1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tieu luan lớp thạc sĩ QLGD nhung van de can dot pha trong gd

27 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 237,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nền Giáo dục hiện nay đang đứng trước những sứ mệnh nặng nề do xã hội đặt ra, đang phải giải quyết rất nhiều vấn đề phức tạp trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay.Nhận thức đầy đủ về thế giới hiện đại, phác họa được bức tranh chung về đặc điểm và yêu cầu của nó. Để từ đó tìm được những giải pháp, những khâu đột phá nhằm giải quyết có hiệu quả các vấn đề của giáo dục nói chung và nhiệm vụ dạy học ở nhà trường nói riêng là việc làm có ý nghĩa thiết thực đối với mỗi cán bộ quản lý giáo dục, góp phần chung sức cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thành công sự nghiệp phát triển giáo dục nước nhà . Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài này.

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-*&* -QUA NGHIÊN CỨU XU THẾ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC THẾ GIỚI, THEO ANH (CHỊ) ĐỂ ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN GIÁO DỤC NƯỚC

TA THÀNH CÔNG CẦN PHẢI ĐỘT PHÁ TỪ NHỮNG VẤN ĐỀ NÀO? VÌ SAO? LIÊN HỆ THỰC TẾ ĐỊA PHƯƠNG, ĐƠN VỊ.

Trang 2

2.1 Triển vọng của các môn học ở thế kỷ 21 05

2.2 Kỹ thuật giảng dạy đa phương tiện mới mẻ 062.3 Các công ty đại học mọc lên ồ ạt 072.4 Xu thế toàn dân học tập suốt đời phát triển mạnh 082.5 Làn sóng tư doanh hoá trường công 09

3.1 Thực trạng nền giáo dục Việt Nam 10 3.2 Định hướng phát triển giáo dục trong thời gian đến

3.2.1 Quan điểm chỉ đạo đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và

4 Những khâu đột phá để đổi mới giáo dục thành công 21

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lí do chọn đề tài

Giáo dục là hệ thống lớn trong hệ thống xã hội, có liên quan mật thiết đến việchình thành và phát triển con người, nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội loàingười Vì vậy, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều hết sức quan tâm đến giáo dục

Sau 30 năm đổi mới đất nước, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta đã từngbước phát triển vững chắc, làm nền tảng cho việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhân tài

Để giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển đúng hướng cần có những tư tưởng,đường lối, chính sách đúng đắn Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII củaĐảng đã nêu lên những quan điểm cơ bản về giáo dục, đào tạo Có thể xem đây như lànhững triết lý giáo dục ở tầm cỡ quốc gia - dân tộc trong thời kỳ Việt Nam đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Đảng ta đã khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Qua ba lần cảicách và quá trình đổi mới những năm gần đây, giáo dục Việt Nam (bao gồm cả đàotạo, sau đây gọi chung là giáo dục) đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần quan trọngvào thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, giáo dục đã bộc

lộ những yếu kém, bất cập, trong đó có những vấn đề gây bức xúc xã hội kéo dài.Nhiều chính sách, cơ chế, giải pháp về giáo dục có hiệu quả trong giai đoạn vừa qua,nay đã không còn phù hợp, cần được điều chỉnh.

Việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực,

đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới đang đặt ra ngày càng cấp thiết vì: Thứ nhất, do chất

lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo ở nước ta còn thấp so với yêu cầu của công cuộc đổimới, nhất là giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp Hiện nay, toàn quốc có hơn70.000 cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ tốt nghiệp ra trường, nhưng không tìm được việc làm,hoặc có việc làm nhưng không đúng nghề đào tạo; nhiều người được tuyển chọn phải

đào tạo lại mới sử dụng được Thứ hai, hệ thống giáo dục-đào tạo ở nước ta còn bị

khép kín, thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo,

còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành Thứ ba, chưa gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo với

nghiên cứu khoa học, với sản xuất kinh doanh và nhu cầu của thị trường, dẫn đến tình

trạng thừa thầy, thiếu thợ Thứ tư, chưa chú trọng đúng mức đến giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống và kỹ năng, phương pháp làm việc Thứ năm, phương pháp giáo

dục còn lạc hậu, chủ yếu truyền thụ kiến thức một chiều; tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá

kết quả còn thiếu thực chất, mắc bệnh thành tích Thứ sáu, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu Thứ bảy, cơ chế, chính

sách, đầu tư cho giáo dục, đào tạo chưa phù hợp; cơ sở vật chất-kỹ thuật thiếu đồng bộ,còn lạc hậu…

Nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sự phát triểnnhanh chóng của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục và sự cạnh tranh quyết liệttrên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục phải đổi mới Thực chất cạnhtranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh về nguồn nhân lực và về khoa học vàcông nghệ Xu thế chung của thế giới khi bước vào thế kỷ XXI là các nước tiến hànhđổi mới mạnh mẽ hay cải cách giáo dục

Nền Giáo dục hiện nay đang đứng trước những sứ mệnh nặng nề do xã hội đặt

ra, đang phải giải quyết rất nhiều vấn đề phức tạp trong bối cảnh toàn cầu hóa và hộinhập hiện nay

Trang 4

Nhận thức đầy đủ về thế giới hiện đại, phác họa được bức tranh chung về đặcđiểm và yêu cầu của nó Để từ đó tìm được những giải pháp, những khâu đột phá nhằmgiải quyết có hiệu quả các vấn đề của giáo dục nói chung và nhiệm vụ dạy học ở nhàtrường nói riêng là việc làm có ý nghĩa thiết thực đối với mỗi cán bộ quản lý giáo dục,góp phần chung sức cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thành công sự nghiệp pháttriển giáo dục nước nhà Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài này.

2 Những nội dung chính sẽ giải quyết

- Tìm hiểu xu thế phát triển của nền giáo dục thế giới

- Tìm hiểu mục tiêu, quan điểm, giải pháp và xu thế phát triển của giáo dục ViệtNam trong những năm tới

- Phân tích những vấn đề cần đột phá để phát triển giáo dục ở Việt Nam

- Liên hệ tình hình giáo dục trên địa bàn huyện Tây Giang và những giải phápnâng cao chất lượng giáo dục

NỘI DUNG

1 Một số khái niệm:

- Xu thế phát triển giáo dục: là một quá trình vận động, phát triển của lý luận

và thực tiễn GD một cách khách quan do bị chế ước, chi phối đan xen, giao thoa củacác yếu tố tự nhiên, xã hội và con người trong điều kiện lịch sử nhất định Sự vận động

và phát triển đó tồn tại khách quan ngoài ý muốn chủ quan của mỗi cá nhân Conngười chỉ có thể vận dụng quy luật đưa ra những định hướng phát triển phù hợp vớiquy luật thì sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển giáo dục, phát triển con người, xã hội và

sự ổn định của điều kiện tự nhiên.

- Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấpthiết, từ tư duy, quan điểm đến mục tiêu, hệ thống, chương trình giáo dục (nội dung,phương pháp, thi, kiểm tra, đánh giá), các chính sách, cơ chế và các điều kiện bảo đảmchất lượng giáo dục; đổi mới ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo, ở cả Trung ương

và địa phương, ở mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội Đổi mới để tạo rachuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả giáo dục, đáp ứng ngày càng tốt hơnyêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhu cầu học tập của nhân dân

2 Xu thế phát triển giáo dục thế giới:

Từ quá trình phát triển giáo dục của thế kỉ XX ở các nước phát triển và nhữngchuyển biến của các cuộc cải cách giáo dục trong 5-6 thập kỷ qua, theo bách khoa toànthư Việt Nam dự báo trong thế kỷ XXI, giáo dục sẽ phát triển theo 4 xu thế:

Thứ 1, Ai cũng được học hành, toàn xã hội chăm lo cho phát triển giáo dụcThứ 2, Dân chủ hóa: nhà trường lấy người học làm chủ thể, khơi dậy ở ngườihọc tính tự giác, cách dạy nhồi nhét bị loại bỏ, hệ thống giáo dục ngày càng phi tậptrung về tổ chức và quản lý

Thứ 3, hiện đại hóa: thành tựu khoa học công nghệ sớm giảng dạy, nhà trườngứng dụng khoa học công nghệ để đổi mới phương pháp và phương tiện dạy học

Thứ 4, cá biệt hóa: Việc dạy học phụ hợp với điều kiện và khả năng học tập củamỗi học sinh

Thứ 5, Xu thế học tập suốt đời

Thứ 6, Giáo dục không chính quy phát triển

Thứ 7, xu thế tự chủ trong giáo dục

Trang 5

2.1 Triển vọng của các môn học ở thế kỷ 21

Những thay đổi nhanh chóng ngày nay khiến các nhà giáo dục phải thừa nhậnmột thực tế là các kiến thức văn hoá cổ kim đông tây có lẽ ít nhiều đã lỗi thời Nhữngkiến thức ửô phải dùng đến hàng chồng sách để chú thích, những đề toán số học hócbúa, mà sau khi ra trường lại suốt đời không cần dùng đến, đang làm hao tổn một cách

vô ích tinh lực và nhiệt tình của lớp học sinh trẻ tuổi Đứng trước sức ép của tương lai,các học sinh được quyền có những kỹ năng và quan niệm sinh tồn trong sự biến đổicủa lịch sử, và được quyền có nhu cầu thủ tiêu những bức tranh chân thực của các xãhội cũ Việc thiết lập những môn học mới mẻ, có đầy đủ những quan niệm về tươnglai, và những thực tiễn giảng dạy tương quan phải được ứng dụng vào cuộc sống, giúphọc sinh thích ứng với xã hội thực tại và hướng về tương lai

Các môn học “thế kỉ 21” đã được đưa ra Khôpmen đã dự đoán trong quyển

‘Tương lai của ngành giáo dục” sáu nội dung chính của các môn học ở thế kỉ 21:

1 Tiếp cận và sử dụng tin học

2 Bồi dưỡng tư tư duy mạch lạc: bao gồm phân biệt được ngữ nghĩa học, lôgic

học, số học, soạn thảo trên máy tính, phương pháp dự đoán, tính sáng tạo tư duy

3 Bồi dưỡng những kỹ năng thông đại hiệu qủa: bao gồm diễn thuyết

trước đông người, ngữ pháp, tu từ, hội hoạ, nhiếp ảnh, quay phim, vẽ đồ án v.v

4 Tìm hiểu con người và môi trường sống: gồm các môn vật lý, hoá lý, hoá

học, thiên văn học, địa chất và địa lý học, tiến hoá luận, dân số v.v

5 Tìm hiểu con người và xã hội: gồm luật tiến hoá của nhân loại, sinh lý học,

ngôn ngữ học, văn hoá nhân loại học, tâm lý học xã hội, chủng tộc học, pháp luật,

hình thái biến đổi ngành nghề, vấn đề tồn tại và tiếp diễn của loài người v v

6 Năng lức cá nhân: gồm sự cân bằng sinh lý, huấn luyện mưu sinh và tự vệ,

an toàn, dinh dưỡng, vệ sinh, giới tính, tiêu dùng và tài sản của cấ nhân, phương thứchọc tập tối ưu và sách lược, nghệ thuột nhớ, động cơ tự thân và nhận thức tự thânv.v…

Bảng liệt kê môn học của Khôpmen tuy rất rộng, nhưng lại là nội dung giáo dụchoàn chỉnh Không còn nghi ngờ gì nữa, việc bố trí các môn học này là nhằm chútrọng hơn đến vai trò và địa vị con người trong xã hội; và năng lực thích ứng vớítương lai

Càc môn học "Thế kỷ 21" được bắt đầu mở ra ở toàn nước Mỹ, được sự hoannghênh mạnh mẽ của quảng đại thầy trò Trường tiểu học Miep, Alintơn ở BangViêcginia thiết kế môn "Kế hoạch tương lai", làm cho học sinh làm quen với sự pháttriển của tương lai và dự kiến sự lựa chọn ngành nghề Có thể khái quát một sốnguyên tắc của các môn học thế kỷ 21 :

1 Giúp cho học sinh thích nghi với xã hội

2 Giúp cho học sinh tự lý giải

3 Giúp cho học sinh vị thành niên lý giải sự đầu tư của mình đối với tương lai

4 Giúp học sinh tìm hiểu phương hướng có tính biến đổi của xã hội và định vaitrò của mình trong quá trình biến đổi đó

5 Giúp học sinh mang những điều học tập ở nhà trường, chuyển hoá thành

Trang 6

trách nhiệm tương lai.

Môn học "Thế kỷ 21" không mang hội dung giáo dục truyền thống Thầy giáo vàcác nhà nghiên cứu dự đoán và đánh giá thành tích cũng như năng lực của học sinhdựa trên chất lượng tham gia học tập và công tác của học sinh chứ không phải ở trí thớcủa họ bởi lẽ, những trí nhớ vô dụng không phải là sự hiểu biết của họ

Các môn học “Thế kỷ 21” dẫn dắt học sinh tìm ra lĩnh vực rộng lớn mà nền giáodục truyền thống rất ít đề cập đến, ví như lý thuyết trò chơi, chọn quyết định trongđiều kiện không xác định, phân tích giá trị, phân tính nội dung, điều khiển học v.v Tuy hình thức biểu hiện chủ đề của môn học “Thế kỷ 21 " có sự khác nhau trong cảicách giáo dục của các nước, nhưng về bản chất, lại đều có tính chất chung của nó Nói chung, các học giả về tương lại đều thích phương pháp “học tập trong thaotác thực tế” Nội dung của môn học không còn là hệ thống kiên thức ổn định và bấtbiến, tuyệt đối khách quan nữa; mục liêu của môn học cũng không còn hoàn toàn như

dự định trước, mà đã trở thành quá trình thày trò cùng tìm tòi kiến thức mới

Có thế thấy trước, việc cải cách giáo dục của các nước được triển khai với chủ

đề các môn học "thế kỷ 21" sẽ phá vỡ những tập tục cũ của nền giáo dục truyềnthống, làm cho lớp học được mở rộng; các thày giáo từ chỗ giảng dạy, hành nghềtheo truyền thống, trở thành người hợp tác để làm cho học sinh tiến vào xã hội tươnglai, cuối cùng sẽ chuẩn bị học sinh đóng trọn vai trò của mình đối với tương lai, tíchcực hướng vào mục tiêu lớn ngày một lành mạnh - nỗ lực xây dựng một tương laitươi đẹp và hợp lý

2.2 Kỹ thuật giảng dạy đa phương tiện mới mẻ

Kỹ thuật đa phương tiện (Munỉmedia) là loại kỹ thuật đang được chú ý nhất, đó

là cơ sở quản lý và xử lý theo kiểu tin học thế kỉ 21 Trước đây, máy tỉnh chỉ có thể

xử lý đơn cực là văn tự và chữ số, cùng lắm là hình họa, gây cảm giác đơn điệu, cứngnhắc, khô khan, dễ nhàm chán Kỹ thuật đa phương tiện là xử lý tổng hợp kiểu traođổi trên máy vi tính cả về chữ viết, hình họa, hình ảnh, câm thanh v.v chúng thiếtlập mốí liên kết lôgíc, tập hợp thành một hệ thống Lợì dụng kỹ thuật đa phương tiện

để giở "thư mục" điện tử, dùng ngón tay chỉ vào bất cứ vị trí nào trên màn hình dều

có thể tìm ra những tình tiết lý thú; sờ tay vào bầu trời; vào tầng mây sẽ chui ra mộtchiếc máy bay: chạm tay vào vòm cây, một con chim nhỏ sẽ rẽ lá bay ra Xem kịchtruyền hình, nếu không thích thú, ta có thể thay đổi tình huống kịch, để các diễn viênbiểu diễn theo ý muốn của ta Học phát âm một từ tiếng Anh, nếu phát âm đúng, máytính sẽ khích lệ ta, nếu đọc sai máy tính sẽ nhắc nhở ta và bảo ta phải sửa âm

Theo đà phát triển của kỹ thuật đa phương tiện, tuột hình thức giảng dạy mớiđược hình thành - sự xuất hiện của hệ thống giảng dạy máy tính đa phương tiện Nó

là thang máy tính mà thày giáo giảng qua máy chủ và các học sinh nghe giảng quamạng máy tính Thày giáo nói với học sinh qua một máy chủ diều khiển đến từngmáy trong mạng học sinh ngồi nghe thày giáo giảng trước màn hình máy tính.Trong cách giảng dạy đa phương tiện, học sinh học tập với tự cách là chủ thể

Kỹ thuật đa phương tiện sẽ làng thay đổi rất lớn giáo trình và giáo án Giáo trình

Trang 7

không chỉ vẻn ven là những cuốn sách in, mà còn là loại sách giáo khoa điện tử có đủ

cả chữ nghĩa, hình ảnh và tiếng lưu Nó sẽ làm cho hình thức giảng dậy sống động,các biện pháp giảng dạy càng đa dạng hoá

Kỹ thuật đa phương tiện ủng hộ các phương thức học tập khác nhau, biến sự tiếpthu thụ động thông tin thành chủ động tiếp thu thông tin, kích thích tính sáng tạo củahọc sinh

Mạng máy tính đa phương tiện càng thuận lợi cho việc thực luật giáo dục từ xa,các học sinh ở vùng biên giới cũng có thể nghe được, nhìn được, các nhà khoa học nổitiếng ở các thành phố lớn Kỹ thuật đa thương tiện có khả năng biến việc giảng dạy ởlớp làm chính thành lấy việc giảng dạy tại gia làm chính, và việc tiếp tục giảng dạytoàn toàn có thể hướng về gia đình Theo dự đoán của các chuyên gia, sau khi xa lộthông tin xây dựng xong, thông qua việc giảng day từ xa theo kiểu trao đổi giữa nhiềuphía, thời gian học tập của học sinh có thể giảm 40% so với trước, nhưng kiến thứcthu nhận được sẽ tăng 30%, chi phí cũng tiết kiệm được 30%

Có thể dự kiến, theo đà mỗi ngày một hoàn thiện mau lẹ của kỹ thuật thông tin

và kỹ thuật máy tính, trong tương lai không xa, phạm vi sử dụng kỹ thuật đa phươngtiện sẽ càng ngày càng mở rộng

2.3 Các công ty đại học mọc lên ồ ạt

Đứng trước những yêu cầu nảy sinh của xã hội đang thay đổi từng ngày, giáodục không chỉ là niềm hứng thú tao nhã - một sự thụ hưởng văn hoá, mà nó còn làcông cụ quan trọng tạo ra lợi nhuận cho xã hội và bồi dưỡng những nhân tài mới cho

xã hội Những chuyển biến thay đổi quan điểm này, ấp ủ và làm nẩy nở trong lòng nómột biến đổi kinh ngạc trong nền giáo dục Âu - Mỹ ở những năm 90 - Trường đại họctrở thành công ty Sự biến đổi này thể hiện dấu ấn nào đó của việc cải cách giáo dụcđại học trong giai đoạn giao thời thế kỷ

Năm 1969, Trường đại học Cambridge có cả 700 năm lịch sử đã lần đầu tiênbước vào con đường “Công ty đại học” Đại học Cambridgẹ đã dành một khoảng đấtcủa mình xây dưng vườn khoa học Cambridge Cambridge đã tập kết đa số công ty kỹthuật và các ngành nghề của nó, bao gồm phần cứng và phần mềm máy tính, các máymóc khoa học điện tử, kỹ thuật sinh vật v.v đồng thời lắp đặt các loại thiết bị có thể

sử dung chung Vì một loạt công ty kỹ thuật này có đủ năng lực nghiên cứu và chếtạo, thiết kế, sản xuất những sản phẩm chất lượng cao, nên các công ty này đã làm cho

tỷ lệ lợi tức của vườn khoa học Cambridge tăng vụt lên Cambridge đã thể hiện rõ choChính phủ và thế giới biết: Trường đại học có thể đóng góp công sức cho sự pháttriển xã hội, có thể cung cấp cho xã hội những nhân tài hàng đầu, có thể cung cấp chongành giáo dục kinh nghiệm đầu tiên về cải cách phương thức giảng dạy, về học điđôi với hành, tăng cường giáo dục ít chiều sâu Sự liên kết giữa trường đại học vớicông ty có thể sáng tạo ra những sản phẩm kỹ thuật phong phú và hùng hậu, tạo rahàng loạt nhân tài và những kinh nghiệm giảng dạy phong phú

Ngày nay, các nước đều đang lập các vườn khoa học, các khu công nghiệp xungquanh trường đại học, trường đại học liên kết với các xí nghiệp ngày một nhiều, và trở

Trang 8

thành một khối; Công ty đại học đang trở thành xu thế phát triển tất yếu, tạo thời cơphát triển cho trường đại học và xí nghiệp.

Quan sát một cách tổng thể việc sáng lậu ra các công ty đại học những năm gầnđây ở Mỹ và một số nước châu Âu về đại thể có những đặc điểm sau:

1 Dùng phương thức thị trường để thu hút sinh viên, mời các học giả nổitiếng đến dạy

2 Công ty hoá trường đại học tức là có thể làm cho việc giảng dạy và nghiêncứu khoa học trực tiếp hướng về sản xuất, về quản lý kinh doanh, có thề làm gia tăngthu nhập tài chính, và nhân đó, không ngừng cải thiện điều kiện xây dựng trường,nâng cao địa vị của nhà trường

3 Công ty hoá trường đại học làm cho mối quan hệ giữa xí nghiệp và giáo dụcngày càng mật thiết, trường đại học và xí nghiệp tương hỗ, tương lợi, bình đẳng về lợiích trên phương tiện dịch vụ kỹ thuật, do vậy mà tăng cường hợp tác giữ hai bên

Do những ưu điểm dễ thấy như vậy, các "Công ty đại học" đang mọc lên nhưnấm, từ trước Mỹ đến châu Âu, nổi tiếng tới toàn thế giới Những công ty đại học vớinhững hình thức khác nhau và sự ra đời của xí nghiệp hoá trường đại học, báo trước

xu thế quan trọng của sự phát triển giáo dục

2.4 Xu thế toàn dân học tập suốt đời phát triển mạnh

Năm 1972, ủy ban quốc tế đưa ra bản báo cáo có lên gọi là "Sự tồn tại của họchội: Giáo dục thế gỉới hôm nay và ngày mai”, báo cáo này đã chính thức xác nhậnbằng văn bản lý luận giáo dục suốt đời do Cục truởng Cục tổ chức giáo dục suốt đờiPaolô Langơ đưa ra giữa những năm 60 Hai mươi năm nay, quan niệm giáo dục suốtđời dần dần thâm nhập sâu vào lòng người Nguyên tắc giáo dục suốt đời được thếgiới tiếp thu một cách phổ biến

Mục tiêu giáo dục suốt đời tiến hành ở các nước đã chỉ ra xu thế chung: Việcgiáo dục sau này nên tuỳ theo thời điểm, nhu cầu của mỗi cá nhân, dùng phương pháp

có hiệu quả nhất, cung cấp cho họ những kiến thức và kỹ năng thiết yếu Nó vạch raphương hướng chung của giáo dục trong tương lai, với ý nghĩa là đưa giáo dục vào cảđời người, biến việc học tập thành quá trình không ngừng nâng cao năng lực Trong xãhội tương lai khoa học phát triển cao độ và xã hội biến đổi dữ đội, con người cần đượcbồi dưỡng những năng lực thích ứng với những biến đổi đó, cần có ý thức về tương lai,cần có năng lực suy nghĩ và lý giải tương lai, những năng lực ấy có được lời tuỳ thuộcvào tính liên tục và tính kịp thời của giáo dục; tuỳ thuộc vào đặc trưng cơ bản của việcthúc đẩy và cấu thành tương lai của giáo dục; tính chất suốt đời

Xã hội truyền thống chia đời người thành 3 giai đoạn: đến trường, làm việc vànghỉ hưu Nền giáo dục truyền thống cho rằng số kiến thức và kỹ năng học được ởtrường lúc còn trẻ về cơ bản có thể dùng cho suốt đời Thế nhưng theo đà phát triểmạnh mẽ và nhanh chóng của KHKT, chế độ giáo dục truyền thống này đã bộc lộ rõrằng những thiếu sót của nó Một cuộc điều tra khoá học sinh tốt nghiệp năm 1970 ở

Mỹ đã chứng tỏ rằng đến năm 1980, kiến thức của họ đã hao mòn mất 50%; đến năm

1986 thì số kiến thức này đã lão hoá hoàn toàn Nước ta cũng đã có cuộc điều tra đối

Trang 9

với số học sinh thuộc bộ nôn khoa học nhất định năm 1965, kết quả chứng tỏ, đếnnăm 1970, kiến thức của họ đã lạc hậu 45%, đến năm 1975, tỷ lệ này lên tới 75%.Mặc dù phương pháp tính toán sự mòn cũ của kiến thức có khác nhau, nhưng ngàynay, sự bùng nổ về kiến thức thông tin học nhiều đến mức không nghiên cứu kỹ được,thì khối lượng kiến thức được ứng dụng của một nhân viên KHKT chỉ có khoảng 20%kiến thức học được ở trường học truyền thống; 80% số kiến thức còn trống là do nhucầu công việc và đời sống mà không học được, đó là một sự thực rất rõ ràng Dựa vàođiểm đó, các nước phát triển nhấn mạnh việc tăng cường giáo dục tại chức, tích cựcthực hiện giáo dục suốt đời Theo thực tiễn của nhiều quốc gia Âu - Mỹ, thì việc giáodục suốt đời sẽ dược tiến hành rộng rãi trong phạm vi toàn cầu trong tương lai, khôngchỉ bao gồm việc gỉáo dục ở trường truyền thống trước tuổi đi làm - mà còn mở rộnggiáo dục vỡ lòng về trí tuệ cho các em trước khi đi học với giáo dục tiểu học đượctăng cường thêm một bước Ngoài ra, còn tiếp tục giáo dục sau trung học, saụ đại học,

bổ sung kiến thức và bồi dưỡng tạì chức kỹ năng kỹ thuật cho các thạc sĩ, tiến sĩ, thựchiện giáo dục tại chức và giáo dục cho người già Ở một số nước, thậm chí còn có cảgiáo dục về cái chết trước khi chết, các quan tâm đến tuổi sắp về thế giới bên kia và

sự chuẩn bị về tâm lý cho người già

Về mặt thời gian, giáo dục sẽ kéo dài suốt đời người, về mặt không giam giáodục sẽ mở rộng đến toàn xã hội Điều đó không những chỉ hàm chứa ý nghĩa là trong

xã hội tương lai, mỗi người đều tiếp thu giáo dục và học tập bất cứ lúc nào và ở đâu

mà còn hàm chứa ý nghĩa mỗi người trong xã hội tương lai đều học tập qua việc tham

dự những hoạt động xã hội, và cả xã hội tương lai sẽ gánh vác chức năng giáo dục

Việc thúc đẩy toàn dân giáo dục suốt đời đòi hỏi luật pháp bảo đảm mỗi ngườikhông phân chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo tín ngưỡng đều có quyền bình đẳng

có cơ hội học nghề thành công "Sự bình đẳng có cơ hội học nghề thành công" tức làmỗi người đều có thể được giáo dục thích đáng, đều có thể đạt tới chuẩn mực giáo dụckhiến họ vừa lòng Ngày nay người ta coi sự bình đẳng về cơ hội học nghề là một mụctiêu trọng yếu của dân cầu hoá giáo dục Mặc dù mục tiêu này không thể thực hiện tứcthời, song người ta vẫn không mất lòng tỉn, và đang cố gắng đấu tranh với sự thất học

về nghề nghiệp

2.5 Làn sóng tư doanh hoá trường công

Mở đầu những năm 90 ở một số thành phố Mỹ xuất hiện làn sóng tư doanh hoátrường công, hướng cải cách này đã gây ra sự chú ý lớn và sự phản ứng mạnh mẽ trêntoàn cầu Tuy nhiên nhiều quốc gia phát triển đã học tập làm theo và đang có nhữngtác dụng đáng kể

Sự xuất hiện của làn sóng tư doanh hoá trường công có nguyên nhân sâu xa vềlịch sử và hiện thực

Lấy trường công làm cơ cấu giáo dục là thể hiện sự dân chủ, là thực hiện sự bìnhđẳng dân tộc và sự đồng đều về cơ hội kinh tế, luôn luôn được coi là liều "thuốc vạnnăng" và được chấp nhận, nhất là trong giai đoạn phồn vinh của những năm 60 Songbất đầu từ những năm 70, nguy cơ chính trị và kinh tế xã hội buộc người ta phải nhìn

Trang 10

nhận lại chức năng về hiệu quả của các trường công Kết quả điều tra phát hiện ra rằngtrường công không phải là vạn năng chúng không phải luôn luôn đào tạo ra những họcsinh thích ứng với yêu cầu của quốc tế và trong nước.

Mặc dù trường tư có một số đặc tính khác như mở rộng mâu thuẫn chủng tộc vàtôn gúao, phân cách giàu nghèo rõ ràng, song xét về ý nghĩa giáo dục, một số trường tưmới thực sự là trường học, những học sinh được đào tạo ở đây mới là những học sinhchân chính

Tư doanh hoá trường công đại thể được phân thành một số hình thức cơ bản:

*Công ty nhận kinh doanh Cách làm đó bắt đầu từ năm 1992 đã trở thànhcuộc thí điểm bước đầu Thành phố Bantỉmore mang 9 trường công giao cho công tygiáo dục (EAI) kinh doanh, Công ty đảm nhận làm sạch trường lớp, đồng thời nângcao thành tích dạy học không khống chế việc bổ nhiệm thày giáo và trả lương chogiáo viên rộng rãi

* Ngoài việc các trường công do các công ty bao thầu kinh doanh ra, mấy nămgần đây ở Mỹ còn xuất hiện chế độ cho phép cá nhân mở trường và quản lý trườngcông Đó có thể là trường mới xây dựng và cũng có thể là trường công sẵn có Quyềnpháp nhân độc 1ập được luật pháp bảo hộ

Mặc dầu mô típ tư doanh hoá trường công là muôn hình, muôn vẻ, song chúng

có nhiều điểm chung: 1-bất luận là mô típ nào, đều là sự tuyên chiến với chế độ trườngcông hiện hành: 2-cơ sở lý luận của nó đều bắt nguồn từ lý luận tư hữu hoá 3-Mụcđích cuối cùng của nó đều thực hiện giảm chi, tăng thành quả, nâng cao chất lượnggiáo dục, bồi dưỡng cho học sinh có nhiều nãng lực cạnh tranh giành được sự tán đồng

và ủng hộ của công chúng

Tuy nhiên, dù điều hành theo phương thức công ty tư nhân, trường học khôngthể dành cho thương nhân quản lý Trường học không thể biến thành một "cửa hàng"thuần tuý điều đó được quyết định bởi bản chất nhà trường là nơi giáo dục con người

Về chuyện đó, Hội trưởng Hội Giáo dục toàn nước Mỹ, Kiơn Gaigơ nhận thức rất tỉnhtáo, ông nói: "Biến nhà trường thành thực thể doanh lợi, thành thực thể kinh tế thuầntuý, thì không thể thu được thành tựu vè giảng dạy" Đấy là khuynh hướng cần phảitránh trong khi phát triển tư doanh hoá trường công

3 Xu thế đổi mới giáo dục ở Việt Nam

3.1 Thực trạng nền giáo dục Việt Nam:

3.1.1 Những thành tựu, kết quả

Nhìn tổng quát, trong thời kỳ đổi mới đất nước, giáo dục đã cung cấp nguồnnhân lực cần thiết cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đóng góp rất quan trọngvào thành tựu của đất nước: vượt qua khủng hoảng kinh tế, thoát khỏi tình trạng nướcnghèo, chủ động hội nhập quốc tế ngày càng hiệu quả Những thành tựu, kết quả chínhcủa giáo dục là:

1 Hệ thống trường lớp và quy mô giáo dục phát triển nhanh, thực hiện nền giáodục toàn dân, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân và nâng cao đượctrình độ đào tạo, trình độ và kỹ năng nghề nghiệp của người lao động

2 Công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối vớingười dân tộc thiểu số, người nghèo, lao động nông thôn, đối tượng chính sách vàngười có hoàn cảnh khó khăn Bình đẳng giới trong giáo dục được bảo đảm

Trang 11

3 Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên, góp phần đáp ứng yêu cầunhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Họcsinh, sinh viên Việt Nam đạt kết quả cao trong các kỳ thi quốc tế và khu vực Nhân lựcnước ta đã làm chủ được một số công nghệ hiện đại.

4 Công tác quản lý giáo dục có bước chuyển biến tích cực

5 Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tăng nhanh về số lượng, trình độđào tạo được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục

6 Cơ sở vật chất - kỹ thuật của hệ thống giáo dục và đào tạo được tăng cường

và từng bước hiện đại hóa

7 Xã hội hóa giáo dục và hợp tác quốc tế được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quảquan trọng

Nguyên nhân chủ yếu của những thành tựu, kết quả:

Những thành tựu, kết quả quan trọng của giáo dục bắt nguồn từ truyền thốnghiếu học của dân tộc; sự ưu tiên đầu tư của các gia đình cho việc học tập của con emmình; ý thức ham học hỏi và tinh thần vượt khó của các thế hệ học sinh, sinh viên; sựlãnh đạo thường xuyên, trực tiếp của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm của toàn xã hộiđối với sự nghiệp giáo dục; ngành giáo dục đã có nhiều cố gắng đổi mới trong chỉ đạo,quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ, bước đầu đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệpphát triển giáo dục trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; sự tận tụycủa đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; sự ổn định về chính trị cùng vớinhững thành tựu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế

3.1.2 Những hạn chế, yếu kém

1 Chất lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhất

là ở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, là một trong những nguyên nhân làm hạnchế chất lượng nguồn nhân lực của đất nước Giáo dục còn nặng bệnh thành tích; đánhgiá kết quả ở nhiều cơ sở giáo dục còn thiếu thực chất

2 Chương trình giáo dục còn coi nhẹ thực hành, vận dụng kiến thức; phươngpháp giáo dục, kiểm tra, thi và đánh giá lạc hậu, nhiều bất cập Thiếu gắn kết giữa đàotạo với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh

3 Hệ thống giáo dục còn cứng nhắc, thiếu tính liên thông giữa các trình độ đàotạo và các phương thức giáo dục, chưa phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước và hộinhập quốc tế Chưa gắn kết đào tạo với sử dụng và nhu cầu của thị trường lao động

4 Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém Một số hiện tượng tiêu cựckéo dài trong giáo dục, chậm được khắc phục, có việc còn trầm trọng hơn, gây bức xúc

xã hội Chưa coi trọng đúng mức đánh giá hiệu quả quản lý và hiệu quả đầu tư chogiáo dục

5 Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn nhiều bất cập về chất lượng,

số lượng và cơ cấu; thiếu động lực tự học và đổi mới; chưa bắt kịp yêu cầu của đổi mớigiáo dục

6 Nhiều chính sách và cơ chế tài chính lạc hậu, phân bổ tài chính mang tínhbình quân, dàn trải Cơ sở vật chất kỹ thuật của nhiều cơ sở giáo dục còn thiếu và lạchậu, chưa đạt chuẩn quy định, thiếu quỹ đất dành cho phát triển giáo dục

Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém:

Chưa nhận thức sâu sắc và chậm đổi mới tư duy về phát triển giáo dục trong cơchế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nhiều cấp ủy Đảng, chính quyền từ Trungương đến địa phương còn lúng túng trong việc cụ thể hóa quan điểm “giáo dục là quốcsách hàng đầu” và xử lý các vấn đề của giáo dục trong thực tiễn; chưa thể chế hóa kịpthời, phù hợp các chủ trương, chính sách của Đảng về giáo dục Chưa có sự phối hợp

Trang 12

tốt giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội trong việc tổ chức thực hiện cácnhiệm vụ phát triển giáo dục Việc xác định nhiều mục tiêu phát triển giáo dục chưatính toán đầy đủ đến các điều kiện thực hiện Thiếu quy hoạch phát triển nhân lực củađất nước, của ngành giáo dục Không kịp thời sơ kết, tổng kết, đánh giá các chính sách

về giáo dục Các chế độ, chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưathỏa đáng

Tư tưởng và thói quen bao cấp trong giáo dục còn nặng nề Chưa nhận thức đầy

đủ về vai trò quyết định chất lượng giáo dục của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lýgiáo dục Những nhận thức lệch lạc về giáo dục, bệnh hình thức, sính bằng cấp vànhững tiêu cực xã hội đã để lại nhiều hậu quả khó khắc phục trong giáo dục

Yếu kém trong công tác quản lý, chỉ đạo của ngành giáo dục, bao gồm cả quản

lý ngành và quản lý các cơ sở giáo dục, là nguyên nhân của nhiều yếu kém khác Quản

lý, chỉ đạo còn nặng về điều hành sự vụ; chưa chủ động tham mưu các chính sách, giảipháp bảo đảm điều kiện phát triển giáo dục; chưa coi trọng đúng mức công tác quản lýchất lượng, thanh tra, kiểm tra, giám sát; chưa kịp thời tổng kết, nhân rộng các điểnhình tiên tiến, chưa tạo được động lực đổi mới từ trong ngành Các nguyên lý giáo dụcchưa được quán triệt và thực hiện tốt Mục tiêu giáo dục toàn diện chưa được hiểu vàthực hiện đúng Chưa có cơ chế sàng lọc, đưa những nhà giáo và cán bộ quản lý giáodục không đạt chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất, đạo đức ra khỏi ngànhgiáo dục

Nguồn lực quốc gia và khả năng đầu tư cho giáo dục của phần đông gia đìnhcòn hạn chế, chưa đáp ứng điều kiện tối thiểu để đảm bảo chất lượng các hoạt độnggiáo dục Mức chi cho mỗi người học chưa tương xứng với yêu cầu về chất lượng,chưa phù hợp ngành nghề và trình độ đào tạo

3.2 Định hướng phát triển trong thời gian đến

3.2.1 Quan điểm chỉ đạo đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấpthiết, từ tư duy, quan điểm đến mục tiêu, hệ thống, chương trình giáo dục (nội dung,phương pháp, thi, kiểm tra, đánh giá), các chính sách, cơ chế và các điều kiện bảo đảmchất lượng giáo dục; đổi mới ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo, ở cả Trung ương

và địa phương, ở mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội Đổi mới để tạo rachuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả giáo dục, đáp ứng ngày càng tốt hơnyêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhu cầu học tập của nhân dân

Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, có tầm nhìn dài hạn, các giải pháp đồng

bộ, khả thi, có cơ sở khoa học

Đổi mới căn bản và toàn diện không có nghĩa là làm lại tất cả, từ đầu mà cầnvừa củng cố, phát huy các thành tựu và điển hình đổi mới, vừa kiên quyết chấn chỉnhnhững lệch lạc, những việc làm trái quy luật, phát triển những nhân tố tích cực mới;đổi mới có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình phù hợp với thực tế đất nước, địa phương.Những hạn chế, thách thức của giáo dục phải được nhận thức sâu sắc, có giải pháp hữuhiệu và lộ trình để khắc phục, vượt qua để đưa sự nghiệp giáo dục lên tầm cao mới

Để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cần quán triệt các quan điểmchỉ đạo sau:

1 Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, làquốc sách hàng đầu, giữ vai trò một nhân tố quyết định để thực hiện thành công mụctiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; đầu tư cho giáo dục là đầu

tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế

-xã hội

Trang 13

2 Mục tiêu giáo dục là phát triển năng lực công dân, đào tạo nhân lực, bồidưỡng nhân tài Thực hiện tốt các nguyên lý giáo dục “Học đi đôi với hành, giáo dụckết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kếthợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủyếu chú trọng trang bị kiến thức (nâng cao dân trí) sang tập trung phát triển toàn diệnnăng lực và phẩm chất người học (năng lực công dân).

3 Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội

và bảo vệ Tổ quốc, phù hợp quy luật phát triển khách quan, những tiến bộ khoa học vàcông nghệ Chuyển phát triển giáo dục hiện nay chủ yếu theo mục tiêu số lượng sangphát triển theo mục tiêu vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, vừa đáp ứng yêucầu số lượng theo nhu cầu nhân lực của xã hội Thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa vàdân chủ hóa giáo dục

4 Xây dựng xã hội học tập Chuyển hệ thống giáo dục cứng nhắc, thiếu tínhliên thông hiện nay sang hệ thống giáo dục mở, linh hoạt, bảo đảm liên thông giữa cáctrình độ và giữa các phương thức đào tạo, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân họctập suốt đời Thực hiện xã hội hóa, dân chủ hóa giáo dục và hội nhập quốc tế

5 Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường,bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục Phát triển hài hòa,bình đẳng, hỗ trợ lẫn nhau giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giáo dục cácvùng, miền Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặcbiệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và các đối tượng diện chính sách

6 Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồngthời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập để phát triển đất nước Việchội nhập phải trên cơ sở giữ gìn bản sắc văn hóa và độc lập dân tộc, tiếp thu tinh hoavăn hóa nhân loại, phát triển bền vững giáo dục nước nhà

3.2.2 Mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tới năm 2030 3.2.2.1 Mục tiêu tổng quát

Tạo chuyển biến căn bản về chất lượng và hiệu quả giáo dục; khắc phục cơ bảncác yếu kém kéo dài đang gây bức xúc trong xã hội để giáo dục và đào tạo trở thànhmột nhân tố quyết định cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước

Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khuvực và hội nhập quốc tế

a) Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, yêu gia đình, yêu Tổquốc; có hiểu biết và kỹ năng cơ bản, khả năng sáng tạo để làm chủ bản thân, sống tốt

và làm việc hiệu quả - thực học, thực nghiệp; phát triển tốt nhất tiềm năng của mỗi cánhân; đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước;

b) Xây dựng nền giáo dục mở, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt, có cơ cấu và phươngthức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng caochất lượng Hệ thống giáo dục được chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa,hội nhập quốc tế; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và mang đậm bản sắc dân tộc

3.2.2.2 Mục tiêu cụ thể

a) Giáo dục mầm non tập trung giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết,thẩm mỹ, góp phần hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻbước vào lớp 1

Hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015,nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và thực hiện miễn học phítrước năm 2020 cho đối tượng này Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm

Ngày đăng: 16/06/2020, 14:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w