Luận văn giáo dục ý thực tìm việc làm cho người lao động thuộc các hộ nghèo trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu được tác giả nghiên cứu thực tế thực trạng các vấn đề về giáo dục, ý thức tìm việc làm của người lao động thuộc các hộ nghèo trên địa bàn huyện Tân Uyên. Luận văn có cơ sở lý luận chặt chẽ, lôgic, số liệu rõ ràng, được hội đồng chấm luận văn của Trường Đại học sư phạm Hà Nội đánh giá điểm caao nhất. Các bạn có thể tham khảo.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
CHU XUÂN HIỆU
GIÁO DỤC Ý THỨC TÌM VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG THUỘC CÁC HỘ NGHÈO TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SỸ GIÁO DỤC
VÀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
HÀ NỘI, 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
CHU XUÂN HIỆU
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu này, em đã nhận được sự
hỗ trợ, giúp đỡ cũng như là quan tâm, động viên từ nhiều cơ quan, tổ chức và
cá nhân Nghiên cứu khoa học cũng được hoàn thành dựa trên sự tham khảo,học tập kinh nghiệm từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các sách, báochuyên ngành của nhiều tác giả ở các trường Đại học, các tổ chức nghiên cứu,
tổ chức chính trị…
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Trương Thị Hoa - ngườitrực tiếp hướng dẫn khoa học đã luôn dành nhiều thời gian, công sức hướngdẫn em trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiêncứu khoa học
Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô Khoa Tâm Lý-Giáo dục học, Phòng Giáo dục sau đại học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ em trong quá trìnhhọc tập và nghiên cứu
Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong đề tài nghiên cứu khoa học nàykhông tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong Quý thầy cô, các chuyêngia, những người quan tâm đến đề tài, đồng nghiệp, bạn bè tiếp tục có những
ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 7 năm 2020
Tác giả
Chu
Xuân Hiệu
Trang 4QUY ƯỚC VIẾT TẮT
CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Trang 5MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN 1 QUY ƯỚC VIẾT TẮT 2 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC TÌM VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG THUỘC HỘ NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU 36 CHƯƠNG 3 70 BIỆN PHÁP GIÁO DỤC Ý THỨC TÌM VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG THUỘC HỘ NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC 103
MỞ ĐẦU
Trang 61 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xãhội Ở bất cứ giai đoạn nào thì con người cũng luôn là trung tâm của sự pháttriển vì vậy mà Mác đã từng nói: “Con người là lực lượng sản xuất cơ bảnnhất của xã hội” Luật Việc làm số 38/2013/QH13, ngày 16/11/2013 quy địnhmỗi cá nhân có trách nhiệm chủ động tìm kiếm việc làm và tham gia tạo việclàm Việc làm có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đó là động lựccho sự phát triển kinh tế xã hội Vì vậy, tạo việc làm càng đóng vai trò quantrọng hơn nữa cho sự phát triển Tạo việc làm đầy đủ cho người lao độngkhông những tạo điều kiện để người lao động tăng thu nhập, nâng cao đờisống, đồng thời còn giảm các tệ nạn xã hội, làm cho xã hội ngày càng vănminh hơn, tạo cơ hội cho người lao động thực hiện quyền và nghĩa vụ củamình, trong đó quyền cơ bản nhất của họ là quyền được làm việc nhằm nuôisống bản thân và gia đình, góp phần xây dựng đất nước [25, tr.03]
Trong xu thế đổi mới và hội nhập hiện nay hàng loạt vấn đề về kinh tế
-xã hội nảy sinh Bên cạnh những mặt tích cực, mặt trái của nền kinh tế thịtrường và quy luật cạnh tranh đã thúc đẩy nhanh hơn quá trình phát triểnkhông đồng đều, tạo ra sự phân cực, phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn, ảnhhưởng nghiêm trọng tới đời sống của người dân
Song song với sự phát triển, phân cực của xã hội thì giải quyết việc làmđang là vấn đề bức xúc có tính thời sự không chỉ đối với nước ta mà còn đốivới tất cả các nước trên thế giới, sức ép về việc làm đang ngày càng gia tăng.Xét về mặt xã hội, mọi người có sức lao động đều có quyền có việc làm Đó
là một trong những quyền cơ bản nhất của con người đã được khẳng địnhtrong Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nhưng trênthực tế đảm bảo quyền có việc làm cho người lao động là vấn đề thách thức,
là bài toán phức tạp và đầy khó khăn trong điều kiện hiện nay
Nói về lao động thuộc các hộ nghèo, một mặt do điều kiện kinh tế khókhăn, không có tư liệu sản xuất; mặt khác do nhận thức hạn chế, thiếu tự tin,
Trang 7thiếu hiểu biết, sinh ra và lớn lên quen với cuộc sống thiếu thốn phụ thuộc vàothiên nhiên; ngoài ra một số còn ỷ lại, trông chờ vào chính sách hỗ trợ củaNhà nước, có suy nghĩ bằng lòng với cuộc sống hiện tại, không mạnh dạn xagia đình, thay đổi công việc; không có ý thức tự tìm việc làm.
Không nằm ngoài quy luật đó, Tân Uyên là huyện nghèo của cả nước,đời sống của Nhân dân còn nhiều khó khăn, nền kinh tế đang trong thời kìphát triển, chủ yếu là kinh tế nông nghiệp Trình độ và nhận thức của ngườidân có sự chênh lệch giữa vùng thuận lợi với vùng sâu, vùng xa; giữa các hộkhá giả với các hộ nghèo và đặc biệt là lao động người dân tộc thiểu số; cộngvới sự ảnh hưởng thời tiết khắc nhiệt, điều kiện tự nhiên và điểm xuất phát kinh
tế thấp đã gây nên tình trạng đói nghèo của người dân trên địa bàn huyện (tỉ lệ
hộ nghèo theo tiêu chí đa chiều đầu giai đoạn 2016-2020 là 39,3%) Hàng nămtrên địa bàn huyện có tới hơn 1.000 người bước vào độ tuổi lao động, trong số
đó có gần 50% là lao động thuộc các hộ nghèo Việc triển khai các chính sáchthời kì đầu còn lúng túng, thiếu đồng bộ, bất cập; dẫn đến thanh niên trong độtuổi lao động không có ý thức tìm việc làm thêm, không chịu ra ngoài để tìmviệc làm, đa số sau mùa vụ là ở nhà nghỉ ngơi, nên kinh tế phát triển chậm,không thể thoát nghèo; một số lao động trẻ còn chơi bời, xa ngã vào các tệnạn cờ bạc, rượu chè, ma túy gây mất trật tự xã hội
Nhận thức được vấn đề trên, huyện đã quan tâm chỉ đạo các cơ quan,ban ngành, đoàn thể, chính quyền cơ sở tập trung tìm ra các biện pháp thayđổi nhận thức cho người lao động, tạo cho người lao động có ý thức tích cựchọc tập, nâng cao trình độ, tự phát huy nội lực, mong muốn được làm việc vàtìm kiếm những việc làm phù hợp với trình độ, năng lực của bản thân cộngvới sự định hướng về giáo dục và các chính sách hỗ trợ của Nhà nước giúp họ
có được việc làm đem lại thu nhập, nâng cao mức sống, ổn định kinh tế giađình, tạo ra của cải cho xã hội, thúc đẩy sự phát triển vươn lên thoát nghèo
Qua nhiều năm triển khai thực hiện các biện pháp, ý thức tìm kiếm việclàm của lao động thuộc các hộ nghèo trên địa bàn đã có sự chuyển biến tích
Trang 8cực, số lượng lao động đi làm việc tại các công ti, doanh nghiệp và xuất khẩulao động năm sau luôn nhiều hơn năm trước, không có lao động thất nghiệp,góp phần giảm tỉ lệ hộ nghèo hàng năm luôn vượt kế hoạch giao.
Từ những cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên, bản thân tôi nhận thấyđây là lĩnh vực quan trọng, tuy nhiên trong thời gian qua trên địa bàn huyệnTân Uyên, tỉnh Lai Châu chưa có cá nhân nào nghiên cứu Và có thể khẳng
định việc lựa chọn đề tài nghiên cứu "Giáo dục ý thức tìm việc làm cho
người lao động thuộc các hộ nghèo trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu" là rất cần thiết, có ý nghĩa thiết thực, góp phần giải quyết được vấn đề
việc làm, tăng thu nhập, giúp các hộ thoát nghèo, ổn định cuộc sống
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận về giáo dục ý thức tìm việc làm chongười lao động và thực trạng về giáo dục ý thức tìm việc làm cho lao độngthuộc các hộ nghèo trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, từ đó đề xuấtnhững biện pháp giáo dục ý thức tìm việc làm cho người lao động phù hợpvới đặc điểm tâm lí của những người lao động thuộc hộ nghèo và phù hợp cơcấu ngành nghề của địa phương nhằm giúp họ có việc làm tăng thu nhập,thoát nghèo bền vững
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục ý thức tìm việc làm cho người lao động thuộc hộnghèo
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp giáo dục ý thức tìm việc làm cho người lao động thuộc hộnghèo
4 Giả thiết khoa học
Do trình độ nhận thức, môi trường sống thấp kém, thiếu hiểu biết xã hộicủa người dân cũng như phong tục tập quán, nhu cầu cuộc sống và suy nghĩ
Trang 9bằng lòng với cuộc sống hiện tại của đồng bào dân tộc thiểu số đã ảnh hưởngđến ý thức làm việc của các lao động thuộc các hộ nghèo Nếu có biện phápgiáo dục phù hợp với đặc điểm tâm lí của những người lao động thuộc hộnghèo và phù hợp cơ cấu ngành nghề của địa phương và được triển khai đồng
bộ hiệu quả sẽ thay đổi được nhận thức người lao động, giúp họ có nhu cầulàm việc, tìm được việc làm ổn định làm tăng thu nhập, thoát nghèo bền vững,nâng cao chất lượng cuộc sống cho bản thân và gia đình, góp phần phát triểnkinh tế - xã hội
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận về giáo dục ý thức tìm việc làm cho người laođộng thuộc hộ nghèo
- Khảo sát và đánh giá thực trạng về giáo dục ý thức tìm việc làm chongười lao động thuộc các hộ nghèo trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
- Đề xuất biện pháp giáo dục ý thức tìm việc làm cho người lao độngthuộc các hộ nghèo trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu và khảonghiệm về sự cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất
6 Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát tại một số hộ có quyết định công nhận hộ nghèo của Ủy bannhân dân các xã, thị trấn từ năm 2016 đến năm 2019 trên địa bàn huyện TânUyên, tỉnh Lai Châu
Đề tài nghiên cứu một số biện pháp trong công tác lãnh đạo, chỉ đạocủa cấp ủy, chính quyền từ huyện đến cơ sở; công tác giáo dục ý thức, tuyêntruyền, vận động, tư vấn, hướng nghiệp cho lao động Công tác phối hợp củacác ban ngành, đoàn thể và các tổ chức chính trị - xã hội về tạo việc làm cholao động
Trang 107 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Thu thập, tổng hợp thông tin về tiêu chí việc làm và việc làm phi nôngnghiệp từ kết quả rà soát hộ nghèo trên địa bàn (200 hộ) tại Phụ lục số 3B(Phiếu B), phụ lục số 3C (Phiếu C) kèm theo Thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH ngày 28/6/2016 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướngdẫn quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hàng năm theo chuẩn nghèo tiếpcận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020; Thông tư số 14/2018/TT-BLĐTBXH ngày 26/9/2018 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về Sửađổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Thiết kế hệ thống phiếu hỏigồm các câu hỏi đóng và mở (mỗi phiếu từ 20-25 câu hỏi) chia theo các nhómđối tượng như: Nhóm lao động thuộc các hộ nghèo; nhóm người đại diện các
cơ quan liên quan; nhóm quản lý lao động cấp xã; nhóm đại diện các tổ chứcchính trị - xã hội; nhóm đơn vị, doanh nghiệp tuyển chọn lao động trên địabàn nhằm thu thập những thông tin cần thiết cho đề tài nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Lựa chọn một số lao động, đối tượngliên quan để phỏng vấn trực tiếp về vấn đề nghiên cứu Nội dung phỏng vấnmang tính tổng quát vấn đề và thiên về trình bày ý kiến chủ quan của cá nhân,giải thích cho việc lựa chọn các phương án trả lời câu hỏi
- Phương pháp quan sát: Quan sát thái độ, hành vi làm việc của ngườilao động thông qua các hoạt động sản xuất và tại các buổi tuyên truyền, triểnkhai các chính sách về việc làm hay những cuộc nói chuyện tư vấn trực tiếp
về việc làm tại gia đình lao động thuộc các hộ nghèo, qua đó thu thập nhữngthông tin cần thiết liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng các công thức toán học tínhtoán, so sánh kết quả giữa các năm để đánh giá thực trạng và rút ra những kếtluận phục vụ quá trình nghiên cứu
Trang 11- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Thông qua các báo cáo tổng kết
về công tác lao động, việc làm, thực hiện các chính sách giảm nghèo cấphuyện, cấp xã hàng năm, kết hợp với việc điều tra, khảo sát thực tế rút ra kinhnghiệm để xác định các biện pháp cần đề xuất của đề tài
- Phương pháp khảo nghiệm: Sau khi nghiên cứu, đưa ra các biện pháp
để giáo dục ý thức tìm việc làm cho lao động thuộc các hộ nghèo, tác giảtrưng cầu ý kiến về sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp, từ đó điềuchỉnh bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp
8 Cấu trúc của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo,phụ lục và nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về giáo dục ý thức tìm việc làm cho người lao
động thuộc hộ nghèo
Chương 2: Thực trạng về giáo dục ý thức tìm việc làm cho người lao
động thuộc hộ nghèo trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
Chương 3: Biện pháp giáo dục ý thức tìm việc làm cho người lao động
thuộc hộ nghèo trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC
TÌM VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG THUỘC HỘ NGHÈO
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Giáo dục ý thức tìm việc làm cho người lao động thuộc hộ nghèo là mộtdạng của giáo dục người lớn (Adult Education) là một thuật ngữ chỉ toàn bộnhững quá trình giáo dục có tổ chức, bất kể nội dung, trình độ và phươngpháp gì, chính quy hay không chính quy, kéo dài hay thay thế giáo dục banđầu ở trường phổ thông và đại học hoặc trong thực tập nghề mà nhờ đó những
ai được coi là người lớn sẽ phát triển được khả năng của họ, làm giàu thêm trithức, nâng cao chất lượng chuyên môn hay tay nghề hoặc họ sẽ phát triển theophương hướng mới đem lại những thay đổi về thái độ và hành vi trong sự pháttriển của cá nhân và sự tham gia của cá nhân vào sự phát triển kinh tế - xã hội[20, tr.01]
Học viên người lớn (Adult Student hay Adult learner) là những ngườihọc lớn tuổi, không bao gồm sinh viên đại học Họ tiến hành việc học tập có
hệ thống sau khi đã hoàn thành được vòng đầu của giáo dục liên tục, nghĩa là
đã học qua hệ giáo dục ban đầu Những người lớn tuổi theo học hệ tập trungthường đã trải qua giai đoạn làm việc tập trung trước khi trở lại học tập Phầnđông người học lớn tuổi theo học các hệ tại chức theo chế độ vừa học, vừalàm [20, tr.01]
Những người đã được đào tạo nghề (không kể ở bậc đại học), tiếp tụctheo các chương trình đào tạo nghề khi đi vào cuộc sống cũng được coi là họcviên người lớn, nhưng ở nước ngoài, người ta dùng thuật ngữ Adult Trainee(Adulte en Situation de Formation professionelle) [20, tr.01]
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Ngay từ rất sớm nhà kinh tế người Anh J.M Keynes (1883-1946) đã cóTác phẩm nổi tiếng của ông là cuốn "Lý luận chung về việc làm, lãi suất vàtiền tệ" xuất bản năm 1936 Trong tác phẩm này, J.M Keynes xem xét việc
Trang 13làm trong mối quan hệ giữa sản lượng - thu nhập - tiêu dùng - đầu tư - tiếtkiệm - việc làm Theo ông, trong một nền kinh tế, khi sản lượng tăng, thunhập tăng, đầu tư tăng thì việc làm tăng và ngược lại Tâm lí của quần chúng
là khi tổng thu nhập tăng thì cũng tăng tiêu dùng, nhưng tốc độ tăng tiêu dùngchậm hơn so với tăng thu nhập và có khuynh hướng tiết kiệm một phần thunhập, làm cho cầu tiêu dùng có hiệu quả hay cầu tiêu dùng thực tế giảm tươngđối so với thu nhập dẫn đến một bộ phận hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng không
có khả năng bán được Thừa hàng hóa là nguyên nhân gây ra khủng hoảng,ảnh hưởng tới quy mô sản xuất ở chu kì tiếp theo nên việc làm giảm, thấtnghiệp tăng Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, khi quy mô đầu tư tư bảntăng thì hiệu quả giới hạn của tư bản đầu tư có xu hướng giảm sút tạo nên giớihạn chật hẹp về thu nhập của doanh nhân trong đầu tư tương lai Doanh nhânchỉ tích cực mở rộng đầu tư khi hiệu quả giới hạn của tư bản lớn hơn lãi suất.Còn khi hiệu quả giới hạn của tư bản nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất thì họ khôngtích cực đầu tư nên quy mô sản xuất bị thu hẹp, dẫn đến việc làm giảm, thấtnghiệp tăng Theo Keynes, để tăng việc làm, giảm thất nghiệp, phải tăng tổngcầu của nền kinh tế Chính phủ có vai trò kích thích tiêu dùng (tiêu dùng sảnxuất và phi sản xuất) để tăng tổng cầu thông qua tăng trực tiếp các khoản chitiêu của chính phủ, hoặc thông qua các chính sách của Chính phủ nhằmkhuyến khích đầu tư của tư nhân, của các tổ chức kinh tế xã hội Keynes còn
sử dụng các biện pháp: hạ lãi suất cho vay, giảm thuế, trợ giá đầu tư, in thêmtiền giấy để cấp phát cho ngân sách nhà nước nhằm tăng đầu tư và bù đắp cáckhoản chi tiêu của Chính phủ Ông chủ trương tăng tổng cầu của nền kinh tếbằng mọi cách, kể cả khuyến khích đầu tư vào các hoạt động ăn bám nền kinh
tế như: sản xuất vũ khí đạn dược, chạy đua vũ trang, quân sự hoá nền kinh tế
Lý thuyết về việc làm của J.M Keynes được xây dựng dựa trên các giả địnhđúng với các nước phát triển, nhưng không hoàn toàn phù hợp với các nướcđang phát triển Bởi vì hầu hết các nước nghèo, nguyên nhân khó khăn cơ bản
để gia tăng sản lượng, tạo việc làm không phải do tổng cầu không đủ cao Ởcác nước đang phát triển, khi tổng cầu tăng sẽ kéo theo tăng giá cả, dẫn đến
Trang 14lạm phát Vì thế, biện pháp tăng tổng cầu để tăng quy mô sản xuất, tạo việclàm không đúng với mọi quốc gia, trong mọi thời kỳ [16, tr.14].
Bài viết về tiêu chuẩn lao động quốc tế (International labour standardsfor development and social justice), ILO Tiêu chuẩn lao động quốc tế dựatrên các công ước thoả thuận của các tổ chức quốc tế, kết quả từ các cuộcđánh giá, khảo sát và đưa ra các quy định để bảo vệ các quyền cơ bản củangười lao động, đảm bảo công việc ổn định của người lao động và cải thiệnđiều kiện làm việc của họ trên quy mô toàn cầu [02, tr.01]
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt cuộc đời cống hiến trọn vẹn cho độc lập, tự
do của dân tộc, hạnh phúc của Nhân dân Người đã ra đi mãi mãi nhưngnhững tư tưởng của Người luôn là di sản văn hóa vô giá của dân tộc ViệtNam Một trong những tư tưởng quý giá cần được vận dụng rộng rãi tronggiai đoạn hiện nay là tư tưởng của Hồ Chí Minh về giáo dục Sinh thời, Chủtịch Hồ Chí Minh công tác trong nghề dạy học không nhiều, tuy nhiên, những
tư tưởng của Hồ Chí Minh về giáo dục bắt nguồn từ đây Người đã dành sựquan tâm và tình cảm rất lớn cho thế hệ trẻ - thế hệ nắm giữ vận mệnh củadân tộc, quyết định tương lai của đất nước Ngày nay, mấy thập kỷ đã trôi quanhưng những tư tưởng của Người về giáo dục tiếp tục được vận dụng trongcông cuộc giáo dục thế hệ trẻ
Trong thời gian qua, vấn đề về giáo dục ý thức tìm việc làm cho ngườilao động thuộc các hộ nghèo chưa có tác giả nào nghiên cứu và đưa ra cácgiải pháp cụ thể Tuy nhiên vấn đề giáo dục ý thức nói chung và các vấn đề vềlĩnh vực lao động, giải quyết việc làm cho lao động đã được nhiều tác giả đềcập đến, ví dụ như:
- Bài viết bàn về giải pháp cho vấn đề lao động ở Việt Nam hiện naycủa Đỗ Thị Thu Hương nói về Việt Nam đang hình thành hai loại hình nhânlực, là nhân lực phổ thông và nhân lực chất lượng cao Nhân lực phổ thônghiện tại vẫn chiếm số đông, trong khi đó, tỷ lệ nhân lực chất lượng cao lại
Trang 15chiếm tỉ lệ rất thấp Do đó, trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích vềthực trạng nguồn nhân lực hiện nay và đề xuất các giải pháp phát triển nguồnnhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, đang là một đòi hỏi bứcthiết hiện nay [06, tr.01].
- Cuốn sách: “Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiệnđại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”(NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Nguyễn Minh Đường, Phan Văn Kha, đề tàiKX-05-10) Nhóm tác giả đã đề cập đến việc đào tạo và phát triển nguồn nhânlực, mối quan hệ giữa nguồn nhân lực và quá trình công nghiệp hóa - hiện đạihóa đất nước Trong đề tài cũng làm rõ thực trạng lao động và chính sách sửdụng lao động của nước ta hiện nay còn nhiều bất cập và mất cân đối Chấtlượng nguồn lao động được nhóm tác giả quan tâm, chất lượng lao động cóliên quan đến khả năng cạnh tranh trong tiến trình hội nhập quốc tế và khuvực, theo tác giả đối với Việt Nam đây là vấn đề rất đáng lo ngại Bàn vềnguồn nhân lực đào tạo nhưng không có việc làm, thậm chí việc làm khôngphù hợp với chuyên môn được đào tạo lãng phí gây tổn thất về mặt thời gian
và tiền bạc, chất xám của nền giáo dục đất nước Chính sách sử dụng lao độngcũng còn nhiều quan liêu, hai tác giả đưa ra kết luận trong nền kinh tế nhiềuthành phần người lao động cần được đối xử bình đẳng, cần có những chínhsách phù hợp để sử dụng nguồn lao động đó một cách hiệu quả nhất, tạo điềukiện cho người lao động phát huy được tiềm năng và năng lực của bản thân[14, tr.02]
- Trong cuốn sách “Toàn cầu hoá: cơ hội và thách thức đối với lao độngViệt Nam", tác giả Nguyễn Bá Ngọc và Trần Văn Hoan (chủ biên), Nxb Laođộng - xã hội, Hà Nội, 2002, đã trình bày tổng quan tác động của toàn cầu hoáđến lao động và các vấn đề xã hội của Việt Nam, những xu hướng vận độngcủa nguồn nhân lực, lao động và việc làm Việt Nam dưới tác động của toàncầu hoá kinh tế, phân tích những cơ hội và thách thức đối với lao động ViệtNam trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế Từ đó đề ra các giải pháp đối với
Trang 16lao động Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế [10, tr.01].
- Liên quan đến vấn đề việc làm, lao động và nghề nghiệp bài viết
“Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong quá trình đô thị hóa, côngnghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn” (Tạp chí Lao động - xã hội số 247 đăng
từ 16-39/4/2004) của Nguyễn Hữu Dũng Trong nghiên cứu, tác giả đã bànđến thực trạng lao động việc làm ở nông thôn trong quá trình công nghiệphóa, đô thị hóa khi mà lực lượng lao động ở khu vực đó khó có thể đảm bảokhi tham gia vào các nhà máy, xí nghiệp Khi đô thị hóa đang tiến đến cácvùng nông thôn thì dân cư tại các vùng này đang gặp phải những thay đổiquan trọng cả về đất đai và điều kiện làm việc, tác giả đã chỉ ra những khókhăn của lao động việc làm tại khu vực nông thôn đồng thời chỉ ra nhữnghướng giải quyết cho những đối tượng [11, tr.01]
- Trong bài viết: “Thực trạng lao động việc làm qua kết quả điều tra1/7/2004” (Tạp chí lao động xã hội, số 251, từ 7-10/11/2004) của tác giảTrương Văn Phúc đã đề cập đến tình trạng lao động và việc làm của lực lượnglao động ở các tỉnh, thành phố cũng như vùng kinh tế trọng điểm Trongkhuôn khổ bài viết, tác giả cũng đi đánh giá một cách tổng quát những kết quảđạt được về giải quyết việc làm cho lực lượng lao động [25, Tr.06]
- Cuốn sách của tác giả Nguyễn Thị Thơm: “Thị trường lao động ViệtNam thực trạng và giải pháp” (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006) Cuốnsách đã đưa ra vấn đề việc làm và chính sách với người lao động, tác giả cũngđưa ra một số nhận định đó là cần phải tôn trọng bản chất thực sự của thịtrường lao động Vai trò của các cơ sở giáo dục và đào tạo, đánh giá kháchquan về mô hình xã hội hóa giáo dục Tác giả cũng khẳng định cần đẩy mạnhcác hoạt động chắp nối cung - cầu lao động tạo cơ sở bình đẳng cho người laođộng tiếp cận với cơ hội việc làm [17, Tr.10]
- Bài viết “Vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam” của tácgiả Phạm Đức Thành đăng trên Tạp chí kinh tế và phát triển số
64 năm 2002 Trong bài viết tác giả đã đánh giá được hiện
Trang 17trạng thất nghiệp và giải quyết việc làm trên cở sở đó đưa ranhững quan điểm và biện pháp nhằm giải quyết việc làm chongười lao động [19, tr.03].
- Bài viết “Giáo dục ý thức lao động cho học sinh - Một việc làm thiếtthực" của tác giả Ngụy Thị Hường, Trường tiểu học thị trấn Tân Dân đăngtrên Cổng thông tin điện tử edu.viettel/pgdyendung Trong bài viết nói giáodục thông qua lao động là việc làm quan trọng trong việc phát triển giáo dụctoàn diện nhân cách học sinh, hình thành cho các em những phẩm chất củangười lao động mới [9, tr.01]
- Bài viết “Giáo dục lao động " của tác giả Tô Bá Trọng đăng trên
Trang tin điện tử https://www.bqllang.gov.vn/ Bài viết nói về vấn đề giáo dục
lao động có quan hệ chặt chẽ với quan niệm của Bác Hồ về con người hoàntoàn mà nhà trường phải đào tạo [24, tr.01]
- Bài viết "Trách nhiệm của nhà nước, gia đình và xã hội đối với thanhniên trong lao động" của tác giả Nguyễn Đức Anh đăng trên Trang thông tinđiện tử http://luatlaodong.vn/ Bài viết nói về những quy định trách nhiệm củanhà nước, gia đình và xã hội đối với thanh niên trong lao động được quy địnhtrong Luật Thanh niên năm 2005 [11, tr.01]
Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết liên quan đến vấn đề lao động và việclàm mà các tác giả đã đi vào nghiên cứu
Nhìn chung, các bài viết, lí thuyết về việc làm trên đều tập trungnghiên cứu, xác định mối quan hệ giữa lao động và các yếu tố liên quan đếnviệc làm, tạo việc làm cho người lao động Những lí luận đó tuy chưa làm rõvai trò của công tác giáo dục trong giải quyết việc làm cho người lao động,nhưng có tác dụng gợi mở cho chúng ta khi phân tích thực trạng về ý thứctìm việc của người lao động và đề ra những biện pháp phù hợp để giáo dục ýthức tìm việc làm cho người lao động nói chung, người lao động thuộc các
hộ nghèo nói riêng
Trang 181.2 Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Khái niệm về việc làm
Việc làm là vấn đề được nghiên cứu và đề cập dưới nhiều khía cạnhkhác nhau Cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về việc làm cũngđược nhìn nhận một cách khoa học, đầy đủ và đúng đắn hơn
Xét về mặt xã hội, mọi người có sức lao động đều có quyền có việclàm Đó là một trong những quyền cơ bản nhất của con người đã được khẳngđịnh trong Hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam [13, tr.01]
Nhưng trên thực tế đảm bảo quyền có việc làm cho người lao động làvấn đề thách thức, là bài toán phức tạp và đầy khó khăn không những ở nước
ta mà còn ở tất cả các nước trên thế giới trong điều kiện hiện nay Vì vậy vấn
đề việc làm được nhắc đến rất nhiều, nhưng trong mỗi thời gian và khônggian khác nhau thì khái niệm về việc làm lại có những thay đổi nhất định
Trước đây trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp ngườilao động được coi là có việc làm là những người làm việc trong thành phầnkinh tế quốc doanh, khu vực kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể, ngoài rakhông có sự thừa nhận các hoạt động ở lĩnh vực khác Trong cơ chế đó Nhànước bố trí việc làm cho người lao động do đó chưa có khái niệm về thiếuviệc làm hay việc làm không đầy đủ
Ngày nay trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần thì quan niệm
về việc làm có sự thay đổi về căn bản
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm việc làm: Việc làm lànhững hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật [13, tr.01]
Theo Điều 9, Chương II Bộ Luật lao động chỉ rõ: “Việc làm là hoạtđộng lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” [22, tr.04] Việclàm là nhu cầu, quyền lợi nhưng đồng thời cũng là nghĩa vụ và trách nhiệmđối với mọi người Theo Đại hội Đảng lần thứ VII: “Mọi việc mang lại thunhập cho người lao động có ích cho xã hội đều được tôn trọng” [13, tr.01]
Trang 191.2.2 Khái niệm về hộ nghèo
Hộ nghèo được quy định tại Khoản 1 Điều 2 Thông tư BLĐTBXH hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng nămtheo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 do Bộtrưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành [04, tr.02]
17/2016/TT-Theo đó, Hộ nghèo là hộ gia đình qua điều tra, rà soát hằng năm ở cơ
sở đáp ứng các tiêu chí về xác định hộ nghèo được quy định tại Khoản 1 vàKhoản 2 Điều 2 Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủtướng Chính phủ và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định côngnhận thuộc danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn, cụ thể:
* Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trởxuống
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cậncác dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
* Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trởxuống
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cậncác dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
1.2.3 Khái niệm về ý thức
Theo quan điểm của triết học Mac-Lênin về nguồn gốc, bản chất của ýthức thì ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc của conngười một cách năng động, sáng tạo [08, tr.02,03]
Để biết rõ về quan điểm của triết học Mac-lênin về ý thức chúng ta cầnphải tìm hiểu hai nội dung lớn đó là nguồn gốc và bản chất của ý thức
Trang 20Đầu tiên ta đi nghiên cứu về nguồn gốc của ý thức: thì nguồn gốc của ýthức được chia làm 2 loại đó là nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.
- Nguồn gốc tự nhiên: Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vàotrong bộ óc của con người Bộ óc người là cơ quan phản ánh, song chỉ có bộ
óc thôi thì chưa có ý thức Không có sự tác động của thế giới bên ngoài lêncác giác quan và qua đó đến bộ óc thì hoạt động ý thức không thể xảy ra Nhưvậy bộ óc người cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc đó là nguồngốc tự nhiên của ý thức
- Nguồn gốc xã hội: Ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óccon người nhờ lao động, ngôn ngữ và những quan hệ xã hội Lao động là quátrình con người tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra những sản phẩm phục
vụ cho nhu cầu của mình, trong đó con người đóng vai trò môi giới, điều tiết
và giám sát trong sự trao đổi vật chất giữa người và tự nhiên Lao động làhoạt động đặc thù của con người, lao động luôn mang tính tập thể xã hội
1.2.4 Khái niệm về giáo dục
Giáo dục (rộng): là quá trình hình thành nhân cách được tổ chức một
cách có mục đích, có kế hoạch, thông qua hoạt động và giao lưu giữa nhà giáodục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm
xã hội [32, tr.68]
Giáo dục (hẹp): là một bộ phận của quá trình giáo dục, là quá trình hình
thành thế giới quan khoa học, niềm tin, lí tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ,hành vi thói quen đạo đức cho người được giáo dục [32, tr.68]
1.2.5 Khái niệm về người lao động
Theo Khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động 2012 định nghĩa: Người laođộng là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợpđồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lí, điều hành của người sửdụng lao động [22, tr.01]
Theo định nghĩa này thì người lao động được giới hạn độ tuổi từ đủ 15trở lên Tuy nhiên, Bộ luật lao động cũng đồng thời đưa ra quy định đối với
Trang 21một số công việc có tính chất đặc biệt, người sử dụng lao động được thuêngười lao động dưới 15 tuổi, tuy nhiên phải đáp ứng những điều kiện nhất định.
Cụ thể: Điều 164 Bộ luật lao động 2012 quy định [22, tr.46]:
1 Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người từ đủ 13 tuổi đếndưới 15 tuổi làm các công việc nhẹ theo danh mục do Bộ Lao động - Thươngbinh và Xã hội quy định
2 Khi sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi thì người sử dụnglao động phải tuân theo quy định sau đây:
a) Phải kí kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người đại diện theopháp luật và phải được sự đồng ý của người từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi
b) Bố trí giờ làm việc không ảnh hưởng đến giờ học tại trường học củatrẻ em
c) Bảo đảm điều kiện làm việc, an toàn lao động, vệ sinh lao động phùhợp với lứa tuổi
3 Không được sử dụng lao động là người dưới 13 tuổi làm việc trừ một
số công việc cụ thể do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định
Khi sử dụng người dưới 13 tuổi làm việc thì người sử dụng lao độngphải tuân theo quy định tại khoản 2 Điều này
1.2.6 Khái niệm về giáo dục người lớn
Giáo dục người lớn là quá trình giáo dục có tổ chức, dưới hình thứcchính quy hay không chính quy, kéo dài hay thay thế giáo dục ban đầu (ởtrường phổ thông hay trường đại học) cho những ai được coi là người lớn,làm giàu thêm kiến thức, nâng cao chất lượng chuyên môn và tay nghề, thayđổi thái độ và hành vi của họ trong phát triển cá nhân cũng như trong pháttriển cộng đồng [21, tr.01]
1.2.7 Khái niệm về giáo dục ý thức tìm việc làm cho người lao động thuộc hộ nghèo
Dựa trên cơ sở lí luận, thông qua các khái niệm về giáo dục, ý thức,
Trang 22lao động, hộ nghèo và việc làm thì khái niệm về giáo dục ý thức tìm việc
làm cho người lao động thuộc hộ nghèo được hiểu là quá trình trong đó nhà giáo dục cung cấp cho người lao động kiến thức về nghề, ý thức về nghĩa vụ
và trách nhiệm lao động trên cơ sở đó tạo lập thói quen, thái độ và kỹ năng lao động tuỳ theo lứa tuổi và giới tính để làm chủ cuộc sống trong thực tại
và tương lai.
Như vậy giáo dục ý thức lao động thuộc hộ nghèo gồm:
- Giáo dục ý thức và thái độ lao động đó là làm cho người học ý thức vềnghĩa vụ lao động, trách nhiệm vẻ vang của công dân đối với việc lao động đểxây dựng đất nước
- Giáo dục lòng yêu lao động, thái độ lao động tích cực, phương pháplao động sáng tạo, tình yêu thương, quý trọng đối với người lao động Trântrọng thành quả lao động của con người, sản phẩm mà người lao động làm ra
- Hình thành kĩ năng lao động phổ thông là giúp cho họ có khả nănglàm được công việc phổ thông theo nội dung đã học tuỳ vào lứa tuổi, giớitính, lĩnh vực nghề…
- Người học hiểu được đường lối, chiến lược phát triển kinh tế của nhànước và của địa phương
1.3 Giáo dục ý thức tìm việc làm cho người lao động thuộc hộ nghèo
1.3.1 Vị trí, vai trò của việc làm [01, tr.01]
Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thểthiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyênsuốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xãhội, nó chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội
Đối với từng cá nhân thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôisống bản thân mình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đờisống của cá nhân Việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độtay nghề của từng cá nhân, thực tế cho thấy những người không có việc làm
Trang 23thường tập trung vào những vùng nhất định (vùng đông dân cư khó khăn vềđiều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng ), vào những nhóm người nhất định (laođộng không có trình độ tay nghề, trình độ văn hoá thấp ) Việc không có việclàm trong dài hạn còn dẫn tới mất cơ hội trau dồi, nắm bắt và nâng cao trình
độ kĩ năng nghề nghiệp làm hao mòn và mất đi kiến thức, trình độ vốn có
Đối với kinh tế thì lao động là một trong những nguồn lực quan trọng
và không thể thay thế đối với một số ngành, bởi nó là nhân tố tạo nên tăngtrưởng kinh tế và thu nhập quốc dân, nền kinh tế luôn phải đảm bảo tạo cầu
và việc làm cho từng cá nhân sẽ giúp cho việc duy trì mối quan hệ hài hoàgiữa việc làm và kinh tế, tức là luôn bảo đảm cho nền kinh tế có xu hướngphát triển bền vững, ngược lại nó cũng duy trì lợi ích và phát huy tiềm năngcủa người lao động
Đối với xã hội thì mỗi một cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu thànhnên xã hội, vì vậy việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội, một mặt nótác động tích cực, mặt khác nó tác động tiêu cực Khi mọi cá nhân trong xãhội có việc làm thì xã hội đó được duy trì và phát triển do không có mâuthuẫn nội sinh trong xã hội, không tạo ra các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội,con người được dần hoàn thiện về nhân cách và trí tuệ… Ngược lại khi nềnkinh tế không đảm bảo đáp ứng về việc làm cho người lao động có thể dẫnđến nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội và ảnh hưởng xấu đến sự phát triểnnhân cách con người Con người có nhu cầu lao động ngoài việc đảm bảonhu cầu đời sống còn đảm bảo các nhu cầu về phát triển và tự hoàn thiện, vìvậy trong nhiều trường hợp khi không có việc làm sẽ ảnh hưởng đến lòng tựtin của con người, sự xa lánh cộng đồng và là nguyên nhân của các tệ nạn xãhội Ngoài ra khi không có vệc làm trong xã hội sẽ tạo ra các hố ngăn cáchgiàu nghèo là nguyên nhân nảy sinh ra các mâu thuẫn và nó ảnh hưởng đếntình hình chính trị
Vai trò việc làm đối với từng cá nhân, kinh tế, xã hội là rất quan trọng,
vì vậy để đáp ứng được nhu cầu việc làm của toàn xã hội đòi hỏi Nhà nước
Trang 24phải có những chiến lược, kế hoạch cụ thể đáp ứng được nhu cầu này.
1.3.2 Đặc điểm tâm lí của người lao động thuộc hộ nghèo
Tâm lí không muốn thoát nghèo: Trong khi cả hệ thống chính trị đang
nỗ lực thực hiện mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững, thì có một số ngườilao động lại không muốn thoát nghèo, ỷ lại vào các chính sách hỗ trợ của Nhànước Nghe ra có vẻ nghịch lí nhưng đây là sự thật đã và vẫn đang diễn ra
Tâm lí ngại thay đổi, an phận, cam chịu, tiết chế nhu cầu: Đây là tâm lí
ăn sâu bám rễ của phần lớn người lao động thuộc các hộ nghèo ở các bảnvùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại khó khăn, giao lưu văn hóa, kinh tế cònnhiều hạn chế Đời sống người dân ở những vùng này dựa vào tự nhiên làchính, tập quán sản xuất lạc hậu, tự cấp tự túc, lâu dần hình thành tâm lí cảmthấy “đủ”, tiết chế nhu cầu; ở phương diện nào đó, họ “bằng lòng” với cáinghèo, không nghĩ đến cũng như không cần đến sự thay đổi để nâng cao chấtlượng cuộc sống
Tư tưởng, tập quán canh tác và thói quen sinh hoạt lạc hậu: Vấn đề
thiếu việc làm, nghèo đói cũng bắt nguồn từ chính những tập tục lạc hậu trongđời sống của đồng bào người dân tộc Nhiều tập tục tổ chức rườm rà, ăn uốngkéo dài, gây lãng phí thời gian và tiền bạc; không có sự tích lũy, tái đầu tư cho
sản xuất và phòng thân Những tư tưởng, tập quán lạc hậu trên chính là yếu tố
ảnh hưởng đến công tác giáo dục ý thức tìm việc làm cho người lao độngthuộc các hộ nghèo
1.3.3 Các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục ý thức tìm việc làm cho người lao động thuộc hộ nghèo
Dựa trên cơ sở công tác triển khai nhiệm vụ về thực hiện các chính sách đối với người lao động, vị trí, vai trò của các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục ý thức tìm việc làm cho người lao động thuộc hộ nghèo thể hiện như sau:
- Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan thường trực,tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện quản lí các chính sách về lao động,việc làm, đào tạo nghề cho lao động, các chính sách đối với hộ nghèo, hộ cận
Trang 25nghèo Hàng năm hướng dẫn các xã, thị trấn tổ chức rà soát về tình hình laođộng, xây dựng kế hoạch thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước đến
người lao động Đây là cơ quan đóng vai trò chủ thể trong hoạt động giáo dục ý thức tìm việc làm cho người lao động thuộc hộ nghèo.
- Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan tham mưu cho
Ủy ban nhân dân huyện thực hiện các chính sách về phát triển nông nghiệp,nông thôn Phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội triển khaicác chính sách về việc làm, đào tạo nghề đến nhóm người lao động thuộc lĩnhvực nông nghiệp
- Phòng Giáo dục và Đào tạo là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dânhuyện, dưới sự hướng dẫn chuyên môn của Sở Giáo dục và Đào tạo, phụ trách
về công tác giáo dục và đào tạo trên địa bàn quản lí Trong đó trình độ củangười lao động phụ thuộc vào quá trình giáo dục và duy trì tỉ lệ học sinh thamgia các bậc học
- Đoàn thanh niên là tổ chức quản lí nhóm người bắt đầu bước vào độtuổi lao động, có vai trò tương đối quan trọng trong hoạt động giáo dục ý thứctìm việc làm cho người lao động thuộc hộ nghèo Hoạt động tuyên truyền, vậnđộng của tổ chức Đoàn thanh niên vừa có tác dụng thu hút được đoàn viên,thanh niên tham gia lao động, tìm việc làm; vừa tăng cường thêm lực lượngcho đội ngũ tuyên truyền viên cơ sở
- Hội Liên hiệp phụ nữ quản lí nhóm lao động nữ; phối hợp triển khaicác chính sách về tạo việc làm đến hội viên trong tổ chức mình quản lí Tuyêntruyền, vận động các nữ lao động tham gia làm việc hoặc tạo điều kiện chocác thành viên trong gia đình tham gia làm việc
- Hội Nông dân là tổ chức khá quan trọng đối với những huyện vùngnông thôn có số lượng hộ dân làm nông nghiệp chiếm tỉ lệ lớn Phối hợp triểnkhai các chính sách về tạo việc làm đến hội viên trong tổ chức mình quản lí.Tuyên truyền, vận động các hội viên tham gia làm việc để phát triển kinh tếgia đình, vươn lên thoát nghèo
Trang 26- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện theo chức năng, nhiệm vụphối hợp với các đơn vị liên quan, Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn tuyêntruyền đến đoàn viên, hội viên và Nhân dân về chính sách tạo việc làm vàgiáo dục ý thức tìm việc làm cho người lao động thuộc hộ nghèo Vận độngngười lao động tham gia lao động sản xuất, tìm kiếm việc làm góp phần vàocông tác giảm nghèo của địa phương.
- Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên tổ chứcđào tào nghề cho lao động nông thôn đảm bảo chất lượng Lồng ghép tuyêntruyền, phổ biến các chính sách, thông tin về thị trường tuyển lao động trongnước và nước ngoài; tư vấn, định hướng và hướng dẫn người học đăng kí, làm
hồ sơ xin việc sau khi kết thúc các khóa học
- Các trường Trung học phổ thông tổ chức tốt công tác giáo dục để cónguồn nhân lực trình độ cao Phổ biến đến học sinh các chính sách hỗ trợ củanhà nước đối với người lao động và thông tin tình hình việc làm tại các công
ti, doanh nghiệp để học sinh có định hướng học nghề, tìm việc làm sau khi ratrường và có thể tuyên truyền đến động là những người thân trong gia đình,trong bản, nơi học sinh sinh sống
- Đơn vị, doanh nghiệp tuyển chọn lao động có vai trò tuyên truyền,tuyển trọn và sử dụng lao động Giải quyết việc làm cho những người laođộng chưa có việc làm hoặc thu nhập thấp
- Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp quản lí người dân sát với cơ sở nhất, cóvai trò nắm bắt, tiếp nhận, tổ chức triển khai và quản lí toàn bộ các chính sáchđối với người lao động
1.3.4 Mục tiêu của giáo dục ý thức tìm việc làm cho người lao động thuộc hộ nghèo
- Mục tiêu của giáo dục ý thức tìm việc làm cho người lao động thuộc
hộ nghèo là nhằm nâng cao hiểu biết, nhận thức cho người lao động, giúpngười lao động nhận thức được vai trò, ý nghĩa của việc làm với cuộc sống
- Qua giáo dục giúp người lao động có kiến thức, thái độ làm việc tích
Trang 27cực, chủ động say mê, ham học hỏi trong công việc Giúp cho họ có hiểu biết
về ngành nghề, các công việc hiện có ở địa phương và nhu cầu của thị trườnglao động, hình thành những thái độ cần phải có trong quá trình làm việc
- Hình thành kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, thói quenlàm việc độc lập và có tính sáng tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ýthức kỉ luật, tác phong làm việc, có sức khoẻ tốt Tạo điều kiện cho người laođộng có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng caotrình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, yêucầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh
- Hình thành tính chủ động tìm việc làm cho bản thân Qua thông tin vềcác chính sách hỗ trợ việc làm, các thông tin thị trường lao động giúp ngườilao động chủ động, tích cực lựa chọn những việc làm phù hợp với trình độ,năng lực của mình đảm bảo lao động tạo ra được của cải, cải thiện cuộc sốnghiện tại theo hướng phát triển vươn lên thoát nghèo bền vững
1.3.5 Nội dung của giáo dục ý thức tìm việc làm cho người lao động thuộc hộ nghèo
1.3.5.1 Giáo dục nâng cao nhận thức cho người lao động về ngành nghề, về thị trường lao động
Nhận thức là kim chỉ nam cho mọi hành động Có nhận thức tốt, sâusắc thì hành động mới hiệu quả Vì vậy việc nâng cao nhận thức cho ngườilao động thuộc hộ nghèo về ngành nghề, về thị trường lao động là rất quantrọng Nâng cao nhận thức cho người lao động thuộc hộ nghèo gồm nhữngnội dung sau:
- Cung cấp những thông tin về ngành nghề phổ thông chủ yếu hiện nay
ở trong xã hội và đặc biệt là ở địa phương nơi các lao động thuộc hộ nghèođang sinh sống Phân tích sự đúng hoặc sai về quan niệm của một số nghềtrong xã hội hiện tại Sự ảnh hưởng của kinh tế, khoa học, công nghệ đến sựphát triển của các ngành nghề
- Giáo dục cho người lao động thuộc hộ nghèo có những hiểu biết cơ
Trang 28bản về thị trường tuyển dụng, sự phân công lao động, phân hóa xã hội Thôngtin về sự phát triển của các nghề trong xã hội, thông tin tình hình phân cônglao động, yêu cầu, điều kiện tuyển chọn lao động
- Cung cấp cho họ hệ thống các trường dạy nghề, các cơ sở sản xuất,kinh doanh, công ty, xí nghiệp để lao động có hướng lựa chọn việc làm chophù hợp với bản thân
- Giáo dục cho những người lao động biết đánh giá đúng về hoàn cảnh,khả năng và sở thích của bản thân trên cơ sở đó có những sự lựa chọn côngviệc phù hợp Điều này thực sự quan trọng đối với những người đi tìm việclàm Bởi vì nếu họ hiểu rõ nhu cầu của mình, hiểu được khả năng của mìnhthì họ sẽ tìm những công việc phù hợp với họ
- Tư vấn cho người lao động biết tìm việc làm phù hợp với bản thân:Nội dung này các cán bộ sẽ gặp gỡ từng người lao động, xem xét hoàn cảnh,nhu cầu, năng lực của người lao động để trên cơ sở đó giúp cho họ tìm đượcviệc làm phù hợp
1.3.5.2 Giáo dục thái độ làm việc đúng đắn cho người lao động thuộc
hộ nghèo
Thái độ làm việc là thể hiện sự tập trung làm việc, sự tận tâm với côngviệc, sự bằng lòng với công việc như thế nào, có chí tiến thủ cố gắng trongcông việc hay không Thái độ làm việc quyết định rất nhiều đến thành cônghay thất bại của một người Vì vậy giáo dục thái độ làm việc đúng đắn chongười lao động thuộc hộ nghèo là rất cần thiết Bao gồm những nội dung sau:
- Giáo dục thái độ tôn trọng yêu cầu và nguyên tắc của nơi làm việc.Mỗi một công việc đòi hỏi có những yêu cầu và nguyên tắc nhất định Khitham gia vào quá trình làm việc nhất định người lao động phải hiểu nhữngyêu cầu và nguyên tắc làm việc là đúng đắn từ đó có thái độ tôn trọng nhữngyêu cầu và nguyên tắc đó thì mới đem lại sự an toàn cũng như hiệu quả trongcông việc
- Giáo dục tính chủ động trong công việc: Việc chủ động có hai yếu tố:
Trang 29chủ động trong công việc chung của công ty, cơ sở, trong nhóm làm việc vàchủ động trong chính công việc của mình Có thái độ tích cực khi giải quyếtnhững vấn đề của bản thân, cộng đồng trong lao động Đây là yếu tố đánh giángười lao động có thái độ làm việc như thế nào.
- Giáo dục thái độ làm việc tập trung: Tập trung trong công việc đểhoàn thành kết quả công việc Có những người làm mãi không xong nhưng cónhững người luôn giải quyết tốt công việc của mình Một trong những nguyênnhân dẫn đến điều đó là thái độ tập trung khi làm việc
- Giáo dục tinh thần cầu thị, khả năng học hỏi: Học nữa học mãi là điềukhông thừa đối với tất cả chúng ta vì kiến thức là vô tận Khi làm việc thì luônluôn có những kiến thức mới, với những người có những thái độ làm việc tốt
họ sẽ cố gắng chăm chú tiếp thu những kiến thức mới, áp dụng những kiếnthức mới vào trong công việc để mang lại hiệu quả cao hơn Có kĩ năng suynghĩ, phê phán, có kĩ năng tìm kiếm giải pháp phát triển và giải quyết vấn đề,
kĩ năng hành động trong lao động
- Giáo dục cho người lao động có tinh thần hăng say làm việc: Sự saysưa, hăng say trong khi làm việc sẽ đem lại kết quả cao trong công việc, họ cóthể vượt qua những khó khăn, trở ngại để hoàn thành công việc được giao
- Giáo dục cho người lao động biết bảo vệ và tôn vinh những thành quảlao động của người khác và của chính bản thân Kết quả lao động dù nhiềuhay ít thì người lao động cũng cần có những thái độ đúng đắn về những thànhquả đó Giáo dục cho họ biết quí giá những đồng tiền do mình và do nhữngngười thân của mình làm ra
- Giáo dục cho người lao động thuộc các hộ nghèo tự tin hơn, mạnh dạnhơn trong lựa chọn nghề nghiệp, tìm việc làm, biết giá trị nghề nghiệp: ngườilao động thuộc hộ nghèo thường nhút nhát, tự ti và thụ động, do vậy trong nộidung này các lực lượng giáo dục luôn luôn khuyến khích, động viên họ để họ
tự tin về bản thân trong quá trình đi tìm việc làm
Trang 301.3.5.3 Giáo dục hành vi và thói quen tốt trong lao động cho người lao động thuộc hộ nghèo
- Hình thành cho lao động thói quen làm việc khoa học có kỉ luật: Kỉluật ở đây thể hiện sự tuân thủ đúng các yêu cầu và các nguyên tắc của công
ti, nơi làm việc Giáo dục tính kỉ luật, tính đúng giờ giúp người lao động tạođược thói quen về yêu cầu của công việc hoạt động dưới hình thức dâytruyền, nâng cao năng suất trong lao động Giáo dục tính tuân thủ các nguyêntắc trong lao động để đảm bảo cho lao động được làm việc an toàn, đặc biệt lànhững công việc đòi hỏi nghiêm ngặt về độ an toàn
- Giáo dục tính chăm chỉ, cần cù trong lao động, một trong nhữngsuy nghĩ đã tồn tại rất lâu trong cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu sốvùng sâu, vùng xa là bằng long với cuộc sống hiện tại Vì vậy, đây là nộidung cần được quan tâm giáo dục để người lao động thuộc các hộ nghèo có
ý thức làm việc, vươn lên trong cuộc sống
- Giáo dục tính tiết kiệm trong lao động, mục đích lao động là để tạo racủa cải, duy trì cuộc sống con người Do đó, con người phải biết tiết kiệmtrong lao động, tích lũy của cải thì mới phát triển được kinh tế gia đình
- Giáo dục tính sáng tạo trong lao động để đảm bảo lao động đáp ứngđược yêu cầu của thị trường lao động ngày càng phát triển
- Giáo dục lao động có ý thức làm việc và tham gia tuyên truyền, vậnđộng người thân trong gia đình, dòng họ, bạn bè tích cực tìm việc làm
1.3.6 Hình thức giáo dục ý thức tìm việc làm cho người lao động thuộc hộ nghèo
- Cán bộ trực tiếp trao đổi với từng hộ lao động: Đối với lao động nôngthôn đặc biệt là lao động thuộc các hộ nghèo thì hình thức giáo dục tại giađình khá phù hợp Bởi vì bản chất của người lao động thuộc các hộ nghèo lànhóm người yếu thế, thiếu tự tin, việc cán bộ đến tận nhà để hướng dẫn, tuyêntruyền, tư vấn giúp người được giáo dục cảm nhận được sự chia sẻ, đồng cảm,gần gũi; tạo được niềm tin cho họ có thể bộc lộ những tâm tư, nguyện vọng
Trang 31của bản thân Mặt khác giúp người giáo dục nắm bắt được hoàn cảnh, điềukiện của lao động cũng như gia đình người lao động Từ đó có thể tư vấnđược cho người lao động tìm được những công việc một cách chính xác vàphù hợp nhất với khả năng của họ.
- Giáo dục thông qua tổ chức hội nghị, các buổi sinh hoạt ở bản, cụmbản hoặc tại trung tâm các xã, thị trấn: Các đơn vị chức năng thực hiện tổchức các buổi hội thảo, hội nghị, các lớp học Thông qua các buổi hội thảo vàhội nghị đó các lực lượng giáo dục sẽ giúp cho người lao động thuộc hộnghèo hiểu về ý nghĩa của việc làm, cách thức tìm việc làm Người sử dụnglao động giới thiệu, trao đổi với lao động về nghề qua buổi sinh hoạt hướngnghiệp, tạo điều kiện cho lao động được làm quen với một số nghề hiện cótrong xã hội hoặc tại địa bàn Triển khai các chính sách liên quan đến tạo việclàm cho người lao động; thông tin, tư vấn về thị trường lao động để người dânnắm được Gắn trách nhiệm của tạo việc làm với việc bình xét hộ nghèo, giađình văn hóa và triển khai, thực hiện các chính sách hộ trợ
- Thông qua các lớp học và tham quan trực tiếp cơ sở sản xuất: Chínhquyền và các đơn vị chức năng sẽ tổ chức các lớp học nhằm nâng cao nhậnthức cho người lao động về việc làm, cách thức tìm việc làm Giáo dục họ thái
độ lao động và hình thành những hành vi và thói quen đúng trong lao động
Tổ chức cho lao động tham quan các cơ sở sản xuất, lựa chọn các dạng laođộng, các hình thức lao động phù hợp kinh tế, xã hội của địa phương
- Giáo dục từ trong nhà trường: Thông qua chương trình giáo dục địnhhướng trong các trường phổ thông Đối với đối tượng đang học trong các nhàtrường, chuẩn bị bước vào độ tuổi lao động, hướng nghiệp được thực hiệnbằng các con đường sau: Hướng nghiệp qua dạy học các môn khoa học cơbản, hướng nghiệp qua dạy học các môn kĩ thuật và lao động sản xuất trongnhà trường Tổ chức cho học sinh tham gia sản xuất trong các cơ sở sản xuất.Hướng nghiệp qua sinh hoạt hướng nghiệp, giới thiệu những nghề đang cầnnhiều nhân lực, giới thiệu hệ thống các trường đào tạo Phát huy vai trò của
Trang 32Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Đội Thiếu niên Tiền phong trongcông tác hướng nghiệp.
- Tư vấn tìm việc làm cho lao động thuộc hộ nghèo: Người làm côngtác giáo dục giới thiệu, tư vấn cho lao động, chỉ ra mức độ phù hợp hay khôngphù hợp của cá nhân với một số nghề để lao động tự quyết định chọn nghề gì,
từ đó căn cứ vào nhu cầu nhân lực mỗi ngành nghề cụ thể để định hướng, tưvấn nghề nghiệp cho lao động Vận động các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệptuyển lao động, các công trình thi công trên địa bàn ưu tiên tạo việc làm chonhóm lao động thuộc các hộ nghèo phù hợp với năng lực làm việc
- Giáo dục thông qua các hình thức tuyên truyền, vận động: Gắn vớihình thức này là việc sử dụng các phương tiện truyền thông có khả năng tácđộng tới đông đảo người lao động như: panô, áp phích, khẩu hiệu, tờ rơi, bảntin phát thanh, truyền hình do cơ quan truyền thông thiết kế Tăng cường mởrộng các phương tiện thông tin đại chúng để giới thiệu về nghề nghiệp.Tuyên truyền các chính sách, pháp luật về lao động, việc làm; thông tin tuyểndụng lao động của các doanh nghiệp, công trình thi công trên địa bàn; laođộng đi làm việc ở nước ngoài Thông tin về các gương người tốt việc tốt,người làm kinh tế giỏi và các mô hình sản xuất hiệu quả
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục ý thức tạo việc làm và vấn
đề việc làm của lao động thuộc các hộ nghèo
1.4.1 Yếu tố khách quan
1.4.1.1 Vị trí địa lí
Vị trí địa lí ảnh hưởng nhiều đến việc làm và công tác giáo dục ý thứctìm việc làm cho người lao động Đối với khu vực vùng núi cao, khó khăncho việc xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, điện, nước; ở xa các trung tâmkinh tế lớn, khó khăn cho việc giao thương kinh tế, tiếp cận nguồn vốn và kĩthuật tiên tiến
Địa hình phức tạp, thời tiết khắc nhiệt, khí hậu biến đổi gây ảnh hưởngđến sản xuất và việc làm của người lao động, đặc biệt là lao động nông thôn
Trang 33Nếu địa bàn các bản, xã rộng, nằm cách xa các khu công nghiệp; giao thông
đi lại khó khăn; chia cắt bởi nhiều sông suối thì người lao động khó tiệp cậnvới các công việc mới; khó tiếp thu những tiến bộ khoa học trong phát triểnsản xuất và chậm nắm bắt các thông tin thị trường lao động
Ngoài địa hình, việc giáp danh với các huyện, thành phố, tỉnh phát triểnthì ý thức người lao động về tìm việc làm cũng chịu sự tác động đáng kể,người lao động dễ tìm việc làm; ngược lại nếu giáp danh với vùng khó khănlao động cũng ảnh hưởng, đặc biệt giáp với những nơi an ninh bất ổn thì tiềm
ẩn nhiều tệ nạn xã hội
1.4.1.2 Kinh tế - xã hội của địa phương
Cơ cấu các ngành kinh tế về nông, lâm nghiệp và thủy sản ảnh hưởngđến sự cơ cấu về lực lượng lao động, nếu hợp lí thì lao động sẽ có việc làm,nếu không hợp lí sẽ dư thừa lao động và dẫn đến tình trạng thất nghiệp
Đặc biệt trên thực tế số lao động ngày càng đông, diện tích đất canh táckhông tăng, nhiều nơi còn giảm do chuyển đổi mục đích sử dụng sang cácloại hình khác nên để có việc làm cho lao động rất cần các ngành phi nôngnghiệp phát triển nhanh hơn hoặc cùng lắm là bằng với nhu cầu việc làm củalao động
Các công ti, doanh nghiệp tư nhân hoạt động trên địa bàn góp phầnđáng kể vào công tác giải quyết việc làm cho lao động Lao động làm việctrong các công ti, doanh nghiệp sẽ có việc làm thường xuyên, ổn định hơn laođộng tự do Nếu các công ti, doanh nghiệp hoạt động tập trung vào thế mạnhcủa địa phương có nhiều lợi thế và phát triển bền vững
Về chiến lược, tầm nhìn cũng khá quan trọng, ảnh hưởng nhiều đếncông tác giáo dục ý thức tìm việc làm của lao động trong tương lai
Sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình và chênh lệch về thu nhập giữahoạt động sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp của lao động ảnh hưởngđến việc làm, công tác giáo dục ý thức tìm việc làm cũng như chất lượng cuộcsống của lao động Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn tới ý thức
Trang 34làm việc của người lao động.
- Tập quán tang ma còn tồn tại các nghi lễ mang tính huyền bí với nhữngthủ tục rườm rà, dài ngày gây tốn kém tiền của và thời gian của người lao động
- Tính mê tín, khi ốm không đi đến bệnh viện, trạm y tế mà để bệnh tựkhỏi hoặc tìm đến các thầy lang, thầy cúng để chữa trị, ảnh hưởng đến sứckhỏe của người lao động, bệnh không được chữa khỏi, lao động ốm yếukhông thể làm việc được, dẫn đến vừa thiếu lao động vừa mất tiền chữa trị,cúng bái, vừa ảnh hưởng đến tâm lí các lao động khác trong hộ
- Suy nghĩ lạc hậu, không cho con đi học hoặc phó mặc việc học hànhcủa con em mình cho nhà trường và thầy cô giáo dẫn đến chất lượng lao độngthấp, nhiều người không thể đáp ứng được yêu cầu tối thiểu về trình độ củathị trường lao động
1.4.1.4 Các chính sách hỗ trợ
Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước đã ban hành hệ thốngcác chính sách và cơ chế quản lí cho sự phát triển kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần, tạo ra điều kiện thuận lợi để các ngành, các hình thức kinh tế, cácvùng phát triển, tạo nhiều việc làm mới, đáp ứng yêu cầu việc làm của ngườilao động Nhận thức, quan niệm và chủ trương về tạo việc làm trong nền kinh
tế theo cơ chế thị trường đã có những thay đổi Quan niệm về việc làm đãđược chỉ rõ ở điều 13 chương II Bộ luật Lao động "Mọi hoạt động lao độngtạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việclàm" Chủ trương về tạo việc làm đã được Đại hội XIII của Đảng nêu rõ:
Trang 35"Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mởmang ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động Mọi công dân đềuđược tự do hành nghề, thuê mướn nhân công theo pháp luật Phát triển dịch
vụ việc làm Tiếp tục phân bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước,tăng dân cư trên các địa bàn có tính chiến lược về kinh tế, an ninh quốcphòng Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu Giảm đáng kể tỉ lệthất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn"
Theo Luật lao động, Nhà nước đã chuyển hẳn từ cơ chế quản lí hànhchính về lao động sang cơ chế thị trường Việc triển khai bộ luật này đã gópphần quan trọng vào công cuộc xây dựng đất nước và ổn định xã hội trong thờigian qua Nhà nước cũng đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật: LuậtĐầu tư nước ngoài, Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp, Luật khuyến khích đầu
tư trong nước nên đã thúc đẩy các yếu tố của thị trường, trong đó thị trườnglao động hình thành, mở ra tiềm năng mới giải phóng các tiềm năng lao động
và tạo mở việc làm Đồng thời với các cải tiến trong quản lí hành chính, hộkhẩu, hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiền tệ hóa tiềnlương, tách chính sách tiền lương, thu nhập khỏi chính sách xã hội đã góp phầnlàm tăng tính cơ động của lao động Việc phát triển hệ thống giáo dục - đào tạo
và dịch vụ việc làm thời gian qua đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhânlực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 36cán bộ quản lí công tác giáo dục ý thức tìm việc làm cho người lao động cấp
xã hiện nay còn hạn chế, đặc biệt là về tầm nhìn Họ mới chỉ đáp ứng về thựchiện nhiệm vụ tham mưu triển khai các chính sách theo hướng dẫn của cấptrên, đa số chưa đề xuất được các giải pháp thực hiện công tác giáo dục ý thứctìm việc làm cho người lao động mang tính đột phá để đạt hiệu quả rõ rệt
1.4.2.2 Nhận thức, thái độ, tính tích cực và sức khoẻ của người lao động
Ý thức của người lao động được thể hiện ở nhận thức, trình độ chuyênmôn kỹ thuật, thái độ của người lao động ảnh hưởng nhiều đến cơ hội tìm việclàm; lao động không có trình độ chỉ làm những công việc nặng nhọc, chân tayhoặc đi làm thuê theo mùa vụ nên thu nhập không cao nhưng cũng giải quyếtđược vấn đề việc làm trong lúc nông nhàn Lao động nông thôn không có việclàm tại chỗ phải ra thành phố tìm kiếm cơ hội nên đó cũng chính là gánh nặngcho thành phố về các vấn đề như môi trường, an ninh trật tự
Ngoài ra yếu tố sức khoẻ của người lao động hộ nghèo cũng ảnh hưởngđến ý thức tìm việc làm Mặc dù có nhu cầu muốn làm việc nhưng khi làm thìsức khoẻ không cho phép nên họ không tham gia làm việc được
Do đó vấn đề đặt ra là phải tạo việc làm cho người lao động nông thônngay trên chính quê hương của họ, giải quyết việc làm theo xu hướng "li nôngbất li hương" tạo việc làm để tăng thu nhập bằng nhiều biện pháp như: Đadạng hoá cây trồng vật nuôi, cho người nghèo vay vốn với lãi suất ưu đãi…
Trang 37Tiểu kết Chương I
Xã hội càng phát triển thì vấn đề về việc làm đối với lao động càng lớn,
số lượng lao động chưa tìm được việc làm, không có việc làm ngày càngnhiều Trên thế giới cũng như trong nước có nhiều bài viết, công trình nghiêncứu về lao động và việc lao cho lao động Tuy nhiên, công tác giáo dục ý thứctìm việc làm cho người lao động ít được đề cấp đến
Giáo dục ý thức tìm việc làm cho người lao động thuộc hộ nghèo được
hiểu là quá trình trong đó nhà giáo dục cung cấp cho người lao động kiến thức về nghề, ý thức về nghĩa vụ và trách nhiệm lao động trên cơ sở đó tạo lập thói quen, thái độ và kĩ năng lao động tuỳ theo lứa tuổi và giới tính để làm chủ cuộc sống trong thực tại và tương lai
Mục tiêu của giáo dục ý thức tìm việc làm cho người lao động thuộc hộnghèo bao gồm: nâng cao nhận thức cho người lao động về ngành nghề, về thịtrường lao động; giúp người lao động có thái độ làm việc đúng đắn cho ngườilao động thuộc hộ nghèo; hình thành hành vi và thói quen tốt cho người laođộng Trên cơ sở mục tiêu thì nội dung của giáo dục ý thức tìm việc làm chongười lao động thuộc hộ nghèo là: Giáo dục nâng cao nhận thức cho ngườilao động về ngành nghề, về thị trường lao động; giáo dục thái độ làm việcđúng đắn cho người lao động thuộc hộ nghèo; giáo dục hành vi và thói quentốt cho người lao động Hình thức của ý thức tìm việc làm cho người lao độngthuộc hộ nghèo là: Cán bộ trực tiếp trao đổi với từng hộ lao động nghèo; tổchức hội nghị, các buổi sinh hoạt ở bản; thông qua các lớp học và tham quantrực tiếp cơ sở sản xuất; giáo dục từ trong nhà trường; tư vấn tìm việc làm cholao động thuộc hộ nghèo; thông qua các hình thức tuyên truyền, vận động
Xác định được các yếu tổ ảnh hưởng đến công tác giáo dục ý thức tìmviệc làm và vấn đề việc làm của lao động thuộc các hộ nghèo
Với những nội dung của Chương 1 làm cơ sở để tôi nghiên cứu, khảosát đánh giá thực trạng ở Chương 2
Trang 38CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC TÌM VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG THUỘC HỘ NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
2.1 Đặc điểm tình hình chung huyện Tân Uyên
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên
- Vị trí địa lí: Tân Uyên là một huyện thuộc vùng sâu, vùng xa của cả
nước, nằm ở phía Đông Nam tỉnh Lai Châu Địa hình chia cắt khá phức tạp,núi cao địa hình hiểm trở, có độ dốc lớn Có sông, nhiều khe, suối; xen kẽ núiđồi có nhiều thửa đất nhỏ, bậc thang, hình thể phức tạp
- Khí hậu: Tân Uyên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, đượcchia thành 2 mùa khá rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa là mùa hènóng ẩm và mưa nhiều, mùa khô thường xuất hiện gió khô hanh, ít mưa nênlượng nước rất ít
- Tài nguyên thiên nhiên: Huyện Tân Uyên có tổng diện tích tự nhiên là89.732,85 ha, trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp chiếm 9,33%, đất lâmnghiệp 84,28% Quỹ đất chưa khai thác sử dụng của huyện còn khá lớn (đếnnăm 2019 còn khoảng 51.135,71 ha, chiếm 56,9%) Huyện có nhiều tiềm năng
về phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp cùng với các nguồn tài nguyên thiênnhiên khá dồi dào
2.1.2. Tình hình dân cư, lao động, việc làm
Tính đến cuối năm 2019, lao động trong độ tuổi trên địa bàn toàn huyện
là 34.970 người, chiếm 59,6% dân số, trong đó lao động nông thôn là chủ yếu(có 26.605 người, chiếm 78,1% tổng số lao động) tổng số lao động đang làmviệc là 34.529 người, chiếm 97,74% số lao động trong độ tuổi
Huyện có hơn 10 dân tộc anh em cùng sinh sống: Dân tộc Thái chiếm49,3%; dân tộc Mông chiếm 17,7%; dân tộc Kinh chiếm 14,9%; dân tộc Khơ
Mú chiếm 7,5%; dân tộc Dao chiếm 4,7%; dân tộc Lào chiếm 4,5%; dân tộc
Trang 39Dáy chiếm 1,1%; còn lại là các dân tộc khác.
Bảng một số chỉ tiêu liên quan đến lao động, việc làm và hộ nghèo giaiđoạn 2015-2019:
Chỉ tiêu Đơn vị tính 2015 2016 2017 2018 2019
Dân số trung bình Người 54.775 55.295 56.061 57.576 58.675Lao động trong độ tuổi Người 32.321 33.555 34.275 34.854 34.970
Tỉ lệ so với dân số % 59,0 60,7 61,1 60,5 59,6
Lao động đang làm việc Người 29.089 29.193 31.190 30.672 31.451
Lao động được giải
quyết việc làm mới
trong năm
Người 1.235 1.855 1.771 1.833 1.869
Số lao động được đào
tạo nghề trong năm Người 415 835 750 750 1.120
Tỉ lệ lao động qua đào
Số lao động xuất khẩu Người 16 25 31 21 41
Số hộ nghèo Hộ 4.473 3.598 2.511 1.718 1.175
Tỉ lệ hộ nghèo % 39,3 30,69 20,96 14,01 9,37
(Nguồn: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Tân Uyên)
Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn luôn được quan tâm, chútrọng, triển khai, thực hiện, đến cuối năm 2019 đã đào tạo 3.455 lao độngnông thôn, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 49,2% cuối năm 2019, ướcthực hiện đến cuối năm 2020 là 55%
Các công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, công trình đang thi công trên
Trang 40địa bàn hàng năm giải quyết việc làm cho khoảng 1.500 đến 2000 lao động,góp phần tạo việc làm tại chỗ cho lao động trên địa bàn huyện Tăng thờigian lao động trung bình của người dân nông thôn lên trên 60%.
Nhìn chung người dân toàn huyện cần cù lao động, đoàn kết trong tổchức sản xuất và sinh hoạt Hiện nay trên địa bàn huyện vẫn còn tồn tại một
số phong tục tập quán khá lạc hậu của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu sốnhư: Tập quán tang ma rườm rà, mê tín, suy nghĩ lạc hậu, ỷ lại gây ảnhhưởng đến ý thức làm việc của người dân
2.1.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội
Giai đoạn 2015 - 2019, với sự chỉ đạo, điều hành của Huyện ủy, HĐND
- UBND huyện đối với các cấp ngành, địa phương thực hiện có hiệu quả cácchỉ tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Nhịp độ tăng trưởng của giá trị giatăng bình quân hàng năm đạt khoảng 15%/năm Ngành nông, lâm nghiệp,thủy sản tăng 11%; công nghiệp, TTCN và xây dựng tăng 18% và các ngànhdịch vụ tăng 19%/năm
Thu nhập bình quân đầu người năm 2019 đạt 33 triệu đồng/năm, bằng86,8% mức bình quân của tỉnh và khoảng 57,5% mức bình quân của vùngTrung du miền núi Bắc bộ
Thu ngân sách trên địa bàn đã có bước tăng trưởng khá, từ 10.070 triệuđồng năm 2015 lên 64.200 triệu đồng vào năm 2019
Tỉ lệ xã, thị trấn đạt tiêu chí quốc gia về y tế, giai đoạn 100%
Mạng lưới trường, lớp học phát triển nhanh theo hướng thuận lợi chongười học, từng bước đáp ứng nhu cầu học tập của người dân địa phương.Huyện Tân Uyên đạt chuẩn về phổ cập giáo dục chống mù chữ năm 2000; đạtchuẩn phổ cập GDTH đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục THCS năm 2009; đạtchuẩn phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi năm 2013 Tỷ lệ chuyển lớp, chuyểncấp hàng năm đạt 98% trở lên, tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình Tiểuhọc, tỷ lệ học sinh lớp 9 đỗ tốt nghiệp THCS, học sinh lớp 12 tốt nghiệpTHPT đạt 100%