Luận văn thạc sĩ Huy động các nguồn lực cộng đồng trong chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở các trường mầm non là một công trình nghiên cứu giúp các bạn học chuyên ngành giáo dục và giáo dục phát triển cộng đồng có thể tham khảo để hoàn thiện tốt khóa học của mình. Luận văn với cơ sở lí luận chặt chẽ, số liệu khảo sát khách quan nên các bạn có thể tham khảo và tải để vận dụng.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH TÌNH
HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG CHUẨN BỊ CHO TRẺ VÀO LỚP MỘT Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH TÌNH
HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG CHUẨN BỊ CHO TRẺ VÀO LỚP MỘT Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ LAI CHÂU
Chuyên ngành: Giáo dục và Phát triển cộng đồng
Mã ngành: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hoàng Thanh Thuý
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn “Huy động các nguồn lực cộng đồng trong
chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở các trường mầm non trên địa bàn Thành phố Lai Châu” là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn
trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ côngtrình nào đã được công bố trước đó
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Hà Nội, tháng 6 năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Tình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin được bày tỏ lòng biết ơn sâusắc tới tập thể các Thầy giáo, Cô giáo Khoa Tâm lý - Giáo dục học đã tận tìnhgiảng dạy và cung cấp những kiến thức quý báu, tạo điều kiện thuận lợi cho tất cảcác học viên nói chung và tác giả nói riêng trong suốt quá trình học tập và nghiêncứu để tác giả có những kỹ năng cần thiết thực hiện luận văn này
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đếnPGS.TS Hoàng Thanh Thuý, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trongsuốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn Xin chân thành cảm ơn phòngGD&ĐT thành phố Lai Châu, Đảng ủy, UBND các xã/phường, các tổ chức, đoàn
và các trường mầm non thành phố Lai Châu đã tạo điều kiện về thời gian, cung cấp
số liệu, đóng góp nhiều ý kiến cho tác giả khi nghiên cứu và thực hiện đề tài
Hà Nội, tháng 6 năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Tình
Trang 5PTTC : Phát triển tình cảm
Trang 6Bảng 2.4 Mức độ thực hiện các nội dung chuẩn bị cho trẻ vào lớp một
Bảng 2.5 Thực trạng các hoạt động chuẩn bị cho trẻ vào lớp một
Bảng 2.6 Phương pháp chuẩn bị cho trẻ vào lớp một
Bảng 2.7 Thực trạng kết quả đạt được về ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ 5 - 6 tuổiBảng 2.8: Mức độ PTTC và KNXH hiện có của trẻ 5 - 6 tuổi các trường mầmnon thành phố Lai Châu
Bảng 2.9 Thực trạng về mức độ cần thiết các lực lượng cộng đồng tham giachuẩn bị cho trẻ vào lớp một
Bảng 2.10 Thực trạng nhận thức của các lực lượng về tầm quan trọng huyđộng các nguồn lực cộng đồng trong chuẩn bị cho trẻ vào lớp một
Bảng 2.11 Thực trạng mục đích huy động các nguồn lực cộng đồng trongchuẩn bị cho trẻ vào lớp một
Bảng 2.12 Thực trạng nội dung huy động các nguồn lực cộng đồng trongchuẩn bị cho trẻ vào lớp một
Bảng 2.13 Thực trạng nội dung huy động về cơ sở vật chất trong việc chuẩn
bị cho trẻ vào lớp một
Bảng 2.14 Thực trạng nội dung huy động về tài chính trong việc chuẩn bị chotrẻ vào lớp một
Trang 7Bảng 2.15 Thực trạng các hình thức huy động các nguồn lực cộng đồng trongchuẩn bị cho trẻ vào lớp một
Bảng 2.16 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động các nguồn lựccộng đồng trong chuẩn bị cho trẻ vào lớp một trên địa bàn thành phố Lai ChâuBảng 2.17 Thực trạng mức độ hài lòng của gia đình về việc phối hợp cáclực lượng cộng đồng tham gia chuẩn bị cho trẻ vào lớp một trên địa bàn thànhphố Lai Châu
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp đã đề xuấtnhằm huy động cộng đồng trong chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở các trường mầm nontrên địa bàn Thành phố Lai Châu
Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đã đề xuấtnhằm huy động cộng đồng trong chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở các trường mầm nontrên địa bàn Thành phố Lai Châu
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ mẫu giáo vào lớp một là bước ngoặt lớn đối với bản thân trẻ và gia đình,phụ huynh có con em ở độ tuổi này Các nghiên cứu của các nhà khoa học, tâm lýgiáo dục cho thấy: 6 tuổi là độ tuổi vừa “chín” để có thể bước vào lớp một Do đó,khi chưa tròn 6 tuổi, các yếu tố về thể lực, kỹ năng, tâm lý của trẻ chưa đáp ứngđược yêu cầu về vận động, sinh hoạt, giao tiếp, học tập của học sinh lớp một Bướcvào trường phổ thông là một bước ngoặt lớn trong đời sống của trẻ, đó là sự chuyểnqua một lối sống mới với những điều kiện hoạt động mới, chuyển qua một địa vịmới trong xã hội, chuyển qua những quan hệ mới với người lớn và bạn bè cùngtuổi Bởi vậy Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Ngọc Đại đã có lý do cho rằng, 6 tuổi là mộtbước ngoặt hạnh phúc Sau 6 tuổi em sẽ đến với thầy với bạn, đến với nền vănminh nhà trường hiện đại để có thêm những gì không có, không thể có trong quákhứ 6 năm qua của cuộc sống thường ngày ở gia đình và trường mẫu giáo Vì vậy,việc chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lý, thể chất và trí tuệ cho trẻ đến học tập ởtrường phổ thông là nhiệm vụ quan trọng vào bậc nhất của giáo dục mẫu giáo, đặcbiệt là độ tuổi mẫu giáo lớn nhằm giúp trẻ có đủ tự tin, tâm thế để thực hiện mộtbước biến đổi về chất Việc chăm lo phát triển giáo dục mầm non nói chung, trẻmầm non 5 tuổi nói riêng, đảm bảo mọi trẻ em được tiếp cận giáo dục mầm non cóchất lượng, công bằng và bình đẳng là trách nhiệm của các cấp, các ngành, mỗi giađình và toàn xã hội
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, đặtnền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ, hình thànhnhững yếu tố căn bản về nhân cách cho trẻ em trước khi bước vào lớp một
Độ tuổi mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi
“mầm non” Ở giai đoạn này, những cấu tạo đặc trưng của con người đã được hìnhthành trước đây, với sự giáo dục của người lớn, những chức năng tâm lý đó sẽ được
Trang 9hoàn thành về mọi phương diện hoạt động tâm lý (nhận thức, tình cảm, ý chí) đểhoàn thành việc xây dựng những cơ sở ban đầu về nhân cách của con người Trẻ 5 -
6 tuổi đã biết sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ, đã xác định ý thức bản ngã và tínhchủ định trong hoạt động tâm lý, trẻ chuẩn bị tiến vào bước ngoặt 6 tuổi, bướcngoặt 6 tuổi là một sự kiện quan trọng khiến các nhà giáo dục cần phải quan tâm,một mặt giúp trẻ hoàn thiện những thành tựu phát triển tâm lý trong suốt thời kỳmẫu giáo, mặt khác tích cực chuẩn bị cho trẻ có đủ điều kiện để làm quen dần vớihoạt động học tập và cuộc sống ở trường phổ thông
Giáo dục mầm non là mắc xích đầu tiên quan trọng trong hệ thống giáo dụcquốc dân, là nền móng, cơ sở ban đầu cho sự hình thành và phát triển nhân cáchcủa trẻ Bộ luật giáo dục của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam qui địnhmục tiêu giáo dục ở bậc học mầm non như sau: “Giáo dục mầm non là giúp trẻ emphát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiêncủa nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một”
Vì trẻ mầm non chưa biết đọc, biết viết nên nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ rấtquan trọng, trẻ 5 - 6 tuổi, khả năng vốn từ của trẻ tăng lên một cách rõ nét, thôngqua các hoạt động giao tiếp, vốn từ của trẻ tăng khoảng trên 5.000 từ, trẻ đã sửdụng lượng lớn ngôn ngữ và vận dụng linh hoạt vào giao tiếp và vận dụng từ ngữchính xác hơn
Với trách nhiệm là trung tâm chuyên nghiệp về chăm sóc, giáo dục trẻ, cáctrường mầm non phải là đầu tàu trong việc chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi bước vào lớpmột, cùng với gia đình và cộng đồng xã hội bảo đảm môi trường cho trẻ phát triển
cả về thể chất lẫn tinh thần, đáp ứng mục tiêu yêu cầu giáo dục đào tạo đã đề ra
Nhận thức sâu sắc về đặc điểm tâm, sinh lý của trẻ 5 - 6 tuổi, yêu cầu mọimặt của trẻ lớp một, tầm quan trọng của công tác chuẩn bị cho trẻ vào lớp một,trong những năm qua với sự chỉ đạo của Thành ủy, UBND thành phố, Sở giáodục sự nỗ lực cố gắng của Phòng GD&ĐT hệ thống các trường mầm non nói
Trang 10chung, 12 trường mầm non công lập trên địa bàn thành phố Lai Châu, tỉnh LaiChâu nói riêng đã quan tâm, đầu tư đúng mức, thực hiện quản lý chặt chẽ, hiệuquả, góp phần từng bước nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ quản lý,giáo viên, nhân viên, phụ huynh học sinh; hình thành, bổ sung, phát triển vàhoàn thiện dần các kiến thức, kỹ năng về chuẩn bị thể lực, kỹ năng, tâm lý chotrẻ vào lớp một,…giúp trẻ tự tin, hứng khởi bước vào bậc học phổ thông
Nhận thức của một số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, phụ huynh họcsinh về chuẩn bị thể chất, tâm thế vốn trí tuệ cho trẻ vào lớp một còn hạn chếthậm chí còn quan niệm như là làm thay việc cho bậc học tiểu học hoặc chuẩn bịmột số yếu tố không xuất phát từ chính nhu cầu của bản thân trẻ; Còn thiếu kiếnthức, thiếu hiểu biết và kinh nghiệm khi chuẩn bị cho trẻ; Cách thức, biện phápchuẩn bị chưa phong phú, đa dạng, ít tạo hứng thú cho trẻ; Cơ chế phối hợp, huyđộng giữa các lực lượng tham gia chuẩn bị cho trẻ vào lớp một còn khá lỏng lẻo,hiệu quả chưa cao Những hạn chế, yếu kém này có ảnh hưởng không nhỏ đếnkhả năng phát triển toàn diện về nhân cách của trẻ trong tương lai nói chung, gây
ra tâm lý tự ti, không sẵn sàng đối với trẻ khi bước vào bậc học cao hơn
Chuẩn bị cho trẻ vào lớp một là việc làm cần thiết, nó không đơn thuần dừnglại ở việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm, hình thành phát triển các kiến thức, kỹnăng cho các lực lượng tham gia vào quá trình chuẩn bị cho trẻ mà hơn thế nữa làphải giúp cho trẻ tự có được những điều kiện cần thiết về thể chất cũng như tinhthần để sẵn sàng tự tin bước vào lớp một Đồng thời, nó là cơ sở để đội ngũ cán bộquản lý, giáo viên, nhân viên và phụ huynh học sinh thể hiện sự cảm thông và lòngyêu thương đối với trẻ, trách nhiệm đối với tương lai của nước nhà Đây là hoạtđộng có mục đích cao cả, ý nghĩa to lớn, với nhiều nội dung, hình thức đa dạngphong phú và chịu sự tác động lớn cả về điều kiện bảo đảm và các lực lượng thamgia Vì vậy, cần phải được tổ chức, quản lý một cách chặt chẽ, khoa học ngay từkhâu lập kế hoạch, tổ chức các hoạt động chuẩn bị cho trẻ đến kiểm tra, đánh giá
Trang 11kết quả hoạt động trên thực tế của các lực lượng tham gia mới có thể đạt được mụctiêu đã đề ra Nói như vậy có nghĩa là những hạn chế, yếu kém trong hoạt độngchuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố LaiChâu, tỉnh Lai Châu thời gian qua xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó phải kểđến hiệu quả của công tác huy động các nguồn lực cộng đồng trong tổ chức, quản
lý còn nhiều thiếu sót, khuyết điểm cần phải nghiêm túc nhìn nhận, khắc phục sửachữa trong thời gian tới
Hoạt động chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở các trường mầm non trong điềukiện giáo dục từng bước đổi mới căn bản, toàn diện, trong khi còn có sự khác biệtlớn về mặt nhận thức, điều kiện, lực lượng, cơ sở vật chất bảo đảm cho giáo dụcmầm non còn nhiều khó khăn,… là vấn đề lớn, đòi hỏi phải có sự vào cuộc của cảcác cấp, ngành, địa phương, các cơ sở giáo dục mầm non công lập và phụ huynhhọc sinh Thực tế cũng cho thấy việc huy động các nguồn lực cộng đồng trongchuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Lai Châuvẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế Vì vậy, nghiên cứu luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn,cung cấp cơ sở khoa học để xác định các chủ trương, biện pháp nâng cao hơn nữahiệu quả huy động các nguồn lực cộng đồng đối với hoạt động chuẩn bị cho trẻ vàolớp một ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Lai Châu là hết sức cần thiết
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi lựa chọn đề tài “ Huy động các nguồn lực
cộng đồng trong chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở các trường mầm non thành phố Lai Châu” để tiến hành nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực trạng về chuẩn bị cho trẻ vào lớp một vàthực trạng về huy động các nguồn lực cộng đồng trong chuẩn bị cho trẻ vào lớpmột ở các trường mầm non thời gian qua, luận văn đề xuất một số biện pháp huyđộng các nguồn lực cộng đồng trong chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở các trường
Trang 12mầm non trên địa bàn thành phố Lai Châu thời gian tới trên cơ sở đó nâng cao đượchiệu quả của hoạt động này.
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở các trường mầm non thành phốLai Châu
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp huy động nguồn lực cộng đồng trong chuẩn bị cho trẻ vào lớpmột ở các trường mầm non thành phố Lai Châu
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay huy động các nguồn lực cộng đồng trong chuẩn bị cho trẻ vào lớpmột ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Lai Châu đã được quan tâm, đầu
tư đúng mức và đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, công tác này còn bộc
lộ một số khuyết điểm, hạn chế Do vậy, nếu đề xuất, áp dụng những biện pháp tácđộng đến nhận thức, trách nhiệm, tình cảm của các lực lượng có liên quan đến việcchăm sóc, giáo dục trẻ em và phối hợp chặt chẽ các lực lượng đó thì công tác huyđộng các nguồn lực cộng đồng trong hoạt động chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở cáctrường mầm non trên địa bàn thành phố sẽ đạt kết quả cao
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hoá cơ sở lý luận về huy động các nguồn lực cộng đồng trong
chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở các trường mầm non
5.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng về chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở cáctrường mầm non và thực trạng huy động các nguồn lực cộng đồng trong chuẩn bịcho trẻ vào lớp một ở các trường mầm non thành phố Lai Châu
5.3 Đề xuất và khảo nghiệm về mức độ cần thiết và mức độ khả thi các biện
pháp huy động các nguồn lực cộng đồng trong chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở cáctrường mầm non thành phố Lai Châu
Trang 136 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề huy động các nguồn lực
cộng đồng trong chuẩn bị cho trẻ 5 - 6 tuổi trước khi bước vào lớp một ở cáctrường mầm non công lập trên địa bàn thành phố Lai Châu
Về khách thể khảo sát: Luận văn nghiên cứu, khảo sát tại 04 trường trên địa
bàn thành phố Lai Châu: Mầm non Họa Mi, mầm non Hoa Hồng, mầm non ĐoànKết, mầm non Bình Minh Tổng khách thể khảo sát gồm 8 Hiệu trưởng và chuyênviên thuộc Phòng Giáo dục và đào tạo, 60 Giáo viên, 30 cán bộ các ban, ngành,đoàn thể và 60 huynh học sinh trên địa bàn thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu
Về kết quả thực trạng chuẩn bị cho trẻ vào lớp một:
Đề tài chỉ khảo sát kết quả đạt được của trẻ 5 6 tuổi về lĩnh vực ngôn ngữ giao tiếp, lĩnh vực phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội
-Về thời gian: Các số liệu, tư liệu khảo sát, đánh giá từ tháng 10 năm 2019 đến
tháng 3 năm 2020
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Đề tài sử dụng các phương pháp như phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các tàiliệu, sách báo và các công trình khoa học liên quan đến huy động các nguồn lựccộng đồng trong chuẩn bị cho trẻ 5 - 6 tuổi trước khi bước vào lớp một để xây dựngkhung lý thuyết
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Đề tài thiết kế các mẫu phiếu hỏi phù hợp để trưng cầu ý kiến của cán bộ quản
lý, giáo viên, phụ huynh học sinh, cán bộ các tổ chức, đoàn thể về huy động cộngđồng trong hoạt động chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở các trường mầm non thànhphố Lai Châu, tỉnh Lai Châu
Phương pháp phỏng vấn:
Trang 14Tác giả thực hiện các cuộc trao đổi, phỏng vấn với hiệu trưởng, giáo viên củacác trường mầm non và phụ huynh học sinh về cách thức, nội dung và hiệu quảcông tác huy động cộng đồng chuẩn bị cho trẻ vào lớp một trong nhà trường, nhữngkhó khăn, vướng mắc, các nhân tố ảnh hưởng và những kiến nghị của họ đối vớicông tác này trong thời gian tới.
Phương pháp quan sát:
Quan sát các hoạt động huy động các nguồn lực cộng đồng trong chuẩn bị chotrẻ 5 - 6 tuổi trước khi bước vào lớp một của giáo viên các trường mầm non cônglập trên địa bàn thành phố Lai Châu
Phương pháp chuyên gia:
Đề tài tham khảo ý kiến của lãnh đạo, chuyên viên mầm non của Phòng Giáodục và Đào tạo thành phố Lai Châu, Hiệu trưởng, giáo viên trường mầm non đểtăng tính thuyết phục, nhất là các đề xuất về biện pháp nâng cao hiệu quả huy độngcác lực lượng cộng đồng trong chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở các trường mầm nonthời gian tới
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Trên cơ sở thu thập, tổng kết kinh nghiệm huy động các nguồn lực cộng đồngtrong chuẩn bị cho trẻ trước khi bước vào lớp một của các trường mầm non cônglập trên địa bàn thành phố thông qua các sáng kiến kinh nghiệm, các đợt hội thảo,giao lưu, trao đổi kinh nghiệm giữa các trường, tổ chức các hoạt động ngoạikhoá… đề tài xác định các nguyên tắc và đề xuất các biện pháp phù hợp nhằm nângcao hơn nữa chất lượng công tác này ở các trường những năm tiếp theo
Trang 15Đề tài góp phần làm phong phú, sáng tỏ thêm cơ sở lý luận về huy động cácnguồn lực cộng đồng trong chuẩn bị cho trẻ trước khi bước vào lớp một và thựctrạng của công tác này tại các trường mầm non công lập trên địa bàn thành phốLai Châu.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo có giátrị đối với cán bộ quản lý ở bậc mầm non, phụ huynh học sinh, những người làmcông tác dạy học và giáo dục trong việc xác định chủ trương, biện pháp để nângcao hiệu quả công tác huy động các nguồn lực cộng đồng trong chuẩn bị cho trẻtrước khi bước vào lớp một
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo vàphụ lục, luận văn được trình bày gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về huy động các nguồn lực cộng đồng trong chuẩn bị
cho trẻ vào lớp một ở các trường mầm non
Chương 2: Thực trạng về huy động các nguồn lực cộng đồng trong chuẩn bị
cho trẻ vào lớp một ở các trường mầm non thành phố Lai Châu
Chương 3: Biện pháp huy động các nguồn lực cộng đồng trong chuẩn bị cho
trẻ vào lớp một ở các trường mầm non thành phố Lai Châu
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG CHUẨN BỊ CHO TRẺ VÀO LỚP MỘT Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Giáo dục mầm non giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp đào tạo
và bồi dưỡng con người Đây là nhiệm vụ khó khăn cho các nhà giáo dục, vì lứatuổi mầm non là độ tuổi khó giáo dục và cũng là lứa tuổi ban đầu hình thành nhâncách của một con người Tác giả A.T.Kurbawa và Ph.M.Rakhmatinlira đi sâu vàonghiên cứu các nhóm kĩ năng giao tiếp và chia kĩ năng giao tiếp thành 3 nhóm kĩnăng [Trích theo 4] bao gồm: Kĩ năng sử dụng ngôn ngữ là sự chào hỏi, kĩ năngdiễn đạt các đặc điểm, văn phạm trong câu: Ở kĩ năng này xem xét xem trẻ có sửdụng giới từ để nói về vị trí hay trạng thái của các sự vật, hiện tượng hay không?Trẻ có biết sử dụng ngôn ngữ để miêu tả về đặc điểm đơn giản của đồ vật, trẻ cóbiết sử dụng từ “ đang” để nói về các hoạt động xảy ra hiện tại, về các đại từ sởhữu, các đại từ nhân xưng mà trẻ sử dụng, về các câu trẻ muốn nói về thời tươnglai và quá khứ Bên cạnh đó, tác giả Dakharop lại cho rằng kĩ năng giao tiếp củatrẻ mầm non bao gồm: Kĩ năng thiết lập mối quan hệ giao tiếp, kĩ năng nhạy cảmtrong giao tiếp, kĩ năng lắng nghe và biết cách lắng nghe, kĩ năng diễn đạt ngắngọn, rõ ràng, kĩ năng thuyết phục trong giao tiếp, kĩ năng điều khiển quá trìnhgiao tiếp Các tác giả đã đi sâu nghiên cứu các kĩ năng giao tiếp cần có của trẻmầm non, đó chính là tiền đề, là cơ sở để giúp phát triển các kĩ năng giao tiếp chotrẻ mầm non nói chung bao gồm trẻ nhà trẻ và trẻ mẫu giáo
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhiều học thuyết về trò chơi xuất hiện Trên
cơ sở đó, các nhà khoa học phát triển trò chơi ĐVTCĐ ở trẻ Các nhà tâm lý học,giáo dục học như: A.N Leonchiep; Đ.B Enconhin; N.K CrupxKaia; A.P Uxova;A.V Daporozet; L.X Vugotxky; A.X Macarenco; A.I XororoKiala…đã khẳngđịnh hoạt động chơi chính là một phương tiện vô cùng hữu hiệu trong giáo dục
Trang 17nhân cách cho trẻ Các nhà nghiên cứu Xô Viết đã đưa ra cách nhìn mới về bảnchất xã hội trong trò chơi trẻ em Họ đều khẳng định: Trò chơi - đặc biệt là trò chơiđóng vai theo chủ đề có vai trò quan trọng hình thành nhân cách cho trẻ mẫu giáo.
Là một hình thức hoạt động chủ yếu hình thành hành vi xã hội của bản thân trẻ,hình thành thái độ của trẻ đối với cuộc sống Là phương tiện kích thích trẻ thựchiện các hành động thực tiễn và là phương tiện củng cố sự hợp tác cần thiết ở trẻ.Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả đã cho thấy nhiều nghiên cứu về đặcđiểm giao tiếp của trẻ em nhà trẻ, trẻ mẫu giáo: Quá trình phát sinh, phát triển giaotiếp, ngôn ngữ, tính cách, tính tích cực,… và nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữagiao tiếp với chức năng tâm lý khác của nhân cách ở lứa tuổi 0 - 6 tuổi
Những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước đi theo hướng đề tài nhưtính tích cực nhận thức, tính tích cực học tập, tính chủ động của giao tiếp… của cácnhà tâm lí học như: A.N Leeonchev, V.Ookoon, I.F Khalamop,… Tác giả A.V.Dapqrozet và M.I.Lixina đã khẳng định: “Tính chủ động trong giao tiếp của trẻmẫu giáo phụ thuộc vào tính chủ động của người lớn… tính chủ động của trẻkhông đều, trẻ nhỏ tuổi có tính chủ động thấp hơn trẻ lớn (5 - 7 tuổi) và phụ thuộcnhiều vào tính chủ động giao tiếp cao hơn, ít phụ thuộc vào tính tích cực của ngườilớn, các em tự chủ động thiết lập mối quan hệ khi người lớn xuất hiện, xác định vịtrí của mình trong các cuộc tiếp xúc, bày tỏ với người lớn những mong muốn củachúng theo nội dung của sự tác động qua lại
Tác giả Lixina cho rằng: Đối với trẻ 5 - 6 tuổi, kĩ năng giao tiếp của trẻ có tínhchủ động cao hơn, ít phụ thuộc vào tính tích cực của người lớn, trẻ tự xác định vị trícủa mình trong quá trình giao tiếp giữa trẻ với mọi người và biết cách thiết lập cácmối quan hệ, biết bày tỏ những cảm xúc, mong muốn của bản thân mình trong quátrình giao tiếp
J.Piaget(1960/1965) khẳng định hoạt động thúc đẩy liên tục trí tuệ phát triển
đó là hoạt động vui chơi Thông qua vui chơi trẻ có nhiều cơ hội trải nghiệm và
Trang 18khám phá Đặc biệt, ông nhấn mạnh vai trò của sự tương tác, hợp tác giữa “ bạnbè” trong sự phát triển của trẻ, ông cho rằng chính sự tương tác này sẽ nảy sinhmâu thuẫn làm phong phú khả năng giao tiếp và phát triển trí tuệ cho trẻ Trongquá trình nghiên cứu, J.Piaget cùng với bà M.Parten xem xét sự phát triển trò chơitrải qua 5 giai đoạn, đó là chơi một mình, chơi và quan sát người khác chơi, chơisong song với bạn, chơi có liên kết với bạn, chơi hợp tác với người khác Mỗi kiểuchơi được xem là một loại quan hệ xã hội.
Theo Mos và Boodt (1991), Goldstein(1996), trong qua trình chơi, trẻ pháttriển theo nhiều mối quan hệ hợp tác, bao gồm bạn cùng lớp và cả người lớn Ở lứatuổi mẫu giáo hầu hết các hoạt động phát triển mạnh là nhờ kỹ năng hợp tác.Những trẻ khó chơi với nhau sẽ gặp khó khăn trong việc giao tiếp bạn Năng lực xãhội liên quan đến khả năng giao tiếp, cũng như tham gia vào trò chơi của nhữngđứa trẻ(Uren và Stagnitti, 2009)
Nhà nghiên cứu Stuart Brown (2009) cho rằng không có hoạt động vui chơicon người sẽ thiếu đi sự tương tác cần thiết để học hỏi và thấu hiểu cảm xúc, ýtưởng theo ông con người sinh ra được vui chơi, vì qua vui chơi con người có thểtrưởng thành
Còn đối với A.N.Leonchev đã xác định hoạt động chủ đạo trong sự phát triểncủa trẻ em giai đoạn này là hoạt động vui chơi Đây là hoạt động chủ đạo của lứatuổi này nó mang ba đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, đây là hoạt động trong đó làm nảy sinh hoạt động mới khác, trongvui chơi xuất hiện hoạt động học tập “ Học bằng chơi, chơi mà học”
Thứ hai, hoạt động mà trong đó các quá trình tâm lý riêng biệt được hìnhthành hay tổ chức lại
Thứ ba, là hoạt động mà những biến đổi tâm lý cơ bản của nhân cách trẻ tronggiai đoạn đó đều phụ thuộc chặt chẽ vào nó
Trang 19Quan điểm này cho thấy khi chơi trẻ thể hiện mình với bạn, hợp tác cùng bạn,biết ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức: Biết yêu thương, nhường nhịn, lắngnghe, tôn trọng, chờ đến lượt…
Theo Físher qua vui chơi trẻ sáng tạo lại những nguyên tắc và tình huốngphản chiếu thế giới văn hoá thế giới văn hoá- xã hội của bản thân, chúng học cáchđưa ra nguyên tắc xã hội, hợp tác với người khác mạnh mẽ và thúc đẩy hành vi xãhội phù hợp Việc phối hợp chơi với nhau cùng với bạn trong lớp hay chơi vớinhóm sẽ giúp trẻ có nhiều cơ hội được học hỏi và phát triển toàn diện- theo lời nhànghiên cứu Jeffrey Goldstein(2012)
Trong công trình “ Tâm lý học trẻ em lứa tuổi Mầm non” tác giả Nguyễn ThịÁnh Tuyết [38] cũng đã đề cập đến việc hình thành kỹ năng hợp tác qua trò chơiđóng vai theo chủ đề Tác giả đã phân tích cụ thể bản chất của trò chơi, cấu trúc,đặc điểm hoạt động chơi của trẻ em Ở đây tác giả nhấn mạnh trò chơi đóng vaitheo chủ đề, trẻ không thể chơi một mình mà phải chơi theo nhóm và có nhiềuthành viên trong nhóm chơi với nhau, chính điều này đã làm thúc đẩy sự hợp táccủa trẻ
Lê Xuân Hồng (1996): Trong mối quan hệ chơi trong trò chơi đóng vai theochủ đề tác giả đã phát hiện sự tích cực chủ động hợp tác giữa trẻ với nhau trong vuichơi, đặc biệt là giữa các trẻ không cùng độ tuổi Chính nhờ mối quan hệ nhiềuchiều, trẻ có điều kiện thể hiện tinh thần học hỏi, hợp tác tương trợ lẫn nhau tạomối quan hệ tốt; quan hệ thực và quan hệ chơi được thiết lập một cách dễ dàng, cácquan hệ giữa trẻ với nhau được mở rộng kích thích quá trình giao tiếp hợp tác vớinhau giúp trẻ phát triển toàn diện về nhân cách
Cùng với các tác giả Lê Thị Khang, Hồ Lai Châu, Hoàng Mai - Lê XuânHồng (2000) cũng đã đề cập đến sự phát triển các kỹ năng cần thiết cho trẻ mầmnon và thúc đẩy sự phát triển kỹ năng hợp tác là một trong những mục tiêu cầnthiết và được thể hiện qua nhiều hình thức: giúp trẻ hoà nhập với trẻ khác, tạo cơ
Trang 20hội cho trẻ chơi và làm việc với trẻ khác, giúp trẻ học cách tham gia vào một tròchơi, tạo những cảm nhận giúp trẻ tôn trọng những quyền lợi của trẻ khác, chia
sẻ và cảm thông
Đặng Thành Hưng cũng bàn nhiều về giáo dục kỹ năng hợp tác Ông cho rằngmối quan hệ giữa người học với nhau trong quá trình dạy học mang tính hợp tác vàcạnh tranh tương đối điều này làm cho người học năng động hơn phát triển theochiều hướng hiện đại và đạt chất lượng tốt hơn
Trong cuốn sách của mình tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết cũng đã nói đến vấnđề: “Các khía cạnh ảnh hưởng của bạn đến quá trình phát triển của trẻ: vai trò củabạn ngang hàng đối với trẻ, sự tương tác với bạn ngang hàng phát triển ở trẻ môhình kỹ năng xã hội cơ bản, phát triển cách ứng xử giữa bạn bè với nhau và mọingười xung quanh….” [38tr172-183] Như vậy, bạn bè là những tác nhân để trẻđiều chỉnh hành vi, so sánh hành vi xã hội của mình, là tấm gương phản chiếu vàđiều chỉnh hành vi của trẻ Chính sự tương tác diễn ra trong các hành động chơi cótính hợp tác…chính vì thế khi xuất hiện các trò chơi cần có sự hợp tác với nhau thìtrẻ mới có tiêu chuẩn về bạn
Cao Thị Cúc (2009) cho rằng: Trẻ 5 - 6 tuổi đã có kỹ năng hợp tác cơ bản khitham gia vào các hoạt động chung của lớp mẫu giáo, cùng thoả thuận về chủ đềchơi, nội dung chơi, phân vai chơi….tuy nhiên kỹ năng này chưa được bền vữngcần được giáo dục và rèn luyện đúng thông qua hoạt động chơi
Trong “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” tính hợp tác là một trong những nộidung quan trọng ở lĩnh vực phát triển tình cảm - xã hội Các chỉ số: Lắng nghe ýkiến của mình, của bạn, trao đổi ý kiến với người khác, thể hiện sự thân thiện, đoànkết với bạn bè, chấp nhận sự phân công của nhóm bạn và người lớn, sẵn sàng thựchiện nhiệm vụ đơn giản cùng người khác [4]
Tác giả Lê Minh Thuận với quyển sách “Trò chơi phân vai theo chủ đề và việchình thành nhân cách cho trẻ mẫu giáo” cũng đã đề cập nhiều đến vấn đề hợp tác
Trang 21của trẻ giữa bạn bè với nhau thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề và trò chơicũng được xây dựng hướng dẫn theo từng độ tuổi một cách rõ ràng.
Tiến sĩ Đào Thanh Âm đã từng viết: “… giúp trẻ thiết lập mối quan hệ với bạncùng tuổi ở trẻ mẫu giáo” Chính việc thiết lập mối quan hệ bạn bè sẽ là điều kiệnthuận lợi giúp trẻ phát triển kỹ năng hợp tác với nhau nhất là đối với những trẻcùng độ tuổi với nhau: dễ gần, dễ hoà nhập, có những hành vi giống nhau nên việchợp tác sẽ dễ dàng hơn [1]
Nguyễn Thị Oanh (2000), với công trình “Các biện pháp phát triển lời nóimạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi” đã làm sáng tỏ tính khoa học và thựctiễn :Lý thuyết hoạt động và vùng phát triển gần trong khoa học giáo dục Gópphần làm sáng rõ hơn “Lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn” và xây dựng 4 tiêuchí đánh giá mức độ phát triển lời nói mạch lạc của trẻ ở lứa tuổi này Đề xuất vàbước đầu ứng dụng 9 biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi
Nguyễn Hồng Thuận (2002), “Một số biện pháp tác động của gia đình nhằmphát triển tính tự lập cho trẻ em mẫu giáo 5 - 6 tuổi” Công trình này đã phân tích,tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu lý luận có liên quan tới nghiên cứu ở các góc
độ triết học, xã hội học, tâm lý học, giáo dục học, ngôn ngữ học để nghiên cứu tácđộng của gia đình nhằm phát triển tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi Đây là cơ
sở quan trọng để tác giả kế thừa khi đánh giá thực trạng cũng như đề xuất các biệnpháp có liên quan đến việc phát huy vai trò của gia đình khi chuẩn bị phát triển tìnhcảm và KNXH (kỹ năng xã hội) cho trẻ 5 - 6 tuổi ở các trường MN (mầm non)thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu hiện nay
Lê Thị Minh Hà (2002), “Những điều kiện tâm lý của việc tổ chức trò chơihọc tập nhằm nâng cao chất lượng trí nhớ có chủ định của trẻ 5 - 6 tuổi”[20] Luận
án đã hệ thống và vận dụng một số điều kiện tâm lý của việc tổ chức trò chơi họctaapk, nhằm làm tăng hiệu quả trí nhớ có chủ định của trẻ 5 - 6 tuổi, chú trọng haikhía cạnh khối lượng tài liệu nhớ và độ chính xác khi nhớ lại Đây là cơ sở để tác
Trang 22giả phân tích đặc điểm phát triển tâm, sinh lý lứa tuổi trong luận văn.
Lê Minh Hà (2002), “Nghiên cứu mức độ phát triển trí tuệ và thể lực của trẻmẫu giáo 5 - 6 tuổi” [21] Công trình tìm hiểu một số vấn đề về sự phát triển trí tuệ
và thể lực của trẻ em Nghiên cứu mức độ phát triển trí tuệ và thể lực, mối quan hệgiữa thể lực và trí tuệ của trẻ 5 - 6 tuổi Đề xuất một số biện pháp để góp phần nângcao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ
Nguyễn Thị Hoàng Yến (2002), “Các biện pháp tổ chức giáo dục hòa nhậpnhằm chuẩn bị cho trẻ khuyết tật thính giác vào lớp một” Tiếp cận ở một đối tượngđặc thù ở trường MN đó là các trẻ bị khuyết tật bẩm sinh thính giác, tác giả đã đềxuất một số biện pháp có tính khả thi cao nhằm phát huy tối đa tiềm năng của trẻ vàgóp phần nâng cao hiệu quả tổ chức giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật nói chung.Đặng Thị Phương Phi (2007), “Chuẩn bị về mặt xã hội cho trẻ mẫu giáo lớn sẵnsàng đi học lớp một ở đồng bằng sông Cửu Long” Công trình trình trình bày cơ sở lýluận và thực tiễn của việc chuẩn bị về mặt xã hội cho trẻ mẫu giáo lớn sẵn sàng đi họclớp 1 ở đồng bằng sông Cửu Long Đề xuất các biện pháp chuẩn bị về mặt xã hội chotrẻ mẫu giáo lớn sẵn sàng đi học lớp một ở ở đồng bằng sông Cửu Long
Năm 2011, Nguyễn Thanh Bình đã công bố “Giáo trình chuyên đề giáo dụcKNS”; Nguyễn Công Khanh (2012), “Phương phương giáo dục giá trị sống, KNS”;Nguyễn Thị Minh Trang (2014), “Giáo dục KNS (kỹ năng sống) cho trẻ 5 - 6 tuổitrong trường MN ở Bạc Liêu”; Phạm Thị Thu Thủy (2016), “Kỹ năng giao tiếp củatrẻ 5 - 6 tuổi tỉnh Tuyên Quang qua trò chơi đóng vai theo chủ đề”; Nguyễn ThịQuỳnh Anh (2020), “Giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5 - 6 tuổichậm phát triển ngôn ngữ”;… Những công trình này tập trung nghiên cứu nhữngvấn đề lý luận về giáo dục KNS nói chung, PTTC (phát triển tình cảm) và KNXH(kỹ năng xã hội) nói riêng cho thanh, thiếu niên, trong đó có trẻ MN 5 - 6 tuổi, cónhững công trình nghiên cứu chuyên sâu các kỹ năng chuyên biệt của trẻ; chỉ rõ vaitrò của việc chuẩn bị PTTC và KNXH ở cả môi trường nhà trường và môi trường
Trang 23xã hội; đánh giá được thực trạng, chỉ rõ những yêu cầu đặt ra và cách thức để chuẩn
“về việc hướng dẫn triển khai thực hiện giáo dục KNS tại các cơ sở giáo dục mầmnon, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên”, trong đó chỉ rõ: Nội dung giáodục KNS ở cấp học MN là giúp trẻ nhận thức về bản thân: sự tự tin, tự lực, thựchiện những quy tắc an toàn thông thường, biết làm một số việc đơn giản; hìnhthành và phát triển các KNS cần thiết: thể hiện tình cảm, sự chia sẻ, hợp tác, kiêntrì, vượt khó; hình thành một số kỹ năng ứng xử phù hợp với gia đình, cộng đồng,bạn bè và môi trường Tiếp đó, ngày 30/12/2016, Bộ GD&ĐT (giáo dục và đào tạo)tiếp tục ban hành Thông tư 28/2016/TT-BGDĐT về sửa đổi, bổ sung một số nộidung của chương trình giáo dục MN ban hành kèm theo Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25/7/2009 Ngay sau đó, ngày 7/01/2017 Bộ GD&ĐT đã có văn bản01/VBHN-BGDĐT, Thông tư ban hành chương trình giáo dục MN Trong Thông
tư này KNXH của trẻ được cụ thể hóa ở sự tôn trọng, hợp tác, thân thiện, quantâm, chia sẻ
Phạm Thị Loan (2011), “Quản lý phát triển năng lực giáo viên mẫu giáo theotiếp cận kỹ năng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục MN” Luận án góp phần hoànthiện cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý phát triển năng lực giáo viên mẫu giáotheo tiếp cận kỹ năng nghề, đề xuất biên pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũgiáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục MN hiện nay Đây là cơ sở quan
Trang 24trọng để tác giả nghiên cứu đề xuất biện pháp nâng cao năng lực của đội ngũ GV ởcác trường MN thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.
Năm 2014, Lưu Thị Năm đã công bố công trình bàn về quản lý hoạt động đảmbảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ trong các trường MN thực hành ở Hà Nội;Trương Ngọc Loan (2017), tập trung nghiên cứu về quản lý hoạt động phòng chốngtai nạn thương tích cho trẻ ở các trường MN quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội;Nguyễn Bích Ngọc (2017), nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục thể chất ởcác trường MN quận Long Biên, thành phố Hà Nội;
Năm 2015, Hoàng Hải Quỳnh đã công bố công trình “Chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi
đi học lớp một trong các trường MN dưới góc độ của hiệu trưởng trường MN”, Kỷyếu Hội thảo khoa học quốc gia “Đào tạo CBQL giáo dục trong bối cảnh đổi mớigiáo dục”, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Công Thị Hồng Điệp (2017), “Quản
lý giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trong các trường MN quận Tây Hồ, thành phố
Hà Nội”, Tạp chí Thiết bị Giáo dục số tháng 8/2017, Hà Nội; Đào Thị Chi Hà vớicông trình “Quản lý hoạt động giáo dục KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi ở các trường MN tưthục”, năm 2018; Nguyễn Bích Ngọc (2017), “Quản lý hoạt động giáo dục thể chấttrong trường MN quận Long Biên, Thành phố Hà Nội”, Tạp chí Giáo dục; Tiếpcận ở góc độ quản lý giáo dục, các công trình này đã đề cập đến rất nhiều vấn đềliên quan đến quản lý hoạt động chuẩn bị cho trẻ trên các mặt thể chất, trí tuệ, tâmthế, tình cảm, KNXH
Tóm lại, các công trình, bài viết đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn
về chuẩn bị và quản lý hoạt động chuẩn bị các KNS ở trẻ, đặc biệt là trẻ 5 - 6 tuổi nóiriêng Song chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về huyđộng các nguồn lực cộng đồng trong chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở các trường MNthành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu Do đó, việc lựa chọn nghiên cứu vấn đề này vừamang tính cấp thiết, vừa không trùng lặp với các công trình, các đề tài nghiên cứu củacác nhà khoa học, các tác giả ở cả trong và ngoài nước đã công bố
Trang 251.2 Hoạt động chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở các trường mầm non
1.2.1 Khái niệm hoạt động chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở các trường mầm non
Khái niệm chuẩn bị
Chuẩn bị là khái niệm dùng để chỉ việc làm của chủ thể nào đó nhằm làm cho
có sẵn cái cần thiết để thực hiện một việc gì đó
Theo đó, những yêu cầu ở lớp một khi phải thay đổi thói quen sinh hoạt, thayđổi cách học và các mối quan hệ là “bước ngoặt” trong đời sống của trẻ mẫu giáo 5
- 6 tuổi Vì vậy, ngay từ khi còn ở mẫu giáo hoặc ở nhà người lớn cần dạy cho trẻdần quen với cách học mới và các yêu cầu của học sinh lớp một, tạo cho trẻ mộttâm thế thoải mái, hình thành tính tự lập, tự tin là một điều kiện giúp trẻ nhanhchóng tiếp nhận, hoà đồng vào mối quan hệ mới trong trường phổ thông, tức làchuẩn bị sẵn cho trẻ những yếu tố cần thiết để có thể đáp ứng yêu cầu ở bậc họccao hơn
Chuẩn bị cho trẻ vào lớp một là việc làm rất cần thiết Tuy nhiên, hiện vẫn cònrất nhiều quan niệm khác nhau xung quanh vấn đề này Có quan niệm cho rằngkhông cần chuẩn bị cho trẻ vào lớp một, trẻ đủ 6 tuổi là có thể đi học lớp một.Chính vì vậy, từ lâu nhà trường truyền thống ít quan tâm đến việc kiểm tra, đánhgiá đầu vào của trẻ em đầu tuổi học Tất thấy trẻ em 6 tuổi đều bình đẳng cắp sáchtới trường, không cần biết tuổi khôn và sức khoẻ có đáp ứng yêu cầu hay không.Quan niệm này thường tồn tại ở những vùng nông thôn, hoặc vùng có trình độ dântrí thấp, ít quan tâm đến việc chuẩn bị về mặt trí tuệ, tinh thần, tâm lý và các kỹnăng cần thiết cho trẻ vào lớp một Do vậy, tuổi MN của trẻ chủ yếu sống trong giađình, xóm giềng, ít được giáo dục, rèn luyện một cách hệ thống những điều cầnthiết cho học tập, phát triển sau này Ngược lại, có quan niệm lại cho rằng cần phảicho trẻ học trước chương trình lớp một, cụ thể là chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 tuổiđọc thông viết thạo và làm thành thạo hai phép tính cộng, trừ trong phạm vi 10, 20
Trang 26và nếu 100 thì càng tốt Quan niệm này khá phổ biến ở các thành phố, thị xã lớnnơi có trình độ dân trí tương đối cao Do đó, rất nhiều bậc phụ huynh đã buộc trẻngồi vào bàn hàng giờ học một cách nghiêm chỉnh, tước đi mọi thời gian vui chơi,hoạt động nhiều mặt mà các cháu vốn ham thích rất cần cho sự phát triển sau nàycủa trẻ Những người có quan niệm này đã lượng đón và làm trước phần việc chotrường tiểu học Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đãchứng minh rằng trẻ dưới 6 tuổi chưa đủ khả năng để học chữ, học tính theo đúng ýnghĩa của môn học Thực tế, một số trẻ được học trước chương trình lớp một, vàolớp một thời gian đầu có thể hơn những trẻ khác nhưng thời gian sau trình độ tronglớp ngang nhau, thậm chí một số trẻ sức học còn yếu hơn trẻ mới học do chủ quan,chểnh mảng Thâm chí, trẻ được học trước chương trình rất khó sửa được các cố tậtnhư các trẻ khác cùng trang lứa Vì vậy, việc chuẩn bị cho trẻ đến trường phổ thôngkhông thể là việc làm thay cho việc dạy dỗ ở bậc tiểu học Không nên dạy trẻ trướcnhững gì mà sau này nó sẽ phải học tập một cách quy củ, nghiêm túc ở trường phổthông, không nên yêu cầu trẻ như một học sinh thực thụ ngay khi còn ở tuổi mẫugiáo mà phải đảm bảo cho trẻ được sống đúng với lứa tuổi của mình Và lẽ dĩnhiên, quan niệm chuẩn bị cho trẻ trước khi vào lớp một như trên cũng không cònmấy ý nghĩa
Một số nghiên cứu của các nhà khoa học giáo dục MN trong và ngoài nước lạicho rằng khi nào thể lực, trí tuệ và tâm lí của trẻ phát triển đủ để học tập thì cho trẻvào lớp một Những người theo quan điểm này cho rằng cần phải chuẩn bị cho trẻvào lớp một một cách toàn diện cả về thể lực, trí tuệ, tâm lí, tâm thế và các KNScần thiết chứ không dạy trẻ học chữ và làm toán Những người theo quan niệm nàycho rằng việc dạy trẻ học chữ và làm toán là nội dung học của lớp một Ở các nướcphương Tây người ta quan tâm đến việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp một, nhưng khôngnhấn mạnh vào việc học các kỹ năng đọc, viết cũng như tính toán Các nhà giáodục ở các nước này cho rằng cần phải quan tâm đến những suy nghĩ, ý tưởng của
Trang 27trẻ hơn là những điều trẻ hiểu biết Do đó, họ cho rằng một trong những nội dungchuẩn bị cho trẻ vào lớp một mà người lớn phải quan tâm đó là dạy cho trẻ biếtcách chia sẻ các ý tưởng, dự định của chúng với mọi người, hình thành cho trẻ kỹnăng hợp tác cùng nhau, tạo điều kiện và kích thích tính tích cực cũng như óc sángtạo của trẻ trong các hoạt động Các nhà giáo dục Nhật Bản rất quan tâm đến việcgiáo dục và phát triển trí tuệ cũng như thể chất, tình cảm đạo đức của trẻ phù hợpvới hoàn cảnh của trường MN, của cộng đồng địa phương nhằm hướng tới thựchiện năm mục tiêu và nội dung giáo dục là giáo dục sức khoẻ, giáo dục quan hệ vớixung quanh, giáo dục ngôn ngữ, giáo dục môi trường và biểu đạt phù hợp với Luậtgiáo dục và Chuẩn quốc gia về chương trình giáo dục MN Một số nước ở khu vựcchâu Á - Thái Bình Dương như Hàn Quốc, Úc, Singapo… lại hướng tới hình thànhcho trẻ những năng lực chung để chúng có thể hoà nhập vào cuộc sống và chuẩn bịvào trường tiểu học
Trong những năm gần đây, quan điểm giáo dục MN phổ biến ở nước ta cũngnhấn mạnh việc không dạy trẻ mẫu giáo lớn học trước chương trình lớp một, tránhphổ thông hoá trong giáo dục MN Tuy nhiên, trong thực tiễn giáo dục MN vẫn còntình trạng ở một số nơi, một số địa phương do sự thúc ép và yêu cầu của phụ huynhcho nên vẫn dạy trẻ mẫu giáo lớn tập viết, tập đọc và làm toán như học sinh lớpmột Trong khi, những yếu tố khác cần phải chuẩn bị như thể chất, tâm lý và một số
kỹ năng cần thiết khác lại không được chú trọng đúng mức
Như vậy, dù còn nhiều quan niệm khác nhau về chuẩn bị cho trẻ mẫu giáonhưng tựu chung lại, cơ bản các quan niệm đều thống nhất nhận thức rằng chuẩn bịcho trẻ vào lớp một là việc làm cần thiết, sự chuẩn bị đó tùy thuộc vào đặc điểmgiáo dục mỗi nước, mỗi vùng, miền, địa phương để xác định trọng tâm là chuẩn bị
về tâm thế của trẻ nói chung (trí tuệ, đạo đức, thể chất, ý chí, thẩm mĩ, ) và sự sẵnsàng về mặt tâm lí trước khi vào học tiểu học hay các phẩm chất ý chí, các kĩ năng
xã hội cần thiết khác
Trang 28Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi quan niệm rằng chuẩn bị chotrẻ 5 - 6 tuổi vào lớp một là chuẩn bị cho trẻ đạt được các chuẩn trong bộ Chuẩn trẻ
5 tuổi được quy định trong Thông tư số 23/2010/TT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT,ngày 23/7/2010, Ban hành quy định về Bộ chuẩn phát triển trẻ năm tuổi để trẻ có
đủ tự tin thích ứng vào học lớp một Theo đó, Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổigồm 4 lĩnh vực, 28 chuẩn, 120 chỉ số (Chi tiết phần Phụ lục)
Từ những phân tích trên đây trong nghiên cứu này quan niệm, hoạt động chuẩn
bị cho trẻ vào lớp một ở các trường MN là hệ thống những hoạt động giáo dục, rènluyện cho trẻ và những hoạt động phối hợp với những người trực tiếp chăm sóc,giáo dục trẻ, những người có liên quan của các chủ thể giáo dục nhằm bảo đảm sẵn
có các điều kiện cần thiết về thể chất, trí tuệ, ngôn ngữ, giao tiếp, tình cảm và các kỹnăng xã hội giúp trẻ có đầy đủ hành trang trước khi bước vào lớp một
1.2.2 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ trước khi bước vào lớp một
Đặc điểm sinh lý
Tốc độ tăng trưởng của trẻ chậm lại, mỗi năm chỉ tăng trung bình khoảng 3 kgthể trọng và 5 - 7 cm chiều cao Bộ phận phát triển hơn cả là cánh tay và ống chân.Bàn tay và bàn chân phát triển chậm hơn
Hệ xương và hệ cơ cũng đang tiếp tục phát triển Xương tiếp tục được cốthoá, các cơ to ra Cơ quan hô hấp và tuần hoàn phát triển Tốc độ hình thành cácphản xạ có điều kiện tăng nhanh, hệ thống tín hiệu thứ hai và các bộ máy nhận cảmphát triển mạnh
Hệ thần kinh tiếp tục tăng trưởng về hình thái và cấu trúc Trọng lượng nãotăng lên từ khoảng 1.100 gram đến 1.300 gram Một số vùng trên vỏ não tiếp tụcđược mielin hoá ( đặc biệt là vùng vỏ não trước trán) Các vùng chức năng của nãotiếp tục được chuyên môn hoá Não trẻ tiếp tục tiến hành quá trình tổ chức lại cấutrúc chức năng của các hoạt động thần kinh cấp cao diễn ra từ giai đoạn mẫu giáo
bé, do đó, khả năng bù trừ của hệ thần kinh còn rất lớn
Trang 29Đặc điểm tâm lý
- Về ý thức bản ngã:
Đến cuối tuổi mẫu giáo, ý thức bản ngã hay sự ý thức của trẻ được xác định rõràng Trẻ đã có khả năng tự đánh giá bản thân Đây là bước tiến của sự tự ý thức.Trẻ đã biết tự đánh giá những đặc điểm cơ thể và tâm lí, về thành công hay thất bạicủa mình cũng như khả năng về sự bất lực Trẻ hiểu được mình là người như thếnào, có những phẩm chất gì, những người xung quanh đối xử với mình ra sao, tạisao mình lại có hành động này,…Tuy nhiên, việc lĩnh hội đó còn bị tình cảm chiphối mạnh nên còn chưa khách quan Dần dần, trẻ nắm được các kỹ năng so sánhmình với người khác, tạo cơ sở cho sự tự đánh giá và noi gương theo những tấmgương tốt Ở đây, những tấm gương người lớn có tác động rất mạnh mẽ đến trẻ Trẻthường bắt chước theo hành vi, cử chỉ của người lớn
- Về đặc điểm nhận thức:
Đặc điểm phát triển trí nhớ: Các hình thức ghi nhớ và nhớ lại có chủ định bắtđầu xuất hiện ở mẫu giáo nhỡ ( 4 - 5 tuổi) và phát triển mạnh ở mẫu giáo lớn ( 5 - 6tuổi) do hoạt động của trẻ ngày càng phức tạp và do yêu cầu của người lớn đối vớitrẻ ngày càng cao Loại ghi nhớ có chủ định của trẻ vẫn là ghi nhớ máy móc
Trí nhớ vận động: Trẻ có thể dần bỏ hình mẫu, nhưng những lời chỉ dẫn củangười lớn vẫn có ý nghĩa Động tác vững vàng hơn, nhanh và chính xác hơn, ít cónhững động tác thừa của cơ thể
Trí nhớ hình ảnh: Trí nhớ hình ảnh đặc điệt phát triển, trẻ nhớ những bứctranh mà trẻ đã vẽ, nhớ phong cảnh mà trẻ đã tham quan Biểu tượng thế giới xungquanh ở trẻ đã gắn kết với nhau, mang tính sinh động và hấp dẫn
Trí nhớ từ ngữ logic: Vốn tri thức, biểu tượng và những khái niệm ban đầu vềthế giới xung quanh, đòi hỏi trẻ phải nắm vững ngôn ngữ, điều này giúp trẻ pháttriển trí nhớ từ ngữ logic
Trí nhớ cảm xúc: Trẻ nhớ những cảm xúc vui buồn mà trẻ đã trải qua Trí nhớ
Trang 30cảm xúc là một dạng của sự hồi tưởng giúp đời sống của trẻ thêm phong phú vàtinh tế Sự hồi tưởng có liên quan đến tự ý thức của trẻ Trong hồi tưởng của trẻ cónhững điều liên quan đến những thời điểm quan trọng trong cuộc đời của đứa trẻ vàtrong quan hệ với người khác Trí nhớ tác động đến quá trình hình thành nhân cách.Cảm giác của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi đã phát triển hơn so với tuổi mẫu giáo bé.Tuy nhiên, trẻ còn chưa nắm được các chuẩn cảm giác do mọi người chấp nhận.Những biểu tượng về những thuộc tính của đối tượng cụ thể và rất quen biết đượcdùng làm thước đo đối với trẻ.
Tri giác của trẻ trong giai đoạn này tiếp tục phát triển mạnh và chiếm ưuthế trong hoạt động nhận thức Giai đoạn này trẻ đã chuyển từ tri giác ở giaiđoạn kể ra (trẻ kể tên từng đồ vật, người hay con vật trong từng bức tranh) sanggiai đoạn mô tả (nêu được cấu tạo bề ngoài và chức năng của đồ vật, hành độngcủa con người: mẹ đang làm, em vé đang chơi,… mà chưa biết mô tả hay giảithích chủ đề của tranh)
Tính duy kỉ (tự kỉ trung tâm ) tiếp tục là đặc điểm nổi bật trong tri giác trẻ.Đồng thời, trong tri giác trẻ vẫn còn chịu tác động bởi ngôn ngữ và tư duy
Cuối tuổi mẫu giáo, sự chú ý của trẻ đã tập trung hơn, bền vững hơn so vớigiai đoạn trước, chú ý của trẻ tiến bộ hơn hẳn, thời gian tập trung khi xem tranh củatrẻ tăng gấp đôi so với độ tuổi mẫu giáo bé Trẻ 6 tuổi đã có khả năng chú ý thựchiện hành động theo một chiến lược tối ưu Ngôn ngữ phát triển cũng giúp trẻ biếtđiều khiển chú ý của mình, biết tự giác hướng chú ý của mình vào những đối tượngnhất định
Vào cuối tuổi mẫu giáo, trí nhớ của trẻ sự biến đổi về chất: Trí nhớ chủ định(trí nhớ gián tiếp hay trí nhớ văn hoá) xuất hiện và phát triển mạnh Đó là loại trínhớ có mục đích và dựa vào công cụ tâm lý như ngôn ngữ, biểu đồ, sơ đồ, chữ việt
và mọi quy ước có thể Ở loại trí nhớ này, tư duy đóng vai trò quan trọng Trẻ đãbiết sử dụng các phương tiện hay điểm tựa để nhớ Tuy vậy, cuối tuổi mẫu giáo,
Trang 31tính không chủ định vẫn chiếm ưu thế trong các quá trình tâm lý Chẳng hạn những
em xếp các bức tranh theo những vật trong vườn trường hay trong nhà bếp chỉ đểchơi chứ không phải nhằm mục đích ghi nhớ thì lại nhớ bức tranh này tốt hơn nhiều
so với những bức tranh trẻ được yêu cầu cần phải nhớ
Tư duy của trẻ mẫu giáo lớn đã có sự chuyển biến từ tư duy trực quan hìnhtượng sang tư duy trực quan sơ đồ Kiểu tư duy này giúp trẻ có khả năng phản ánhnhững mối liên hệ tồn tại khách quan, không bị phụ thuộc vào hành động hay ýmuốn chủ quan của trẻ Tư duy trực quan sơ đồ vẫn giữ tính chất hình tượng songbản thân hình tượng cũng trở nên khác trước: hình tượng đã bị mất đi những chi tiếtrườm rà mà chỉ còn giữ lại các yếu tố chủ yếu giúp trẻ phản ánh một cách khái quát
sự vật Trẻ ở lứa tuổi này có khả năng hiểu một cách dễ dàng và nhanh chóng vềcách biểu hiễn sơ đồ và sử dụng có kết quả những sơ đồ đó để tìm hiểu sự vật.Chẳng hạn như trẻ có thể nhìn vào sơ đồ và chỉ ra được một địa chỉ nào đó hoặc đểchỉ đường đi đến một nơi nào đó trẻ chỉ cần vẽ một vạch chủ yếu Bên cạnh đó,trong giai đoạn lứa tuổi này đã xuất hiện một số yếu tố của tư duy logic
Trí tưởng tượng của trẻ mẫu giáo được phát triển mạnh mẽ, tuổi mẫu giáo
là giai đoạn phát cảm về sự phát triển tưởng tượng, trẻ rất hay tưởng tượng vànhững hình ảnh tưởng tượng của trẻ bay bổng, giàu màu sắc xúc cảm và đôi khiphi hiện thực
Tưởng tượng của trẻ vẫn chủ yếu mang tính tái tạo, không chủ định Tưởngtượng tái tạo của trẻ mang tính có chủ định và tích cực hơn, tưởng tượng có chủđích dần được hình thành khi trẻ tự xây dựng ý tưởng, lập kế hoạch và thực hiện ýtưởng ấy Trẻ có khả năng tưởng tượng thầm trong đầu, không cần chỗ dựa trựcquan ở bên ngoài Tưởng tượng sáng tạo dần được phát triển
Do vậy, khi tiến hành các bài tập với các tình huống giả định yêu cầu trẻ đóngvai các nhân vật trong tình huống thì trẻ hoàn toàn có khả năng thực hiện được
- Về ý chí:
Trang 32Do ý thức bản ngã được xác định rõ ràng hơn và có sự xuất hiện của tính chủđịnh trong các quá trình tâm lý mà các hành động ý chí của trẻ ngày càng bộc lộ rõnét trong hoạt động vui chơi mà trong cuộc sống Tuy nhiên, các biểu hiện ý chícủa trẻ còn thua xa học sinh Tiểu học Trong sự phát triển các hành động ý chí củatrẻ mẫu giáo lớn có sự liên kết giứa ba mặt: Thứ nhất là sự phát triển tính mục đíchcủa hành động; Thứ hai là sự xác lập quan hệ giữa mục đích của hành động vớiđộng cơ; Thứ ba là tăng vai trò điều chỉnh của ngôn ngữ trong việc thực hiện cáchành động Có thể coi sự phát triển mật ý chí là một trong những biểu hiện rõ nhấtcủa ý thức, khiến cho nhân cách của trẻ được khẳng định.
- Về đời sống tình cảm:
Cuối tuổi mẫu giáo, tình cảm vẫn là mặt phát triển phong phú và sâu sắc nhất
so với các chức năng tâm lý khác, chi phối mạnh mẽ đến trẻ Mặc dù, tình cảm củatrẻ còn mang đậm tính dễ cảm xúc, nhưng trẻ đã có thể kiềm chế những cảm xúcquá mạnh hoặc những xúc cảm bột phát của mình Lúc này, trẻ đã nâng được một
số phương tiện biểu cảm tinh tế bằng ngôn ngữ, ánh mắt, nụ cười, điệu bộ, ngữ điệucủa giọng nói,… nhằm thông báo cho người khác về thái độ của mình về một điều
gì đó Do lĩnh hội được các chuẩn mực hành vi nên trẻ bắt đầu hình thành tình cảm
tự hào và xấu hổ Đồng thời “ tính hợp lý” trong tình cảm cũng phát triển, giúp trẻbiết thể hiện cảm xúc phù hợp trước cái đúng, cái sai, cái tốt, cái xấu
Đặc điểm ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ 5 - 6 tuổi
Vốn từ của trẻ tăng lên rõ rệt khoảng 3500 - 4500 từ, trẻ đã có thể dùng từ phùhợp với nội dung, hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp, đặc biệt trẻ có khả năng nhậnbiết được những sắc thái biểu cảm của lời nói như: Vui, buồn, sợ hãi,
Trẻ có thể diễn đạt được những xúc cảm, nhu cầu, ý nghĩ và hiểu biết củamình qua lời nói, biết sử dụng lời nói để có những chỉ dẫn những vấn đề cho ngườikhác hiểu và có thể hiểu những chỉ dẫn về những vấn đề qua lời nói hành động.Đối với những trẻ được rèn luyện về mặt giao tiếp đã có thể sử dụng khá hiệu
Trang 33quả phương tiện giao tiếp phi ngôn từ (cử chỉ, nét mặt, …)
Tính tích cực trong giao tiếp của trẻ cũng được phát triển một cách rõ nét.Các hình thức ngôn ngữ có kết cấu chặt chẽ được hình thành, tính biểu cảmcủa ngôn ngữ được phát triển Đứa trẻ nắm được quy luật của tiếng mẹ đẻ, học cáchsắp xếp những ý nghĩ của mình một cách logic, chặt chẽ Sự lập luận trở thànhphương pháp giải quyết các nhiệm vụ trí tuệ, ngôn ngữ trở thành công cụ của tưduy và phương tiện của nhận thức
Chức năng điều khiển của ngôn ngữ được phát triển biểu hiện trong sự hiểucác tác phẩm văn học, sự thực hiện hướng dẫn và yêu cầu của người lớn Chứcnăng lập kế hoạch của ngôn ngữ được hình thành khi giải quyết các nhiệm vụ thựchành và nhiệm vụ trí tuệ
Ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo trở thành hoạt động đặc biệt dưới các hình thứcnhư: sự lắng nghe, đàm thoại, thảo luận và kể chuyện Hoàn thiện quá trình pháttriển ngữ âm, xuất hiện những tiền đề nắm vững ngữ pháp
1.2.3 Quá trình chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở các trường mầm non
1.2.3.1 Mục tiêu của chuẩn bị cho trẻ
Mục tiêu của việc chuẩn bị cho trẻ là nhằm hình thành, phát triển ở trẻ tìnhcảm, ý thức về bản thân, về quan hệ xã hội, về giao tiếp, thực hiện tốt các yêucầu của công việc và ứng phó với những thay đổi trong cuộc sống hàng ngàytrước khi tham gia vào một hoạt động hay đáp ứng một yêu cầu nào đó Thôngqua hoạt động giáo dục trong trường học và trải nghiệm thực tiễn để giúp trẻthích ứng với môi trường xung quanh, thích ứng với thiên nhiên, thích ứng vớicác điều kiện khắc nghiệt của cuộc sống, những tình huống nảy sinh trong cuộcsống xung quanh mình Chuẩn bị cho trẻ có vai trò rất quan trọng đối với trẻ trongviệc hình thành và phát triển các phẩm chất tâm lý, năng lực thích ứng với cuộcsống và xã hội điều này được biểu hiện cụ thể như sau: - Giúp trẻ đẩy nhanh sự pháttriển về nhân cách, thông qua hoạt động của mình trẻ đóng góp vào sự tồn tại và phát
Trang 34triển của xã hội nói chung.
- Giúp trẻ phát triển những hành vi xã hội tích cực, nâng cao chất lượng cuộc sống,giải quyết một cách tích cực các nhu cầu và quyền của con người
- Giúp trẻ có khả năng thích ứng và chống chọi với mọi biến động xã hội, biết
tự khẳng định mình trong cuộc sống, phát triển cho cá nhân và xã hội một cách hàihòa, thể hiện tình cảm đúng mực, đúng lúc, đúng chỗ
1.2.3.2 Nội dung chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở các trường mầm non
Chuẩn bị về mặt thể chất: Chuẩn bị về mặt thể lực (thể chất) cho trẻ không
đơn thuần là sự chuẩn bị về lượng (phát triển chiều cao và trọng lượng cơ thể) màcòn là sự chuẩn bị về chất (năng lực làm việc bền bỉ, dẻo dai, có khả năng chống lại
sự mệt mỏi của thần kinh, cơ bắp, độ khéo léo của bàn tay, tính nhanh nhạy của cácgiác quan ) Do vậy, cần phải xây dựng cho trẻ một chế độ sinh hoạt, ăn uống,nghỉ ngơi, luyện tập khoa học, hợp lí cả về thời gian và với đặc điểm phát triểnriêng của từng trẻ Tập cho trẻ một số thói quen cần thiết trong sinh hoạt, giữ gìnsức khoẻ; dạy trẻ nhận biết một số nguy cơ không an toàn và cách phòng tránh.Thực hiện đầy đủ nội dung, tổ chức tốt các hoạt động giáo dục dinh dưỡng sứckhỏe và vận động cho trẻ; tạo môi trường an toàn cho trẻ hoạt động một cách hứngthú tích cực và thoải mái có cảm giác an toàn, tự tin; ghi nhật kí, rút kinh nghiệm
để bổ sung cho việc lên kế hoạch; kịp thời phát hiện sớm những trẻ có khó khăn vềvận động, từ đó có biện pháp thích hợp để giúp đỡ trẻ ngay từ ban đầu Kết hợpchặt chẽ với gia đình để đưa hoạt động giáo dục dinh dưỡng, sức khỏe, vận độnggắn liền với cuộc sống ở gia đình và cộng đồng
Chuẩn bị về mặt trí tuệ: Nhà trường cần phải cung cấp cho trẻ những hiểu biết
về môi trường xung quanh: Đó là tri thức về các hiện tượng trong cuộc sống hàngngày của con người, những nghề nghiệp trong xã hội, những quan hệ giao tiếp ứng
xử giữa người với người Giúp trẻ tiếp cận dần với những tri thức về thế giới tựnhiên gần gũi xung quanh trẻ như động, thực vật, đồ chơi, đồ vật và những hiện
Trang 35tượng thiên nhiên gần gũi khác Rèn luyện cho trẻ biết cách quan sát sự vật hiệntượng của thế giới xung quanh, tức là chuyển dần sang tri giác có chủ định thôngqua các hoạt động Trong vui chơi, trong học tập, GV cần rèn luyện cho trẻ khảnăng quan sát nhằm nhận ra được những thuộc tính cơ bản cho đối tượng, vật thể,con vật, những thuộc tính của cây cối Đồng thời cần rèn luyện cho trẻ tính linhhoạt, mềm dẻo và khả năng khái quát của tư duy; tập cho trẻ phân tích, so sánh,phán đoán các sự vật hiện tượng trong những trạng thái khác nhau Cùng với đó làluyện tập cho trẻ phát âm đúng và dùng ngữ điệu đúng, thích hợp được diễn ra mọilúc, mọi nơi, trong mọi hoạt động, dạy trẻ biết lắng nghe, biết thể hiện tình cảm,suy nghĩ bằng lời hoặc bằng ngôn ngư tạo hình biểu cảm một cách rõ ràng, dễ hiểu.Nhà trường cần phát triển khả năng định hướng môi trường xung quanh chotrẻ: Giúp trẻ tổ chức lại khả năng không gian, phân biệt được trên - dưới, trước -sau Cùng với đó, dạy trẻ biết định hướng về mặt thời gian, có khả năng nhận biếtcác thời điểm trong ngày, các ngày trong một tuần, các mùa trong một năm; hìnhthành ở trẻ biểu tượng đúng đắn về quá khứ, hiện tại và tương lai; dạy trẻ ướclượng gần đúng khoảng thời gian đơn giản ; rèn cho trẻ biết tập trung chú ý vàonhững vấn đề cần nhận thức và duy trì sự chú ý trong một khoảng thời gian nhấtđịnh, biết hoàn thành nhiệm vụ được giao theo đúng yêu cầu mà các GV đặt ra.Kích thích và nuôi dưỡng nhu cầu khám phá thế giới xung quanh cho trẻ Tạo môitrường trong lớp và ngoài trời phong phú hấp dẫn trẻ, kích thích trẻ tò mò, khámphá, so sánh, phân loại, tưởng tượng, đếm và tạo cơ hội cho trẻ tìm cách giải quyếtvấn đề theo những cách khác nhau; tạo không gian, thời gian và các phương tiệncần thiết cho trẻ tự hoạt động khám phá cung cấp những thông tin thích hợp cho trẻmột cách rõ ràng, mạch lạc
Chuẩn bị về mặt tâm thế: Giới thiệu cho trẻ về môi trường mới và giúp trẻ làm
quen với chúng, để không bị “sốc”, bỡ ngỡ Theo đó, GV phải làm cho trẻ hiểungôi trường mà chúng sẽ đến không còn giống với trường MN nữa, và trong ngôi
Trang 36trường mới đó có những gì? Trẻ phải tham gia vào các hoạt động như thế nào? Trẻđến trường phải học những gì, học như thế nào? Đồ dùng học tập của trường tiểuhọc và đặc biệt là đồ dùng học tập của lớp một: sách, vở, bút, thước Giúp trẻ biết
về sự khác nhau giữa trường tiểu học và trường MN, để trẻ nhận ra tầm quan trọngcủa sự thay đổi từ MN lên tiểu học; cho trẻ hiểu biết về những điều mới mẻ củatrường tiểu học nhằm tạo hứng thú và mong muốn được khám phá môi trường mới.Hình thành cho trẻ ý thức rằng: ở trường tiểu học, trẻ không còn là “bé 5 tuổi” mà
đã trở thành một học sinh biết ý thức về bản thân và tự giác trong học tập, chuẩn bịtrở thành “người lớn” Hình thành ở trẻ tính tự lập, tự giác và chủ động trong mọihoạt động cũng như trong sinh hoạt Tránh dùng trường tiểu học để gây áp lực, hùdọa, tạo tâm lý lo sợ, khiến trẻ bị ám thị khi nghĩ mình sẽ phải lên lớp một
Chuẩn bị về ngôn ngữ và giao tiếp cho trẻ: Giúp trẻ sử dụng thành thạo tiếng
mẹ đẻ là một nhiệm vụ cơ bản của giáo dục tiểu học Tiếng mẹ đẻ là phương tiệnquan trọng nhất để lĩnh hội nền văn hoá dân tộc, để giao lưu với những người xungquanh, để sử dụng, tiếp thu khoa học, bồi bổ tâm hồn Việc luyện tập cho trẻ phát
âm đúng và dùng ngữ điệu đúng, thích hợp được diễn ra mọi lúc, mọi nơi, trongmọi hoạt động của trẻ Khi giao tiếp với trẻ, người lớn phải phát âm rõ ràng, phát
âm đúng để trẻ bắt chước; uốn nắn, tập cho trẻ phát âm đúng các âm tiết, nhất lànhững âm khó Trong giao tiếp hàng ngày, người lớn cần rèn cho trẻ thói quen sửdụng ngữ điệu đúng, thích hợp với những hoàn cảnh, tâm trạng cụ thể Việc dạycho trẻ cách phát âm đúng, sử dụng ngữ điệu thích hợp còn được thể hiện trongviệc tổ chức cho trẻ chơi, trong hoạt động học tập, đặc biệt là trong khi kể chuyệncho trẻ nghe, dạy trẻ biết lắng nghe, biết thể hiện tình cảm, suy nghĩ bằng lời mộtcách rõ ràng, dễ hiểu
Chuẩn bị một số kĩ năng sống cần thiết cho trẻ: Hình thành ở trẻ những kĩ
năng cần thiết để giúp trẻ thích nghi với môi trường học tập và sinh hoạt ở trườngtiểu học Môi trường mới đòi hỏi tính độc lập, tự giác và chủ động cao, do vậy, nhà
Trang 37trường cần hình thành những kĩ năng sinh hoạt tối thiểu cho trẻ, giúp trẻ tự giác,tích cực, tự tin tham gia vào các hoạt động hàng ngày Theo đó, cần chuẩn bị cho
trẻ: (1) các kĩ năng trong điều chỉnh hành vi và quy tắc ứng xử xã hội trong thực
hiện một số quy định ở lớp, gia đình và nơi công cộng (để đồ dùng, đồ chơi đúngchỗ; trật tự khi ăn, khi ngủ; đi bên phải lề đường); lắng nghe ý kiến của người khác,
sử dụng lời nói, cử chỉ, lễ phép, lịch sự; biết tôn trọng, hợp tác, chấp nhận; biết yêumến, quan tâm đến người thân trong gia đình; quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ bạn; nhậnxét và tỏ thái độ với hành vi “đúng” - “sai”, “tốt” - “xấu” (2) Các kỹ năng trongquan tâm đến môi trường xung quanh như: biết tiết kiệm điện, nước; giữ gìn vệsinh môi trường; bảo vệ chăm sóc con vật và cây cối
1.2.3.3 Các loại hoạt động chuẩn bị cho trẻ vào lớp một
1.2.3.3.1 Các hoạt động giáo dục và chăm sóc trẻ trong trường mầm non
Nội dung công tác chuẩn bị cho trẻ 5 - 6 tuổi vào lớp một được thể hiện đầy
đủ, toàn diện trong hoạt động học và các hoạt động của trẻ trong chương trình giáodục mầm non Mỗi hoạt động có thế mạnh riêng, ví dụ: thể dục và các trò chơi vậnđộng giúp cho trẻ phát triển thể lực, nhanh nhẹn, hoạt bát hơn; Làm quen với toán,trò chơi xây dựng, trò chơi học tập giúp trẻ lĩnh hội được những biểu tượng sơđẳng về không gian, thời gian, phát triển trí tuệ cho trẻ Do vậy tổ chức tốt cáchoạt động, thực hiện tốt chương trình chăm sóc và giáo dục mầm non là một trongnhững hình thức, biện pháp có hiệu quả để chuẩn bị cho trẻ vào lớp một
- Tổ chức hoạt động vui chơi: Cần sử dụng hoạt động vui chơi như một
phương tiện giáo dục, phát triển toàn diện cho trẻ cả về thể chất, tinh thần, trí tuệ vàtình cảm đạo đức, thẩm mĩ GV phải tạo điều kiện cho trẻ được vui chơi tích cực,độc lập, sáng tạo, không gò ép, áp đặt trẻ, đồng thời đảm bảo các điều kiện về thờigian chơi, môi trường chơi đa dạng, phong phú, hấp dẫn Ngoài ra, để hoạt độngvui chơi mang lại hiệu quả giáo dục cao, cần thường xuyên cung cấp, làm giàu vốnbiểu tượng của trẻ về thế giới xung quanh, lựa chọn phương pháp, hình thức tổ
Trang 38chức hướng dẫn trẻ chơi phù hợp với đặc điểm của trẻ, theo dõi, giúp đỡ, độngviên, khích lệ trẻ kịp thời.
- Tổ chức hoạt động học: GV cần vận dụng linh hoạt, sáng tạo phương pháp
dạy học tích cực để tổ chức các hình thức học tập phong phú, hấp dẫn, phù hợp vớihứng thú, nhu cầu của trẻ, tăng cường cho trẻ học qua chơi, cho trẻ được thực hành,được trải nghiệm, tích cực sử dụng các trò chơi, các yếu tố chơi, các tình huốngchơi trong dạy học tích hợp theo chủ đề; Để tổ chức hoạt động học cho trẻ với triết
lý “Lấy trẻ làm trung tâm” giáo viên cần tạo cơ hội cho trẻ được học theo nhómnhỏ Quan tâm đến sự phát triển nhận thức của trẻ nhưng không nên quá chú trọngvào việc dạy trẻ các kiến thức, kĩ năng đơn lẻ mà cần giúp trẻ biết suy nghĩ, biếtchia sẻ ý tưởng cùng nhau, tăng cường sự hợp tác giữa GV và trẻ ; Tổ chức môitrường hoạt động phong phú, khai thác các tình huống thực tiễn, tận dụng cácphương tiện, nguyên vật liệu có sẵn trong thiên nhiên, ở địa phương, trong lớphọc để kích thích tính sáng tạo, tính tự lập, tính tích cực nhận thức của trẻ
- Tổ chức chế độ sinh hoạt hàng ngày cho trẻ ở trường mầm non: Việc tổ chức
chế độ sinh hoạt hàng ngày cần tạo cho trẻ có điều kiện, cơ hội để khám phá môitrường gần gũi xung quanh, lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ năng cần thiết để chuẩn bịvào học tiểu học; hình thành ở trẻ khả năng chủ động giải quyết những vấn đề,những tình huống thực tiễn ; Tổ chức chế độ sinh hoạt hàng ngày cho trẻ cần đảmbảo những yêu cầu sau: Thoả mãn đầy đủ các nhu cầu cơ bản của trẻ và phù hợpvới từng độ tuổi; Không áp đặt trẻ, tạo điều kiện cho trẻ được phát triển tối đa và tựnhiên những khả năng mà trẻ vốn có; Đảm bảo cho trẻ được hoạt động tích cực,nghỉ ngơi thoải mái, tránh quá sức
1.2.3.3.2 Phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục của gia đình với giáo dục của trường mầm non
Giáo viên mầm non cần phải chủ động phối hợp với gia đình trong công tácgiáo dục, chăm sóc trẻ em nói chung Nhà trường cần vạch rõ mục tiêu, nhiệm vụ
Trang 39của gia đình; trao đổi để đi đến thống nhất với gia đình về mục tiêu, nội dung,phương pháp, biện pháp và hình thức chuẩn bị cho trẻ vào lớp một; Khuyến khích,động viên gia đình tạo mọi điều kiện thuận lợi cho trường mầm non thực hiện cóhiệu quả công tác chuẩn bị cho trẻ
1.2.3.3.3 Xây dựng mối quan hệ thống nhất giữa giáo dục ở trường mầm non với giáo dục ở trường tiểu học
Giáo dục mầm non và giáo dục tiểu học là hai giai đoạn kế tiếp nhau trong quátrình giáo dục Nội dung giáo dục của hai giai đoạn này phải có tính liên tục, hệthống và kế thừa nhau Vì vậy, cần có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất giữa giáodục của trường mầm non với giáo dục của trường tiểu học, nhất là mục tiêu, nộidung, nhiệm vụ giáo dục HS lớp một Ở trường mầm non, GV phụ trách các hoạtđộng giáo dục và chăm sóc trẻ 5 - 6 tuổi cần nghiên cứu chương trình học tập của
HS ở trường tiểu học, nhất là lớp một; những yêu cầu, nội quy học tập của trườngtiểu học , trên cơ sở đó tổ chức các hoạt động giáo dục ở trường mầm non sao chotrẻ có thể thích ứng nhanh chóng với nội dung, nhiệm vụ và những yêu cầu củahoạt động học tập khi các em vào lớp một Trường mầm non cần tổ chức cho trẻ đitham quan và làm quen với HS, GV lớp một, nhằm tạo điều kiện cho họ gần gũinhau, hiểu biết những hoạt động của nhau Trong những ngày lễ hội, trường mầmnon và trường tiểu học nên tổ chức các hoạt động cùng nhau cho trẻ như: cùng cắmtrại, cùng hát múa, cùng vui chơi ; Qua đó, giúp trẻ mẫu giáo gần gũi với các anhchị lớp trên, trở nên mạnh dạn, lanh lợi, biết thêm nhiều điều mới lạ, hấp dẫn vànảy sinh lòng mong muốn đi học, mong muốn được trở thành HS tiểu học Đồngthời, GV mầm non nên theo dõi kết quả học tập và hành vi của trẻ đã chuyển lênhọc phổ thông, nghiên cứu những khó khăn thường gặp của các em khi học tập vàrèn luyện trong môi trường mới, trên cơ sở đó cải tiến nội dung, phương pháp vàbiện pháp giáo dục nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả của công tác chuẩn bịcho trẻ vào lớp một
Trang 401.3 Quá trình huy động các nguồn lực cộng đồng trong chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở các trường mầm non
1.3.1 Khái niệm huy động các nguồn lực cộng đồng trong chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở các trường mầm non
* Cộng đồng
Cộng đồng là hình thức chung sống trên cơ sở sự gần gũi của các thànhviên về mặt cảm xúc, hướng tới sự gắn bó đặc biệt mật thiết (gia đình, tình bạncộng đồng yêu thương) được chính họ tìm kiếm và vì thế được con người cảm thấy
có tính cội nguồn Và cộng đồng được xem là một trong những khái niệm nềntảng nhất của xã hội học, bởi vì nó mô tả những hình thức quan hệ và quan niệm vềtrật tự, không xuất phát từ các tính toán lợi ích có tính riêng lẻ và được thỏa thuậntheo kiểu hợp đồng mà hướng tới một sự thống nhất về tinh thần - tâm linh baoquát hơn và vì thế thường cũng có ưu thế về giá trị
*Huy động các nguồn lực cộng đồng trong chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở các trường mầm non
Nguồn lực là tổng thể vị trí, địa lý, tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sảnquốc gia, hệ thống chính trị, nguồn nhân lực, vốn và thị trường ở cả trong và nướcngoài có thể được khai thác nhằm phục vụ việc phát triển kinh tế của một vùnglãnh thổ nhất định
Nguồn lực được hiểu là tất cả những yếu tố và phương tiện mà hệ thống cóquyền chi phối, điều khiển, sử dụng để thực hiện mục tiêu của mình đối với hệthống kinh tế xã hội có thể chia các nguồn lực ra các bộ phận khác nhau như nguồnnhân lực (con người), nguồn tài lực (nguồn tài chính), nguồn vật lực (nguồn cơ sởvật chất), thông tin…
Trong hoạt động chuẩn bị cho trẻ vào lớp một, nguồn lực bao gồm: Nhân lực(các lực lượng xã hội tham gia trực tiếp vào hoạt động giáo dục trẻ mầm non; vậtlực (cơ sở vật chất, trang thiết bị) và tài lực (nguồn lực ngân sách, các loại quỹ vận