Bài tiểu luận nói về Tiểu luận các định chế tài chính phi ngân hàng ở Việt Nam. Bài rất đầy đủ. Trên google vẫn chưa có tài liệu đâu nhé hí hí. Các bạn có thể đọc mục lục để biết thêm, cảm ơn. Bài rất đầy đủ, thông tin được tổng hợp từ các nguồn tiếng anh là chủ yếu.
Trang 1THỊ TRƯỜNG VÀ CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH
TIỂU LUẬN VỀ CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH PHI NGÂN HÀNG Ở
VIỆT NAM
Giáo viên:
Nhóm:
Lớp:
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU:
1 Lí do chọn đề tài:
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam có những bước phát triển mạnh mẽ, tốc
độ tăng trưởng GDP luôn ở mức cao của thế giới Trong sự phát triển vượt bậc ấy, không thểkhông kể đến công lao của các kênh lưu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế Các kênh tài chính
Trang 3này đóng vai trò lớn trong việc phân phối hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế, từ đó thúcđẩy nền kinh tế phát triển.
Đến lượt nó, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế cũng kéo theo sựu phát triển của
cả hệ thống tài chính nói chung và cả thị trường tài chính, trung gian tài chính nói riêng Bêncạnh đó, xu thế hội nhập cũng là một yếu tố góp phần mạnh mẽ của các trung gian tài chính
Các trung gian tài chính với những ưu thế về quy mô hoạt động, tính chuyên nghiệp vàcác dịch vụ tài chính đặc thù ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc lưu chuyển vốn trongnền kinh tế Sự phát triển của kênh dẫn vốn gián tiếp này được biểu hiện qua một thực tế rằngngày càng nhiều các loại hình trung gian tài chính ra đời và hoạt động tại Việt Nam; một trong
số đó là các Công ty Tài chính Đây là một loại hình trung gian tài chính khá mới ở nước ta và
đã có sự tăng nhanh về số lượng trong 10 năm trở lại đây Vậy vấn đề đặt ra là, các Công ty Tàichính này đã thành lập và đang hoạt động như thế nào? Có hiệu quả hay không? Liệu Việt Nam
có phải là một mảnh đất giàu tiềm năng phát triển do loại hình trung gian tài chính này?
Xuất phát từ những mối quan tâm đó, nhóm chúng em đã lựa chọn “Các định chế phi
ngân hàng ở Việt Nam” làm đề tài cho bài tiểu luận của mình.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, tiểu luận có các nhiệm vụ sau đây:
• Nghiên cứu một số Công ty Tài chính và công ty bảo hiểmđiển hình từ đó phác họa mộtbức tranh toàn cảnh về thực trạng phát triển của các Công ty Tài chính và công ty bảohiểm tại Việt Nam trong thời gian qua
• Dựa trên xu hướng phát triển của nền kinh tế Việt Nam, tiểu luận đưa ra dự báo về sựphát triển của các Công ty Tài chính và công ty bảo hiểm trong tương lai
Từ những mặt hạn chế đã rút ra trong phần nghiên cứu thực trạng Tiểu luận đưa raphương hướng và giải pháp thúc đẩy sự phát triển của các công ty Tài chính và công ty bảohiểm trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Trang 4Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số Công ty Tài chính đã thành lập và đang hoạtđộng tại Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Khi nghiên cưu về các Công ty Tài chính, tiểu luận chỉ bao gồm việc phân tích các khía
cạnh sau: quá trình phát triển, cách thức sử dụng và huy động vốn, tương tác với các tổ chức
tài chính khác.
4 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp luận nghiên cứu của Tiểu luận là dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác –Lenin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Ngoài ra, Tiểu luận còn sử dụng phượng pháp nghiên cứu truyền thống như tổng phân tích, đối chiếu – so sánh, hệ thống hóa
hợp-CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH VÀ CÔNG TY BẢO HIỂM TẠI VIỆT NAM
1 Tổng quan về các công ty tài chính tại Việt Nam:
1.1 Một số Công ty Tài chính tại Việt Nam:
1.1.1 Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC):
Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC) là một tổ chức tín dụng phingân hàng, tiền thân là Công ty Tài chính Dầu khí, thành lập ngày 19/6/2000 với phương châmhoạt động “Vì sự phát triển vững mạnh của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam” Ngày18/03/2008, PVFC chính thức chuyển thành Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí ViệtNam Đây là bước chuyển mình từ Công ty 100% vốn Nhà nước lên Tổng Công ty cổ phần.Điều này đã thay đổi căn bản cơ chế hoạt động và quản lý doanh nghiệp Điều kiện thuận lợi,nền tảng phát triển để PVFC đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, đặt mục tiêu đến năm 2010 trởthành Tập đoàn Tài chính
PVFC hoạt động ở 5 mảng lớn, đó là:
• Dịch vụ tài chính doanh nghiệp
• Thu xếp vốn và tín dụng doanh nghiệp: PVFC cung cấp các gói sản phẩm và dịch vụsau: thu xếp vốn, bảo lãnh, bao thanh toán, đồng tài trợ, uỷ thác cho vay, nhận uỷ tháccho vay, tín dụng cho các tổ chức kinh tế
• Dịch vụ tài chính cá nhân: Bao gồm huy động vốn cá nhân; tín dụng cá nhân (cho vay
Trang 5trả góp đảm bảo bằng lương, cho vay thế chấp tài sản, cho vay cầm cố chứng từ cógiá, cho vay mua nhà trả góp, cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ); mua bán kỳ hạn
• Kinh doanh tiền tệ
1.1.2 Công ty Tài chính Cao su (RFC):
Công ty Tài chính Cao su (RFC) là doanh nghiệp nhà nước được thành lập năm 1998.Công ty Tài chính Cao su là đơn vị thành viên, là công cụ tài chính thiết yếu của Tổng Công tyCao su Việt Nam
Công ty Tài chính Cao su tập trung phục vụ các dự án theo định hướng phát triển củaTổng Công ty Cao su Việt Nam đến năm 2020 mà Chính Phủ đã phê duyệt theo quyết định số96/QĐ-TTG ngày 17-7-2006, trong đó ưu tiên các dự án:
• Phát triển mở rộng diện tích trồng cao Su
• Phát triển công nghiệp chế biến mủ và chế biến gỗ cao su
• Phát triển sản xuất sản phẩm công nghiệp cao su
• Các dự án đầu tư thủy điện, xi măng, thép, đầu tư cơ sở hạ tầng xây dựng và kinhdoanh địa ốc và các dự án đầu tư khác của Tổng Công Ty Cao Su Việt Nam Công tyTài chính Cao su thực hiện các nghiệp vụ chủ yếu sau: huy động vốn, tín dụng, đầu
tư, kinh doanh, dịch vụ tài chính
Ngoài các tập đoàn trên, nhiều tập đoàn và tổng công ty khác của Việt Nam cũng mởCông ty Tài chính như Điện Lực, Bưu điện, Dệt May, Xi Măng, Sông Đà Bên cạnh các Công
ty Tài chính trong nước, các tập đoàn nước ngoài cũng đổ xô thành lập Công ty Tài chính 100%vốn nước ngoài
1.1.3 Công ty Tài chính Prudential Việt Nam (PruFC):
Prudential (Vương quốc Anh) là một trong nhưng tập đoàn dịch vụ tài chính hàng đầuthế giới với hơn 20 triệu khách hàng và quản lý các quỹ đầu tư trên 530 tỷ USD (tính đến ngày31.12.2007) Được cấp phép hoạt động tại Việt Nam năm 1999 Trên đà thành công trong lĩnhvực bảo hiểm nhân thọ và quản lý quỹ, Prudential thành lập Công ty Trách nhiệm hữu hạn Mộtthành viên Tài chính Prudential Việt Nam (Prudential Finance) PruFC chính thức tham gia vàothị trường tín dụng Việt Nam từ ngày 9.10.2007, và được cấp phép tăng vốn điều lệ từ 120 tỷđồng lên 370 tỷ đồng vào tháng 5.2008 Tín dụng tiêu dùng là một lĩnh vực còn mới tại thịtrường Việt Nam Sứ mệnh của Prudential Finance là xây dựng một Công ty Tài chính tiêu dùng
có quy mô lớn tại Việt Nam, cung cấp những sản phẩm và dịch vụ lấy khách hàng làm trọngtâm nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống đa dạng của khách hàng Mục tiêu của Prudential Finance
là đạt được dư nợ 1 tỷ đô la Mỹ trong vòng 5 năm hoạt động
Trang 6PruFC sẽ hoạt động trên hai lĩnh vực: huy động vốn và cung cấp tín dụng tiêu dùng
1.2 Cách huy động vốn của công ty tài chính:
1.2.1 Phát hành trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, thương phiếu:
Các Công ty Tài Chính muốn phát hành trái phiếu cần phải đăng ký và được sự đồng ýcủa Ngân hàng Nhà Nước về số lượng phát hành, và nếu lượng đăng ký mua không bằng lượngphát hành thì Công ty phải báo cáo lại với Ngân hàng Nhà Nước số lượng đã phát hành với chitiết cụ thể
• Tín phiếu là một giấy chứng nhận nợ của cá nhân, của công ty, trong đó các điều
kiện hai bên tự thỏa thuận với nhau Là giấy tờ có giá do công ty tài chính phát hành,mục đích là huy động vốn trong ngắn hạn ( dưới 1 năm)
• Kỳ phiếu là một loại chứng khoán, trong đó người ký phát cam kết sẽ trả một số tiền
nhất định vào một ngày nhất định cho người hưởng lợi được chỉ định trên lệnh phiếuhoặc theo lệnh của người hưởng lợi trả cho một người khác Nó sẽ trả một số tiềnnhất định một cách vô điều kiện và ghi rõ tên người thụ hưởng Nó được xem là mộtloại trái phiếu ngắn hạn với thời gian đáo hạn là khoảng trên dưới 1 năm nhưngkhông quá 7, 8 năm và công ty tài chính phát hành để huy động vốn dài hạn Kỳphiếu nó dùng thanh toán cho các bên xuất nhập khẩu
• Thương phiếu là giấy nhận nợ trong quan hệ mua bán trả chậm giữa các doanh
nghiệp và công ty tài chính Trong quan hệ giao dịch buôn bán của doanh nghiệp
và công ty tài chính thì các khoản mua bán trả chậm được phát sinh thường xuyên
do đó tạo điều kiện cho thương phiếu phát triển Thương phiếu thường có thờigian tối đa là 90 ngày bằng với một chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Ngoài ra, thời hạn của thương phiếu có thể được thỏa thuận giữa bên thụ hưởng
và bên nhận nợ
1.2.2 Phát hành chứng chỉ tiền gởi:
Với nhu cầu tiêu dùng ngày càng gia tăng của người dân, thị trường cho vay tiêu dùngtín chấp ngày càng phát triển mạnh mẽ khi dư nợ cho vay của các công ty tài chính tiêu dùngluôn tăng Điều này buộc các công ty tài chính phải linh động hơn trong việc tìm kiếm nguồnvốn đầu vào, trong đó phát hành chứng chỉ tiền gửi đang được xem là giải pháp huy động vốnhiệu quả nhất.
Ngày 31/12/2013, Ngân hàng Nhà Nước đã ban hành Thông tư 34/2013/TT-NHNN chophép các tổ chức tín dụng phi Ngân hàng trong đó có Công ty tài chính được phép phát hànhcác loại giấy tờ có giá, bao gồm chứng chỉ tiền gửi để huy động vốn
Đối tượng mua giấy tờ có giá là các tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nướcngoài Đối tượng mua giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài phát
Trang 7hành lần đầu trên thị trường sơ cấp không bao gồm các tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàngnước ngoài, công ty con của tổ chức tín dụng.
Đối với các Chứng chỉ tiền gởi, các Công ty Tài Chính chỉ báo cáo với Ngân hàng NhàNước về số lượng Chứng chỉ tiền gởi sau khi đã phát hành, điều này giúp các công ty này chủđộng được thời gian và nguồn vốn của mình, cũng như giúp giảm chi phí huy động vốn vì lãisuất cho Chứng chỉ tiền gởi có thể thấp hơn so với chi phí đi vay trung, dài hạn với Ngân hàngnước ngoài bao gồm cả chi phí hoán đổi tiền tệ, phòng ngừa rủi ro tỷ giá
Với hình thức huy động vốn bằng cách phát hành Chứng chỉ tiền gởi, các Công ty này đãchủ động hơn trong việc huy động vốn của mình, đặc biệt là có thể đa dạng hóa các kỳ hạn huyđộng theo nhu cầu của công ty, giúp tăng nguồn cung và thanh khoản cho thị trường thứ cấp, từ
đó giúp việc phát hành Chứng chỉ tiền gởi trên thị trường sơ cấp của Công ty Tài Chính đượcthuận lợi hơn
1.2.3 Nhận tiền gởi của tổ chức:
Điểm a khoản 1 Điều 108 Luật các tổ chức quy định: “Công ty tài chính được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng như: Nhận tiền gửi của tổ chức”; Như vậy, Công ty tài
chính chỉ được nhận tiền gửi của tổ chức, không được nhận tiền gửi của cá nhân Và qua đóchúng có thể huy động được vốn bằng cách nhận tiền gởi từ các tổ chức sau đó đem đi đầu tư
1.2.4 Vay vốn từ các tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài, hoặc vay Ngân Hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn:
Nguồn vốn đem cho vay của công ty tài chính chủ yếu đến từ huy động vốn trung và dàihạn (thông qua phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu cho các tổ chức, doanhnghiệp) Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước về tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động củacác công ty tài chính luôn từ 210 đến 230% Có nghĩa là, trong 10 đồng cho khách hàng vay,công ty tài chính huy động được từ phương thức này chỉ khoảng 4-5 đồng, phần còn lại phảitrông chờ vào những nguồn khác Nguồn khác ở đây, theo lãnh đạo một công ty tài chính, đến
từ đi vay trên liên ngân hàng hoặc vay nước ngoài và phần lớn là vốn tự có do ngân hàng hoặc
tổ chức tín dụng mẹ cấp từ đầu mà lãi suất vay lại của các ngân hàng có thể tới 17-20% mộtnăm Ngoại trừ vay vốn trên liên ngân hàng, các công ty này còn đươc tập đoàn mẹ ở nướcngoài cấp vốn hoặc đứng ra bảo lãnh để vay vốn ngoại lãi suất thấp hơn
1.3 Các cách sử dụng vốn của công ty tài chính
1.3.1 Cho vay tiêu dùng:
Vay tiêu dùng là hình thức vay tín chấp hoặc vay thế chấp dùng cho mục đích tiêu dùngcho cá nhân và gia đình Đối với việc vay vốn công ty tài chính để tiêu dùng, có các mục đích
Trang 8vay vốn sau:
• Vay tiền mua đồ nội thất gia đình
• Vay tiền mua hoặc sửa chữa nhà cửa
• Vay tiền mua xe trả góp (xe máy, ô tô, xe tải, v.v…)
• Vay tiền mua vật dụng gia đình
• Vay tiền đi học hoặc du lịch
• Vay tiền chữa bệnh
Cùng nhiều mục đích vay vốn khác mà không phải để kinh doanh được gọi là vay vốntiêu dùng Hiện tại, hầu hết các công ty tài chính tại Việt Nam đều có sản phẩm tín dụng chovay tiêu dùng dành cho khách hàng cá nhân
1.3.2 Cho vay kinh doanh:
Cho vay sản xuất kinh doanh là sản phẩm tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn đểthực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong nước
Phương thức cho vay:
• Cho vay từng lần (có thể trả nợ gốc một lần hoặc nhiều lần)
• Cho vay hạn mức tín dụng
• Cho vay theo dự án đầu tư
1.3.3 Cho thuê tài chính:
Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máymóc thiết bị, phương tiên vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê tàichính giữa: Bên cho thuê là các công ty Cho thuê tài chính và Bên thuê là khách hàng
chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của Bên thuê và nắm quyền sở hữu đối vớicác tài sản thuê trong suốt quá trình thuế
• Bên thuê được sử dụng tài sản thuê, thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đãđược hai bên thoả thuận và không được hủy bỏ hợp đồng thuê trước thời hạn Khi kếtthúc thời hạn thuê, Bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuêlại tài sản đó theo các điều kiện đã được hai bên thoả thuận
Tài sản cho thuê là các tài sản được sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu; còn mới hoặc
đã qua sử dụng được phép giao dịch, được Bên thuê sử dụng để phục vụ cho hoạt động củamình, gồm:
Trang 9• Phương tiện vận chuyển
• Máy móc, thiết bị thi công
• Dây chuyền sản xuất
• Thiết bị gắn liền với bất động sản
• Các động sản khác không bị pháp luật cấm
• Các tài sản đó được Công ty CTTC mua theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền
sở hữu đối với các tài sản này trong suốt thời hạn cho thuê
• Các tài sản khác gắn liền với đất đai
• Các tài sản khác do pháp luật quy định
Như vậy cho vay bất động sản là các công ty Tài Chính cho vay để các cá nhân thực hiệnnhu cầu mua những thứ trên
1.3.5 Bảo lãnh:
Công ty Tài chính được bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tài chính của mình
đối với người nhận bảo lãnh Việc bảo lãnh của Công ty Tài chính phải được thực hiện theo quyđịnh tại Điều 58, Điều 59, Điều 60 Luật Các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhànước
1.3.6 Các hoạt động khác:
Các nghiệp vụ khác được phép thực hiện theo đúng quy định của pháp luật hiện hành,gồm:
1 Góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác
2 Đầu tư cho các dự án theo hợp đồng
3 Tham gia thị trường tiền tệ
4 Thực hiện các dịch vụ kiều hối, kinh doanh vàng
5 Làm đại lý phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá cho các doanh
Trang 10• Công ty tài chính tiêu dùng: Công ty tài chính loại này cung ứng phần lớn nguồn
vốn của mình cho các gia đình và cá nhân vay vào mục đích mua sắm hàng hoá tiêudùng như các đồ đạc nội thất (giường, tủ) và các đồ gia dụng (tủ lạnh, máy giặt )hoặc sửa chữa nhà cửa Hầu hết các khoản cho vay đều được trả góp định kỳ Mộtcách cho vay khác là cấp thẻ tín dụng cho khách hàng để họ mua sắm ở hệ thống cửahàng bán lẻ Do các khoản vay của loại công ty tài chính này khá rủi ro nên công tythường chỉ cho vay những khoản tiền nhỏ và với lãi suất cao hơn lãi suất thị trường.Khách hàng của các công ty tài chính tiêu dùng vì vậy cũng thường là những ngườikhông thể tìm được khoản tín dụng từ những nguồn khác và do vậy họ thường phảichịu lãi suất cao hơn thông thường Các công ty tài chính loại này có thể do các ngânhàng thành lập nên nó thường bị kiểm soát bởi ngân hàng mẹ, nhận trợ cấp và vayvốn lãi suất thấp từ ngân hàng mẹ hoặc vay từ các ngân hàng khác Ngoài ra nó còn
có các hoạt động tương tự với ngân hàng mẹ Công ty Tài chính được mở tài khoảntiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước nơi Công ty Tài chính đặt trụ sở chính và các ngânhàng hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Việc mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàngngoài lãnh thổ Việt Nam phải được Ngân hàng Nhà nước cho phép Bên cạnh đó,Công ty Tài chính có nhận tiền gửi phải mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước và duytrì tại đó số dư bình quân không thấp hơn mức quy định của Ngân hàng Nhà nước
• Công ty chứng khoán: Theo quy định của Pháp Luật Việt Nam Công ty Tài Chính
được góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác Làmđại lý phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá cho các doanh nghiệp.Cho nên sau khi huy động được vốn công ty tài chính sẽ mua cổ phiếu đầu tư vào cáccông ty khác đẻ kiếm lời do đó nó phải liên kết với các công ty chứng khoán để dễdàng nắm được tình hình chứng khoán để dầu tư cũng như dễ dàng trong việc pháthành trái phiếu, cổ phiếu
Trang 11• Một số tổ chức khác: Ngoài ra trong quá trình hoạt động nó còn liên kết tương tác
với các tổ chức khác như: quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm và các tổ chức tín dụng khác
để có thể linh hoạt và hoạt động được một cách tốt nhất
2 Tổng quan về các công ty bảo hiểm tại Việt Nam:
2.1 Một số công ty bảo hiểm tại Việt Nam:
Bảo hiểm nhân thọ:
2.1.1 Công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt):
Là doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đầu tiên trên thị trường từ năm 1996, Bảo Việt Nhânthọ đi tiên phong trong việc cung cấp, hoạch định các giải pháp tài chính ưu việt cho kháchhàng nhằm mang lại một cuộc sống an lành và hạnh phúc Bảo Việt Nhân thọ có hệ thống mạnglưới 60 Công ty thành viên, hơn 300 điểm phục vụ khách hàng trên toàn quốc với đội ngũ hơn1.500 cán bộ chuyên môn cao và gần 40.000 tư vấn viên chuyên nghiệp
2.1.2 Công ty THHH bảo hiểm Prudential:
Công ty bảo hiểm Prudential, công ty đứng đầu thế giới chuyên về lĩnh vực bảo hiểmnhân thọ, dịch vụ tài chính ở Luân Đôn, đã đến lần đầu tiên ở Việt Nam và thành lập văn phòngđại diện tại Hà Nội Hai năm sau, Prudential chính thức mở văn phòng thứ hai tại thành phố HồChí Minh Thông qua công cụ phân tích Prudential, khách hàng có thể nhận thức rõ ràng tìnhtrạng tài chính của mình Với đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm và kinh nghiệm từ mộtthương hiệu lâu năm, Prudential cam kết sẽ mang lại khách hàng những giải pháp hiệu quả nhấtcho công việc của mình Năm 2004, sở hữu thị phần lớn nhất, Prudential trở thành công ty bảohiểm đứng đầu ở Việt Nam Ngoài ra, công ty còn mở thêm chi nhánh ở 63 tỉnh thành Năm
2011 đánh dấu lần thứ 10 Prudential nhận giải thưởng Rồng Vàng Đến với Prudential, kháchhàng sẽ luôn luôn được lắng nghe và được thấu hiểu
2.1.3 Công ty TNHH bảo hiểm quốc tế Mỹ (AIA):
AIA Việt Nam là đại diện ở Việt Nam của tập đoàn AIA đã có 90 năm kinh nghiệm hoạtđộng trong lĩnh vực bảo hiểm Được thành lập vào tháng 2, 2000, trong vòng 13 năm, AIA ViệtNam luôn luôn cố gắng phục vụ khách hàng với những sản phẩm và dịch vụ đa dạng Với hơn
500 nhân viên và 18,000 đại lí, AIA luôn tự hào là sự chọn lựa đầu tiên của khách hàng, quaviệc AIA đã phục vụ hơn 320,000 bảo hiểm hợp đồng cho khách ở Việt Nam Bên cạnh đó, AIAvinh dự được nhận những giải thưởng danh giá như:” Thương hiệu nổi tiếng", “Rồng vàng”,
“Top 20- Sản phẩm và dịch vụ đáng tin cậy cho người tiêu dùng
AIA là công ty bảo hiểm nhân thọ 100% vốn nước ngoài đầu tiên cho phép cung cấp sảnphẩm nhóm tại thị trường Việt Nam: bảo hiểm nhân thọ nhóm, bảo hiểm tử vong và tàn tật do
Trang 12tai nạn, bảo hiểm hỗ trợ viện phí nhóm.
Bảo hiểm phi nhân thọ:
2.1.4 Tổng công ty cổ phần Bảo Minh (Bảo Minh):
Bảo Minh là một trong 3 doanh nghiệp bảo hiểm hàng đầu tại Việt Nam, hiện đang cungcấp hơn 100 sản phẩm bảo hiểm trên thị trường Với phương châm "Tận Tình Phục Vụ" - BảoMinh đang không ngừng nỗ lực nhằm đem đến cho khách hàng các sản phẩm đa dạng, thiếtthực với phong cách phục vụ tận tâm, nhanh chóng và chi phí tiết kiệm nhất
2.1.5 Công ty TNHH Bảo hiểm Bảo Việt - Tokio Marine (BVTM):
Đi vào hoạt động vào năm 1996, công ty bảo hiểm Bảo Việt Tokio Marine là một liêndoanh giữa tập đoàn bảo hiểm bảo Việt đứng đầu cả nước lĩnh vực bảo hiểm và Tokio Marine,một công ty bảo hiểm danh giá tại Nhật Bảo Việt Tokio marine cung cấp cho khách hàngnhững dịch vụ bảo hiểm đa dạng như bảo hiểm thương mại (bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm vănphòng, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường biển, bảo hiểm tín dụng, bảo hiểm du lịch… BảoViệt Tokio Marine là một thương hiệu ngày càng trở nên phổ biến, có thể được chứng minh quaviệc Bảo Việt Tokio Marine đã có nhiều cơ hội hợp tác không chỉ những khách hàng Nhật nhưtruyền thống mà còn có những công ty quốc tế
2.1.6 Công ty TNHH Bảo hiểm Fubon (Việt Nam):
Với kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vực bảo hiểm, tập đoàn tài chính Fubon đã quyếtđịnh mở rộng hoạt động kinh doanh ở Việt Nam, tạo nên một công ty con Vào ngày23/12/2010, sau khi đã nhận được giấy phép hoạt động từ bộ tài chính Việt Nam, công ty bảohiểm nhân thọ Fubon được thành lập với trụ sở chính đặt ở Hà Nội và chi nhánh ở Hồ ChíMinh Với triết lí kinh doanh:”tin cậy, thân thiệt, chuyên nghiệp và sáng tạo”, Fubon đã gianhập vào thị trường Việt Nam bằng việc tạo dựng mạng lưới dịch vụ bảo hiểm với bảo hiểmnhân thọ, bảo hiểm tài sản và ngân hàng Năm 2009, Fubon đã hợp nhất hai công ty con FunbonLife và ING Life Năm 2010, Fubon đã thu hút nhiều sự quan tâm từ giới báo chí tài chính ởĐài Loan: Công ty dịch vụ tốt nhất bởi tạp chí Commonwealth và tạp chí Next Sử dụng đườnglối marketing linh hoạt và đội ngũ nhân viên tiêu chuẩn, Fubon đã đạt được những bước ngoặtquan trọng trong việc nâng cao nhận thức khách hàng
2.2 Cách thức huy động vốn và sử dụng vốn của công ty bảo hiểm
2.3 Tương tác với các tổ chức tài chính khác
2.4 Sự gia nhập vào thị trường tài chính
CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH, THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH
VÀ CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM