1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

CÁC ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH PHI NGÂN HÀNG

19 160 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 283,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I.Phân loại và đặc điểm định chế tài chính phi ngân hàng:1.Khái niệm quỹ đầu tư:Quỹ đầu tư là một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, tiền tê, hay các loại tài sản khác. Tất cả các khoản đầu tư này đều được quản lý chuyên nghiệp, chặt chẽ bởi công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát và cơ quan thẩm quyền khác.2.Các bên tham gia vào quỹ đầu tư:Công ty quản lý quỹ: Vốn pháp định tối thiểu là 25 tỷ đồng.Ngân hàng giám sát: Bảo quản tài sản của quỹ đầu tư chứng khoán và giám sát công ty quản lý quỹ.Người đầu tư: Là người góp vốn vào quỹ thông qua việc mua chứng chỉ quỹ đầu tư.3.Nhà đầu tư cá nhân hay pháp nhân thường quyết định đầu tư thông qua quỹ đầu tư bởi 5 yếu tố:Giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa danh mục đầu tư.Tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đạt các yêu cầu về lợi nhuận.Được quản lý chuyên nghiệp.Giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan thẩm quyền.Tính năng động của quỹ đầu tư: Mỗi nhà đầu tư tham gia đầu tư vào quỹ sẽ sở hữu một phần trong tổng danh mục đầu tư của quỹ. Việc nắm giữ này được thể hiện thông qua việc sở hữu các chứng chỉ quỹ đầu tư.4.Ưu điểm và nhược điểm của quỹ đầu tư:a)Ưu điểm:Đa dạng hóa danh mục đầu tư mà không cần có một lượng vốn lớn.Tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đạt các yêu cầu về lợi nhuận.Tham gia các Đại hội các nhà đầu tư và Ban đại diện Quỹ.Quyền lợi của nhà đầu tư luôn được bảo vệ.Rất thuận tiện khi giao dịch.Có nhiều chọn lựa cho đầu tư từ đó có thể giảm rủi ro.Hưởng các dịch vụ của nhà quản lý đầu tư chuyên nghiệp.Nắm tình trạng đầu tư của mình với tính minh bạch rất cao.b)Nhược điểm:Chi phí giao dịch do khớp lệnh nhiều lần trên sàn giao dịch.Thuế thu nhập cá nhân cao.5.Phân loại:5.1 Theo nguồn vốn huy động:a)Quỹ đầu tư tư nhân: Một số tổ chức và cá nhân góp vốn và thuê Công ty quản lý qũy nhằm mục đích đầu tư vốn của mình một cách có lợi nhất và đảm bảo quản lý chặt chẽ vốn đầu tư. Do việc huy động vốn của Quỹ chỉ hạn chế trong một số tổ chức và cá nhân nên họ có thể đầu tư vào những dự án dài hạn, có tiềm năng phát triển cao nhưng mức độ rủi ro lớn. Các quỹ này thường đầu tư vào chứng khoán của những công ty chưa niêm yết. Khi những công ty này phát triển đến mức độ nhất định, họ bán lại những chứng khoán nắm giữ để thu hồi vốn. Quỹ đầu tư tư nhân thường mang hình thái của quỹ đầu tư vốn mạo hiểm.b)Quỹ đầu tư tập thể: Chứng chỉ góp vốn của Quỹ đầu tư tập thể được phép mua bán rộng rãi trên thị trường. Do số lượng người góp vốn rất nhiều và phần lớn là các cá nhân – những nhà đầu tư không chuyên nên hầu hết các nước đều có những quy định hết sức chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi của những người đầu tư.

Trang 1

- -CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH

PHI NGÂN HÀNG

Đà nẵng, tháng 11 năm 2018

Trang 2

Mục lục

I Phân loại và đặc điểm định chế tài chính phi ngân hàng: 4

1 Khái niệm quỹ đầu tư: 4

2 Các bên tham gia vào quỹ đầu tư: 4

3 Nhà đầu tư cá nhân hay pháp nhân thường quyết định đầu tư thông qua quỹ đầu tư bởi 5 yếu tố: 4

4 Ưu điểm và nhược điểm của quỹ đầu tư: 4

5 Phân loại: 4

5.1 Theo nguồn vốn huy động: 4

5.2 Theo cấu trúc vận động vốn: 5

5.3 Theo cơ cấu tổ chức và hoạt động của quỹ: 6

II Công ty tài chính: 7

1 Khái niệm: 7

2 Đặc điểm: 7

2.1 Bản chất và phạm vi hoạt động: 7

2.2 Vai trò: 7

2.3 Phân loại: 7

2.4 Hoạt động của công ty tài chính: 8

III Quỹ tương hỗ: 9

1 Khái quát về quỹ tương hỗ (mutual fund): 9

2 Cấu trúc quỹ tương hỗ: 10

3 Ưu nhược điểm của quỹ tương hỗ: 10

4 Phân loại: 10

IV Công ty bảo hiểm và quỹ trợ cấp hưu trí: 11

1 Công ty bảo hiểm: 11

1.1 Khái niệm: 11

1.2 Vai trò: 11

1.3 Phân loại: 12

1.4 Hoạt động của công ty bảo hiểm: 12

Trang 3

2 Quỹ trợ cấp hưu trí: 12

2.1 Khái niệm: 12

2.2 Phân loại: 12

2.3 Hoạt động: 13

V Nghiên cứu về các định chế tài chính phi ngân hàng tại Việt Nam: 13

1 Công ty bảo hiểm: 13

2 Công ty tài chính: 15

3 Quỹ hưu trí: 15

4 Quỹ đầu tư: 16

5 Các công ty cho thuê tài chính: 17

6 Các tổ chức hoạt động trên thị trường chứng khoán: 17

Trang 4

I Phân loại và đặc điểm định chế tài chính phi ngân hàng:

1 Khái niệm quỹ đầu tư:

Quỹ đầu tư là một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, tiền tê, hay các loại tài sản khác Tất cả các khoản đầu tư này đều được quản lý chuyên nghiệp, chặt chẽ bởi công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát và cơ quan thẩm quyền khác

2 Các bên tham gia vào quỹ đầu tư:

- Công ty quản lý quỹ: Vốn pháp định tối thiểu là 25 tỷ đồng

- Ngân hàng giám sát: Bảo quản tài sản của quỹ đầu tư chứng khoán và giám sát công ty quản

lý quỹ

- Người đầu tư: Là người góp vốn vào quỹ thông qua việc mua chứng chỉ quỹ đầu tư

3 Nhà đầu tư cá nhân hay pháp nhân thường quyết định đầu tư thông qua quỹ đầu tư bởi 5 yếu tố:

- Giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa danh mục đầu tư

- Tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đạt các yêu cầu về lợi nhuận

- Được quản lý chuyên nghiệp

- Giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan thẩm quyền

- Tính năng động của quỹ đầu tư: Mỗi nhà đầu tư tham gia đầu tư vào quỹ sẽ sở hữu một phần trong tổng danh mục đầu tư của quỹ Việc nắm giữ này được thể hiện thông qua việc sở hữu các chứng chỉ quỹ đầu tư

4 Ưu điểm và nhược điểm của quỹ đầu tư:

a) Ưu điểm:

- Đa dạng hóa danh mục đầu tư mà không cần có một lượng vốn lớn

- Tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đạt các yêu cầu về lợi nhuận

- Tham gia các Đại hội các nhà đầu tư và Ban đại diện Quỹ

- Quyền lợi của nhà đầu tư luôn được bảo vệ

- Rất thuận tiện khi giao dịch

- Có nhiều chọn lựa cho đầu tư từ đó có thể giảm rủi ro

- Hưởng các dịch vụ của nhà quản lý đầu tư chuyên nghiệp

- Nắm tình trạng đầu tư của mình với tính minh bạch rất cao

b) Nhược điểm:

- Chi phí giao dịch do khớp lệnh nhiều lần trên sàn giao dịch

- Thuế thu nhập cá nhân cao

Trang 5

5 Phân loại:

5.1 Theo nguồn vốn huy động:

a) Quỹ đầu tư tư nhân:

- Một số tổ chức và cá nhân góp vốn và thuê Công ty quản lý qũy nhằm mục đích đầu tư vốn của mình một cách có lợi nhất và đảm bảo quản lý chặt chẽ vốn đầu tư

- Do việc huy động vốn của Quỹ chỉ hạn chế trong một số tổ chức và cá nhân nên họ có thể đầu tư vào những dự án dài hạn, có tiềm năng phát triển cao nhưng mức độ rủi ro lớn

- Các quỹ này thường đầu tư vào chứng khoán của những công ty chưa niêm yết Khi những công ty này phát triển đến mức độ nhất định, họ bán lại những chứng khoán nắm giữ để thu hồi vốn Quỹ đầu tư tư nhân thường mang hình thái của quỹ đầu tư vốn mạo hiểm

b) Quỹ đầu tư tập thể:

- Chứng chỉ góp vốn của Quỹ đầu tư tập thể được phép mua bán rộng rãi trên thị trường

- Do số lượng người góp vốn rất nhiều và phần lớn là các cá nhân – những nhà đầu tư không chuyên nên hầu hết các nước đều có những quy định hết sức chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi của những người đầu tư

5.2 Theo cấu trúc vận động vốn:

a) Quỹ đầu tư dạng đóng (closed-end fund):

- Không mua lại các chứng chỉ mà quỹ đã phát hành, do quỹ đóng huy động vốn thông qua phát hành chứng chỉ từng lần một

- Nhà đầu tư không mua được chứng chỉ quỹ ở các lần phát hành tập trung thì chỉ có thể mua lại ở thị trường chứng khoán thứ cấp từ những cổ đông hiện tại giống như giao dịch các cổ phiếu Quỹ không có liên quan gì tới những giao dịch này Vì vậy, quỹ đóng còn có tên là quỹ giao dịch công cộng (publicly-traded fund) Chứng chỉ quỹ đóng có thể được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán hoặc chỉ được giao dịch trên thị trường chứng khoán phi tập trung OTC (Over The Counter) và được giao dịch giống như cổ phiếu thường

- Quỹ đóng có cơ cấu vốn ổn định nên có lợi thế trong việc đầu tư vào các dự án dài hạn và các chứng khoán có tính thanh khoản thấp Tuy vậy, chứng chỉ qũy đóng không có tính thanh khoản cao nên thị giá thường thấp và thời gian thu hồi vốn lâu

b) Quỹ đầu tư dạng mở (open-end fund):

- Phát hành chứng chỉ liên tục để huy động vốn và sẵn sàng mua lại chứng chỉ mà quỹ đã phát hành theo giá trị tài sản ròng

- Việc mua bán chứng chỉ Quỹ có thể thực hiện trực tiếp giữa người đầu tư và công ty quản lý quỹ, không phải thông qua thị trường chứng khoán với giá mua = giá trị tài sản ròng của quỹ + phí bán

- Do cơ cấu vốn không ổn định vì người đầu tư có thể rút vốn bất kỳ lúc nào nên quỹ mở phải đầu tư vào rất nhiều loại chứng khoán khác nhau Vì vậy, góp vốn vào quỹ mở, người đầu tư

có thể nắm giữ một danh mục đầu tư hết sức đa dạng Người đầu tư có thể nhận cổ tức hoặc tái đầu tư vào quỹ bằng cách yêu cầu được mua thêm chứng chỉ mới Quỹ mở thường được gọi phổ biến là Quỹ tương hỗ (mutual fund)

c) Ngoài ra còn có một số dạng khác xuất phát từ hai hình thái trên:

Trang 6

- Quỹ bán mở: có sự hạn chế hơn so với quỹ đầu tư dạng mở Nhà quản lý quỹ đồng ý mua cổ phiếu từ các cổ đông tại mức giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu tại các thời gian định trước

- Quỹ tín thác đơn vị UIT (unit investment trust): được thành lập theo một chứng thư uỷ thác hay một công cụ tương đương về tính pháp lý Vốn đóng góp cũng như mọi đầu tư bằng vốn đóng góp sẽ do cá nhân hoặc tổ chức được uỷ thác giữ Ban đầu, khi thành lập Quỹ, nhà tư vấn đầu tư thu xếp gộp vào trong một danh mục đầu tư rồi phân ra thành các đơn vị (giống như các cổ phần thường) để bán cho người đầu tư qua môi giới Các đơn vị thường được bán theo giá trị tròn số (Mỹ: 1.000USD) trong lần phát hành đầu tiên Các nhà môi giới, bảo lãnh phát hành sẽ đồng thời là người duy trì hoạt động mua bán các đơn vị đó Giá các đơn vị sẽ tuỳ thuộc vào giá các chứng khoán trong danh mục đầu tư của Quỹ Người mua các đơn vị đầu tư này phải trả một khoản phí ban đầu cho người môi giới bán, thường là 4% Chính khoản phí cao như vậy mà các nhà đầu tư ngắn hạn thấy không có lợi khi đầu tư vào loại quỹ này

5.3 Theo cơ cấu tổ chức và hoạt động của quỹ:

a) Mô hình công ty:

- Quỹ đầu tư có tư cách pháp nhân đầy đủ, được thành lập dưới hình thức công ty đầu tư cổ phần, có điều lệ hoạt động, vốn huy động từ các nhà đầu tư bằng cách phát hành cổ phiếu

Cổ phiếu của quỹ có thể được giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC

- Những người góp vốn vào quỹ sẽ trở thành những cổ đông được quyền hưởng cổ tức và biểu quyết bầu Hội đồng quản trị cũng như các vấn đề cơ bản của Quỹ như các cổ đông trong một công ty cổ phần truyền thống

- Điểm đặc trưng của công ty đầu tư là Hội đồng quản trị đại diện cho các cổ đông đứng ra thuê công ty quản lý Quỹ và Ngân hàng bảo quản; sẽ đề ra chính sách và giám sát 2 tổ chức này Công ty quản lý Quỹ thực hiện đầu tư còn Ngân hàng bảo quản nắm giữ tài sản

- Việc phân quyền như vậy nhằm đảm bảo việc tài sản không thuộc quyền định đoạt hoàn toàn của bất kỳ ai Công ty quản lý Quỹ, với vai trò của nhà đầu tư chuyên nghiệp, sẽ tối ưu hoá hiệu quả đầu tư Bên cạnh đó, việc bảo đảm an toàn và lưu giữ các tài sản, đặc biệt là chứng khoán, một cách khoa học cũng như việc tiến hành thu – chi, thanh toán thì không ai khác ngoài một ngân hàng có thể đảm đương được Bên cạnh đó, việc phân quyền cũng nhằm đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư vì các Quỹ đầu tư được bắt đầu từ con số “0” và khối lượng vốn huy động là không hạn chế trong khi các ngân hàng hay các loại hình công ty khác luôn phải có mức vốn tự có tối thiểu để hoạt động

- Tuy là một công ty cổ phần nhưng công ty đầu tư không chỉ chịu sự điều chỉnh của Luật công ty mà còn phải chịu sự điều chỉnh khá phức tạp của các luật liên quan tới tín thác đầu

tư chứng khoán

b) Mô hình tín thác:

- Quỹ đầu tư không có tư cách pháp nhân Với mô hình này, Quỹ đầu tư chỉ được coi là một khối lượng tiền do các nhà đầu tư góp vốn để sử dụng dịch vụ quản lý đầu tư chuyên nghiệp nhằm thu lợi nhuận

- Quỹ không có Hội đồng quản trị, hoạt động trên cơ sở Chứng thư tín thác (trust deed) được

ký kết giữa công ty quản lý Quỹ và Ngân hàng giám sát bảo quản Chứng thư tín thác, được

Trang 7

sự phê chuẩn của Bộ tài chính hoặc cơ quan chức năng, quy định mọi vấn đề đối với hoạt động của Quỹ nhằm đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư

- Người đầu tư vào Quỹ đầu tư theo mô hình tín thác không được gọi là một cổ đông vì họ chỉ

có quyền nhận lợi tức từ số vốn góp mà không có quyền bầu cử và các quyền khác như mô hình công ty Vì thế, người đầu tư lúc này được gọi là người thụ hưởng (beneficiary) và chứng chỉ Quỹ đầu tư được gọi là chứng chỉ hưởng lợi

- Do không có Hội đồng quản trị, chức năng giám sát và đề ra chính sách sẽ được san sẻ cho Công ty quản lý Quỹ và Ngân hàng giám sát bảo quản Cụ thể là Công ty quản lý Quỹ nắm quyền quản lý và đề ra chính sách còn Ngân hàng sẽ nắm quyền giám sát và bảo quản tài sản

II Công ty tài chính:

1 Khái niệm:

Các công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng với chức năng sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ khác tuân thủ đúng pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ than toán, nhận tiền gửi dưới 1 năm

2 Đặc điểm:

2.1 Bản chất và phạm vi hoạt động:

- Là tổ chức tài chính phi ngân hàng

- Không được làm dịch vụ thanh toán

- Không được nhận tiền gửi dưới 1 năm

- Được mở chi nhánh, văn phòng đại diện trong và ngoài nước

- Cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính tiền tệ

Phần vốn pháp định phải được gửi vào tài khoản phong tỏa không được hưởng lãi tại Ngân hàng sau 30 ngày thì được giải tỏa Mức vốn pháp định là 500 tỷ đồng

Thời gian hoạt động: Tối đa không quá 50 năm Được phép ra hạn thời gian hoạt động theo

sự cho phép của NHNN và mỗi lần ra hạn không quá 50 năm

2.2 Vai trò:

- Góp phần giảm bớt những chi phí thông tin và giao dịch lớn cho mỗi cá nhân tổ chức và toàn

bộ nền kinh tế

- Do chuyên môn hóa và thành thạo trong nghề nghiệp, các Công ty tài chính đã đáp ứng đầy

đủ, chính xác và kịp thời yêu cầu giữa người cần vốn và người có vốn

- Do cạnh tranh đan xen và đa dạng hóa hoạt động, các Công ty tài chính thường xuyên thay đổi lãi xuất một cách hợp lý, làm cho nguồn vốn thực tế được tài trợ cho đầu tư tăng lên mức cao nhất

Trang 8

- Thực hiện có hiệu quả dịch vụ tư vấn, môi giới, tài trợ, trợ cấp và phòng ngừa rủi ro.

2.3 Phân loại:

2.3.1 Công ty tài chính bán hàng:

- Do các công ty sản xuất và bán hàng làm chủ sở hữu và thực hiện các khoản vay tài trợ cho khách hàng mua các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ chính của công ty Công ty tài chính bán hàng cạnh tranh trực tiếp với ngân hàng về các khoản cho vay tiêu dùng và có được khá nhiều khách hàng vì các khoản vay này thường được thực hiện nhanh hơn và tiện lợi hơn tại các địa điểm mua hàng

- Các công ty tài chính này gián tiếp cấp tín dụng cho người tiêu dùng để mua các món hàng

từ một nhà bán lẻ hoặc từ một nhà sản xuất nào đó

- Tín dụng được cấp dưới hình thức các doanh nghiệp bán trả góp cho khách hàng theo hợp đồng mua do công ty tài chính loại này cung cấp, sau đó hợp đồng được bán lại cho công ty tài chính Như vậy, khoản nợ của khách hàng với nhà sản xuất hoặc nhà bán lẻ đã chuyển thành khoản nợ của khách hàng với công ty tài chính

- Các công ty tài chính loại này thường do các công ty sản cuất hay các nhà phân phối bán lẻ thành lập nên nhằm hỗ trợ cho hoạt động tiêu thụ hàng hóa của mình

2.3.2 Công ty tài chính tiêu dùng:

- Thực hiện các khoản cho vay cho khách hàng mua các loại hàng hóa cụ thể hay giúp đỡ chi trả các khoản nợ nhỏ Các công ty tài chính tiêu dùng này là do các doanh nghiệp riêng biệt hay cho các ngân hàng là chủ sở hữu

- Công ty tài chính tiêu dùng cung ứng phần lớn nguồn vốn hay cấp tín dụng của mình cho các khách hàng để họ mua sắm cho hệ thống cửa hàng bán lẻ Hầu hết các khoản cho vay này đều được trả góp định kỳ

- Do các khoản vay của loại công ty tài chính này khà rủi ro nên công ty thường chỉ cho vay các khoản tiền nhỏ với lãi xuất cao hơn lãi xuất thị trường Khách hàng của các công ty tài chính tiêu dùng thường là người không tìm được khoản tín dụng từ nguồn khác và do vậy họ thường phải chịu lãi xuất cao hơn thông thường

- Các công ty tài chính tiêu dùng có thể do ngân hàng thành lập và hoạt động độc lập dưới hình thức các công ty cổ phần

2.3.3 Công ty tài chính doanh nghiệp:

- Cung cấp các hình thức ứng dụng chuyên biệt cho các doanh nghiệp bằng cách thực hiện các khoản cho vay và tài khoản mua bán với chiết khấu Ngoài ra, công ty tài chính doanh nghiệp chuyên môn hóa vào cho thuê trang thiết bị, máy móc mà họ mua về và cho các doanh nghiệp vay trong một khoảng thời gian nào đó

- Công ty tài chính doanh nghiệp cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp dưới các hính thức như: bao thanh toán, tức là công ty cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu các khoản phải

Trang 9

thu của doanh nghiệp; cho thuê tài chính, tức là công ty cấp tín dụng dưới hình thức mua các máy móc thiết bị mà khách hàng yêu cầu rồi cho khách hàng thuê…

2.4 Hoạt động của công ty tài chính:

2.4.1 Huy động vốn:

- Nhận tiền gửi có kì hạn 1 năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo quy định của ngân hàng nhà nước

- Phát hành kì phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có giá khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật hiện hành

- Vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước và các tổ chức tài chính quốc tế

- Tiếp nhận vốn úy thác của chính phủ, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

2.4.2 Huy động tín dụng:

- Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn theo quy định của ngân hàng nhà nước

- Cho vay theo ủy thác của Chính phủ, của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định hiện hành của Luật các tổ chức tín dụng và hợp đồng ủy thác

- Cho vay tiêu dùng bằng hình thức cho vay mua trả góp

- Chiết khấu, tài chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác

- Bảo lãnh: Công ty tài chính được bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh

2.4.3 Mở tài khoản và ngân quỹ:

- Mở tài khoản: Công ty tài chính có nhận tiền gửi phải mở tài khoản tại Ngân hàng nhà nước

và duy trì tại đó số dư bình quân không thấp hơn mức quy định của Ngân hàng nhà nước

- Dịch vụ ngân quỹ: Công ty tài chính được thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng

2.4.4 Các hoạt động khác:

- Góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác

- Đầu tư cho các dự án theo hợp đồng

- Làm đại lý phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các giấy tờ có giá cho các doanh nghiệp

- Cung ứng các dịch vụ tư vấn về ngân hàng, tài chính, tiền tệ, đầu tư cho khách hàng; dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác

- Các nghiệp vụ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép

III Quỹ tương hỗ:

1 Khái quát về quỹ tương hỗ ( mutual fund):

- Khái niệm: là một loại phương tiện đầu tư tập thể được quản lý chuyên nghiệp mà hồ tiền từ nhiều nhà đầu tư để mua các chứng khoán Trong khi không có định nghĩa pháp lý của thuật ngữ "quỹ tương hỗ", nó thường được áp dụng chỉ cho những phương tiện đầu tư tập thể

Trang 10

được quy định và được bán cho công chúng Chúng đôi khi được gọi là các "công ty đầu tư" hoặc "công ty đầu tư có đăng ký" Phần lớn quỹ tương hỗ là "mở", có nghĩa là các nhà đầu tư

có thể mua hoặc bán cổ phần quỹ tại thời điểm bất kỳ Các quỹ phòng hộ không được coi là một loại quỹ tương hỗ

- Quỹ tương hỗ phục vụ như một kênh trung gian tài chính chủ yếu

- Các nhà đầu tư trong một quỹ tương hỗ chi trả các chi phí của quỹ, làm giảm lợi nhuận/hiệu quả của quỹ Có tranh cãi về mức độ của các chi phí này Một quỹ tương hỗ duy nhất có thể cung cấp cho các nhà đầu tư lựa chọn các kết hợp khác nhau của chi phí (có thể bao gồm hoa hồng hoặc gánh nặng bán hàng) bằng cách cung cấp vài loại tầng lớp cổ phần khác nhau

- Quỹ tương hỗ phát triển với tốc độ rất cao

2 Cấu trúc quỹ tương hỗ:

- Tại Mỹ, một quỹ tương hỗ được đăng ký với Ủy ban chứng khoán và hối đoái (SEC) và được giám sát bởi một ban giám đốc (nếu được tổ chức như một công ty) hoặc hội đồng quản trị (nếu tổ chức như một tín thác)

- Người quản lý quỹ, còn được gọi là nhà hỗ trợ quỹ hoặc công ty quản lý quỹ Họ thực hiện các trao đổi (mua và bán) các khoản đầu tư của quỹ phù hợp với mục tiêu đầu tư của quỹ Một nhà quản lý quỹ phải là một nhà tư vấn đầu tư có đăng ký

- Các quỹ tương hỗ có thể đầu tư vào nhiều loại chứng khoán

- Danh mục đầu tư của một quỹ tương hỗ được liên tục theo dõi bởi người quản lý danh mục đầu tư hoặc người quản lý quỹ

3 Ưu nhược điểm của quỹ tương hỗ:

a) Ưu điểm:

- Tăng cường đa dạng hóa

- Thanh khoản hàng ngày

- Quản lý đầu tư chuyên nghiệp

- Khả năng tham gia trong các đầu tư mà có thể chỉ dành cho các nhà đầu tư lớn

- Dịch vụ và tiện lợi

- Giám sát Chính phủ

- Dễ so sánh

b) Nhược điểm:

- Tốn phí

- Ít kiểm soát thời gian của sự công nhận những lợi ích

- Thu nhập ít dự đoán được

- Không có cơ hội để tùy chỉnh

4 Phân loại:

a) Dựa vòa năng lực trả nợ của các cổ đông:

- Quỹ mở: thành viên có thể mua bán cổ phần với Quỹ và là loại phổ biến nhất của Quỹ tương hỗ

- Quỹ đóng: thành viên không được mua lại cổ phần đã bán

b) Dựa vào việc phát hành cổ phiếu:

Ngày đăng: 01/03/2020, 23:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w