BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI LÊ THỊ THÁI LAN ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG TĂNG ACID URIC HUYẾT TƯƠNG Ở BỆNH NHÂN MẮC BỆNH THẬN MẠN TÍNH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÀ ĐÔ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LÊ THỊ THÁI LAN
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG TĂNG ACID URIC HUYẾT TƯƠNG Ở BỆNH NHÂN MẮC BỆNH THẬN MẠN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
HÀ ĐÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
HÀ NỘI 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LÊ THỊ THÁI LAN
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG TĂNG ACID URIC HUYẾT TƯƠNG Ở BỆNH NHÂN MẮC BỆNH THẬN MẠN TÍNH TẠI BỆNH VIỆN ĐA
KHOA HÀ ĐÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC Chuyên ngành: HÓA SINH DƯỢC
Mã số : 8720208 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Văn Rư
HÀ NỘI 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này tôi đã
nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của thầy cô, gia đình và bạn bè
Lời đầu tiên, tôi xin bảy tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến
PGS.TS Nguyễn Văn Rư – Trưởng bộ môn Hóa sinh Trường đại học Dược
Hà Nội – tận tâm đã giúp đỡ, chỉ dẫn và đóng góp các ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong bộ môn Hóa Sinh cùng toàn thể các thầy cô trường đại học Dược Hà Nội – là những người thầy đã chia sẻ kiến thức và giúp tôi có được những hành trang quý báu trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám đốc, Khoa Dược, khoa Thận – tiết niệu, Khoa hóa sinh, phòng kế hoạch tổng bệnh viện đa khoa Hà Đông
đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành đề tài này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả người thân trong gia đình, bạn bè và các anh chị em đã động viên, chia sẻ khó khăn với tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BMI Body Mass Index (Chỉ số khối cơ thể)
Creatinin/HT Creatinin trong huyết tương
JNC Joint National Committee
OR Odd Ratio (Tỷ số chênh)
Ure/HT Ure trong huyết tương
Uric/HT Uric trong huyết tương
Trang 5MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan lý thuyết 3
1.1.1 Bệnh thận mạn 3
1.1.1.1 Khái niệm bệnh thận mạn 3
1.1.2 Nguyên nhân và nguy cơ của bệnh thận mạn 3
1.1.2.1 Nguyên nhân 3
1.1.2.2 Phân loại mức độ bệnh thận mạn 5
1.1.3 Tiến triển của bệnh thận mạn 6
1.1.3.1 Tiến triển của mất chức năng thận 6
1.1.3.2 Các yếu tố tiến triển bệnh thận mạn 7
1.1.4 Tổng quan acid uric 8
1.1.4.1 Định nghĩa về acid uric 8
1.1.4.2 Sự tạo thành acid uric: 9
1.1.4.3 Sự thải trừ acid uric 10
1.1.4.4 Tăng acid uric máu 11
1.1.5 Mỗi liên hệ giữa tăng acid uric và bệnh thận mạn 11
1.1.5.1 Tăng uric uric máu do bệnh thận mạn 11
1.1.5.2 Bệnh thận mạn do bệnh gút 12
1.2 Tình hình các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước 13
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới 13
1.2.2 Các nghiên cứu trong nước 15
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng nghiên cứu 17
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 17
2.1.1.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh thận mạn 17
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 18
Trang 62.1.3 Các tiêu chuẩn khác 19
2.2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 20
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 21
2.2.3 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu 21
2.2.3.1 Phỏng vấn 21
2.2.3.2 Khám lâm sàng 22
2.2.3.3 Nhân trắc dinh dưỡng 23
2.2.3.4 Xét nghiệm sinh hóa 23
2.2.4 Các chỉ số, biến số và chỉ tiêu đánh giá 25
2.2.5 Lập bệnh án theo mẫu nghiên cứu ( Phụ lục 1) 25
2.2.6 Sơ đồ nghiên cứu 26
2.3 Xử lý và phân tích số liệu 27
2.4 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 27
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 29
3.1.1 Đặc điểm giới tính 29
3.1.2 Đặc điểm nhân trắc của đối tượng nghiên cứu 31
3.1.3 Đặc điểm về hóa sinh, huyết học và MLCT ở đối tượng nghiên cứu 31
3.2 Nồng độ acid uric/HT trung bình ở các nhóm nghiên cứu 33
3.2.1 Tỉ lệ bệnh nhân tăng acid uric/HT trong nhóm chứng và nhóm bệnh 33
3.2.2 Nồng độ acid uric/HT trung bình theo giới và theo mức độ của BTM 34
3.2.3 Giá trị nồng độ acid uric trong bệnh thận mạn 38
3.2.3.1 Điểm ngưỡng của nồng độ acid uric/HT để phân biệt các giai đoạn của BTM 38
3.2.3.2 Điểm ngưỡng của nồng độ acid uric huyết tương trong tiên lượng bệnh thận mạn 40
3.2.4 Mối tương quan giữa nồng độ acid uric huyết tương với một số đặc điểm lâm sàng và chỉ số sinh hóa 41
Trang 73.2.4.1 Mối liên quan giữa nồng độ acid uric huyết tương với thiếu máu41 3.2.4.2 Mối liên quan giữa nồng độ acid uric huyết tương với tăng
huyết áp 43
3.2.4.3 Mối liên quan giữa nồng độ acid uric huyết tương với tăng kali máu 45
3.2.4.4 Mối liên quan giữa nồng độ acid uric huyết tương với một số yếu tố chỉ số hóa sinh 48
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 49
4.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 49
4.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 49
4.1.2 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu 50
4.2 Nồng độ acid uric huyết tương ở bệnh nhân mắc bệnh thận mạn 51
4.3 Mối tương quan giữa nồng độ acid uric máu với một số đặc điểm lâm sàng và chỉ số sinh hóa 53
4.3.1 Mối liên quan giữa nồng độ acid uric với tình trạng THA 53
4.3.2 Giá trị nồng độ acid uric/HT trong bệnh thận mạn 52
4.3.3 Mối liên quan giữa nồng độ acid uric huyết tương với biểu hiện gút trên lâm sàng 54
4.3.4 Mối liên quan giữa nồng độ acid uric máu với một số yếu tố cận lâm sàng 55
KẾT LUẬN 57
KIẾN NGHỊ 58
PHỤ LỤC 1 66
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 1.1 Phân loại mức độ bệnh thận mạn tính theo Nguyễn Văn Xang 5Bảng 1.2: Phân loại bệnh thận mạn tính (Theo NKF-K/DOQI-2012) 6
Bảng 2.1: Phân loại THA theo JNC VII 19Bảng 3.1: Đặc điểm về tuổi, giới của đối tượng nghiên cứu 30Bảng 3.2: Đặc điểm nhân trắc của các đối tượng nghiên cứu 31Bảng 3.3: Chỉ số huyết học và chức năng thận của đối tượng nghiên cứu theo giai đoạn của bệnh thận mạn 32Bảng 3.4: Phân bố acid uric theo nhóm chứng và nhóm bệnh nhân bệnh thận mạn 34Bảng 3.5: Nồng độ AU huyết tương trung bình ở nhóm chứng và nhóm bệnh nhân mắc bệnh thận mạn 35Bảng 3.8: Mối liên quan giữa thiếu máu và acid uric 41Bảng 3.9: Mối liên quan giữa thiếu máu và nồng độ acid uric/HT trung bình 42Bảng 3.10: Mối liên hệ giữa THA và acid uric ở bệnh nhân bệnh thận mạn chưa điều trị thay thế 43Bảng 3.11: Mối liên quan giữa THA và nồng độ acid uric 44Bảng 3.12: Mối liên hệ giữa tăng kali máu và acid uric ở bệnh nhân bệnh thận mạn chưa điều trị thay thế 45Bảng 3.13: Mối liên quan giữa tăng kali máu và nồng độ acid uric 45Bảng 3.14: Mối liên hệ giữa acid uric và biểu hiện gút trên lâm sàng 46
Trang 9Bảng 3.15: Mối liên quan giữa gút và nồng độ acid uric 47Bảng 3.16: Hệ số tương quan giữa nồng độ AU với một số chỉ số chức năng thận ở nhóm bệnh nhân mắc bệnh thận mạn 48
Trang 11MỤC LỤC HÌNH ẢNH
Trang
Hình 1.1: Sơ đồ chuyển hóa nucleotides 9
Hình 1.2: Sơ đồ thoái hóa base purin 10
Hình 2.1: Sơ đồ thiết kế các bước thực hiện trong nghiên cứu 26
Hình 3.1: Số lượng các nhóm đối tượng nghiên cứu theo giới 29
Hình 3.2: Đường cong ROC giữa nồng độ Acid Uric phân biệt giai đoạn 4 và các giai đoạn khác trong nhóm bệnh thận mạn 39 Hình 3.3: Đường cong ROC giữa nồng độ Acid Uric trong tiên lượng bệnh thận mạn 40
Trang 121
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tổn thương thận mạn tính là quá trình tiến triển liên tục mà hậu quả cuối cùng là suy thận mạn giai đoạn cuối, cho dù tổn thương ban đầu là ở cầu thận hay kẽ thận Đây là vấn đề sức khỏe có tính toàn cầu, với tỷ lệ mắc bệnh tăng nhanh và chi phí điều trị khổng lồ [11] Rất nhiều nghiên cứu trong nước và trên thế giới được tiến hành nhằm làm rõ cơ chế bệnh sinh cũng như các yếu tố tham gia thúc đẩy tổn thương thận tiến triển như chế độ ăn giàu đạm, hoạt hóa các hệ thống renin– angiotensin trong thận, tăng huyết
áp, thiếu máu, acid uric,…Trong đó acid uric là một trong những mắt xích quan trọng trong vòng xoắn bệnh lý thận, vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của quá trình suy thận mạn[11],[14]
Quan điểm về tăng acid uric máu là do sự lưu giữ acid uric khi sự bài tiết thận suy giảm trong nhiều thập kỷ cho đến khi công trình nghiên cứu của Kang et al vào năm 2002 Nghiên cứu kết luận rằng tăng acid uric máu
có thể làm trung gian tiến triển của bệnh thận thông qua tăng huyết áp và bệnh mạch máu Tăng acid uric máu có liên quan đến sự phát triển của tăng huyết áp hệ thống và cầu thận với tăng sức đề kháng mạch máu và giảm lưu lượng máu thận.[21],[35]
Tuy nhiên, các yếu tố nguy cơ khác như tăng huyết áp, hội chứng chuyển hóa và bệnh gút cũng đã được chứng minh là có liên quan đến tăng acid uric máu Bằng chứng gia tăng cho thấy rằng tăng acid uric máu có thể
là một yếu tố gây bệnh cho sự phát triển của bệnh thận mạn tính hơn là chỉ
là một dấu hiệu của sự bài tiết acid uric thận giảm Một số cơ chế tiềm năng
đã được đề xuất để giải thích mối quan hệ nhân quả giữa tăng acid uric máu
và bệnh thận mạn tính , bao gồm tăng sinh tế bào mạch máu, rối loạn chức năng nội mô, tăng tổng hợp interleukin-6, sản xuất oxit nitric nội mô bị suy yếu và kháng insulin Trong những năm qua, các nghiên cứu nguyên nhân
đã khám phá mối liên hệ giữa tăng acid uric máu và bệnh thận, và hầu hết
Trang 132
các nghiên cứu đều cho thấy mối liên hệ tích cực giữa nồng độ acid uric và suy thận mạn tính hoặc giai đoạn đầu của bệnh thận mạn Do vậy, việc kiểm soát sớm acid uric ở bệnh nhân hoặc nhóm có nguy cơ cao mắc bệnh thận mạn là cần thiết[40]
Ở Việt Nam đã có những nghiên cứu về vấn đề tăng acid uric đối với bệnh thận mạn tính Tuy nhiên đối tượng của nghiên cứu chủ yếu là giai đoạn V của bệnh thận mạn tính, chưa có nghiên cứu nào đánh giá tình trạng acid uric trên giai đoạn sớm của bệnh thận mạn tính Để góp phần cho việc chẩn đoán, điều trị và dự phòng tăng acid uric máu do bệnh thận, chúng tôi
tiến hành thực hiện đề tài“Đánh giá tình trạng tăng acid uric huyết tương ở
bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông”
Nghiên cứu này được tiến hành với mục tiêu:
1: Xác định được nồng độ và mức độ tăng acid uric/HT ở các giai đoạn khác nhau của bệnh mắc bệnh thận mạn
2: Khảo sát được mối tương quan giữa nồng độ acid uric/HT với một
số đặc điểm lâm sàng và chỉ số hóa sinh ở nhóm bệnh nhân trên
Trang 143
1 Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan lý thuyết
1.1.1 Bệnh thận mạn
1.1.1.1 Khái niệm bệnh thận mạn
Hội Thận Quốc Gia Hoa Kỳ (National Kidney Foundation- NKF) đưa ra định nghĩa về bệnh thận mạn từ năm 2002 Định nghĩa này được cập nhật nhiều lần, gần đây nhất là hướng dẫn của Hội Đồng Cải Thiện Kết Quả Toàn Cầu Về Bệnh Thận (Kidney Disease Improving Global Outcome- KDIGO) năm 2012 như sau:
Bệnh thận mạn là tình trạng tổn thương thận về mặt cấu trúc hoặc chức năng, biểu hiện bởi sự hiện diện của albumin niệu, hoặc các bất thường về hình ảnh học hoặc suy giảm chức năng thận được xác định thông qua mức lọc cầu thận (MLCT)<60ml/phút/1,73 m2 tồn tại trên 3 tháng [46]
1.1.2 Nguyên nhân và nguy cơ của bệnh thận mạn
1.1.2.1 Nguyên nhân
Bệnh thận mạn có nhiều nguyên nhân Các nguyên nhân chủ yếu lại khác nhau tùy theo từng khu vực Ở các nước Âu Mỹ, nguyên nhân hàng đầu của bệnh thận mạn là ĐTĐ và tăng huyết áp (THA) [38],[ 51] Ở các nước Châu Á cũng như vùng hạ Sahara Châu Phi, các nguyên nhân chủ yếu là viêm cầu thận và nhóm nguyên nhân không được biết Ở các nước như Trung Quốc, Indonesia và Malaysia, nguyên nhân hàng đầu vẫn là viêm cầu thận trong lúc ở Nhật, Úc và Ấn Độ thì đây không còn là nguyên nhân nổi bật nữa [51] Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của tác giả Võ Tam và một số tác giả khác thì nguyên nhân hàng đầu là viêm thận-bể thận mạn và viêm cầu thận mạn [16],[ 50]
Trang 154
Có thể liệt kê các nguyên nhân các nguyên nhân gây bệnh như sau:
- Bệnh cầu thận nguyên phát: viêm cầu thận khu trú từng ổ, từng đoạn; viêm cầu thận màng tăng sinh lan tỏa; bệnh cầu thận IgA; viêm cầu thận màng…
- Bệnh cầu thận thứ phát: bệnh thận ĐTĐ, bệnh thận dạng bột, viêm cầu thận sau nhiễm khuẩn, bệnh cầu thận do HIV, bệnh mạch thận collagen, bệnh thận tế bào hình liềm, viêm cầu thận màng tăng sinh lan tỏa do HIV, bệnh hệ thống tự miễn…
- Viêm ống thận kẽ: do thuốc, do dị ứng, do ngộ độc kim loại nặng…
- Bệnh thận do di truyền: bệnh thận đa nang, bệnh nang tủy, hội chứng Alport…
- Bệnh thận do tắc nghẽn: bệnh tiền liệt tuyến, sỏi thận, xơ hóa sau phúc mạc hoặc u sau phúc mạc, bẩm sinh…
- Bệnh tim mạch: THA, xơ hóa mạch thận, hẹp mạch thận-giảm khối lượng thận
- Ở Hoa Kỳ, gần 45% các bệnh thận mạn mới mắc có sự tham gia của ĐTĐ và 20% do THA [51]
Nguy cơ của bệnh thận mạn
Có nhiều yếu tố nguy cơ cho bệnh thận mạn [31]:
- Tiền sử tăng huyết áp, tăng lipid máu, béo phì
- Chủng tộc: người gốc Phi và Nam Á
- Tiền sử bệnh thận
- Tiền sử bệnh tự miễn
Trang 165
1.1.2.2 Phân loại mức độ bệnh thận mạn
Phân loại mức độ bệnh thận mạn có ý nghĩa quan trọng trong thực hành lâm sàng, đặc biệt giúp xác định thời điểm cần điều trị thay thế thận suy Hiện nay, ở Việt nam vẫn áp dụng phương pháp phân loại của Nguyễn Văn Xang ( bảng 1.1).[20]
Bảng 1.1 Phân loại mức độ bệnh thận mạn tính theo Nguyễn Văn Xang
Mức độ
suy thận
MLCT (ml/phút)
Creatinin máu
Điều trị mg/dL μmol/L
Độ IIIa 20 - 11 3,5 - 5,9 300 - 499 Ăn giảm đạm
Độ IIIb 10 - 05 6,0 - 10 500 - 900 Bắt đầu lọc máu
Độ IV < 5 > 10 > 900 Lọc máu, ghép thận là
bắt buộc
Trên thế giới, bệnh thận mạn tính được phân chia theo 5 giai đoạn dựa trên sự thay đổi của MLCT
Trang 175 Suy thận < 15 Bắt buộc điều trị thay thế (nếu có
cơ hội tăng ure máu)
1.1.3 Tiến triển của bệnh thận mạn
1.1.3.1 Tiến triển của mất chức năng thận
Các bệnh thận mạn tính dù là bệnh lý ban đầu ở cầu thận, kẽ thận, mạch máu thận hay bệnh thận bẩm sinh, di truyền thường tiến triển làm mất dần chức năng thận đến khi suy thận giai đoạn cuối Thời gian tiến triển
từ khi bị bệnh thận dẫn đến suy thận giai đoạn cuối có thể nhanh hay chậm, vài tuần hoặc vài tháng đối với viêm cầu thận hình liềm ngoài mao mạch,
Trang 187
cho đến 5 - 10 năm đối với các bệnh cầu thận nguyên phát, cũng có thể 15 -
20 năm sau [14] Trong quá trình tiến triển của bệnh, có những đợt bệnh tiến triển nặng Mỗi đợt bệnh tiến triển nặng, số lượng nephron chức năng bị tổn thương và bị loại khỏi vòng chức năng tăng đột biến, làm chức năng thận giảm nhanh hơn Càng nhiều đợt bệnh tiến triển nặng thì càng nhanh dẫn đến suy thận giai đoạn cuối Bình thường nếu không có các đợt tiến triển nặng của bệnh, thì chức năng thận giảm dần tương đối đều theo thời gian
Có nhiều yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tiến triển của bệnh thận mạn nói chung và suy thận mạn nói riêng, có những yếu tố nguy cơ thay đổi được và
có những yếu tố nguy cơ không thay đổi được Việc tác động của người thầy thuốc và bệnh nhân chủ yếu là vào nhóm nguy cơ có thể thay đổ i được với mục đích duy trì ổn định mức lọc cầu thận đang có và làm chậm sự tiến triển của quá trình suy thận đến bệnh thận mạn giai đoạn cuối [17]
1.1.3.2 Các yếu tố tiến triển bệnh thận mạn
- Giới tính: theo nhiều nghiên cứu nam giới tiến triển bệnh thận nhanh hơn nữ giới [16]
- Yếu tố chủng tộc: người da đen có nguy cơ suy thận cao hơn người
da trắng [38]
- Yếu tố di truyền: khi mới sinh số lượng nephron của mỗi người trung bình khoảng 2 triệu nephron và không tăng lên trong suốt cuộc đời Những trẻ sinh ra có trọng lượng thấp dưới 2,5 kg, sinh thiếu tháng, mẹ dùng một số thuốc có thể gây độc cho thận, mẹ mắc một số bệnh như đái tháo đường, tiền sản giật trong thời gian mang thai, mẹ dùng nhiều thuốc lá sẽ có nguy cơ giảm số lượng nephron Chính vì tình trạng có ít nephron cho nên thận sẽ dễ nhạy cảm với các tác nhân gây bệnh và do đó nguy cơ thận bị tổn thương cao hơn trẻ bình thường khác [27]
- Các nguyên nhân gây bệnh thận mạn vẫn còn tồn tại: bệnh đái tháo
Trang 198
đường, bệnh lupus ban đỏ hệ thống, sỏi đường tiết niệu, viêm thận bể thận mạn, u tuyến tiền liệt,… [25],[27]
- Tăng hoạt động bù trừ của các nephron còn chức năng ở thận có giảm
số lượng nephron chức năng Cơ chế bù trừ này đã được chứng minh là một nguyên nhân gây xơ hoá cầu thận và làm mất chức năng của các nephron còn lại [27]
- Chế độ ăn nhiều protein đã được chứng minh cả ở thực nghiệm trên động vật và trên người làm bệnh thận mạn tiến triển nặng lên Chế độ ăn hạn chế protein, đủ acid amin cần thiết, đủ năng lượng và vitamin, đã được chứng minh làm chậm tiến triển bệnh thận mạn
- Giảm thể tích tuần hoàn:
+ Giảm thể tích ngoại bào do bị mất nước như ỉa chảy, nôn, dùng thuốc lợi tiểu quá mức dẫn tới giảm tưới máu thận là nguyên nhân thường gặp gây ra đợt bột phát suy sụp chức năng thận
+ Suy tim ứ huyết gây giảm cung lượng tim, làm chức năng thận xấu đi, điều trị tốt suy tim làm cải thiện chức năng thận [19]
- Tăng huyết áp: tăng huyết áp vừa là hậu quả vừa là nguyên nhân gây bệnh thận mạn 80% số bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối có tăng huyết áp Nếu tăng huyết áp không được kiểm soát sẽ làm bệnh thận mạn tiến triển nhanh hơn đến bệnh thận mạn giai đoạn cuối [21]
1.1.4 Tổng quan acid uric
1.1.4.1 Định nghĩa về acid uric
Acid uric là một acid hữu cơ yếu, được xem là sản phảm cuối cùng trong quá trình chuyển hóa chất nucleotid purin có trong thực phẩm tiêu thụ hàng ngày Nguồn nucleotid purin trong thực phẩm khi vào cơ thể qua ăn uống sẽ bắt đầu phản ứng với các chất xúc là các enzym đường ruột giải phóng ra các chất Phản ứng này diễn ra liên tục và tạo nên acid uric
Trang 209
1.1.4.2 Sự tạo thành acid uric:
Các enzym nucletidase thủy phân các mononuclotid thành acid phosphoric và nucleosid Sau đó các nucleosid tiếp tục bị thủy phân thành các base và phentore dưới tác dụng của nucleosidase [15],[24]
Sinh tổng hợp Acid nucleic
Nucleotids Nucleosids
Bases purin
Urat
Hình 1.1: Sơ đồ chuyển hóa nucleotids
Các base purin tiếp tục thoái hóa đến sản phẩm cuối cùng là acid uric [17] [24] [30]
Thức ăn
Tái tổng hợp
Trang 21Hình 1.2: Sơ đồ thoái hóa base purin
1.1.4.3 Sự thải trừ acid uric
Để cân bằng, hàng ngày acid uric được thải từ ra ngoài chủ yếu qua đường thận (450-500mg/24 giờ) và một phần qua phân và các đường khác (200mg/24 giờ) [22],[42] Sự bài tiết qua đường thận, bình thường chiếm khoảng 2/3 - 3/4 lượng urat được tạo thành mỗi ngày Sự bài tiết qua đường ruột nhờ vi khuẩn có men uricolysis Sự bài tiết acid uric cũng bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi ngày đêm: Trong thời gian ngủ sự bài tiết acid uric qua đường thận bị giảm và sự bài tiết qua đường ruột tăng lên Như một chất siêu lọc, acid uric được phân bố rộng khắp trong dịch ngoại bào, kể cả nước bọt [42]
Xấp xỉ 8-12% lượng urat lọc qua cầu thận được bài tiết theo nước
Trang 2211
tiểu dưới dạng acid uric Sau khi lọc qua cầu thận, 98% lượng urat được tái hấp thu, khoảng một nửa (50%) lượng urat được tái hấp thu sẽ được bài tiết qua ống lượn gần, và khoảng 40% của lượng urat bài tiết sẽ được tái hấp thu trở lại [30]
1.1.4.4 Tăng acid uric máu
Tăng acid uric máu được định nghĩa khi nồng độ acid uric trong máu tăng lớn hơn 7mg/dL đối với nam giới (420 µmol/L) và ≥ 6 mg/dL đối với phụ nữ (360 µmol/L) [30][42]
1.1.5 Mỗi liên hệ giữa tăng acid uric và bệnh thận mạn
1.1.5.1 Tăng uric uric máu do bệnh thận mạn
Ở bệnh nhân BTM mặc dù có acid uric máu tăng cao nhưng chỉ thấy dưới 1% viêm khớp do gút [4] Đa số viêm khớp do gút biểu hiện sau nhiều năm cơ thể chống chịu với nồng độ cao acid uric nhưng hầu hết bệnh nhân bệnh thận mạn tăng acid uric không đủ lâu để tích lũy lượng urat cần thiết Các bệnh thận kết hợp với sự phát triển gút thứ phát có xu hướng là bệnh lý ống kẽ thận hơn là các bệnh lý cầu thận Có thể kể đến bệnh thận đa nang, thận thoái hóa dạng bột, xơ nang tủy thận, bệnh thận
do thuốc, bệnh thận do tắc nghẽn, bệnh thận có tính chất gia đình Người
ta thấy gút xuất hiện 24–36% ở bệnh nhân bị bệnh thận đa nang, một bệnh
có khả năng gây gút thứ phát [17],[53] Các nghiên cứu về chuyển hóa urat còn cho thấy ở bệnh nhân thận đa nang urat được sản xuất bình thường nhưng chỉ có 1/3 lượng sản xuất được đào thải qua thận, con đường thải ngoài thận vì thế được tăng cường [17]
Ở người suy thận có lọc máu có thể có các đợt viêm khớp hoặc quanh khớp trầm trọng và lặp đi lặp lại Nguyên nhân chủ yếu là do sự lắng đọng tinh thể urat [14]
Trang 2312
1.1.5.2 Bệnh thận mạn do bệnh gút
Bối cảnh tăng AU máu cấp đưa đến suy thận cấp thì cơ chế đã được xác định rõ ràng nhưng đối với tăng acid uric mạn gây viêm thận kẽ mạn và suy thận thì cơ chế chưa được rõ lắm
Ở những bệnh nhân bị bệnh gút và tăng acid uric máu mạn, các nghiên cứu trước đây đã cho thấy có sự hình thành các hạt tophy nhỏ trong tổ chức
kẽ của tủy thận, những nốt này chứa các tinh thể urat (mono Sodium Monohydrate) được bao bọc bởi các tế bào khổng lồ Sự lắng đọng urat đã kích thích một phản ứng của cơ thể đối với vật lạ đưa đến viêm mạn tính và
có bệnh thận gút mạn hay không
Một giả thuyết khác cho rằng tăng acid uric máu có thể làm tổn thương cơ chế tự điều hòa của thận, gây ra tăng huyết áp, protein niệu vi thể, protein niệu đại thể và bệnh thận tiến triển
Một nghiên cứu dịch tễ học ở Nhật cho thấy có liên quan giữa tăng acid uric máu và bệnh thận tiến triển Các tác giả này sử dụng Allopurinol
để làm giảm acid uric và làm chậm được tiến triển của bệnh thận mạn, dự phòng được suy thận giai đoạn cuối Như vậy, cũng đã có những nghiên cứu khẳng định vai trò của Allopurinol trong việc dự phòng bệnh lý thận do tăng acid uric máu [17],[47]
Tuy nhiên, việc sử dụng Allopurinol ở bệnh nhân bị bệnh thận mạn tính và tăng acid uric máu mạn không triệu chứng vẫn chưa được xem là
Trang 2413
một điều trị chuẩn, lý do nguy cơ của việc điều trị khá cao, hơn nữa, hiện tại cũng chưa có nhiều các nghiên cứu khẳng định hiệu quả của việc giảm acid uric máu lên việc giảm tiến triển của bệnh thận mạn
Có hai yếu tố khác có thể cho thấy mối liên hệ giữa nồng độ acid uric máu và suy thận mạn[8],[36]:
- Có những bằng chứng lâm sàng về phối hợp giữa phơi nhiễm với chì trong môi trường, tăng acid uric máu, gút, tăng huyết áp và suy thận mạn tính Tình trạng phơi nhiễm chì này có thể ảnh hưởng đến việc thải urat qua đường niệu dẫn đến tăng acid uric máu mạn và bệnh thận mạn Cơ chế tăng acid uric máu gây tăng nhiễm độc chì của thận vẫn chưa được rõ
- Có một nhóm bệnh nhân bị tăng acid uric máu mạn tính đưa đến suy thận, đây là những bệnh nhân có thiếu hụt bẩm sinh men Hypoxanthine Guanine Phosphoribosyltransferase (HGPRT) trong hội chứng Lesch – Nyhan Hội chứng này là một rối loạn trên nhiễm sắc thể giới tính X, gây ra chậm phát triển tinh thần, vận động, gút và suy thận sớm Ở những bệnh nhân này tăng sãn xuất acid uric mạn tính gây ra tăng acid uric máu và tăng acid uric niệu Tỷ lệ mắc mới bệnh thận mạn ở các bệnh nhân này khá cao
do lắng đọng acid uric trong lòng ống thận và lắng đọng urat ở khoảng kẽ thận [47]
1.2 Tình hình các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Bằng chứng về vai trò của acid uric máu trong tiến triển bệnh thận mạn tính đã được khẳng định trong nhiều nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng:
Một nghiên cứu thuần tập của Toyama T và các cộng sự (2015) trên một quần thể các cá nhân nam Nhật Bản Tổng cộng có 41632 đối tượng được đưa vào theo dõi có độ tuổi trung bình là 45,4 Trong thời gian theo
Trang 2514
dõi trung bình bốn năm, thấy có 3186 (7,6%) đối tượng bị rối loạn chức năng thận Các đối tượng có acid uric máu ≥ 6,0 mg / dL có nguy cơ gia tăng đáng kể suy thận so với các đối tượng có acid uric là 4-4,9 mg / dL.[45]
Nghiên cứu của Tsai CW và các cộng sự (2017) tổng số 739 bệnh nhân được phân tích Trong mô hình điều chỉnh đầy đủ, bệnh nhân có mức acid uric cơ bản ≥6 mg / dL có sự sụt giảm lớn hơn trong mức lọc cầu thận (β = -9,6, KTC 95% -16,1, -3,1), so với những người có mức acid uric dưới
6 mg / dL Khi phân tầng bệnh nhân thành bốn loại acid uric, tất cả ba loại tăng acid uric máu (6-8, 8-10, ≥10 mg / dL) liên quan đến sự sụt giảm lớn hơn mức lọc cầu thận trong giai đoạn tiếp theo so với nhóm acid uric thấp nhất Nguy cơ tiến triển đến suy thận tăng 7% (tỷ số nguy cơ 1,07, KTC 95% 1,00, 1,14) cho mỗi mức tăng 1mg / dL [44]
Zoppini G và các cộng sự (2012) nghiên cứu trên 1449 bệnh nhân đái tháo đường type 2 với chức năng thận bình thường và không có protein niệu quá mức trong 5 năm cho sự xuất hiện của bệnh thận mạn tính (được xác định là protein niệu quá mức hoặc tốc độ lọc cầu thận <60 mL / phút / 1,73
m2 Trong thời gian theo dõi 5 năm, 194 bệnh nhân (13,4%) bị bệnh thận mạn tính Tỷ lệ tích lũy bệnh thận mạn tính cao hơn đáng kể ở những bệnh nhân bị tăng acid uric máu so với những người không có tăng acid uric máu (29,5 so với 11,4%, P <0,001) Trong phân tích hồi quy logistic đơn biến, sự hiện diện của tăng acid uric máu tăng gấp đôi nguy cơ phát triển bệnh thận mạn tính (tỷ lệ chênh [OR] 2,55 [KTC 95% 1,71-3,85], P <0,001) [55]
Năm 2014 Kim WJ và cộng sự nghiên cứu mối liên quan giữa tình trạng tăng acid uric máu và bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 có biến chứng suy thận Đây là một nghiên cứu theo dõi dọc quan sát của bệnh nhân có mặt tại Khoa Nội tiết và Chuyển hóa, Bệnh viện Đại học Quốc gia Pusan Tổng cộng có 512 bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 và chức năng thận được bảo tồn Trong thời gian theo dõi, 62 (12,1%) bệnh nhân đã tiến triển thành suy
Trang 2615
thận mạn độ 3 hoặc cao hơn Nhóm có mức acid uric cao nhất cho thấy tỷ
lệ suy thận mạn giai đoạn 3 cao hơn [40]
Gu L đã nghiên cứu mối tương quan giữa nồng độ acid uric và creatinin Trong nghiên cứu này, 1339 bệnh nhân đái tháo đường type 2 với
tỷ lệ lọc cầu thận ước tính≥ 60 mL / phút / 1,73 m2 và không bao gồm tăng acid uric máu Tổng cộng, 74 (5,53%) bệnh nhân phát triển thành bệnh thận mãn tính 3 hoặc cao hơn trong thời gian theo dõi trung bình 4 năm, với tuổi già, thời gian bệnh tiểu đường dài hơn và tốc độ lọc cầu thận thấp hơn lúc ban đầu Tỷ lệ suy giảm của tốc độ lọc cầu thận ước tính có tương quan thuận với acid uric / creatinin máu (r = 0,227, p <0,001) [37]
1.2.2 Các nghiên cứu trong nước
Một nghiên cứu của Trần Hữu Dàng và các công sự tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định.Qua nghiên cứu 42 bệnh nhân BTM Tỉ lệ nam BTM 52,38% cao hơn nữ 47,62 % (p>0.05).BTM tăng dần theo tuổi, tăng cao nhất sau 60 tuổi (42,86%), tuổi nhỏ nhất là 17,tuổi lớn nhất 81.Tăng acid uric máu chiếm tỉ lệ 95,24% BTM độ I, II 0%, độ IIIA 11,9%, độ IIIB 19,05%, độ IV 69,05% Tương quan thuận giữa nồng độ acid uric máu với nồng độ creatinine máu (r = 0,356, p< 0.05) và Ure máu (r = 0,404, p<0.01) Tuy nhiên,nghiên cứu chỉ thực hiện trên 41 bệnh nhân và cũng tập trung chủ yếu là giai đoạn cuối của bệnh thận mạn [2]
Một nghiên cứu cắt ngang của tác giả Đỗ Gia Tuyển và các cộng sự
về nồng độ acid uric trên bệnh nhân suy thận mạn tại bệnh viện Bạch Mai Nghiên cứu thực hiện trên 160 bệnh nhân, điều trị nội trú tại khoa Thận – Tiết niệu Kết quả cho thấy: 85% bệnh nhân nghiên cứu có tăng acid uric Nồng độ acid uric tăng cao nhất ở giai đoạn V của suy thận mạn tính.[22] Tuy nhiên, nghiên cứu chủ yếu thực hiện ở giai đoạn V của bệnh suy thận
Trang 2817
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các trường hợp được chọn nghiên cứu là các bệnh nhân đã được chuẩn đoán là bệnh thận mạn tại khoa nội thận- tiết niệu, bệnh viện đa khoa
Hà Đông trong khoảng thời gian từ tháng 8/2018 đến 3/2019
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
Đối tượng nghiên cứu được chia làm 2 nhóm:
Nhóm chứng: 60 người (30 nam, 30 nữ)
- Tuổi: Có độ tuổi tương đương với nhóm bệnh
- Không phân biệt nghề nghiệp, trình độ học vấn, nơi cư trú
- Là người bình thường khỏe mạnh đi khám sức khỏe định kì, không mắc các bệnh về thận
2.1.1.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh thận mạn
Trang 2918
* Chẩn đoán bệnh thận mạn: Bệnh nhân được chẩn đoán xác định bị
bệnh thận mạn dựa vào tiêu chuẩn của Hội thận học quốc gia Hoa Kỳ - 2012 (NKF/KDIGO-2012) gồm có:
- Có dấu hiệu tổn thương thận (kéo dài trên 3 tháng):
+ Albumin niệu (albumin niệu ≥ 30 mg/24h)
+ Có hồng cầu niệu
+ Các bất thường về điện giải do rối loạn chức năng ống thận
+ Các bất thường được phát hiện qua khai thác tiền sử
+ Các bất thường được phát hiện qua thăm khám siêu âm thận – tiết niệu (hai thận kích thước có thể nhỏ hơn bình thường, nhu mô tăng âm, kém phân biệt tủy vỏ)
- Và / hoặc mức lọc cầu thận giảm dưới 60 ml/ph/1,73 m2 từ 3 tháng trở lên
* Chẩn đoán giai đoạn suy thận mạn theo NKF/KDIGO-2012 dựa vào kết quả mức lọc cầu thận
* Mức lọc cầu thận ước tính theo Crockcoff – Gault:
Trong đó:
- P: cân nặng (kg)
- Pcr: nồng độ Creatinin trong máu (μmol/L)
- Đối với nữ, nhân thêm 0,85
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân bị suy thận mạn thứ phát, đợt cấp suy thận mạn
Bệnh nhân bệnh thận mạn kèm theo các bệnh như viêm khớp, bệnh
hệ thống, chấn thương, phẫu thuật, ung thư Bệnh nhân đang dùng các thuốc ảnh hưởng đến bài tiết creatinin của ống thận như cimetidin, trimethoprime
Trang 3019
Bệnh nhân được chẩn đoán STM ở giai đoạn 5 hoặc đã điều trị thay thế, thận nhân tạo chu kỳ, lọc máu màng bụng, ghép thận
2.1.3 Các tiêu chuẩn khác
* Tiêu chuẩn chẩn đoán và phân độ tăng huyết áp:
Bảng 2.1: Phân loại THA theo JNC VII
Phân loại Huyết áp tâm
Trang 312.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang nhằm:
Trang 3221
- Xác định nồng độ và sự thay đổi nồng độ acid uric theo các giai đoạn khác nhau của BTM tại khoa Thận- Tiết niệu, Bệnh viện đa khoa Hà Đông
- Khảo sát một số yếu tố liên quan đến sự thay đổi nồng độ acid uric với các yếu tố lâm sàng và chỉ số hóa sinh khác của các bệnh nhân BTM tại khoa Thận- Tiết niệu, Bệnh viện đa khoa Hà Đông
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Cỡ mẫu:
Công thức tính cỡ mẫu ước tính một tỷ lệ trong quần thể
n = Z2(1-α/2) x P(1-P)
d2 Với độ tin cậy 95% tức α=0,05; Z(1-α/2)= 1,96
Theo nghiên cứu của Đỗ Gia Tuyển và các cộng sự, tỉ lệ tăng acid uric máu trên bệnh nhân suy thận mạn chưa điều trị thay thế là 85% Do vậy, ta có p=0,85 Giả sử sai số là 5% thì d=0,05 Thay các giá trị vào công thức ta được n= 195,92 [22]
Đối tượng tham gia nghiên cứu được chia làm 4 nhóm Do đó, chúng tôi hiệu chỉnh cỡ mẫu lựa chọn trong nghiên cứu là 200 bệnh nhân
Chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện, tất cả các bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ trong khoảng thời gian từ tháng 8/2018 đến 3/2019 được chọn vào nghiên cứu không phân biệt tuổi giới Chọn mẫu theo trình tự thời gian
2.2.3 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu
2.2.3.1 Phỏng vấn
Trang 3322
Phỏng vấn trực tiếp đối tượng là các bệnh nhân bệnh thận mạn tại khoa Nội thận - tiết niệu , Bệnh viên đa khoa Hà Đông với số lượng là 260 phiếu
Tìm hiểu các thông tin cá nhân và tiền sử bệnh lý của đối tượng được xác định qua phỏng vấn cùng với việc kiểm tra bệnh án cá nhân
2.2.3.2 Khám lâm sàng
- Khám lâm sàng thực hiện tại khoa Nội thận – tiết niệu, Bệnh viện
đa khoa Hà Đông
- Các xét nghiệm công thức máu, sinh hóa, nước tiểu và siêu âm thận
- tiết niệu được thực hiện tại Khoa Huyết học, Khoa Hóa sinh và Khoa Siêu
âm, Bệnh viện đa khoa Hà Đông
- Định lượng nồng độ acid uric trong huyết tương được thực hiện tại Khoa Hóa sinh, Bệnh viện đa khoa Hà Đông
* Đối với nhóm chứng: Đối tượng nghiên cứu được khám lâm sàng,
đo các chỉ số nhân trắc, làm các xét nghiệm cơ bản bao gồm công thức máu, glucose, ure, creatinin, protid toàn phần, xét nghiệm nước tiểu và siêu
âm thận - tiết niệu
Sau đó tiến hành lấy 2ml máu vào ống chống đông Heparin Lithium,
ly tâm, tách huyết tương, để bảo quản mẫu bệnh phẩm ở nhiệt độ - 250C cho đến khi gửi xét nghiệm tại Khoa Hóa sinh, Bệnh viện đa khoa Hà Đông
để kiểm tra nồng độ acid uric trong huyết tương
* Đối với nhóm bệnh :
Bệnh nhân thuộc nhóm này được thăm khám lâm sàng tỉ mỉ, đo các chỉ số nhân trắc và làm các xét nghiệm để chẩn đoán xác định, chẩn đoán giai đoạn và chẩn đoán nguyên nhân bệnh thận mạn bao gồm: công thức máu, ure, creatinin, điện giải đồ, xét nghiệm nước tiểu Các chẩn đoán
Trang 3423
hình ảnh bao gồm siêu âm thận tiết niệu, x-quang thận tiết niệu, điện tâm
đồ, x-quang tim phổi
Sau đó tiến hành lấy 2ml máu vào ống chống đông Heparin Lithium,
ly tâm, tách huyết tương, để bảo mẫu bệnh phẩm ở nhiệt độ - 250C cho đến khi gửi xét nghiệm tại Khoa Hóa sinh, Bệnh viện đa khoa Hà Đông để xác định nồng độ acid uric trong huyết tương
2.2.3.3 Nhân trắc dinh dưỡng
Cân nặng: Sử dụng cân SECA (độ chính xác 0,1kg) Trọng lượng cơ thể được ghi theo kg với một số lẻ Cân đối tượng vào buổi sáng, khi chưa
ăn uống Khi cân chỉ mặc quần áo gọn nhất và trừ bớt cân nặng trung bình của quần áo khi tính kết quả Cân được đặt ở vị trí ổn định và bằng phẳng
Đo chiều cao đứng bằng thước gỗ 3 mảnh, độ chia chính xác tới milimet Đối tượng bỏ guốc dép, đi chân không, đứng quay lưng vào thước
đo
Quá trình khám do điều dưỡng tại khoa Thận – Tiết niệu thực hiện
2.2.3.4 Xét nghiệm sinh hóa
Lấy 2ml máu tĩnh mạch vào buổi sáng, khi đói (đối tượng nhịn đói ít nhất 10 tiếng trước khi lấy máu nhưng không quá 16 tiếng) và được nghỉ ngơi ít nhất 10 phút trước khi tiến hành lấy máu Cho máu vào ống nghiệm chứa các hạt nhựa chuyên dùng để tách máu Các mẫu máu được ly tâm trong vòng 10 phút ngay tại thực địa để tách và bảo quản mẫu máu trong điều kiện lạnh và xét nghiệm được thực hiện ngay trong ngày
Các chỉ tiêu xét nghiệm được thực hiện tại Labo Hóa sinh bệnh viên đa khoa Hà Đông trên máy sinh hóa tự động AU 680 Toàn bộ các đối tượng tham gia nghiên cứu được xét nghiệm chỉ số sinh hóa máu acid uric, creatinin, ure, chỉ số lipid huyết tương,…
Trang 3524
Việc lấy máu và thực hiện các xét nghiệm hóa sinh do các kĩ thuật viên khoa Hóa sinh, Bệnh viện đa khoa Hà Đông thực hiện Kết quả xét nghiệm sẽ được trả về khoa Thận – Tiết niệu trước 11h sáng
Định lượng acid uric huyết tương
Nguyên tắc kỹ thuật
Acid uric máu được xác định theo nguyên tắc sau:
Acid Uric + 2H2O +O2 Uricase Allantion + CO2 + H2O
H2O2 + 3,5 Dicloro 2 Hydroxy benzen Sulfonic acid + 4 Amino
Antipyrin POD Chronogen + HCl + 2H2O ( phức hợp màu hồng cánh sen)
Độ đậm màu của phức hợp màu hồng cánh sen tỷ lệ thuận với nồng độ acid urictrong máu và được xác định mật độ quang ở bước sóng 505 nm bằng phép đo điểm cuối
Hoá chất:
* Thuốc thử R1:
- Đệm phosphat pH 7,8: 100 mmol/l
- Dichlo phenol sulphat: 4 mmol/l
- 4 Amino antipyrin: 0,5 mmol/l
- Uricase > 100 U/l
- POD > 200 U/l
- Ascorbate oxydare > 1000 U/l
* Auric chuẩn, nồng độ 357 µmol/l
Hoá chất bảo quản ở nhiệt độ 2oC – 8oC, bền vững
Định creatinin huyết tương
Creatinin là sản phẩm của quá trình thoái hóa creatin phosphate và creatin ở cơ Creatinin được đào thải chủ yếu qua thận
Trang 36 Định lượng ure huyết tương
Ure là sản phẩm của quá trình chuyển hóa –NH2 từ chu trình ure ở gan Ure được đào thải chủ yếu qua thận Nồng độ ure phụ thuộc nhiều vào chế độ ăn
Ure trong huyết tương được định lượng theo phương pháp động học:
Urease Urea + H2O -> 2NH4+ + CO32-
GLDH NH4+ + 2-α- cetoglutarat + NADH -> L-glutamat
+ NAD+ + H2O
2.2.4 Các chỉ số, biến số và chỉ tiêu đánh giá
Nhóm thông tin chung: tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn Nhóm thông tin về nhân trắc: cân nặng, chiều cao, từ đó tính ra các chỉ số BMI
Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index: BMI) được tính theo công thức: BMI = Cân nặng (kg)/Chiều cao)2 (m)
Đánh giá tình trạng tăng huyết áp dựa theo phân loại của JNC VII Nhóm thông tin về các chỉ số huyết học : Hematocrit, Hemoglobin Nhóm thông tin về các chỉ số hóa sinh máu: Xét nghiệm acid uric , creatinin, ure huyết tương
2.2.5 Lập bệnh án theo mẫu nghiên cứu ( Phụ lục 1)
Trang 3726
2.2.6 Sơ đồ nghiên cứu
Hình 2.1: Sơ đồ thiết kế các bước thực hiện trong nghiên cứu
Nhóm 1
Nhóm 3
Nhóm 4
Loại khỏi nghiên cứu Nhóm khám sức
khoẻ định kì
Trang 3827
2.3 Xử lý và phân tích số liệu
Kiểm tra từng phiếu bệnh án, những phiếu ghi chép không đầy đủ thông tin sẽ tiến hành phỏng vấn lại để bổ sung những chi tiết còn thiếu Sau khi thu thập, số liệu được lọc lại, mã hóa và nhập vào phần mềm SPSS 22.0 với khoảng kiểm tra số liệu Số liệu được nhập vào chính xác như trên chính
bộ câu hỏi
Cách thức xử lí số liệu bằng phần mềm SPSS như sau:
-Đặc điểm về bệnh nhân của hai nhóm bệnh và nhóm chứng được đánh giá về giới, tuổi và một số xét nghiệm cận lâm sàng
-Tính trung bình cộng, độ lệch chuẩn của nồng độ acid uric huyết tương trong nhóm bệnh và nhóm chứng
- Vẽ đường cong ROC thể hiện mối tương quan giữa acid nồng độ acid uric và bệnh thận mạn
- Sử dụng thuật toán T – test để đánh giá và so sánh 2 giá trị trung bình , sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05
- Tìm mối tương quan giữa 2 biến bằng tương quan PEARSON (-1 ≤ r
≤ 1)
+) | r | ≥ 0,7 tương quan rất chặt chẽ
+) 0,5 ≤ | r | < 0,7 tương quan khá chặt chẽ
+) 0,3 ≤ | r | < 0,5 tương quan vừa
+) | r | < 0,3 ít tương quan
+) Nếu r dương tương quan thuận
+) Nếu r âm tương quan nghịch
- Bảng biểu, đồ thị được vẽ tự động trên máy vi tính
2.4 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu đảm bảo quyền "tự nguyện tham gia" của các đối tượng nghiên cứu Những đối tượng mời tham gia nghiên cứu được giải thích rõ
Trang 39Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được giữ kín Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích khác