1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN KINH tế CHÍNH TRỊ NHỮNG vấn đề cơ bản của QUÁ TRÌNH sản XUẤT tư bản, ý NGHĨA đối với VIỆC NHẬN THỨC CHỦ NGHĨA tư bản NGÀY NAY

20 321 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 116,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

C.Mác sinh ngày (1818 – 1883) trong một gia đình thuộc tầng lớp trung lưu Do thái ở Trier miền Renani nước Đức, một nhà khoa học, nhà tư tưởng, lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản, ông đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng. C.Mác đã để lại cho nhân loại một kho tàng tri thức đồ sộ, trong đó phải kể đến là tác phẩm “Tư bản”. Để có tác phẩm này Mác đã phải làm việc suốt hơn bốn mươi năm những năm 40 của thế kỷ 19 tới khi qua đời. Đây là tác phẩm thiên tài của C.Mác, là một công trình nghiên cứu kinh tế hết sức vĩ đại, có sức sống xuyên thì đại. Trong tác phẩm vĩ đại đó thì học thuyết giá trị thặng dư được Lênin ví như là “hòn đá tảng ” của học thuyết kinh tế C.Mác; là một trong hai phát minh vĩ đại của C.Mác trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Để làm rõ quá trình xây dựng, sáng tạo ra học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác trong bộ “Tư bản” tác giả chọn vấn đ

Trang 1

MỞ ĐẦU

C.Mác sinh ngày (1818 – 1883) trong một gia đình thuộc tầng lớp trung lưu Do thái ở Trier miền Renani nước Đức, một nhà khoa học, nhà

tư tưởng, lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản, ông đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng C.Mác đã để lại cho nhân loại một kho tàng tri thức đồ sộ, trong đó phải kể đến là tác phẩm “Tư bản” Để có tác phẩm này Mác đã phải làm việc suốt hơn bốn mươi năm những năm

40 của thế kỷ 19 tới khi qua đời Đây là tác phẩm thiên tài của C.Mác, là một công trình nghiên cứu kinh tế hết sức vĩ đại, có sức sống xuyên thì đại Trong tác phẩm vĩ đại đó thì học thuyết giá trị thặng dư được Lênin

ví như là “hòn đá tảng ” của học thuyết kinh tế C.Mác; là một trong hai phát minh vĩ đại của C.Mác trong lịch sử tư tưởng nhân loại Để làm rõ quá trình xây dựng, sáng tạo ra học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác trong

bộ “Tư bản” tác giả chọn vấn đề “Những vấn đề cơ bản của quá trình sản xuất tư bản, ý nghĩa đối với việc nhận thức chủ nghĩa tư bản ngày nay”.

làm chủ đề thu hoạch, sau khi đọc tác phẩm “Tư bản” của C.Mác Với phạm

vi nghiên cứu và đối tượng của môn học tác phẩm kinh điển, tác giả không trình bày các nội dung chi tiết của quá trình đó mà trên cơ sở nghiên cứu tác phẩm rút những vấn đề cốt lõi nhất, khái quát nội dung chủ yếu của Quyển I

bộ “Tư bản” Dựa vào nội dung trọng tâm của quyển I là học thuyết giá trị thặng dư để đó rút ra ý nghĩa trong nhận thức chủ nghĩa tư bản ngày nay

Trang 2

NỘI DUNG

1 Hoàn cảnh lịch sử và phương phỏp nghiờn cứu về giỏ trị thặng

dư của C.Mỏc

Bộ “T bản” của C.Mác trình bày lý luận về chủ nghĩa t bản thời kỳ tự

do cạnh tranh dựa trên sự tổng kết t liệu thực tiễn của nớc Anh, trình bày sự phát sinh, phát triển của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa và vạch rõ những mâu thuẫn trong lòng chủ nghĩa t bản tất yếu sẽ thúc đẩy nó quá độ lên một phơng thức sản xuất cao hơn Bộ “T bản” ra đời trong điều kiện hình thái kinh tế - xã hội t bản chủ nghĩa xuất hiện ở Tây Âu thay thế xã hội phong kiến và đã tỏ ra

u thế của mình trong việc tạo ra một lực lợng sản xuất phát triển mạnh mẽ, đại công nghiệp cơ khí đang dần dần thay thế công trờng thủ công và chiếm địa vị thống trị toàn bộ đời sống xã hội Về mặt chính trị - xã hội, thời kỳ này giai cấp công nhân phát triển cả về số lợng, chất lợng, các cuộc cách mạng của giai cấp vô sản diễn ra sôi nổi nh cuộc khởi nghĩa của thợ dệt Lyon ở Pháp, phong trào hiến chơng của công nhân Anh trong những năm 30 - 40 của thế

kỷ XIX, mâu thuẫn trong lòng chủ nghĩa t bản ngày càng bộc lộ rõ rệt Tình hình đó đặt ra nhiều vấn đề cần có câu giải đáp khoa học mang tính lý luận dẫn đờng nh nguồn gốc của sự thống khổ của quần chúng nhân dân lao động? bản chất của chủ nghĩa t bản? lực lợng lãnh đạo cách mạng? Bộ “T bản” ra đời

đã đáp ứng đợc những đòi hỏi này Quá trình hình thành bộ “T bản” trải qua một thời gian dài với sự chuẩn bị công phu của C.Mác Trong suốt quá trình chuẩn bị biên soạn để cho ra đời bộ “T bản”, C.Mác và Ph.Ănghen cho xuất

bản nhiều bài viết và tác phẩm: Bản thảo Kinh tế - Triết học (Ph.Ănghen, 1844), Tình cảnh giai cấp công nhân Anh (Ph.Ănghen, 1844), Lao động làm

thuê và t bản (C.Mác, 1849), Đấu tranh giai cấp ở Pháp (1848) Trong đó Bản thảo kinh tế (1857) tuy không đợc xuất bản, nhng có thể coi đó là di bản đầu

tiên của bộ “T bản” Từ tháng 8 năm 1861 đến tháng 7 năm 1863, ông đã hoàn

thành một bản thảo lớn với tên gọi: Phê phán Kinh tế chính trị học, đây đợc

coi là bản thảo lần thứ hai của bộ “T bản” vì hầu hết những vấn đề C.Mác viết trong bản thảo này đều đợc đa vào bộ “T bản” sau này Bản thảo lần thứ ba

đ-ợc viết năm 1864 – 1865 Lần này, Mỏc đó thay đổi cấu trỳc của tỏc phẩm và

cú dự kiến viết bộ “Tư bản”gồm 4 quyển Trong đú,3 quyển đầu trỡnh bày hầu như toàn bộ học thuyết kinh tế của C.Mỏc, kết cấu như sau:

Trang 3

Quyển I, quỏ trỡnh sản xuất của tư bản, gồm 8 phần,32 chương.

Quyển II, quỏ trỡnh lưu thụng tư bản, gồm 3 phần 21 chương

Quyển III, toàn bộ quỏ trỡnh sản xuất tư bản chủ nghĩa, gồm 7 phần

52 chương

Quyển IV, phờ phỏn lịch sử lý luận giỏ trị thặng dư

Đối tợng nghiên cứu của bộ “T bản” là “phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa và những quan hệ sản xuất và trao đổi thích ứng với phơng thức sản xuất ấy”1 Và “Mục đích cuối cùng của tác phẩm này là tìm ra quy luật vận động kinh

tế của xã hội hiện đại”2 Nờn phương phỏp nghiờn cứu C.Mỏc sử dụng trong nghiờn cứu bộ “Tư bản” núi chung và học thuyết giỏ trị thặng dư núi riờng là tổng hợp cỏc phương phỏp như; Phộp biện chứng duy vật là phương phỏp chung, cơ bản xuyờn suốt quỏ trỡnh nghiờn cứu Phương phỏp trừu tượng hoỏ khoa học là phương phỏp đặc thự của C.Mỏc trong nghiờn cứu kinh tế-chớnh trị Ngoài ra C.Mỏc cũn sử dụng cỏc phương phỏp khỏc; phương phỏp kết hợp lụgớc và lịch sử; thống kờ, toỏn học, qui nạp Trong nghiờn cứu học thuyết giỏ trị thặng dư C.Mỏc đó dựng phương phỏp trỡnh bày là đi từ trừu tượng đến cụ thể thụng qua cỏc giả định của mỡnh Ở đõy, C.Mỏc đó chủ nghĩa tư bản là một xó hội thuần khiết, tư bản là một thể thống nhất giữa sản xuất và lưu thụng, chỉ nghiờn cứu riờng quỏ trỡnh sản xuất tư bản và đề cập lưu thụng trong mức độ cần thiết để hiểu rừ quỏ trỡnh sản xuất

2 Những nội dung chủ yếu của quỏ trỡnh sản xuất tư bản được C.Mỏc trỡnh bày trong Quyển I bộ “ Tư bản”.

Quỏ trỡnh sản xuất tư bản được trỡnh bày theo lược trỡnh mà C.Mỏc đó xõy dựng trong Quyển I của bộ “Tư bản”, nhằm làm rừ tiến trỡnh nghiờn cứu của C.Mỏc về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với tiờu đề “ Quỏ trỡnh sản xuất của tư bản”, C.Mỏc nghiờn cứu riờng bản thõn quỏ trỡnh đú

1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 23, Nxb CTQG, H 1993, tr 19

2

Trang 4

với tư cách là một quá trình sản xuất trực tiếp, không kể đến những ảnh hưởng thứ yếu do những nhân tố ở bên ngoài quá trình ấy gây ra, tức là chưa xét đến lưu thông của tư bản, tách quá trình sản xuất của tư bản khỏi quá trình lưu thông của tư bản Chỉ đề cập đến lưu thông trong chừng mực cần thiết để làm rõ quá trình sản xuất đó.Nhưng vì chỉ dựa trên cơ sở lưu thông hàng hoá mới có quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, nếu không phân tích hàng hoá, tiền tệ, lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ thì không thể nào hiểu nổi tư bản, nên phần thứ nhất quyển I phải bắt đầu từ phân tích hàng hoá và tiền tệ Ở đây, C.Mác không nghiên cứu quá trình sản xuất nói chung mà nghiên cứu quá trình sản xuất tư bản nhưng quá trình này lại vừa là quá trình lao động nói chung vừa là quá trình làm tăng thêm giá trị, nghĩa là nó vừa bao hàm cái chung vừa mang tính chất đặc thù của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mà nét tiêu biểu là sức lao động trở thành hàng hoá C.Mác đã luận giải khoa học về sự chuyện hoá của tiền tệ thành tư bản, trên cơ sở đó nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư của nhà tư bản, xác định chất và lượng của giá trị thặng dư, mối quan hệ giữa các hình thái của giá trị thặng dư đồng thời C.Mác chỉ ra quy mô, trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với người công nhân trên cơ

sở tư bản hoá giá trị thặng dư để phát triển sản xuất cả chiều rộng lẫn chiều sâu Nội dung chủ yêú của “Quá trình sản xuất tư bản” được tóm tắt theo các vấn đề sau:

Phần thứ nhất (từ chươngI đến chươngIII): Nghiên cứa hàng hoá

và tiền tệ, vạch rõ quan hệ sản xuất của những người sản xuất hàng hoá thể hiện trong hàng hoá tiền tệ Sở dĩ bắt đầu nghiên cứu từ hàng hoá vì cái thống trị trong xã hội tư bản chủ nghĩa là hàng hoá, vì sản xuất tư bản chủ nghĩa là giai đoại cao của sản xuất hàng hoá, nó chỉ có thể ra đời trên

cơ sở sản xuất hàng hoá giản đơn đã đạt đến một trình độ phát triển nhất

Trang 5

định C.Mác viết: “Lưu thông hàng hoá là điểm xuất phát của tư bản Các tiền đề lịch sử cho tư bản ra đời là nền sản xuất hàng hoá và lưu thông hàng hoá đã phát triển, tức thương nghiệp” Tuy nhiên trọng tâm của quyển I là giá trị thặng dư, trong quyển này C.Mác phân tích thực chất của giá trị thặng dư, điều kiện ra đời của giá trị thặng dư, các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và sự chuyển giá trị thặng dư thành tư bản

Sự nghiên cứu giá trị thặng dư bắt đầu từ phần thứ hai và kết thúc ở phần thứ bảy

Phần thứ hai ( chương IV): Sự chuyển hoá của tiền thành tư bản.

Vấn đề dặt ra là tại sao phần thứ hai lại phân tích lưu thông của tư bản, bắt đầu từ công thức chung của tư bản T-H-T’ Đó là vì giá trị thặng dư chỉ biểu hiện ra ở lợi nhuận, không có giá trị thặng dư thì không có lợi nhuận, nhưng không có lưu thông tư bản chủ nghĩa thể hiện bằng công thức T-H-T’ thì cũng không có giá trị thặng dư, vì nếu không có lưu thông

tư bản chủ nghĩa thì sự chiếm đoạt lao động không công của người khác chỉ có thể thực hiện được bằng cách cưỡng bức trắng trợn và trực tiếp như dưới chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến Chỉ có trên cơ sở lưu thông hàng hoá tự do, nhờ đó sự lưu thông hàng hoá - sức lao động xuất hiện, thì sự chiếm đoạt giá trị thặng dư và m và giá trị thặng dư mới mang hình thái lợi nhuận

Như vậy, hai phần trên là C.Mác chuẩn bị điều kiện tiền đề và giải thích lý do cần thiết để tiến hành nghiên cứu giá trị thặng dư Chính từ những phát hiện tiền đề này mà C.Mác đã có cơ sở khoa học để luận giải

và vượt qua các cửa ải mà các tiền bối trước C.Mác phải dừng bước khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến giá trị thặng dư

Phần thứ ba (từ chươngV đến chươngIX): Nghiên cứu “ sự sản

xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối” Từ phần này C.Mác gạt giai đoạn lưu

Trang 6

thông sang một bên, chỉ coi như một tiền đề có sẵn, tập trung toàn bộ sự phân tích vào quá trình sản xuất Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối chỉ là kéo dài ngày lao động ra quá giới hạn mà trong đó người công nhân làm thuê sản xuất ra một vật ngang giá với giá trị sức lao động của họ và nhà

tư bản chiếm hữu số lao động thặng dư ấy Quá trình này được thực hiện trên cơ sở của những phương thức sản xuất mà chủ nghĩa tư bản đã kế thừa trong lịch sử, chỉ khác là trong trường hợp này lao động thặng dư không bị cướp đoạt bằng cách cưỡng bức trực tiếp mà thông qua mua bán sức lao động “ một cách tự nguyện” Do đó, sự sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối chỉ đòi hỏi sự phụ thuộc về hình thức của lao động và tư bản Sự sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối tạo ra cơ sở chung cho chế độ tư bản chủ nghĩa và là điểm xuất phát để sản xuất giá trị thặng dư tương đối nên trong phần này sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối được xem xét theo hai khía cạnh vừa là hình thái chung, vừa là hình thái đặc biệt của sự sản xuất

ra giá trị thặng dư, vừa đề cập những vấn đề thuộc về sản xuất giá trị thặng dư nói chung ( Quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị, tư bản bất biến và tư bản khả biến; tỷ suất giá trị thặng dư) vừa đề cập những vấn đề thuộc về sự sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối Điểm xuất phát của sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là thời gian lao động tất yếu không đổi, trong khi độ dài của ngày lao động thay đổi bằng cách kéo dài ngày lao động vướt quá thời gian qui đinh, dựa trên năng suất lao động nhất định.Có nghĩa là thời gian người công nhân lao động cho nhà tư bản tăng lên trong khi thời gian lao động cho chính bản thân anh ta không thay đổi

Phần thứ tư (từ chương X đến chương XIII): Nghiên cứa sự sản

xuất giá trị thặng dư tương đối Điểm xuất phát của việc nghiên cứu này

là độ dài ngày lao động không đổi còn thời gian lao động cần thiết lại là một đại lượng thay đổi do việc nâng cao năng suất lao động, còn việc

Trang 7

nâng cao năng suất lao động lại là kết quả của tiến bộ kỹ thuật và những

sự thay đổi trong việc tổ chức sản xuất, cho nên phần này nghiên cứu trong điều kiện phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tiến bộ kỹ thuật được thực hiện như thế nào qua việc sản xuất giá trị thặng dư tương đối Phần này vừa bổ sung cho phần trước bằng cách nghiên cứu một hình thái khác của giá trị thặng dư vừ dựa trên cơ sở những nguyên tắc đã phát triển trong phần trước Ở đây, làm rõ việc nâng cao năng suất lao động biến thành việc tăng thêm giá trị thặng dư như thế nào? Nếu như trước đây mới chỉ nhận biết tư bản khống chế lao động như thế nào thì bây giờ hiểu thêm

tư bản lại tổ chức lao động đó ra sao Phần trước nghiên cứu những phạm trù cơ bản biểu hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhưng chưa nghiên cứu lực lượng sản xuất phát triển như thế nào trong điều kiện quan

hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Phần này chỉ rõ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa không những là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất mà còn tác động đến lực lượng sản xuất, cách mạng hoá lực lượng sản xuất đồng thời việc phát triển về mặt lý luận được bổ sung bằng việc nghiên cứu về mặt lịch sử Nói đúng hơn, sự phân tích lôgíc gắn với việc minh hoạ bằng những giai đoạn lịch sử cơ bản của quá trình cải tổ lao động dưới sự thống trị của tư bản, từ hiệp tác giản đơn, qua công trường thủ công lên đại công nghiệp cơ khí Hệ quả của sản xuất giá trị thặng dư tương đối sẽ thúc đẩy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, tổ chức quản lý sản xuất và phân công lao động tối ưu nhằm hạ thấp giá trị cá biệt của hàng hoá để thu giá trị thặng

dư siêu ngạch Thực chất là rút ngắn thời gian lao động tất yếu để tăng thời gian lao động thặng dư

Phần thứ năm (từ chương XIV đến chươngXVI): Tổng hợp và bổ

sung cho hai phần trước Hai phần trước nghiên cứu sản xuất giá trị thặng

dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối một cách biệt lập Đến đây khái

Trang 8

quát một cách thống nhất hai hình thức giá trị thặng dư, nghiên cứu sự biến đổi về lượng của giá cả sức lao động và giá trị thặng dư Sự biến đổi

đó phụ thuộc vào sự biến đổi của độ dài ngày lao động, của năng suất lao động và cường độ lao động, tức là phụ thuộc vào những nhân tố liên quan đến sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối Phần này kết thúc bằng sự xem xét các công thức về tỷ suất giá trị thặng dư Các công thức này có ý nghĩa quan trọng đối với cả hai hình thức giá trị thặng dư, một công thức không đúng sẽ xuyên tạc tính chất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

Phần thứ sáu (từ chương XVII đến chươngXX): Nghiên cứu tiền

công, sở dĩ phải trình bày lý luận về tiền công sau khi đã hoàn tất việc nghiên cứu giá trị thặng dư là vì lý luận giá trị thặng dư dựa trên cơ sở mua bán hàng hoá sức lao động, nhưng trên bề mặt xã hội tiền công biểu hiện ra là giá cả lao động chứ không phải là giá cả sức lao động Vì thế cần làm rõ tiền công là sự biểu hiện, là hình thức chuyển hoá của giá trị sức lao động, như vậy cái nền tảng đó được xây dựng trên lý luận giá trị thặng dư mới được củng cố vững chắc Việc phân tích bắt đầu từ việc giải quyết mâu thuẫn giữa phạm trù giá trị và giá cả sức lao động với phạm trù giá cả lao động Hai chương tiếp theo(XVIII và XIX) trình bày tiền công theo thời gian và tiền công theo sản phẩm phần này kết thúc bằng cách nêu lên căn cứ của sự khác nhau về mức tiền công giữa các dân tộc

Phần thứ bảy (từ chươngXI đến chươngXXV): “ Quá trình tích luỹ

tư bản” cũng như bất cứ nền sản xuất nào, nên sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là một hành vi đơn nhất, ngẫu nhiên mà diễn ra liên tục nhưng các phần trước mới nghiên cứu quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa như một quá trình tự lớn lên của giá trị, cho nên tính liên tục mới chỉ được nêu ra, chứ chưa được nghiên cứu trong phần này nghiên cứu mối quan hệ

Trang 9

sản xuất tư bản chủ nghĩa trong mối quan hệ thường xuyên và trong tiến trình biến đổi không ngừng, tức là nghiên cứu quá trình tái sản xuất của tư bản cá biệt Đặc trưng của chủ nghĩa tư bản là tái sản xuất mở rộng, muốn tái sản xuất mở rộng thì phải tích luỹ tư bản Nhưng ở đây mới chỉ nghiên cứu sự tích luỹ tư bản một cách trừu tượng, tức là chỉ nghiên cứu nó như một yếu tố của quá trình sản xuất trực tiếp chứ chưa đề cập đến tiến trình thực tế của sự tích luỹ, vì việc tích luỹ tư bản gắn liền với việc thực hiện

và phân phối giá trị thặng dư mà những vấn đề nay được nghiên cứu ở quyển II và quyển III Phần này bắt đầu từ việc phân tích tái sản xuất giản đơn, tức là khi chưa có tích luỹ,mặc dù tái sản xuất giản đơn không phải

là hiện tượng điển hình của chủ nghĩa tư bản Sở dĩ như vậy là vì một mặt quá trình tích luỹ là quá trình tái sản xuất tư bản nói chung, nhưng mặt khác nó lại là sự sản xuất tư bản với quy mô mở rộng Lúc đầu C.Mác nghiên cứu mặt thứ nhất, tức là nghiên cứu bản thân sự tái sản xuất và đó

là táy sản xuất giản đơn Sau đó mới nghiên cứu mặt thứ hai đó là quy mô tái sản xuất mở rộng hay tích luỹ Sự phân tích tái sản xuất mở rộng cho phép rút ra một loạt kết luận và vạch rõ xu hướng phát triển cơ bản của sự tích luỹ Những xu hướng này được trình bày trong chương XXIII “ Quy luật chung của tích luỹ tư bản chủ nghĩa” Nhưng còn một vấn đề cho đến đây vẫn chưa được giải đáp: việc một số người này bị tách khỏi tư liệu sản xuất phải bán sức lao động và một số người khác chiếm đoạt tư liệu sản xuất để trở thành nhà tư bản mua sức lao động diễn ra như thế nào? sự phân tích phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không trả lời được câu hỏi đó mà chỉ công nhận vấn đề đó thôi Do đó chương XXIV “ Cái gọi là tích luỹ ban đầu” hay còn gọi là “ Tích luỹ nguyên thuỷ”, đưa chúng ta trở

về thế giới tiền tư bản, trả về quan hệ tiên tư bản vì chính những quan hệ

đó chuẩn bị cho quan hệ tư bản chủ nghĩa, đồng thời là sự mào đầu của

Trang 10

quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Quá trình tích luỹ ban đầu còn tiếp diễn sau đó, nghĩa là nền kinh tế tự nhiên và nửa tự nhiên sẽ còn bị phá huỷ bằng bạo lực ngay trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đã phát triển, tuy theo sự chinh phục tư bản chủ nghĩa đối với những vùng đất mới Nhưng nếu vì thế mà nói như Rô-da Luých-dăm-bua, rằng không có tích luỹ ban đầu chủ nghĩa tư bản không tồn tại được, thì lại là sai lầm Ở chương này chỉ nói về tích luỹ ban đầu với tư cách là sự chuẩn bị tiền đề cho tích luỹ

tư bản chủ nghĩa, chứ không nói về quá trình xẩy ra song song với tích luỹ

tư bản chủ nghĩa và nuôi dưỡng tích luỹ tư bản chủ nghĩa C.Mác viết “do

đó cái gọi là tích luỹ ban đầu chẳng qua là quá trình lịch sử của việc tách rời người sản xuất ra khỏi tư liệu sản xuất Nó là ban đầu vì nó tạo thành tiền sử của tư bản và phương thức sản xuất phù hợp với tư bản”

Tóm lại, thực chất nội dung của quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là quá trình C.Mác nghiên cứu và hoàn thiện học thuyết giá trị thặng dư của mình từ việc nghiên cứu những tiền đề để tiền trở thành tư bản, phát hiện mâu thuẫn trong quá trình lưu thông tiền tệ với tư cách là

tư bản, phát hiện ra hàng hoá sức lao động C.Mác đã chỉ ra phương thức sản xuất giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản Trên cơ sở đó C.Mác đã làm rõ về mặt định tính và mặt định lượng của giá trị thặng dư, thông qua phân tích các phạm trù về giá trị sức lao động, thời gian lao động tất yếu, thời gian lao động thặng dư, tỉ suất giá trị thặng dư, khối lượng giá trị thặng dư, tư bản bất biến và tư bản khả biến, lý luận về tiền công và tư bản hoá giá trị thặng dư Từ đó chỉ ra quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Nội dung của các phần thứ nhât, phần thứ hai, phần thứ sáu và phần thứ bảy có vai trò làm luận điểm tiền đề và luận giải các vấn đề có liên quan đến việc nghiên cứu hoàn thiện về học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác Do vậy tác giả căn cứ vào học thuyết giá trị thặng

Ngày đăng: 19/08/2017, 16:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w