính sách đúng thì những nhược điểm chính của công

VIỆC này là ở sự thực thi để đảm bảo tính hiện thực của chính sách ấy

Theo tổng kết của ông Cư Hoà Vần nếu "số người mù chữ của cả nước

là 16% thì vùng dân tộc thiểu số là 41% (trong đó có dân tộc Mông là

90%)” [5;96], do đó "có nơi người nghèo là 100% thì dân tộc thiểu số

chiếm 90% trong đó" [5;96] Cũng vậy, tỷ lệ học sinh phổ thông trung

học tới trường ở tỉnh Lào Cai năm 1995 vừa dẫn ra ở trên đã thể hiện

một thực tế không hề sáng sủa Như vậy, có thể nói vào thời điểm hiện

nay, thực tế giáo dục ngôn ngữ (ở đây là tiếng quốc gia) cho vùng dân

tộc miền núi chưa làm được là bao Và nếu đặt nó trong nhu cầu phát

triển bình đẳng giữa các dân tộc trong cả nước, xây dựng một đất nước

công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì chúng ta còn thật quả nhiều công

việc phải làm, còn thật quá nhiều vấn đề phải giải quyết

Nếu như việc giáo dục tiếng quốc gia cho đồng bào dân tộc miền núi là như vậy thì việc giáo dục tiếng mẹ đẻ của họ trong thực tế cũng

_ "lên thác xuống ghếnh” Chúng ta dẫn ra một vài trường hợp làm ví

dụ Theo số liệu của Hoàng Văn Ma [§;203] vào năm hoc 1967- 1968,

157

Trang 7

phong trào người Tày Nùng học chữ Tày Nùng đông nhất với số lượng 1.000 lớp gồm khoảng 37.240 học sinh Đến niên khoá 1977-1978 con

số ấy giảm dần và đến nay "lòng dân, lòng cán bộ Tày Nùng đối với

việc dạy chữ đã nguội lạnh" [S;210] Hay như trường hợp dân tộc Thái, theo Cam Trọng [8;281], hiện nay về đại thể việc học chữ và.tiếng Thái coi như bị bỏ hẳn, những nơi nào còn học thì phần lớn là tự phát hoặc là "nơi thí điểm" Ngay như người Chăm ở Ninh Thuận, một tỉnh

có phong trào học chữ Chăm khá vững chắc, tỷ lệ học sinh học chữ

Chăm năm học 1996-1997 cũng chỉ là 8.340 học sinh trên 41.786

người dân (gần 20%) [3;63].Rõ ràng theo cách nhìn toàn cục người ta

không thể nói tình trạng ấy là một sự thành công được

5 Nhu vay, trong vấn đề giáo dục ngôn ngữ cho đông bào dân tộc

thiểu số ở miên núi nước ta thời gian vừa qua có sự không tương hợp

giữa một chính sách đúng với một thực tế thực thi chính sách Thực trạng ấy do rất nhiều nguyên nhân khác nhau tác động, chi phối Do

đó, muốn có một thành quả đáp ứng đầy đủ đòi hỏi phát triển văn hoá

xã hội của vùng dân tộc thiểu số, công việc phải được tiến hành trên cơ

sở phân tích một cách chính xác các nguyên nhân và mối quan hệ giữa chúng mà không thể dựa vào nhìn nhận chủ quan của một bộ

Chúng tôi cho rằng, muốn phát triển toàn diện vùng lãnh thổ dân

tộc thiểu số miền núi, đáp ứng quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là

"bình đẳng dân tộc, đại đoàn kết dân tộc, tạo điều kiện giúp nhau cùng

phát triển, thống nhất trong đại gia đình dân tộc Việt Nam" [5;34-35]

không thể không phát triển vững chắc nền giáo dục ở đây Bởi lẽ, giáo

dục một mặt là thước đo của trình độ phát triển kinh tế văn hoá xã hội, một mặt là công cụ, là động lực để thực hiện nhiệm vụ phát triển ấy

Trong các vấn đề của giáo dục, giáo dục ngôn ngữ phải là ưu tiên hàng

đầu vì nó chính là phương tiện để thực thi những nội dung khác Nhìn

nhận đúng những thành công và chưa thành công trong 55 năm qua ở địa hạt này sẽ thực sự là một bài học hữu ích cho chúng ta

158

Trang 8

TAI LIEU THAM KHAO

1 Các văn bản của Đảng và Nhà nước Việt Nam vé ngén ngit (tit 1946

đến nay) Chương trình cấp nhà nước về "chính sách ngôn ngữ”, Hà

Nội, 1986 (tài liệu Viện ngôn ngữ học)

2 Trần Trí Dõi: Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam

NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1999, 301 tr

3 Trần Trí Dõi: Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền

núi một số tỉnh của Việt Nam NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1999,

123 tr

4 Mai Văn Mô: Giáo dục tiếng Việt trong hệ thống giáo dục song ngữ

cho người dân tộc thiểu số trên địa bàn ĐakLak - từ cách nhìn thực

tiên, Luận văn cao học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,

Hà Nội, 2000, 107tư

5 Nhiều tác giả: Văn hóa và sự phát triển các dân tộc ở Việt Nam

NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1996, 540 tr,

6 Viện Dân tộc học: 50 năm các dân tộc thiểu số Việt Nam (1945-

1995) NXB Khoa học Xã hội , Hà Nội, 1995, 296 tr

7 Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh: Giáo dục ngôn:

ngữ và sự phát triển văn hoá của các dân tộc thiểu số phía Nam

NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, 378 tr

8 Viện Ngôn ngữ học: Những vấn đề chính sách ngôn ngữ ở Việt

Nam NXB Khoa hoc Xã hội, Hà Nội, 1993, 325 tr

9 Viên Ngôn ngữ học: Cảnh huống và chính sách ngôn ngữ ở các

quốc gia đa dân tộc NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997, 219 tr

159

Ngày đăng: 27/02/2014, 03:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w