1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ sự PHỤC hồi và PHÁT TRIỂN đạo TIN LÀNH ở TỈNH KON TUM từ năm 1986 đến NAY THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP

133 509 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 693,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong mấy thập kỷ qua, xung đột sắc tộc mang màu sắc tôn giáo nổ ra gây mất ổn định ở nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới. Các thế lực thù địch đã lợi dụng, cấu kết với số cầm đầu các tôn giáo trong âm mưu phá hoại, xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Liên Xô cũ và ngày nay đang tiếp tục lợi dụng tôn giáo để thực hiện chiến lược Diễn biến hòa bình đối với các nước còn lại trong đó Việt Nam là một trong những mục tiêu trọng điểm của chúng.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong mấy thập kỷ qua, xung đột sắc tộc mang màu sắc tôn giáo nổ

ra gây mất ổn định ở nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới Các thế lực thùđịch đã lợi dụng, cấu kết với số cầm đầu các tôn giáo trong âm mưu pháhoại, xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Liên Xô cũ và ngàynay đang tiếp tục lợi dụng tôn giáo để thực hiện chiến lược "Diễn biến hòabình" đối với các nước còn lại - trong đó Việt Nam là một trong những mụctiêu trọng điểm của chúng

Ở nước ta, từ giữa thập kỷ 80, tình hình tôn giáo có những diễn biếnkhá phức tạp, trong đó nổi lên vấn đề đạo Tin Lành phục hồi, phát triểnnhanh chóng, bất bình thường đối với các đồng bào dân tộc ở khu vựcTrường Sơn - Tây Nguyên nói chung, tỉnh Kon Tum nói riêng đã gián tiếptạo nên những nhân tố mất ổn định xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến sảnxuất, đời sống và an ninh trật tự ở nhiều vùng

Để giải quyết vấn đề cấp bách này được tốt, các cấp ủy Đảng, cácngành liên quan đặc biệt quan tâm, tìm mọi biện pháp để quản lý tốt hoạtđộng của đạo Tin Lành, nhưng cho đến nay thực tế vẫn chưa có gì khảquan Các đối tượng đang thay đổi phương thức hoạt động nhằm trốn tránh

sự kiểm soát, quản lý của chính quyền để chống đối ta Trong khi đó việcgiải quyết vấn đề tôn giáo ở cơ sở còn nhiều lúng túng, thiếu thống nhất từnhận thức đến chủ trương, biện pháp hành động; những điển hình kinhnghiệm tốt bước đầu chưa được phổ biến nhân rộng; công tác phòng ngừachưa chủ động, hiệu quả hạn chế, chưa vững chắc và có những khuyết điểmsai lầm chưa được uốn nắn kịp thời

Vốn là người sống và làm việc trong vùng có Tin Lành hoạt động,tác giả hiểu được phần nào những lo âu trăn trở của các địa phương trước

Trang 2

những đối tượng vốn tế nhị, nhạy cảm này; đồng thời cũng thấy được tínhphức tạp của vấn đề khi có sự đan xen giữa tôn giáo và chính trị mà kẻ thù

đang triển khai thực hiện Do vậy, đi vào nghiên cứu "Sự phục hồi, phát

triển đạo Tin Lành ở địa bàn tỉnh Kon Tum từ năm 1986 đến nay - Thực trạng và giải pháp", tác giả muốn khẳng định lại vấn đề, tìm hiểu nguyên

nhân và dự báo xu hướng phát triển trong thời gian tới, đề ra những giảipháp thích hợp, tạo cơ sở tham mưu cho các đồng chí lãnh đạo tỉnh giảiquyết tốt vấn đề Tin Lành

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Là một địa phương có điểm nóng về hoạt động của đạo Tin Lành,nhưng từ trước đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàndiện; năm 1998, Ban Tôn giáo tỉnh Kon Tum tổ chức triển khai thực hiện

đề tài "Tôn giáo ở Kon Tum - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp", trong

đó đề cập đến đạo Tin Lành nhưng không đầy đủ Đề tài được nghiên cứu ởgóc độ quản lý nhà nước nên nội dung chú trọng nhiều đến vấn đề chínhsách đối với các tôn giáo nói chung Tiếp đến, Công an tỉnh Kon Tum cóchuyên đề nghiên cứu về "Thực trạng và giải pháp đối với sự phát triển đạoTin Lành trong đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum", nội dung giớihạn trong vùng đồng bào dân tộc và nhìn nhận ảnh hưởng của đạo Tin Lànhdưới góc độ an ninh hơn là nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng Năm 1999,Phòng Trinh sát thuộc Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh Kon Tum có tìm hiểu

"Thực trạng và những biện pháp đối sách đấu tranh với việc tuyên truyền

và phát triển đạo Tin Lành trái phép ở địa bàn Biên phòng Kon Tum"nhưng chỉ khảo sát, giới hạn trong phạm vi xã Đăk Long, huyện Đăkglei,chưa đề cập đến phạm vi không gian một tỉnh Trong khi đó, ở Trung ươngcác công trình nghiên cứu về đạo Tin Lành được Viện nghiên cứu tôn giáo(thuộc Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia) và Trung tâmnghiên cứu khoa học về tín ngưỡng tôn giáo (thuộc Học viện chính trị quốcgia Hồ Chí Minh) cùng các cơ quan khác triển khai thực hiện trong những

Trang 3

năm gần đây có nhiều, nhưng ở cấp vĩ mô, phần lớn là ở khu vực phía Bắc,còn ở các tỉnh khác do nhiều nguyên nhân nên chưa tiến hành được Đâycũng là một thiệt thòi cho địa phương và là trở ngại cho tác giả khi tìmhiểu, nghiên cứu vấn đề Thiếu sót này của chúng ta là thể hiện ở sự bỏ ngỏ

về nhận thức trước một vấn đề có tính thời sự khi mà những quần chúng làtín đồ Tin Lành chiếm một bộ phận lớn ở Kon Tum và trong tương lai nó

xã hội, an ninh trật tự ở địa bàn tỉnh Kon Tum

* Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn đi sâu nghiên cứu về một tôn giáo cụ thể là Tin Lành từsau thời kỳ đổi mới (1986) đến nay, trong phạm vi địa bàn tỉnh Kon Tum

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩaMác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta vềtôn giáo

Trang 4

- Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp trong quá trìnhnghiên cứu như kết hợp lôgíc và lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh, lýluận gắn với thực tiễn

5 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Góp phần làm rõ mối quan hệ giữa Tin Lành với Mỹ, Tin Lànhvới Fulro và tính đặc thù của vấn đề Tin Lành ở Kon Tum hiện nay

- Luận văn nêu lên những giải pháp cần thiết về công tác quản lýnhà nước đối với các hoạt động của đạo Tin Lành trong tình hình mới, phùhợp với thực tiễn địa phương

6 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Luận văn có thể sử dụng:

- Làm tài liệu tham khảo trong việc xây dựng chủ trương, chínhsách đối với đạo Tin Lành - nhất là trong việc xem xét công nhận tư cáchpháp nhân cho các hệ phái

- Làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu về tôn giáo ở cácdân tộc tỉnh Kon Tum nói riêng, Trường Sơn - Tây Nguyên nói chung và

có thể giảng dạy trong các trường chính trị

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụlục, Luận văn được chia làm 3 chương, 7 tiết

Trang 5

Chương 1 QUÁ TRÌNH DU NHẬP, PHÁT TRIỂN ĐẠO TIN LÀNH VÀO ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM

1.1 KHÁI QUÁT NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHUNG Ở KON TUM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUÁ TRÌNH DU NHẬP, PHÁT TRIỂN ĐẠO TIN LÀNH

1.1.1 Đặc điểm điều kiện địa lý tự nhiên

Kon Tum ở vị trí địa lý từ 107020’ đến 108033’ kinh độ đông và từ

13055’ đến 15027’ vĩ độ bắc, là tỉnh miền núi vùng cao nằm ở cực bắc TâyNguyên; phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam dài 152,5 km; phía Nam giáp tỉnhGia Lai dài 157,8 km; phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi dài 78,8 km; phíaTây giáp tỉnh Atôpư, Sê Kông (Lào); phía đông Bắc giáp tỉnh Ratanakiri(Campuchia) dài 280,7 km [12, tr 5]

Tỉnh Kon Tum có diện tích tự nhiên theo Nghị quyết Quốc hội khóa VIII, kỳ họp lần thứ 9 thông qua ngày 12/8/1991 là 13.000 km2; phầnlớn là rừng núi và cao nguyên, địa hình hiểm trở, vùng cao đất dốc, đồi núi

Đất ở Kon Tum bao gồm nhiều loại trên nền đá mạc Granít, Giơrai,Bazan Những vùng bình nguyên bằng rộng có độ phì nhiêu cao thích hợpcho các loại cây trồng như: cao su, cà phê, cây ăn quả các loại Đất xámpha cát nằm rãi rác ở thung lũng các sông suối như: Krông, Pô Cô, ĐăkBla, Đăk Bơxy, H’drây, Đăk Pơne và có nhiều suối nhỏ rất thích hợp chocây lương thực như: lúa, mùa, đỗ, đậu [12, tr 9]

Trang 6

Động thực vật có nhiều loại quý hiếm trên 1.200 loài bậc cao Quađiều tra bước đầu phát hiện có 100 loài thú, 350 loài chim muông và 1/6loài bò sát có được ở nước ta, đặc biệt có 66 loài quý hiếm như: bò rừng, bòtót, nai, công, trĩ, trâu rừng Rừng Kon Tum còn là một kho tàng trữ lượngquý như: mật ong, gạc nai, nhung hươu, cao hổ cốt, sa nhân và chứa đựngnhiều cây thuốc dân gian cổ truyền độc đáo chưa khám phá hết được, đặcbiệt có loại cây thuốc tránh thai rất công hiệu; Sâm Ngọc Linh có giá trị dinhdưỡng cao và cũng là đặc sản quý hiếm ở núi rừng Tây Nguyên [12, tr 10].

Hệ thống sông suối trong tỉnh hình thành một mạng lưới lớn nhỏtạo thành dòng chảy theo các hướng khác nhau; phía Bắc chảy về QuảngNam, bắt nguồn từ chân núi Ngọc Linh, qua sông Nước Mỹ về Thu Bồn rabiển đông; phía Nam và Tây Nam qua đông bắc Campuchia và Lào đổ vàosông Mê Kông Độ cao địa hình đầu nguồn sông, suối là những yếu tố tựnhiên cực kỳ quan trọng, là tiềm năng thủy điện to lớn Thác Ya Ly dốcđứng cao 40 m được xây dựng nhà máy thủy điện với công suất 720 kw[12, tr 18]

Do địa hình rừng núi hiểm trở, toàn tỉnh mới có 3 tuyến quốc lộ lớnvới mạng lưới đường liên huyện, liên xã Quốc lộ 14 - con đường chiếnlược trường sơn, huyết mạch giao thông quan trọng chạy từ Quảng Namqua các huyện Đăkglei, Ngọc Hồi, Đăk Tô, Đăk Hà, thị xã Kon Tum vềPleiku, qua Buôn Mê Thuộc vào Đồng Xoài (Sông Bé) nối liền với 3 trungtâm công nghiệp lớn ở miền Trung và phía Nam đất nước Quốc lộ 24 từ thị

xã Kon Tum qua huyện Konplong xuống huyện Ba Tơ (Quảng Ngãi) vềngã ba Thạch Trụ dài 164 km, giáp đường quốc lộ 1 đến cảng Dung Quất.Đây là con đường ngắn nhất nối liền giữa Kon Tum với vùng đồng bằngven biển miền Trung Quốc lộ 40 (đường 18) từ Ngọc Hồi qua thị xã Atôpơ(Lào) dài 132km, qua Pắc Xế - giáp Thái Lan, đây cũng là con đường giaolưu quan trọng của nhân dân hai tỉnh Nam Lào và Đông bắc Campuchia

Trang 7

(hiện nay đã mở cửa khẩu quốc tế tại xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi để nhândân 3 nước có điều kiện mở rộng buôn bán, trao đổi hàng hóa) [12, tr 18].

Ngoài các quốc lộ chính, ở Kon Tum còn có đường ngang - chủ yếu

là đường cấp phối, chạy len lỏi, quanh co, cheo leo giữa các dãy núi cao,tạo thành các nhánh nối quốc lộ đến các huyện trong tỉnh, các tỉnh đồngbằng phía Đông với hạ lưu Đông bắc Campuchia

1.1.2 Đặc điểm kinh tế

Hoạt động kinh tế của các tộc người tỉnh Kon Tum bao gồm nhữnghoạt động kinh tế sản xuất, kinh tế khai thác tự nhiên, nhưng nhìn trên tổngthể thì hầu hết các cư dân ở đây đều lấy kinh tế nông nghiệp làm phươngthức sinh sống chính Do đó, khi nói đến các đặc điểm của hoạt động kinh

tế người ta thường bắt đầu từ hoạt động nông nghiệp

- Canh tác nương rẫy: Các dân tộc ở Kon Tum đã tiến sâu vào giaiđoạn nông nghiệp trồng trọt Trong nền kinh tế truyền thống, rẫy có vị tríquan trọng hàng đầu, là nguồn sống chủ yếu của con người Tại khoảnhrừng đã chọn, trên cơ sở xem xét độ dốc, đất đai và đã tiến hành các nghithức tôn giáo xin phép thần linh suôn sẻ, việc đầu tiên là đốn cây, phát cỏ,khai quang mặt bằng Khi sắp đến thời vụ gieo trồng, người ta chỉ dọn rẫy,rồi có thể dùng cây vót nhọn chọc hốc để tra hạt giống Sau đó, rẫy đượcrào giậu, trông coi Cuối cùng là đến kỳ thu hoạch với đặc điểm nổi bật làdùng đôi bàn tay trần tuốt lấy thóc Ngoài ra, trên rẫy còn trồng nhiều thứkhác để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống nặng tính tự cung tự cấp, nhưngcây lúa giữ vị trí chủ đạo

- Canh tác ruộng nước: Tuy không phổ biến nhưng nó có mặt trongnền kinh tế của đồng bào khá lâu Người dân thường làm ruộng theo kiểu

"đao canh thủy nậu" Tại các thửa ruộng ngâm nước, cả tập thể người hoặc

cả đàn trâu quần đất thay vì việc cuốc hay cày bừa, rồi dùng cuốc hoặc bàn

Trang 8

trang để san mặt ruộng Người Xê Đăng, Rơ Mâm tuy còn dùng kỹ thuậtcanh tác khá sơ khai nhưng lại biết đắp đập, khơi mương, bắt máng lấynước về làm ruộng Sau mùa tuốt lúa hay gặt, người Rơ Mâm đốt cháy rạtại ruộng để làm tăng màu mỡ cho đất vụ tới Song xét trên bình diện chungcủa tỉnh, ruộng nước chỉ là một bộ phận nhỏ trong nền kinh tế cổ truyềncủa đồng bào các dân tộc tỉnh Kon Tum.

- Kinh tế hái lượm: Có tầm quan trọng đáng kể để cung cấp, bổsung thức ăn cho người dân một cách thường xuyên Thường ngày theomùa, người dân có thể hái các loại rau, măng, nấm Vào lúc giáp hạt hoặcmùa màng thất thu thì rừng còn là một nguồn lương thực cần kíp: các loạicây thân cũ, rễ, quả có thể giúp đồng bào chống đói Hái lượm có ý nghĩakinh tế nổi bật trong các sinh hoạt kinh tế khai thác tự nhiên nơi đây Côngviệc này chủ yếu do phụ nữ và các em bé gái đảm trách Trong khi đó, việcsăn bắn hầu như thuộc riêng về nam giới Săn bắn vừa đem lại thực phẩm,lại có tác dụng rèn luyện tinh thần thượng võ nhưng cũng vô cùng cần thiết

vì lý do bảo vệ mùa màng Cùng với hái lượm, săn bắn, trong lĩnh vực kinh

tế chiếm đoạt tự nhiên thì đánh bắt cá cũng góp phần tăng thêm thực phẩmcho người dân

- Chăn nuôi: cũng là một hoạt động có tầm quan trọng đáng chú ý.Trâu bò được nuôi thả rong ngoài trời, sống ở rừng chiều tối kéo nhau vềlàng Còn gà, lợn được đồng bào nuôi theo lối nửa thả rong, chúng tự langthang kiếm ăn, nhưng vẫn được chủ cho ăn vào ban đêm Có thể nói, vềphương diện thực phẩm, việc chăn nuôi các con vật kể trên có hai mụcđích: để cúng và để ăn, nhưng chỉ ăn sau khi cúng, chứ người dân khônggiết thịt chúng nhằm cải thiện bữa ăn Đó là nếp truyền thống của người TâyNguyên

Ngoài ra, ở Kon Tum chúng ta thấy còn có nghề đan lát, làm mộc,dệt vải, rèn, làm gốm nhưng đó chỉ là các hoạt động nhằm đáp ứng nhu

Trang 9

cầu cuộc sống của bản thân từng gia đình và chưa xuất hiện - dù chỉ mộtlàng, những người chuyên làm nghề thủ công để kiếm sống, mặc dù có nơisản phẩm của họ có phần trở thành hàng hóa Chợ không phải là địa điểmquan hệ giao lưu hàng hóa trong xã hội truyền thống, mà việc đó thườngdiễn ra tại nhà Với họ không có sự khác biệt giữa cái đem bán và cái mìnhdùng Họ không có tư duy của người sản xuất hàng hóa trong thươngtrường Hơn nữa, những thứ trở thành hàng hóa được họ làm ra khôngnhằm mục đích hàng hóa đơn thuần, mà ở đó còn ẩn chứa cả lòng tự trọng,tình hữu hảo trong quan hệ với người mua và người sử dụng.

1.1.3 Đặc điểm văn hóa xã hội

Trong lịch sử, cư dân các dân tộc tỉnh Kon Tum tự mình hình thànhnên một phong cách đặc trưng, tập quán văn hóa riêng mang đậm bản sắcdân tộc với những truyền thống tốt đẹp, tạo nên sự phong phú, đa dạng củanền văn hóa Việt Nam

- Kết cấu dân cư và thành phần dân tộc: Qua tìm hiểu, nghiên cứunhững địa danh, dấu tích di chỉ khảo cổ học, những yếu tố văn hóa cổ xưacòn lại trong lòng đất và đời sống của cư dân, "các nhà khoa học đều xácđịnh rằng ở Tây Nguyên từ ngàn xưa có người nguyên thủy sinh sống Lớp

cư dân bản địa đầu tiên giả định là giống người tóc quăn, vóc dáng lùn, dađen thuộc chủng tộc Ôxtraoit, đến nay chỉ còn lại những vết tích nhânchủng ở cộng đồng dân tộc thiểu số bản địa hiện đang sinh sống trên địabàn tỉnh Kon Tum, gồm: Xê Đăng, Ba Na, Giẻ - Triêng, Ja Rai, Brâu, RơMâm" [22, tr 10] Theo số liệu điều tra của Cục Thống kê tỉnh Kon Tum,dân số và thành phần các dân tộc phân bố như sau:

Dân tộc Xê Đăng có các nhóm địa phương gồm: Xơ Teng(H’đang), Tơ Rá, Mơ Nâm, Hà Lăng, Cà Dong, Châu, Ta Trẻ; dân số trên67.369 người (chiếm 25,2% dân số toàn tỉnh), có mặt hầu hết khắp cáchuyện, thị trong tỉnh

Trang 10

Dân tộc Ba Na có các nhóm khác nhau như: Gơ Lar, Tô Lô, GiơLâng, Rơ Ngao, Kram, Roh, Con Kđê, A La Công, Kpăng Công, Bơ Nâm;dân số trên 30.863 người (chiếm 11,5 % dân số trong tỉnh), sống tập trungchủ yếu ở thị xã Kon Tum và huyện Konplong.

Dân tộc Giẻ - Triêng cũng có nhiều nhóm địa phương như: Đgích,

Ta Reh, Giang Grẩy, Triêng, Treng, Ta Rieng, Ve, Lave, Ca Tang cư trúchủ yếu ở huyện Đăkglei và phía Bắc huyện Ngọc Hồi (cũng có một bộphận nhỏ sống ở Lào), dân số hiện nay có khoảng 22.713 người (chiếm 8,5

% dân số trong tỉnh)

Dân tộc Gia Rai với nhiều nhóm địa phương như: Gơ Rai, Tơ Bua,Chơ Rai, Hơ Ban, H’đrung, Chor, A Rap cư trú chủ yếu ở huyện Sa Thầy vàthị xã Kon Tum; dân số trên 13.895 người (chiếm 5,2 % dân số toàn tỉnh)

Dân tộc Brâu, Rơ Mâm là hai dân tộc có dân số tương đối, trong đóBrâu: 240 người, Rơ Mâm: 277 người Hiện nay, người Rơ Mâm định cư ởlàng Le xã Mô Rây huyện Sa Thầy; người Brâu định cư ở làng Đăk Mế, xã

Bờ Y, huyện Ngọc Hồi Đây là hai dân tộc đang có nguy cơ tuyệt chủng,cần đến sự quan tâm, giúp đỡ của cộng đồng xã hội [12, tr 28]

Dân tộc Kinh là thành phần dân cư lên cư trú tại Kon Tum vàokhoảng giữa thế kỷ 19, lập nên các làng: Phương Nghĩa (1882), PhươngQuý (1887), Phương Hòa (1892), Trung Lương (1914), Phụng Sơn (1924),Ngô Thạnh (1925), Ngô Trang (1925), Phước Cần (1927), Lương Khế(1927) Đến nay, theo thống kê, người Kinh chiếm gần 46 % dân số so vớicác dân tộc khác trong tỉnh (khoảng trên 140.000 người), phân bố chủ yếu

ở trung tâm các huyện thị [12, tr 30]

Hiện nay, Kon Tum là một đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm: thị xãKon Tum và các huyện: Đăk Hà, Đăk Tô, Ngọc Hồi, Đăkglei, Sa Thầy,Komplong với 79 xã, phường, thị trấn Dân số khoảng hơn 300.000 người,trong đó 54 % là đồng bào các dân tộc ít người Ngoài ra, còn có một số

Trang 11

dân tộc khác di cư đến (Mường, Tày, Nùng ) khoảng trên 10.000 người[12, tr 31].

- Nhà: Nhà của người dân đều làm bằng sản phẩm của núi rừngthiên nhiên Kiến trúc nhà ở thường thay đổi theo mỗi bộ tộc, nhưng phầnlớn là nhà sàn có lối đi lên bằng thang tre hay gỗ "Nhà sàn vừa trừ ám khí,vừa ngăn ngừa ác thú tấn công, vừa thể hiện tinh thần cộng đồng" [54, tr 29]

Tổ chức và trang trí nhà thật đơn sơ ở ngay giữa nhà là bếp lửa dùng làmnơi tiếp khách Bếp lửa đối với người dân tộc rất quan trọng, nó còn biểuthị cho tinh thần tín ngưỡng Đối với một số bộ tộc, bếp lửa còn tượngtrưng cho sự giàu sang, những nhà giàu có tới 7 - 8 bếp lửa, trung bình thì 4 -

5 cái, còn nghèo thì ít hơn Ngoài những nhà thường, ở tộc người Xê Đăng,

Ba Na, Rơ Ngao, Ja Rai người ta đều xây thêm một ngôi nhà thật đẹp, caolớn ở giữa làng gọi là Nhà Rông Đây là nơi thờ tự, cũng là nơi ngự trị củathần làng, là trung tâm diễn ra các lễ nghi Nhà Rông cũng còn là nơi ngũcủa thanh niên độc thân và cũng là nơi bảo lưu, phát huy truyền thống vănhóa của từng dân tộc [48, tr 15-18]

- Làng: Một trong những đặc điểm chung của làng truyền thống làtính thuần nhất về thành phần tộc người Việc thu nhận thêm thành viênđến cư trú trước kia chỉ xảy ra với các trường hợp: cá nhân hay gia đình cósẵn người thân ở làng mà họ muốn nhập cư, hoặc đó là dâu, rễ của làng.Mỗi làng có tên gọi riêng Tên làng thường trùng với tên địa danh hoặc gọitheo tên người hay dòng họ cụ thể đáng ghi nhớ, hoặc thể hiện đặc điểmnơi cư trú hay lập làng Trong làng người dân đều sống theo nếp tự quản,

có Trưởng làng quản lý chung Trưởng làng là người già, nên thường đượcmệnh danh là "Già làng" và nhân vật này cũng cần phải có một số ưu thếkhác người: hoạt bát, am hiểu về phong tục tập quán, giàu kinh nghiệm.Trên cương vị của mình, Trưởng làng quán xuyến đời sống mọi mặt trong

Trang 12

cộng đồng, chi phối cuộc sống của làng, cả về dân sự lẫn quân sự, cả đốinội lẫn đối ngoại, cả trong sinh hoạt kinh tế lẫn sinh hoạt cộng đồng Ngoài

ra, khi nói đến bộ máy tự quản, người ta phải kể đến các bô lão, các thầycúng, những người giỏi về các hoạt động tín ngưỡng, giỏi về chỉ huy quân

sự thời còn "chiến tranh làng" Một đặc trưng khác nổi bật trong quan hệ

xã hội là chế độ tự quản vận hành trên cơ sở luật tục Đó là những quy ước,quy tắc xã hội chỉ dẫn cách đối nhân xử thế, xác định hành vi tội phạm theotruyền thống văn hóa của cư dân, xác lập hệ thống tôn ti trật tự, chế địnhcác mối quan hệ xã hội Luật tục không chỉ có giá trị khi phân xử mà còn là

"kim chỉ nam" khuyên răn, hướng dẫn nhằm làm cho mọi người sống đúngtheo tập tục truyền thống của cha ông mình

- Gia đình: Mỗi buôn làng luôn hội tụ nhiều gia đình Là những vi

tế bào xã hội, các gia đình hợp thành từng cộng đồng cư trú - buôn làng.Mỗi gia đình bao gồm những thành viên vài ba đời sinh thành từ một ông

bà tổ, nghĩa là có nhiều cặp vợ chồng với con cái họ, mà mối quan hệ trong

đó rất đa dạng: có quan hệ vợ-chồng, quan hệ cha mẹ - con cái, quan hệanh chị - em, quan hệ cô dì, chú bác - các cháu Họ chung sống với nhaudưới nóc nhà dài - trong đó mỗi gia đình hạt nhân đều được dành riêng mộtkhông gian nhất định làm chỗ ngủ, cất đặt tư trang và để tiện sinh hoạt Dophong tục cư trú sau hôn nhân quy định, nên thành phần cơ bản của đại giađình người dân tộc có sự khác nhau "Đối với những vùng không theo tậpquán nhất nhất vợ về nhà chồng hay chồng về nhà vợ, như người Hrê, Giẻ-Triêng, Xê Đăng các cặp vợ chồng thường luân chuyển nhau, ở bên vợ ítnăm, đằng chồng ít năm, cứ như thế cho đến khi bố mẹ của vợ hoặc chồngkhuất núi mới định cư thật sự, hoặc có nơi tới khi sinh con đầu lòng thì ra ở

riêng" [46, tr 57] Trong gia đình, các dân tộc theo phụ hệ và song hệ thì

Trang 13

vai trò người đứng đầu thuộc về người đàn ông cao tuổi nhất, người chồng,người cha Trái lại, ở các dân tộc theo mẫu hệ, quyền điều hành sinh hoạttrong gia đình thuộc về bà già có uy tín cao ở thế hệ lớn tuổi nhất mà chồng

bà là đại diện Trong tiểu gia đình thì vị trí người mẹ, người vợ được đềcao ở đây không phát triển chế độ gia trưởng kèm theo quyền lực ít nhiềunghiêm khắc, nghiệt ngã và cũng không cần đến điều đó để điều hành sinhhoạt trong xã hội

- Về quan hệ họ hàng: Mỗi buôn làng tập hợp nhiều dòng họ: cánhân, gia đình luôn thuộc về một dòng họ và nằm trong mối quan hệ thânthuộc nhất định Trong làng, giữa các dòng họ ngoài quan hệ cộng đồng cưtrú còn quan hệ hôn nhân với nhau, tạo nên sự liên kết bà con rộng rãi.Người cùng dòng họ thường ở quây quần bên nhau, có khi tụ tập thànhnhóm cư trú trong làng Dòng họ thường có vật bảo lưu truyền qua các đời,

đó có thể là hòn đá lạ, ngọn giáo thiêng, hay cổ vật, vật lạ gì khác Dòng họthường có người đứng đầu, có nơi dòng họ còn có sinh hoạt nhằm củng cốmối liên hệ nội bộ, cũng có nơi dòng họ có kiêng cử nhất định đối với mộtthứ cây, hay một loài vật (như người Hà Lăng, Ca Dong) và có truyềnthuyết kể về sự kiêng cử Ngoài họ hàng ở phạm vi hẹp và phạm vi rộng,nhiều tộc người còn có thiết chế họ nữa Trong khi ở người Ba Na, Brâu,

Rơ Mâm, nhiều nhóm Xê Đăng không có họ kèm theo tên thì ở người JaRai, Mnông, Giẻ-Triêng có họ, và có một số tộc chia ra thành họ nam A

và nữ là Y (ví dụ tên nam là A Huân, tên nữ là Y Bé)

- Về hôn nhân, cưới xin: Việc kén chồng, chọn rễ ở người dân tộcluôn được chú trọng đến năng lực, sức khỏe và đức hạnh Tuổi lập gia đìnhthông thường là từ 15 đến 20 Thanh niên nam nữ tự mình tìm hiểu bạn đời

Họ không bị ép duyên, nhưng luật làng cấm những người trong họ khôngđược lấy nhau ở người Giẻ-Triêng trai gái cùng Choong (cùng họ) không

Trang 14

thể là vợ chồng của nhau Người Xê Đăng quy định cháu chắt sinh ra từmột ông tổ thì 3 đời sau có thể lấy nhau, không phân biệt dòng cha hay mẹ.Phong tục cưới hỏi ở người dân cũng thuần phát, đơn giản Trai gái tỏ tình,cầu hôn bằng cách trao tặng chiếc vòng đeo tay Khi hai bên quyết địnhtiến tới hôn nhân thì nghi thức hợp cẩn với ý nghĩa kết hợp đôi trai gái hòahợp với nhau là trọng tâm trong lễ cưới, hoặc họ đổi vòng cho nhau, hoặccùng ăn nắm cơm, miếng gan gà, uống chung một bát rượu Khi thành vợchồng chính thức, theo quan niệm người dân thì phải sau một năm mớiđược có con, bằng không sẽ quy vào tội chửa hoang Người ngoại tình vàngười khởi xướng ly hôn phải bị nạp phạt theo quyết định xét xử của cộngđồng [47, tr 32].

1.1.4 Đặc điểm sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo

Đối với người dân ở Kon Tum, tuy đời sống vật chất còn nghèonàn, lạc hậu, nhưng đời sống tinh thần lại phong phú, đa dạng, luôn làmcho con người sống tràn ngập trong bầu không khí lễ hội như để tiếp thêmsức mạnh, giúp họ tự tin, vững vàng hơn trong cuộc sống

Tất cả dân tộc đều thống nhất một điểm bao trùm và chi phối quantrọng trong nhiều hoạt động của cá nhân cũng như cộng đồng là tín ngưỡngvạn vật hữu linh Hiểu theo đó, thế giới có nhiều siêu nhiên ẩn tàng vô hìnhtrong các khách thể vật chất ở khắp nơi xung quanh con người và cả trongbản thân của mỗi người Xuất phát từ những tín nhiệm đó, các thần linh lạichi phối một cách sâu sắc, huyền bí đối với cuộc sống của họ Những lễthức tôn giáo gắn liền với hầu hết các lĩnh vực hoạt động nhằm ngăn ngừatai họa, rủi ro, cầu xin sự tốt lành may mắn Điểm chung nhất của ngườidân là trong cúng bái bao giờ cũng có việc hiến sinh, dâng đồ ăn thức uống

tế thần và lời khấn cầu mong sự tốt đẹp cho cuộc sống trần thế, nhờ trờiphù hộ cho con cháu mạnh khỏe, sinh sôi [46, tr 30]

Trang 15

Xã hội thần thánh của người Tây Nguyên rất phong phú, đa dạng.Theo tác giả Đỗ Hữu Nghiêm thì có 2 loại: Thượng đẳng thần và Hạ đẳngthần Trong linh giới, ngoài các thần còn có ma quỷ, trong các loài ma quỷthì người ta sợ nhất là Ma Lai Ma Lai được hình dung giống người quỷsống chung lẫn với người, đêm đêm lần mò đi tìm ăn xác chết, hút máu, rútruột người Xưa kia Ma Lai cũng là người nhưng ăn phải thịt người nên trởthành ma Người ta xa lánh những người bị tình nghi là Ma Lai Khi pháthiện ai là Ma Lai người ta sẽ giết luôn người đó hoặc cả gia đình họ để trừtuyệt căn [55, tr 18-22].

Người dân ở đây có nhiều kiêng cữ, họ tin rằng trong mối liên hệ bí

ẩn với các thần linh, một thành viên dân làng có thể ảnh hưởng tới cả cộngđồng Theo cách quan niệm của họ, ai đó vi phạm tập tục sẽ khiến thần linhnổi giận trừng phạt buôn làng Muốn khỏi những tai họa đó, người dânthường tổ chức các hình thức cầu đảo khi thấy tình thế "có vấn đề" Họ rấtcoi trọng điềm báo thể hiện qua giấc mơ, tiếng thú, hướng bay của chimhoặc một số hình thức nào đó

Ở người dân tộc, khái niệm Yàng được dùng phổ biến để chỉ đa sốcác siêu nhiên mà trong tiếng Kinh thường gọi là Thần Có loại thần thiệnphù hộ, đem lại lợi ích cho con người, có loại thần ác luôn gây tai họa.Người dân tộc đều tin có tinh linh trong mỗi người đang sống, giống như

"hồn", "vía" ở người Kinh Khi chết đi, hồn biến hóa khác nhau theo tínngưỡng của từng dân tộc Người Brâu cho rằng "hồn" ở đỉnh đầu, sau khingười chết thì hóa ra ma gây tai họa cho người sống Người Giẻ-Triêng gọihồn là phol, cho rằng phol ẩn náu trong lỗ tai, sau khi người chết đi thì pholbiến thành chim teh hay chim king cang bay về với tổ tiên ở vùng Giằngbên Quảng Nam Người Ba Na tin mỗi người có 3 hồn, hồn chính ở xoáyđầu, còn 2 hồn phụ ở trán và thân thể; hồn người chết hóa ra ma (atâu) vàqua 8 lần biến hóa, bắt đầu từ thành hổ, thành mèo rừng, thành chồn, cheo,

Trang 16

chuột, chuột không đuôi, sương mù và tan vào thiên nhiên Thế giới ngườichết được người dân mường tượng mô phỏng cuộc sống của chính họ,nhưng có sự trái ngược, đối lập nhất định giữa đằng người và đằng ma, nếubên này là đêm thì bên kia là ngày Vì vậy, cả cộng đồng phải thực hiệnnhững lễ thức tôn giáo và kiêng cử nhất định, với sự ảo vọng nhận được sựbình yên, tránh được rủi ro, hiểm họa Đó là dịp để cúng quải, hiến tế củatập thể, định kỳ và không định kỳ do buôn làng tổ chức Trước các thần, dù

để tạ ơn hay tạ lỗi, dù hứa hẹn hay xin điều gì, khi ấy lời cầu khấn phát ravới tư cách cộng đồng và cả cộng đồng đang trông chờ chung sự linhnghiệm ở những gì sẽ đến trong cuộc sống của buôn làng mình [77, tr 18]

Như vậy, qua phân tích những đặc điểm chung của tỉnh Kon Tum,chúng ta thấy rằng dù có ít nhiều sự khác biệt giữa các dân tộc, nhưng cáichung lớn nhất được họ thể hiện rõ là tính cộng đồng cao trong lĩnh vựcsinh hoạt tín ngưỡng; đó là sợi dây liên kết ràng buộc con người lại vớinhau vì sự tồn tại cho cuộc sống hôm nay

1.2 QUÁ TRÌNH TRUYỀN ĐẠO TIN LÀNH VÀO TỈNH KON TUM 1.2.1 Một số kiến thức cơ bản về đạo Tin Lành

Vào đầu thế kỷ XVI, giai cấp tư sản châu Âu phát triển mạnh, cóthế lực ở nhiều nước, đặc biệt là ở Đức, mâu thuẫn giữa nông dân vớiphong kiến quý tộc xảy ra gay gắt - nơi mà thời kỳ trung cổ cung cấp choGiáo hội Rôma nhiều của cải vật chất, từng được mệnh danh là "Con bòsữa của giáo hội", nhưng giáo hội Rôma không sống theo lời dạy của ĐứcChúa Giêsu, không tuân giữ giới luật, vượt quá xa những điều giáo hội chophép, dấn thân vào những chuyện phàm tục tầm thường Năm 1514, Giáohoàng Lêon X ra lệnh ban "Ơn toàn xá" cho những ai dâng cúng tiền chogiáo hội "Ơn toàn xá" được phổ biến ở nhiều nơi không phải vì ý nghĩathiêng liêng mà vì mục đích kinh tế, với lời tuyên truyền rằng Ai bỏ tiền ramua bùa xá tội thì mọi tội lỗi sẽ được xóa hết, mua càng nhiều thì sau khi

Trang 17

chết sẽ được lên thiên đàng Việc làm này gây lên làn sóng phản ứng mạnh

mẽ trong hàng ngũ giáo sĩ, tín đồ và đặc biệt là giáo hội Công giáo Đức.Người đầu tiên khởi xướng phong trào, đứng ra đấu tranh và trở thành vị

lãnh tụ nổi tiếng là Martin Luther - đồng thời, ông cũng là người dọn

đường cho giai cấp tư sản Đức nhập thế, cuộc vận động cải cách tôn giáo

đã nổ ra dẫn tới sự ra đời của đạo Tin Lành [2, tr 103]

 Các chức việc của đạo Tin Lành

Trong Hội thánh Tin Lành không có phẩm trật, tất cả tín đồ đềuđồng đẳng, đồng quyền và đồng trách nhiệm trước mặt Đức Chúa trời Tuynhiên, vì công việc nhà Chúa, Hội thánh có mấy chức việc sau:

Chấp sự: Theo nghĩa đen, nguyên văn tiếng Hy Lạp là Diacons tức là người đày tớ, có trách nhiệm giúp việc tài chính cho Hội thánh vàphụ ông Mục sư hoặc Truyền đạo trong mọi công việc của Hội thánh

Truyền đạo: Có nhiệm vụ đi giảng đạo để truyền rao Tin Lành,những người này phải học qua lớp kinh thánh (ở Việt Nam học tại trường

Đà Nẵng)

- Mục sư: Các vị truyền đạo sau một thời gian phục vụ ít nhất là 2năm có thể được Hội thánh phong Mục sư Việc phong Mục sư do Hộiđồng phong chức gồm ít nhất 7 vị vừa là Mục sư vừa là giáo sĩ Lễ tấnphong Mục sư được tổ chức long trọng, một Mục sư thay mặt Hội đồngnhân danh đức Chúa trời truyền đạt sứ mệnh cho tân Mục sư [2, tr 30]

 Cơ cấu tổ chức Hội thánh

Hội thánh Tin Lành được tổ chức theo chính thể cộng hòa, nghĩa làmọi công việc của Hội thánh không do một thành viên nào tự quyết định,nhưng cũng không phải mọi tín đồ đều có quyền tham gia bàn bạc, mà dođại biểu các Chi hội công cử, gồm:

- Chi hội

Trang 18

- Địa hạt liên hội

- Tổng liên hội

- Chi hội: Nơi nào có tín đồ thì nơi đó đều có một Chi hội của Hộithánh, có thể xem Chi hội là đơn vị cấp cơ sở nhỏ nhất của giáo hội có tưcách pháp nhân Chi hội do ông Mục sư nơi đó điều khiển và có một BanTrị sự Ban Trị sự do tín đồ bầu ra Mỗi Chi hội có một Ban Chứng Đạo do

vị Mục sư, Truyền đạo hoặc một tín đồ thành khẩn làm Trưởng ban Thôngthường vào chiều chủ nhật, Ban Chứng Đạo đi phát và mời tín đồ đến dựthính các giờ giảng Tin Lành Hoạt động đáng ghi nhớ nhất của Chi hội làHội đồng thường niên, trong phiên họp này, tất cả tín đồ đều tham dự dưới

sự chủ tọa của Mục sư để bàn bạc, thảo luận công việc trong năm tới Hộiđồng thường niên họp (do Chủ nhiệm địa hạt liên hội chủ tọa) có thể quyếtđịnh việc lưu giữ vị Mục sư hay Truyền đạo hoặc mời các vị khác đủ điềukiện tư cách tham gia vào Chi hội

- Địa hạt liên hội: Gồm tất cả các Chi hội trong một địa hạt liên hiệplại thành một Địa hạt liên hội Địa hạt liên hội có một Ban Trị sự gồm: Chủnhiệm, Phó Chủ nhiệm, Thư ký và nhiều thành viên khác Trong Địa hạtliên hội có đại biểu các Chi hội, ông Chủ nhiệm địa hạt làm chủ tọa cuộchọp và gọi là Hội đồng thường niên (Còn Hội đồng Linh tu là những buổinhóm họp giữa các Mục sư, Truyền đạo và tín đồ từng khu vực để thờphụng Chúa, giảng dạy kinh thánh và cầu nguyện để bồi bổ đời thuộc linh -gọi là Lớp Bồi linh)

- Tổng liên hội: Nhiều Địa hạt liên hội hợp thành Tổng liên hội.Ban Trị sự Tổng liên hội gồm có Hội trưởng, Hội phó, Thư ký và các nhânviên khác [2, tr.35]

 Giáo lý

Trước hết, Tin Lành là một tôn giáo có nguồn gốc chung với Cônggiáo, sau đó tách ra Vì vậy, về mặt giáo lý, luật lệ, lễ nghi đạo Tin Lành cơ bản

Trang 19

giống đạo Công giáo Nhưng do trong quá trình đấu tranh đi đến tạo lập giáohội, những người lãnh đạo có những thay đổi nhất định Giữa giáo lý, lễ nghicủa đạo Công giáo và Tin Lành có một số điểm giống và khác nhau như sau:

1 Đạo Tin Lành đề cao kinh thánh, xem đó là chuẩn mực căn bảnduy nhất của đức tin và sự hành đạo Nhưng ở đạo Công giáo cho rằngngoài kinh thánh ra còn có các văn bản khác, như Nghị quyết các Cộngđồng chung, các Sắc chỉ, Thông điệp của Giáo hoàng về nguyên tắc cũng

có giá trị pháp lý Trong khi đó, ở đạo Tin Lành lại đề cao kinh thánh mộtcách tuyệt đối, nhưng không coi đó là cuốn sách mà chỉ có một số người (ýchỉ các giáo sĩ) được quyền kê cứu và giảng giải như đạo Công giáo Tất cảtín đồ đạo Tin Lành đều được sử dụng, nói và làm theo kinh thánh Riêngtrong bộ kinh Cựu ước có 46 quyển, tín đồ Tin Lành chỉ công nhận 36quyển, còn lại họ cho là con người viết thêm vào nên không có ý nghĩa

2 Giáo lý đạo Công giáo và Tin Lành về cơ bản giống nhau: cả haiđều thờ Thiên chúa, tin theo thuyết Thiên chúa 3 ngôi (Cha - Con và Thánhthần); tin vũ trụ, muôn vật đều do Thiên chúa tạo dựng, điều khiển; tin conngười do Thiên chúa tạo dựng một cách đặc biệt và có tội Tổ tông truyền;tin có Ngôi Hai Thiên chúa là đấng Giêsu Kitô xuống trần chịu nạn chếtchuộc tội cho con người; tin có ngày Phục sinh và Phán xét

3 Đạo Tin Lành tin có sự hoài thai Chúa Giêsu một cách mầunhiệm của bà Maria, nhưng cho rằng bà không phải là mẹ của Thiên chúa

và chỉ đồng trinh cho đến khi sinh Giêsu, sau đó không còn đồng trinh nữa

4 Đạo Tin Lành tin có thiên sứ, thánh tông đồ, các thánh tử đạo vàcác thánh khác, nhưng không sùng bái lạy họ Đạo Tin Lành không thờtranh ảnh, hình tượng cũng như các di vật, không tôn sùng và thực hiệnhành hương đến thánh địa kể cả ở Giêsuxalem, Nuixinai hoặc đền thánhPhêrô và Phaolô

Trang 20

5 Đạo Tin Lành tin có thiên đàng, địa ngục nhưng không quá coitrọng tới mức dùng nó làm công cụ khen thưởng, răn đe, trừng phạt đối vớicon người Đạo Tin Lành đề cao lý trí trong đức tin, cho rằng sự rỗi chỉ đếnbởi đức tin chứ không phải vì những "hình thức ngoại tại" (ý nói các luật

lệ, lễ nghi) Do đó, các luật lệ, lễ nghi, cách thức hành đạo của đạo TinLành cũng đơn giản, không cầu kỳ, rườm rà như đạo Công giáo

6 Tín đồ đạo Công giáo xưng tội trong tòa kín với Linh mục làhình thức chủ yếu nhất, còn tín đồ Tin Lành xưng tội trực tiếp với Thiênchúa Khi xưng tội, cũng như cầu nguyện, họ có thể đứng giữa bàn thờ,trước đám đông để sám hối hoặc nói lên ý nguyện của mình một cách côngkhai

7 Nhà thờ đạo Công giáo được xây dựng tốn kém, kiến trúc theolối cổ, bài trí công phu, cầu kỳ, cho rằng đó là nơi Chúa ngự trị một cáchlinh thiêng Trái lại, nhà thờ đạo Tin Lành thường xây theo kiến trúc hiệnđại, đơn giản, trong nhà thờ không có tượng ảnh, chỉ có cây thập giá biểutượng của Chúa Giêsu chịu nạn

8 Trong 7 phép Bí tích của đạo Công giáo, đạo Tin Lành chỉ thừanhận và thực hiện phép Rửa tội (Bắp têm) và phép Thánh thể, vì họ chorằng kinh thánh chỉ nói đến 2 phép đó mà thôi (thực ra hiện nay đạo TinLành vẫn có thực hiện thêm phép Dâng con trẻ, Hôn phối và An táng)

9 Giáo sĩ đạo Tin Lành gồm có 2 chức Mục sư và Truyền đạo(Truyền đạo còn gọi là Giảng sư) Giáo sĩ Tin Lành không áp dụng tìnhtrạng độc thân như giáo sĩ đạo Công giáo Họ được lấy vợ, lấy chồng, sinhcon đẻ cái, xây dựng hạnh phúc gia đình riêng Việc tuyển chọn, phongchức Mục sư, Truyền đạo, bổ nhiệm Chủ tọa Hội thánh do một hội đồng cóthẩm quyền của giáo hội quyết định Các hoạt động của giáo sĩ Tin Lànhchịu sự kiểm soát của tín đồ

Trang 21

10 Về phương diện tổ chức, đạo Tin Lành tách hẳn đạo Công giáonhưng không lập ra tổ chức giáo hội mang tính phổ quát cho toàn đạo, chotoàn thế giới mà đi theo xu thế riêng lẻ, độc lập với những hình thức khácnhau theo từng hệ phái hoặc theo từng quốc gia Trong cơ cấu tổ chức giáohội, các hệ phái Tin Lành chủ trương giao quyền tự trị cho giáo hội cơ sở làChi hội [2, tr 40].

 Các thánh lễ

- Lễ Bắp têm: Đây là nghi thức chính của đạo, tất cả tín đồ đều phảichịu lễ này Người nào chưa tin Chúa, muốn vào đạo phải học hết giáo lý

cơ bản về đạo, sẽ được khảo hạch bởi một tiểu ban do Mục sư chủ tọa Mục

sư này nếu thấy được sự xứng đáng thu nhận lễ Bắp têm thì sẽ nhân danhđức Chúa 3 ngôi để làm lễ cho họ Hội thánh không làm lễ này cho trẻ con,

mà phải từ 18 tuổi trở lên

- Lễ Thánh thể (Lễ tiệc thánh): Cũng tương tự như Bí tích thánh thểcủa Công giáo, lễ do Mục sư (hoặc Truyền đạo) chủ tọa, nhưng được thựchiện đơn giản hơn Sau lễ, tất cả tín đồ, giáo sĩ cùng uống rượu, ăn bánh vàdâng lời cầu nguyện tạ ơn Chúa Những người chịu lễ Bắp têm mới được

Trang 22

trời, lúc đó Mục sư phối hợp với Hội thánh làm lễ an táng cho người chết [2, tr 45].

 Các hệ phái Tin Lành chính trên thế giới

Hiện nay, trên thế giới có trên 300 hệ phái Tin Lành, trong đó tậptrung nhất vẫn là các hệ phái chính sau: Phái Trưởng lão, Phái Bắp tít, PháiChứng nhân Giêhôva, Phái Mennônai, Phái Mooc Mông, Phái Ngũ Tuần,Phái Giám lý, Phái Thanh giáo và Giáo hội cộng đồng, Phái Quaker, Phái

Cơ đốc Phục lâm, Phái Giáo hội Thống nhất, Phái Môn đệ Đấng Christ,Phái Những nhà khoa học Kitô giáo, Phái Hội liên hiệp phúc âm và truyềngiáo (viết tắt là CMA) [3, tr 2]

 Các hệ phái Tin Lành ở Việt Nam

Theo số liệu thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, tính đến naytoàn quốc có hơn 13 hệ phái, đó là: Hội liên hiệp phúc âm và truyền giáo(CMA), Bắp tít, Cơ đốc truyền giáo, Trưởng lão, Ngũ tuần, Mennônai.Quaker, Chứng nhân Giêhôva, Moocmông, Tầm nhìn thế giới, Liên hữu cơđốc và Giám lý [10, tr 2]

1.2.2 Sự du nhập, phát triển đạo Tin Lành vào tỉnh Kon Tum 1.2.2.1 Lịch sử quá trình truyền đạo

Ngay từ nửa đầu thế kỷ XVII, qua những tài liệu còn lại người tathấy có những tín đồ hay Mục sư Tin Lành người Châu Âu đến ViệtNam và phương Đông Họ là những người đi trên các thương thuyền vớitính cách là thương nhân, nhà ngoại giao, tuyên úy hay cả quân nhân Họlàm việc cho các công ty Đông ấn mang quốc tịch Pháp, Hà Lan Đó làCharles ở Phố Hiến năm 1957, là những Mục sư Pháp mang tên Delarge,Durand, Andre Đến năm 1884, Mục sư Theso Phile Bơisset được cử đếnĐông Dương làm tuyên úy cho một số tín đồ Tin Lành Pháp Chính thờiđiểm này, Hội Truyền giáo do Mục sư A.B Simpson thiết lập đang hoạt

Trang 23

động tại Hoa Nam bắt đầu chú ý đến Việt Nam Mùa hè năm 1893, D.Lelachcar - người cộng tác của Simpson đến Sài Gòn xem xét công việc vàquan sát tình hình Năm 1897, Mục sư C.H Reeves - Hội Trưởng Hộitruyền giáo địa hạt Hoa Nam và R.A Jaffray xuống tận Hà Nội khảo sát,chuẩn bị cho công cuộc truyền giáo, song kế hoạch đó bị người Phápkhước từ chưa chấp nhập Năm 1911, Mục sư Jaffray, Hoster, Huglesđến Đà Nẵng tá túc tại nhà của Binnet, người Pháp, lúc đó làm việc cho

Từ ngày 5 đến 13/03/1927, Đại hội lần thứ IV ở Đà Nẵng bầu raBan Trị sự Tổng liên hội Hội thánh Tin Lành Việt Nam do Mục sư HoàngTrọng Thừa làm Hội trưởng và kiêm nhiệm Hiệu Trưởng trường Thánhkinh Đà Nẵng [2, tr 10]

Năm 1954, sau khi Hiệp định Giơnerver được ký kết, đất nước tạmchia cắt ở vĩ tuyến 17, một cuộc di cư lớn diễn ra trong lịch sử với khoảng

1 triệu người từ Bắc vào Nam và khoảng 100.000 người từ Nam ra Bắc,gây nên những xáo trộn, biến động về mặt chính trị, xã hội "ở miền Bắc, sốđông tín đồ, giáo sĩ di cư vào Nam, cơ quan của Tổng Liên hội cũngchuyển vào Sài Gòn, chỉ còn hơn 5.000 tín đồ và hơn chục mục sư, giảng

sư Năm 1975, những tín đồ, giáo sĩ còn lại ở miền Bắc đã lập tổ chức giáohội riêng lấy trên là Tổng hội Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) -

Trang 24

gọi tắt là Hội Thánh Tin Lành miền Bắc, với đường hướng vừa hoạt độngtôn giáo vừa hoạt động yêu nước cho đến ngày nay" [2, tr 139] Trong khi

đó, ở miền Nam, những năm 1954 - 1975, lợi dụng cuộc chiến tranh xâmlược của Mỹ, Hội Liên hiệp phúc âm và truyền giáo (CMA) đẩy mạnh hơnbao giờ hết việc đầu tư tiền quả, phương tiện giúp Tổng liên hội Hội thánhTin Lành Việt Nam (miền Nam) xây dựng hệ thống tổ chức, mở rộng các

cơ sở tôn giáo, kinh tế, văn hóa, xã hội ở nhiều nơi Cơ sở đào tạo giáo sĩđược củng cố và mở rộng Trường kinh thánh Đà Nẵng chuyển vào NhaTrang nâng thành cấp đại học với tên gọi mới Thánh kinh thần học việnNha Trang Hai trường kinh thánh hệ trung cấp được xây dựng ở Đà Lạt vàBuôn Mê Thuột đào tạo giáo sĩ cho vùng Tây Nguyên, trong đó địa bàntỉnh Kon Tum được chú trọng [2, tr 18]

Mặc dù có chậm hơn nhiều so với đạo Công giáo, Tin Lành chỉchính thức hoạt động ở Tây Nguyên đầu tiên vào năm 1929 tại Đà Lạt doMục sư H.A Jăckson đến cao nguyên Di Linh truyền đạo cho người Kơ Ho,với việc thành lập trường học cho con em các nhà truyền giáo và trườngdạy thánh kinh vào năm 1933 Năm 5 sau (1934), vợ chồng Mục sư Smith

tổ chức một trung tâm truyền bá Tin Lành khác ở Buôn Mê Thuột, đến năm

1950, mở trung tâm truyền giáo cho các dân tộc ít người Ê Đê, Ja Rai Báocáo đầu tiên của các cố vấn Mỹ về vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên (1957) có

ý kiến là cần xóa bỏ ảnh hưởng của cố đạo Pháp tại vùng đất này Cuộc tiếpxúc giữa tên trùm tình báo Mỹ, cố vấn của Ngô Đình Diệm là Lansdale với

vợ chồng Mục sư Smith và các nhân sĩ người thượng ở Buôn Mê Thuột vàonăm 1956 đánh dấu một bước ngoặt trong sự phát triển của Tin Lành ở TâyNguyên Khi các ấp chiến lược được thành lập, các đồn bốt lính ngụy dựnglên cũng là lúc đạo Tin Lành ở Kon Tum thể hiện rõ nhất về sự cấu kết đểhoạt động trong vùng tín đồ đồng bào dân tộc [53, tr 61]

Trang 25

Năm 1959, các nhà truyền giáo từ trung tâm ở Đà Nẵng đến KonTum giảng đạo nhưng mọi việc không diễn ra theo ý họ Một phần khókhăn bước đầu do thiếu người truyền đạo, thiếu người am hiểu về phongtục tập quán nên khó tiếp xúc với đồng bào; phần khó khăn khác do cácquan chức đương thời lúc này phần lớn theo hoặc có cảm tình với Cônggiáo nên những người truyền đạo không nhận được sự ủng hộ từ phía chínhquyền và dân chúng [55, tr 21]

Tháng 2/1960, ông bà Nguyễn Văn Tửu đến giảng đạo cho ngườiGiẻ-Triêng, Xê Đăng, Hà Lăng ở Đăk Sút (nay là xã Đăk Kroong, huyệnĐăkglei) Tiếp đến, mấy tháng sau, một bác sĩ người nước ngoài tên làHarverson và ông Doy Spragett từ Hồng Kông đến huyện Đăkglei ở lạitruyền đạo, nhưng được 3 tuần họ phải chuyển về Ba Tơ (Quảng Ngãi) vìnhà ở bị một người lạ mặt đốt cháy "Trong thời gian này (1960), Đại Hộiđồng Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) quyết định thành lập Địahạt Thượng du cho các dân tộc Tây Nguyên" [81, tr 13] Theo sự phâncông của Hội thánh, các nhà truyền đạo được chỉ định phụ trách các khuvực sau:

Ông Nguyễn Văn Tửu - Phụ trách khu vực Đăk Sút

Ông Trí - Hạnh - Phụ trách khu vực Đăk To Rah (Đăk Chong)Ông Phạm Minh Ân - Phụ trách ở Đăkglei

Về sau, do quá trình di cư lập ấp chiến lược, cùng với việc mở rộng

cơ sở quân sự của chính quyền Sài Gòn và sự đẩy mạnh hoạt động của cácnhà truyền giáo dần dần đưa đạo Tin Lành lan rộng đến người Kinh ở thị xãKon Tum cùng các khu vực lân cận với nhiều cách thức truyền đạo khácnhau [55, tr 40]

Trang 26

Tại Kon Tum, trong buổi đầu truyền đạo, có 4 hệ phái cùng đến vừarao giảng giáo lý, vừa đẩy mạnh các hoạt động từ thiện, y tế và làm côngtác xã hội để thu hút mọi người tham gia, cụ thể:

 Phái Cơ đốc Truyền giáo: Khi đến địa bàn Kon Tum khảo sáttình hình, Mục sư Phạm Minh Ân nhận được sự giúp đỡ về kinh phí củaHội thánh và Mỹ xây dựng nhà thờ tại đường Lê Hồng Phong (trước đây làđường Trịnh Minh Thế) vào năm 1959 Cơ sở này chỉ lo việc giảng giảikinh thánh cho tín đồ, mang tính chất dân sự thuần túy, nhưng về sau cóthành lập văn phòng tuyên úy lo chăm sóc "phần hồn" cho số quân nhânngụy đang đóng quân tại thị xã Kon Tum và dung túng cho bọn phản độnghoạt động chống phá cách mạng Đến năm 1975, khi ta giải phóng thốngnhất đất nước, số cầm đầu ngoan cố trong nhà thờ không chịu ra hàng vàchống trả lại, cuối cùng lực lượng quân đội tiến vào giải phóng, tiếp quản

sử dụng cơ sở này từ đó đến nay [20, tr 15]

Đồng thời, để hỗ trợ cho việc phát triển tín đồ, "Cô nhi viện ThiênÂn" được thành lập do Mục sư Ân kiêm nhiệm, với mục đích đào tạonguồn "cán bộ cốt cán" trong tương lai Số học sinh được tuyển chọn trongcon em đồng bào về học tại Cô nhi viện, khi trưởng thành ra trường sẽ làmcông việc truyền đạo Cách làm này thu hút đông đối tượng người tham gia,với hai cơ sở ra đời:

- Cơ sở 1: Trong nhà thờ (cơ sở này là Tuyên úy quân đội)

- Cơ sở 2: Tại hẽm đường Trần Hưng Đạo (nay là Trường mẫu giáo) Ngoài ra, hệ phái này còn có nhà thờ tại khu định canh Đăk Tô(Desomai) xây dựng năm 1973 (nay làm phòng họp của ủy ban nhân dân xãDiên Bình, huyện Đăk Tô) Sau giải phóng, những cơ sở thờ tự trước đâyliên quan đến ngụy quân ngụy quyền được ủy ban quân quản trưng dụngvào mục đích công cộng Năm 1976, Hội Thánh Tin Lành Cơ đốc truyềngiáo tại Đà Nẵng đưa Mục sư Nguyễn Chữ đến cư trú tại 59 - Bà Triệu, thị

Trang 27

xã Kon Tum để móc nối với số truyền đạo cũ trước đây nhằm gây dựng lạiphong trào, nhưng lúc này uy thế cách mạng đang lên nên mọi sinh hoạttôn giáo tạm thời lắng xuống Đến nay, hệ phái này ở Kon Tum không cònMục sư, (năm 1992, Mục sư Nguyễn Chữ xuất cảnh sang định cư tại Mỹ),chỉ còn hai người con của ông Chữ ở lại tiếp tục những hoạt động truyềnđạo trái phép với danh xưng tự phong là "Truyền đạo sinh" và có biểu hiệnmóc nối với các tổ chức Tin Lành nước ngoài (thông qua Mục sư NguyễnChữ) để phát triển đạo Bên cạnh đó, số học sinh theo học tại Cô nhi việnsau giải phóng ta trả về địa phương nay có điều kiện đứng ra truyền giảnggiáo lý một cách tích cực, bất chấp việc vi phạm pháp luật Theo số liệuthống kê, hiện nay hệ phái này có khoảng 8.466 tín đồ, trong đó có 7.166tín đồ theo sau năm 1975, phân bố tập trung tại thị xã và huyện Đăkglei và

Sa Thầy [20, tr 30]

 Phái CMA: Đến Kon Tum trong khoảng thời gian sau năm

1960, hoạt động truyền giáo quanh khu vực thị xã Năm 1965, Mục sưNguyễn Xuân Vọng được điều đến phụ trách có vận động quần chúng đónggóp tiền, thuê nhà giảng giáo lý tại đường Nguyễn Huệ, sau đó xây nhà thờtại đường Bà Triệu (trước đây là đường Triệu ẩu) vào năm 1969 Mục đích,nhiệm vụ của hệ phái này là khuyến khích các nhóm tín đồ, nhóm giáo hữutrong công cuộc truyền giáo bằng việc cung cấp lực lượng chức sắc và hỗtrợ tài chính Do vậy, trong buổi đầu mới xây dựng, những người lãnh đạo

hệ phái thành lập Trường Tư thục Tiểu học Hương Nam (năm 1971) nuôidạy tín đồ từ lớp 1 đến lớp 5 (cơ sở trường này đặt trong nhà thờ) Đến năm

1970 - 1975, Mục sư Nguyễn Xuân Vọng điều đi nơi khác, Mục sư TrươngVăn Châu thay thế làm quản nhiệm nhà thờ và cho thành lập Đoàn thanhthiếu nhi Tin Lành vào ngày 4/02/1974 để có điều kiện quản lý, phát triểntín đồ tốt hơn Theo các tài liệu lưu trữ tại Công an tỉnh Kon Tum cho thấy,

cơ sở thờ tự này thường xuyên có các Mục sư người Mỹ đến với tư cách cố

Trang 28

vấn chủ tọa nhiều cuộc trao đổi về tình hình đang diễn ra lúc bấy giờ Hiệnnay, hệ phái này đang tăng cường đẩy mạnh các hoạt động từ thiện xã hội,

mở rộng ảnh hưởng để phát triển tín đồ Theo số liệu thống kê của Ban Tôngiáo tỉnh Kon Tum, phái này có khoảng gần 50 tín đồ, phân bố chủ yếu tạihuyện Sa Thầy và Komplong [20, tr 32]

 Phái Cơ đốc Liên hữu: Do Mục sư Huỳnh Vĩ Hùng truyền đến.Lúc đầu thuê nhà của ông Nguyễn Bá Nghiêm ở đường Đào Duy Từ giảngđạo từ năm 1969 đến năm 1972, công việc chủ yếu là làm từ thiện, mở lớpdạy cắt may, giúp đỡ người nghèo, tàn tật Hệ phái này không xây dựngnhà thờ Sau năm 1975, họ không còn tồn tại với tư cách là một tổ chứcnữa, tín đồ hệ phái này chiếm tỷ lệ nhỏ, đến nay có khoảng 245 người, chủyếu hoạt động tại gia [20, tr 33]

 Phái Bắp Tít: Đến Kon Tum cùng thời với các hệ phái trên, cóthuê nhà tại đường Phan Chu Trinh (ngày nay đối diện với chùa Bác ái).Nhiệm vụ chính lúc đầu là đi phát sách Tin Lành trong các khu vực dân cư

và giảng đạo, nhưng về sau không có Mục sư hướng dẫn nên bị tan rã ngaysau năm 1975 [20, tr 35]

Ngoài ra, sau giải phóng, một số người dân cư trú các nơi khác nay

về lại quê hương, trong số họ có một bộ phận người theo đạo Tin Lành,một số bộ phận khác di dân theo chương trình định canh định cư kinh tếmới đã du nhập vào Kon Tum thêm hệ phái Cơ đốc Phục lâm Theo thống

kê đến nay ở Kon Tum đã có 6 hệ phái Tin Lành với tổng số tín đồ trên8.972 người, trong đó hệ phái Cơ đốc Truyền giáo và Cơ đốc Liên hữu vẫnchiếm vị trí chủ đạo

Số tín đồ các hệ phái Tin Lành tại Kon Tum hiện nay

Trang 29

CMA Cơ đốc

liên hữu Bắp tít

Cơ đốc phục lâm

Cơ đốc truyền giáo

a Về phương pháp truyền giáo

Trong lịch sử tồn tại các tôn giáo ở Việt Nam, có lẽ chưa một tôngiáo nào chú trọng đến hoạt động truyền giáo và tiến hành một cách năngđộng như đạo Tin Lành Từ công việc chuẩn bị nhân sự, tài chính, tài liệu,phương tiện đều được các giáo sĩ vạch ra, chuẩn bị một cách chi tiết; đồngthời để đạt được mục đích đề ra, họ không ngần ngại dấn thân vào hiểmnguy, gian khổ đến với đồng bào dân tộc Đây là một việc khó không dễmấy ai thực hiện được, song sẽ rất thuận lợi nếu ta biết cách tiếp cận Riêngđối với các chức sắc đạo Tin Lành, để hoạt động truyền đạo có hiệu quảtrong vùng đồng bào dân tộc, họ tiến hành các phương pháp sau:

*0 Tiếp xúc bối cảnh và dùng ngôn ngữ dân tộc: Do đặc điểmđịa hình Kon Tum đi lại khó khăn, hiểm trở, các dân tộc bị cô lập, khépkín, chưa có điều kiện mở rộng ra thế giới bên ngoài Sau giải phóng,đồng bào vẫn còn trong tình trạng lạc hậu, xã hội mới manh nha hìnhthành giai cấp Điều kiện đó ảnh hưởng, chi phối nhiều đến việc hìnhthành tính cách tâm lý dân tộc, làm cho những đối tượng muốn khám

Trang 30

phá, tìm hiểu cần phải có cách tiếp cận thích hợp Các nhà truyền giáochủ động học tiếng địa phương, biết làm tốt công tác "dân vận", khaithác những lợi thế để tìm người cộng tác có khả năng giúp họ học tiếngmột cách thuận lợi Ngôn ngữ cũng là cửa ngõ, vừa giúp các nhà truyềngiáo chinh phục thiện cảm, vừa giúp họ tìm hiểu sâu xa hơn nền văn hóacủa mỗi dân tộc (Tại Đà Lạt, H.A Jăckson từng dùng Ha Sol, một ngườiHrê nói tiếng Việt, Pháp, Kơ Ho làm thầy dạy tiếng; ở Buôn Mê Thuột,G.H Smith từng ca ngợi những thành tựu về mở mang đường sá vàtrường học cùng nhiều công trình văn hóa của người Pháp, tạo điều kiệncho đạo Tin Lành dễ tiếp xúc với các dân tộc ít người) Sự có mặt củangười Pháp trước ở Tây Nguyên tạo được điều kiện thuận lợi cho sự dunhập của đạo Tin Lành khi những người có khả năng tốt giúp họ đượcđào tạo, làm việc trong môi trường Pháp.

*1 Chọn dân tộc nòng cốt: Mặc dù các dân tộc ở Kon Tum đều

có những đặc điểm chung so với các nơi khác, song trong cộng đồng vẫn

có sự khác biệt cơ bản Tùy theo từng địa bàn, khu vực, từng hoàn cảnhlịch sử có các dân tộc chủ thể với nhiều hoạt động chi phối, ảnh hưởngrộng lớn hơn Do vậy, trong quá trình khảo sát, nhiều tổ chức truyền giáobước đầu đặt chân đến Tây Nguyên chủ động nghiên cứu dân tộc dướinhiều góc độ khác nhau để có kết luận chính xác dựa trên những cứ liệukhoa học, đó là biết chọn lựa dân tộc "chính" để truyền đạo, cụ thể ở KonTum là người Giẻ - Triêng (ở Đăk Lăk là người Ê Đê, Lâm Đồng là người

Kơ Ho, Gia Lai là người Ja Rai) Nhìn nhận lại quá trình này, chúng ta cóđiều kiện ngẫm nghĩ về nhận định trên của các nhà truyền giáo thật chínhxác, sâu sắc Bởi hiện nay, nhiều người tưởng rằng Tin Lành xâm nhập vàođồng bào đi theo tuyến từ ngoài vào trong hay từ trên xuống Đây cũng là

cơ sở để chúng ta lý giải về sự phân bố tín đồ Tin Lành trên địa bàn tỉnhKon Tum; vì thực tế các dân tộc ở gần thị xã không chịu ảnh hưởng của

Trang 31

Tin Lành nhiều, còn các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới lạiđến với Tin Lành sớm.

*2 Vợ chồng truyền giáo: Công việc truyền bá đạo Tin Lành cònthể hiện một đặc điểm khác, đó là chấp nhận Mục sư, Truyền đạo được lậpgia đình bình thường như các tín đồ Ban Trị sự của Hội thánh thường chỉđịnh những cặp vợ chồng truyền giáo làm việc với nhau Cách làm nàygiúp họ vừa hoàn tất việc gia đình, vừa giúp họ thực hiện tốt phần việcthiêng liêng của Hội thánh giao phó là truyền bá đức tin Mặc dù, tuy cónhiều phiền toái vì chuyện vợ con, nhưng cách làm trên giúp cho họ dễ gầngũi với nếp sống bình thường của người dân tộc hơn Đây là một cách làmhiệu quả cho đến nay giáo hội vẫn đang thực hiện

*3 Thăm viếng bồi linh định kỳ: Sau khi chinh phục được ngườidân theo đạo, những nhà truyền giáo còn phải định kỳ thăm viếng cá nhânhay Chi hội tín đồ, giúp đỡ họ kiên trì lòng tin và phát triển những điều họhọc hỏi từ kinh thánh Thường đây là những chuyến đi mang tính cách phốihợp, vừa truyền giáo, vừa củng cố tinh thần đạo đức tín đồ

*4 Kết hợp truyền giáo với công tác từ thiện xã hội: Phải nóirằng việc chăm sóc các bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn, những ngườikhông nơi nương tựa được các tín đồ Tin Lành làm rất tốt Điều đó trướchết xuất phát từ bản chất tốt đẹp của tôn giáo dạy con người biết đùm bọcthương nhau hơn, phù hợp với đạo lý truyền thống người Việt Nam; nhưng

về sau khi có sự thâm nhập của yếu tố kinh tế, một số chức sắc bị các thếlực lợi dụng dùng tiền bạc mua chuộc, dụ dỗ thúc ép tín đồ theo đạo Cuộcsống người dân Kon Tum vốn khó khăn ngàn đời, không đủ cơm ăn áomặc, nay được các nhà truyền giáo đến thăm, động viên, cho tiền, quà làmcho một bộ phận xiêu lòng; cộng thêm vào đó với sự ràng buộc về vật chất,kinh tế, nên quần chúng theo đạo ngày càng nhiều

Trang 32

b Ảnh hưởng đạo Tin Lành đối với đồng bào các dân tộc ở Kon Tum

Có thể nói, quá trình du nhập, phát triển đạo Tin Lành vào địa bàntỉnh Kon Tum đã để lại nhiều hậu quả nhất định, từ vấn đề mang tính tôngiáo thuần túy dẫn đến vấn đề chính trị, từ mâu thuẫn nội bộ do xung độtgiữa hai nền văn hóa (văn hóa truyền thống bản địa của người dân với TinLành) dẫn đến xung đột về dân tộc, rồi đòi độc lập tự chủ cho một quốc gia

có chủ quyền riêng; hay nói cách khác là hoạt động của đạo Tin Lành hiệnnay có liên quan gián tiếp hoặc trực tiếp đến an ninh chính trị Với nhậnthức trên, chúng tôi xin khái quát, nêu lại vấn đề trên hai phương diện: tíchcực và tiêu cực

*5 Những ảnh hưởng tích cực

- Đối với quần chúng, trong điều kiện bình thường, việc chuyển từtín ngưỡng đa thần truyền thống sang theo đạo Tin Lành với những điềurăn mang tính thiện của nó đã có một số lợi ích cụ thể như: góp phần bàitrừ, hạn chế được tệ nạn cờ bạc, nghiện hút, uống rượu, quan hệ nam nữ bấtchính, bỏ được cúng bái tốn kém khi có người chết hoặc ốm đau và một sốtập tục kiêng cử do mê tín Đó chính là những lợi ích thực tế có sức hấpdẫn, thu hút nhiều người theo đạo ngay cả khi họ còn mơ hồ, hoài nghi đốivới giáo lý Tin Lành

- Trước đây, người dân tiến hành công việc đồng áng nhờ vào sựmay rủi của thiên nhiên, trời đất; nhưng từ khi Tin Lành du nhập vào, cùngvới những thay đổi mới trong quá trình nhận thức, họ học được cách laođộng, biết ngăn sông đắp đập, biết lựa chọn các giống cây trồng phù hợpvới điều kiện tự nhiên đem lại hiệu suất cao, biết tổ chức các hình thức sảnxuất tập trung dưới dạng những Tập đoàn kinh tế Đồng bào theo đạo bớt

mê tín nên không còn cảnh lúa chín ngoài đồng phải để chim ăn vì tronglàng có đám tang; lịch thời vụ được tuân theo một cách nghiêm túc vìkhông còn những cấm kỵ khi phát rừng làm rẫy, khi gieo hạt Đồng bào Ba

Trang 33

Na, Rơ Ngao mạnh dạn sử dụng trâu kéo cày vì không còn sợ thần Sấmnổi giận; trâu không còn chỉ để tế sinh như tín ngưỡng cổ truyền đòi hỏi màcòn được đưa vào phục vụ sản xuất.

*6 Những ảnh hưởng tiêu cực

- Trước hết, sự phát triển của đạo Tin Lành tại Kon Tum (cả TâyNguyên nói chung) gắn liền với sự thành lập các ấp chiến lược, với các kếhoạch bình định, giành dân, lấn đất của chính quyền Sài Gòn; gắn liền vớichính sách "đô thị hóa cưỡng bức" do các cố vấn Mỹ đề ra Tại những vùngnày, đồng bào được cung cấp phân hóa học, thuốc trừ sâu, máy cày, máybơm v.v với những phương tiện đó, phương thức canh tác cổ truyền đượcthay đổi, cuộc sống người dân có được nâng lên Song, ở đây cũng chính lànơi có quan hệ đóng kín nhất, tư tưởng cách mạng và chủ nghĩa xã hội lànhững vấn đề còn xa lạ với nhận thức của đồng bào [4, tr 2]

- Dựa vào Tin Lành, người Mỹ tạo ra một tầng lớp tư sản hóa vàtrung gian mới đông về số lượng và một tầng lớp tay sai có học vấn trongđồng bào, đó là những viên chức, sĩ quan, mục sư, thầy giảng mà cuộc sốngcủa gia đình họ gắn liền với chế độ cũ "Các xã trưởng, ấp trưởng ở các ấpchiến lược theo đạo Tin Lành đều có hẳn từ 3 đến 5 ha ruộng, có máy càyriêng" [53, tr 35] Vì vậy, cuộc sống của tầng lớp này trở nên khá giả hơn,

họ xa rời lao động, thích hưởng thụ và đặc biệt trung thành, gắn bó với chế

độ đã mang lại cho họ những đặc quyền, đặc lợi đó Mặt khác, lợi dụng ưuthế kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển cao và bằng cách phân phát của cảivật chất cho đồng bào trong ấp chiến lược, đã tạo nên một lối sống ăn bám,ích kỷ, tâm lý sùng bái Mỹ, sùng bái vật chất - đặc biệt đối với thế hệ thanhthiếu niên, tư tưởng cá nhân và lối sống Mỹ đã xâm nhập, ảnh hưởng mộtcách sâu sắc

Trang 34

- Sự xâm nhập của đạo Tin Lành vào vùng đồng bào các dân tộccòn hủy hoại nền văn hóa, phá vỡ trật tự cộng đồng; nghiêm trọng hơn là

nó gây chia rẽ, phân hóa, sâu sắc trong nội bộ nhân dân giữa người theođạo với người không theo đạo và với chính quyền, cản trở việc thực hiệnvai trò quản lý Nhà nước; nhiều đối tượng còn kích động, khiếu kiện, phảnứng với chính quyền, đe dọa khủng bố cán bộ và quần chúng không theođạo

- Trên lĩnh vực tôn giáo tín ngưỡng, cuộc đấu tranh giữa Tin Lànhvới Công giáo, giữa Tin Lành với tín ngưỡng dân gian cổ truyền là một quátrình giằng co dai dẳng ở người Ba Na, Xê Đăng khi theo Tin Lành thìcác lễ hội ở buôn làng đã thay đổi hẳn Hàng năm họ không còn ăn Tết vàodịp cuối mùa gặt hái; họ coi lễ Noel, Phục sinh là những lễ lớn nhất trongnăm; tục đâm trâu cổ truyền với các nghi lễ đượm màu sắc dân tộc naykhông còn nữa Trong nhiều làng đồng bào, hệ thống huyền thoại cổ truyền

bị xuyên tạc, giải thích lại; hệ thống tín ngưỡng đa thần đã dần dần biếnthành độc thần mà vị Yàng tối cao đó chính là Chúa Giêsu

- Việc xây dựng chữ viết và phát triển hệ thống giáo dục phổ thông

là một âm mưu hết sức nham hiểm của chủ nghĩa thực dân cũ và mới,nhằm kết hợp chặt chẽ tình cảm tôn giáo với tình cảm dân tộc trong vòng

mê tín và siêu linh, hòng xóa bỏ tình cảm yêu nước đang phát triển trongđồng bào dân tộc Thủ đoạn này nhằm tăng cường uy tín của Tin Lành để cóđiều kiện nắm lực lượng quần chúng làm áp lực đấu tranh với cách mạngViệt Nam

Tóm lại, qua những nội dung trình bày trong chương 1, nhìn lạivấn đề Tin Lành tại Kon Tum, chúng ta thấy rõ là: Chủ nghĩa đế quốc vàcác thế lực phản động đều sử dụng những biện pháp kinh tế, xã hội, vănhóa, kết hợp với sự truyền giáo để lôi kéo quần chúng, tạo ra một tâm lý

"nhớ ơn người Pháp" và "sùng bái người Mỹ", kích động tâm lý dân tộc

Trang 35

hẹp hòi, chống lại quá trình tiến bộ xã hội ở Tây Nguyên Đồng thời, quátrình này đã được tính toán, nằm trong kế hoạch hậu chiến của Mỹ muốn sửdụng con bài tôn giáo tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ nước ta Dovậy, nhìn nhận sự phát triển của Tin Lành ở Việt Nam trong bối cảnh thếgiới đang có những biến động, nhạy cảm về chính trị như hiện nay thì đó làmột tất yếu khách quan, cái chính là chúng ta biết chủ động đối phó ra saovừa bảo đảm độc lập chủ quyền dân tộc, vừa tranh thủ được sự giúp đỡ bênngoài để phát triển đất nước

Trang 36

Chương 2

SỰ PHỤC HỒI, PHÁT TRIỂN ĐẠO TIN LÀNH Ở KON TUM

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI CÔNG TÁC

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

2.1 TÌNH HÌNH PHỤC HỒI, PHÁT TRIỂN ĐẠO TIN LÀNH Ở KON TUM 2.1.1 Dấu hiệu về sự phục hồi, phát triển đạo Tin Lành

Liên quan đến sự phục hồi, phát triển đạo Tin Lành ở Kon Tum nóiriêng, Tây Nguyên nói chung từ năm 1986 trở lại đây, chúng tôi xin trìnhbày khái quát sơ lược về điều chúng ta thường ngại nói đến là đạo Tin Lành

có quan hệ với tổ chức chính trị phản động Fulro Vậy sự thật vấn đề này ởKon Tum ra sao, ảnh hưởng của nó đến đời sống xã hội như thế nào ?Trong tình hình hiện nay có liên quan gì đến an ninh quốc gia ?

Chúng ta đều biết, Fulro là tên viết tắt của tổ chức Front Unifié

de Lutte des Races Ompprinés - Mặt trận thống nhất vì sự giải phóng

các dân tộc bị áp bức (Có tài liệu dịch là: Mặt trận thống nhất tranh đấu

của các dân tộc bị áp bức; hay Mặt trận đoàn kết đấu tranh của các dântộc bị áp bức) ra đời do âm mưu của Pháp muốn thông qua bọn tay sai ởvùng dân tộc để nắm Tây Nguyên Năm 1957, do chính sách đồng hóacủa Ngô Đình Diệm, phong trào Ba Ra Ja Ka ra đời - gọi là Fulro 1 Thời

kỳ Mỹ xâm lược nước ta đã nắm lấy Fulro tiếp tục sử dụng bọn tay saitrong vùng dân tộc theo chân Pháp "Vào giai đoạn cuối của cuộc khángchiến chống Mỹ, chúng ta đã phát hiện âm mưu của CIA khôi phục và sửdụng Fulro cho kế hoạch hậu chiến - gọi là Fulro 2, nhằm sử dụng lựclượng này chống phá cách mạng Việt Nam trước mắt và lâu dài (sự kiệnthành lập quân đội "áo xanh miền núi" do tên tình báo Mỹ New Man độilốt Mục sư Tin Lành và tên trợ lý của hắn là Jordy trực tiếp chỉ đạo lựclượng này) chứng minh khá rõ âm mưu của chúng"[58, tr 2] Khi Hiệp

Trang 37

định Paris được ký kết, Mỹ thấy rõ thất bại không tránh khỏi, chúng tiếptục điều chỉnh "kế hoạch hậu chiến", ra sức xây dựng lực lượng Fulro.Tướng tình báo Mỹ Jonh Panl Van núp dưới danh nghĩa cố vấn đặc biệtcủa tướng ngụy Vĩnh Lộc liên lạc tiếp xúc với Y Preh (Buôn Kông),nguyên đại tá Fulro; với Y Nguê (Buôn Đáp), Mục sư Tin Lành; với YSênh Niê, trung tá quân khu 2; với Y Chon Lo (Buôn Đu), Tổng thư ký

Bộ phát triển sắc tộc ngụy tiếp tục chỉ huy lực lượng Fulro, đưa Fulro trởthành lực lượng thứ 3 ở Tây Nguyên khi có giải pháp chính trị cho vấn

đề miền Nam [27, tr 10]

Đến năm 1975, được sự hỗ trợ của Mỹ, Fulro nhanh chóng tập hợplực lượng ở Campuchia, Thái Lan về Tây Nguyên lập "mật cứ", với ý đồbiến nơi đây thành một quốc gia riêng Tổ chức này ngày càng lớn mạnh,không những được sự hỗ trợ trực tiếp của các thế lực phản động bên ngoài

mà còn được sự đồng tình của bà con dân làng Song xét về bản chất củavấn đề, căn cứ vào âm mưu thâm độc của các loại kẻ thù đối với cáchmạng, căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội Tây Nguyên thì Fulro vẫn chưa

bị tiêu diệt tận gốc, vẫn còn mầm mống, vẫn còn điều kiện phục hồi Vì lẽ

đó, cuộc đấu tranh để xóa bỏ những điều kiện cụ thể phục hồi Fulro, đánhbại âm mưu của địch đang được đặt ra với những yêu cầu nội dung mới Từthực tiễn trên, chủ trương của ta giải quyết vấn đề Fulro ở Tây Nguyên cần

đi đôi với việc xử lý một số phần tử cầm đầu trong đạo Tin Lành có liênquan; đồng thời tiến hành phát động quần chúng tự nguyện đóng cửa nhàthờ, đưa các cơ sở này phục vụ lợi ích công cộng, xóa bỏ các Ban chấp sự

cơ sở, hướng các hoạt động tôn giáo về từng gia đình, ai còn tin đạo về tutại gia, đọc kinh tại nhà, không được tụ tập làm lễ trái phép; từ đây, hoạtđộng của các tổ chức Tin Lành ở Tây Nguyên coi như không hợp pháp

Sau khi đất nước chuyển mình đổi mới đi lên (1986), nhữngthành tựu về kinh tế chúng ta đạt được như luồn sinh khí mới tác động

Trang 38

đến mọi người dân, bộ mặt xã hội có những biến chuyển, đời sống tínngưỡng tâm linh trong quần chúng trỗi dậy Nhưng lúc này tình hìnhchính trị trong nước và thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, Liên Xô và

hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, các thế lực thù địch tăng cường ráoriết các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam thông qua chiến lượcDiễn biến hòa bình, cấu kết với số cầm đầu trong tôn giáo để nêu lênvấn đề nhân quyền, tìm có cớ can thiệp vào công việc nội bộ nước ta.Chúng không ngừng kích động, vu cáo Việt Nam nhằm cô lập, bôi nhọvới mưu đồ tìm cách xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đó là biểu hiện của cuộcđấu tranh giai cấp, đấu tranh chính trị tư tưởng giữa lực lượng cáchmạng tiến bộ và các thế lực phản động Chúng ta có đủ căn cứ khẳngđịnh rằng hoạt động của đạo Tin Lành ở Việt Nam có bàn tay của Mỹ

và các thế lực khác hậu thuẫn, chỉ đạo và viện trợ về kinh tế Từ thựctiễn trên, vì lý do an ninh quốc gia, trung ương vẫn chưa công nhận tưcách pháp nhân cho đạoTin Lành hoạt động Đây là một giải pháp tìnhthế, nhưng chúng ta duy trì quá lâu, tạo sơ hở cho những phần tử xấutìm cách móc nối, kích động, con bài mà chúng đã dùng và đang dùng

có hiệu quả là đưa Fulro lên làm ngọn cờ lôi kéo quần chúng động (năm

1992 tổ chức này mới chính thức tan rã khi chúng ta tiêu diệt gần hếtlực lượng và tự họ nộp vũ khí đầu hàng, tự tuyên bố giải tán tạiCampuchia) Lúc này, ở các địa bàn trong tỉnh, tình hình hoạt động củađạo Tin Lành diễn ra theo chiều hướng hết sức phức tạp, họ công khaiđối đầu với chính quyền, gia tăng các hoạt động tôn giáo, chúng ta càngcấm thì họ càng hoạt động mạnh, chúng ta hạn chế họ truyền đạo thì tín

đồ càng phát triển nhanh Đó là một thực tế không thể phủ nhận được.Qua tìm hiểu của chúng tôi, sự phục hồi, phát triển đột biến, bất bình

thường của đạo Tin Lành thể hiện trên các mặt sau:ng c a ủa đạo Tin Lành thể hiện trên các mặt sau: đạo Tin Lành thể hiện trên các mặt sau:o Tin L nh th hi n trên các m t sau:ành thể hiện trên các mặt sau: ể hiện trên các mặt sau: ện trên các mặt sau: ặt sau:

Trang 39

Sau năm 1975 Năm 1986 Hiện nay

xã hội lúc này đang gặp nhiều khó khăn cộng với sự cấm đoán của chínhquyền nên hầu như tín đồ ít hoạt động Nhưng từ sau năm 1986, tín đồ độtngột tăng vọt từ 2.524 năm 1975 lên 5.245 năm 1986 và đến năm 1990 con

số đó lên tới 8.832 người, đến nay có trên 8.972 người theo đạo Tin Lành(chiếm 2,9 % dân số toàn tỉnh), trong đó có 192 người Kinh (chiếm tỷ lệ2,1%) và 8.790 người dân tộc (chiếm 97,9 % - trong đó người Giẻ-Triêng

có hơn 6.934 người) [22]

Thời điểm Tổng số tín đồ theo đạo Tỷ lệ tăng %

Năm 1959 - 1973 1.010 người, trong đó: Dân tộc: 1.000 người Kinh: 10 người 100 %

Năm 1975 2.524 người, trong đó: Dân tộc: 2.425 ngườiKinh: 79 người 250 %

Năm 1986 5.245 người, trong đó: Dân tộc: 2.325 người

Năm 1990 8.832 người, trong đó: Dân tộc: 8.628 ngườiKinh: 150 người 874 %

Năm 2000 8.972 người, trong đó: Dân tộc: 8.790 người Kinh: 192 người 888 %

Trang 40

[22].

 Số lượng người truyền đạo phát triển ngày càng nhiều: ở KonTum, sau giải phóng, chỉ còn lại một Mục sư truyền đạo tên là Nguyễn Chữ(cư trú tại 59 đường Bà Triệu, thị xã Kon Tum) cùng với hai người con ruột

là Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Văn Hảo và người con rể là Nguyễn VănHùng đảm trách việc rao giảng giáo lý, nhưng cũng chỉ hoạt động tại nhàriêng (đây là nơi chỉ đạo đến các Ban chấp sự cơ sở tại các huyện, thị) Từnăm 1986 trở đi, số lượng người đi truyền đạo lên nhiều Theo thống kê củaBan Tôn giáo tỉnh Kon Tum, số "chức sắc" này phát triển như sau:

Trước năm 1975: 2 Mục sư

Trước năm 1986: 1 Mục sư

Từ năm 1986 đến 1990: 72 người, có 1 người tự xưng là Truyềnđạo sinh

Từ năm 1990 - nay: 147 người, có 2 người tự xưng là Truyền đạosinh [22]

Đội ngũ này được hình thành là do số thanh thiếu niên trước đâytheo học tại trường Thánh kinh Đà Nẵng, Cô nhi viện Thiên Ân về đứng ragiảng đạo, một bộ phận khác được hình thành do tín đồ tự nguyện họp lựachọn những người có hiểu biết trong làng đứng ra gánh vác trách nhiệmnày Qua điều tra khảo sát, chúng tôi được biết 3/4 trong số họ chưa đượcđào tạo giáo lý một cách căn bản, trình độ còn hạn chế, chủ yếu là ngườiđịa phương có cộng tác với chính quyền ngụy, thậm chí có người còn thamgia trong các tổ chức tình báo

 Số lượng tổ chức Ban chấp sự cơ sở tăng nhanh: Sau khi giảiphóng, đạo Tin Lành không còn các tổ chức Ban Chấp sự và nơi thờ tự đểhoạt động Lúc đầu, quần chúng có đạo chấp hành tốt chủ trương chínhsách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, song về sau do sự giật dây của những

Ngày đăng: 27/10/2016, 11:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ phận an ninh quốc phòng tỉnh Kon Tum (1/2/1993), Báo cáo âm mưu và hoạt động của tôn giáo trong thời gian qua, Tuyệt mật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ phận an ninh quốc phòng tỉnh Kon Tum (1/2/1993"), Báo cáo âmmưu và hoạt động của tôn giáo trong thời gian qua
2. Ban Tôn giáo Chính phủ (1993), Một số tôn giáo ở Việt Nam, Tài liệu tham khảo, Lưu hành nội bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tôn giáo Chính phủ (1993), "Một số tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Năm: 1993
3. Ban Dân vận Trung ương - Ban Tôn giáo Chính phủ (1/7/1994), Phụ lục về một số vấn đề tôn giáo Tin Lành ở Tây Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Dân vận Trung ương - Ban Tôn giáo Chính phủ (1/7/1994)
4. Ban Tôn giáo Chính phủ (1/7/1994), Đề án chủ trương công tác đối với đạo Tin Lành trong tình hình mới, Dự thảo, Tuyệt mật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tôn giáo Chính phủ (1/7/1994), "Đề án chủ trương công tác đốivới đạo Tin Lành trong tình hình mới
6. Ban Dân vận Tỉnh ủy Kon Tum (số 29/BC-DV, 28/8/1994), Báo cáo một số tình hình về dân tộc và tôn giáo, Mật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Dân vận Tỉnh ủy Kon Tum (số 29/BC-DV, 28/8/1994), "Báo cáomột số tình hình về dân tộc và tôn giáo
7. Ban Tôn giáo tỉnh Kon Tum (số 18/BC/TG, 1/11/1994), Báo cáo tình hình tôn giáo hiện nay ở tỉnh ta. Phương hướng, nhiệm vụ và một số giải pháp cho thời gian tới, Mật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tôn giáo tỉnh Kon Tum (số 18/BC/TG, 1/11/1994), "Báo cáo tìnhhình tôn giáo hiện nay ở tỉnh ta. Phương hướng, nhiệm vụ và mộtsố giải pháp cho thời gian tới
8. Ban Tổ chức Tỉnh ủy Kon Tum (số 01/HD-TC, 7/8/1995), Hướng dẫn đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo và phát triển đảng viên, Mật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tổ chức Tỉnh ủy Kon Tum (số 01/HD-TC, 7/8/1995), "Hướng dẫnđảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo và phát triển đảngviên
9. Ban Dân vận Trung ương (1995), Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Dân vận Trung ương (1995), T"ư tưởng dân vận của Chủ tịch HồChí Minh
Tác giả: Ban Dân vận Trung ương
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1995
11. Ban chỉ đạo KH 331 huyện Đăkglei (30/6/1996), Báo cáo công tác phát động quần chúng tại xã Đăk Long, từ ngày 1/4/1996 đến 30/6/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban chỉ đạo KH 331 huyện Đăkglei (30/6/1996)
12. Ban chấp hành Đảng bộ Kon Tum (1996), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Kon Tum, Tập 1. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban chấp hành Đảng bộ Kon Tum (1996"), Lịch sử Đảng bộ tỉnh KonTum
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ Kon Tum
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1996
13. Ban Tôn giáo Chính phủ (số 26/BC-TGCP, 7/10/1997), Báo cáo tổng kết việc thực hiện Nghị định 69 của HĐBT quy định về các hoạt động tôn giáo, Mật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tôn giáo Chính phủ (số 26/BC-TGCP, 7/10/1997), "Báo cáo tổngkết việc thực hiện Nghị định 69 của HĐBT quy định về các hoạtđộng tôn giáo
14. Ban Tôn giáo tỉnh Đăk Lăk (1997), Nghiên cứu thực chất phát triển đạo Tin Lành trong vùng đồng bào dân tộc tỉnh Đăk Lăk và đề xuất một số giải pháp, năm 1997, Mật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tôn giáo tỉnh Đăk Lăk (1997), "Nghiên cứu thực chất phát triểnđạo Tin Lành trong vùng đồng bào dân tộc tỉnh Đăk Lăk và đềxuất một số giải pháp, năm 1997
Tác giả: Ban Tôn giáo tỉnh Đăk Lăk
Năm: 1997
15. Ban Tôn giáo tỉnh Lâm Đồng (1997), Đạo Tin Lành trong vùng đồng bào dân tộc tỉnh Lâm Đồng, Mật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tôn giáo tỉnh Lâm Đồng (1997), "Đạo Tin Lành trong vùng đồngbào dân tộc tỉnh Lâm Đồng
Tác giả: Ban Tôn giáo tỉnh Lâm Đồng
Năm: 1997
16. Ban Chấp hành Trung ương (số 01/BC-BCĐ, 30/2/1998), Báo cáo tổng kết việc thực hiện Nghị quyết 24/NQ-TW về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới, phương hướng và công tác tôn giáo thời kỳ tới,Tuyệt mật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Chấp hành Trung ương (số 01/BC-BCĐ, 30/2/1998), "Báo cáotổng kết việc thực hiện Nghị quyết 24/NQ-TW về tăng cườngcông tác tôn giáo trong tình hình mới, phương hướng và côngtác tôn giáo thời kỳ tới
17. Ban Tôn giáo tỉnh Kon Tum (số 55/BC-TG, 19/6/1998), Báo cáo sơ kết tình hình tôn giáo và công tác quản lý Nhà nước đối với các tôn giáo 6 tháng đầu năm 1998, Mật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tôn giáo tỉnh Kon Tum (số 55/BC-TG, 19/6/1998"), Báo cáo sơkết tình hình tôn giáo và công tác quản lý Nhà nước đối với cáctôn giáo 6 tháng đầu năm 1998
18. Ban Tôn giáo tỉnh Kon Tum (số 87/BC-TG, 26/9/1998), Báo cáo tình hình và công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, tháng 9/1998, Mật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tôn giáo tỉnh Kon Tum (số 87/BC-TG, 26/9/1998), "Báo cáo tìnhhình và công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo,tháng 9/1998
19. Bộ Văn hóa thông tin (1998), Tín ngưỡng và mê tín, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Văn hóa thông tin (1998), "Tín ngưỡng và mê tín
Tác giả: Bộ Văn hóa thông tin
Nhà XB: Nhà xuất bảnThanh niên
Năm: 1998
20. Ban Tôn giáo tỉnh Kon Tum (1998), Tôn giáo ở Kon Tum - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Đề tài nghiên cứu khoa học, Mật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tôn giáo tỉnh Kon Tum (1998), "Tôn giáo ở Kon Tum - Thực trạng,nguyên nhân và giải pháp
Tác giả: Ban Tôn giáo tỉnh Kon Tum
Năm: 1998
21. Ban chỉ đạo 184 (3/5/1999), Kế hoạch 184 phát triển kinh tế, văn hóa, ổn định xã hội, xây dựng cơ sở chính trị vùng núi, đồng bào dân tộc thiểu số đang có đạo Tin Lành, Dự thảo, Tuyệt mật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban chỉ đạo 184 (3/5/1999), "Kế hoạch 184 phát triển kinh tế, văn hóa,ổn định xã hội, xây dựng cơ sở chính trị vùng núi, đồng bào dântộc thiểu số đang có đạo Tin Lành
22. Ban Tôn giáo tỉnh Kon Tum (số 108/BC-TG, 17/9/1999), Báo cáo tình hình tôn giáo và công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo quý III/1999, Mật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tôn giáo tỉnh Kon Tum (số 108/BC-TG, 17/9/1999), "Báo cáotình hình tôn giáo và công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo quýIII/1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w