1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: Thực Thi chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay potx

118 734 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, để phù hợp với yêu cầu luận văn chỉ chú trọng tập trung nghiên cứu các hoạt động thực thi chính sách trực tiếp liên quan đến những mục tiêu chủ yếu của CSTT - đó là, đảm bảo c

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hơn 20 năm đổi mới và phát triển kinh tế, quá trình thực thi CSTT của Việt Nam đã có nhiều thay đổi căn bản và ngày càng trở nên thích ứng hơn với những mục tiêu điều tiết nền kinh tế, góp phần tích cực cho sự ổn định thị trường tài chính, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, trong xu thế toàn cầu hóa

và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay kinh tế trong nước cũng như thế giới ngày càng

có nhiều thay đổi khó lường đã khiến cho quá trình xây dựng và thực thi CSTT ngày càng trở nên khó khăn và phức tạp

Đặc biệt, trong những năm gần đây, mặc dù đã góp phần quan trọng trong tiến trình ổn định nền kinh tế vĩ mô nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng nhưng CSTT ở nước ta vẫn còn bộc lộ không ít những bất cập và hạn chế Các giải pháp đưa ra còn mang tính tình thế, tạm thời và chưa thật sự linh hoạt, thậm chí còn gây nên những bất

ổn Chẳng hạn, bằng việc liên tục thay đổi các mục tiêu điều hành CSTT NHNN đã góp phần kiềm chế lạm phát nhưng lại gây những tác động bất lợi đến hoạt động kinh doanh ngân hàng, thị trường tài chính và cả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Từ chỗ các ngân hàng thiếu vốn nghiêm trọng trong giai đoạn đầu 2008 lại chuyển sang thừa vốn vào những tháng cuối năm 2008, trong khi các doanh nghiệp - đặc biệt, các doanh nghiệp nhỏ

và vừa thì lại đối mặt với hàng loạt khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng Chính những diễn biến này cho thấy việc sửa đổi, hoàn thiện hơn nữa CSTT là đòi hỏi thực tế khách quan của nền kinh tế Đó không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước, của NHNN, của các nhà lãnh đạo mà còn là nhiệm vụ bức thiết đối với mỗi chúng ta - những người nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế chính trị, những người góp tiếng nói của mình vào trong quá trình hoạch định đường lối, chính sách của đất nước Vì vậy, việc nhận diện rõ ràng và cụ thể các mục tiêu của CSTT nhằm thực thi một CSTT linh hoạt, hữu hiệu, thích nghi tốt với diễn biến thời cuộc là yêu cầu bức thiết đặt ra cho Việt Nam trong thời gian tới

Với ý nghĩa đó, vấn đề “Thực thi chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay”

được chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành kinh tế chính trị

Trang 3

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong hơn 20 năm đổi mới kinh tế ở nước ta, những nghiên cứu về CSTT ngày càng thu hút sự quan tâm của các cơ quan chức năng của Chính phủ, của các nhà khoa học, nhà quản lý, các nhà quản trị… Nhiều công trình đã được công bố, chẳng hạn như:

* Về sách, có một số cuốn sách đã được phát hành như

- Nguyễn Võ Ngoạn (1996), Hệ thống công cụ CSTT quốc gia trong nền kinh tế

thị trường”, NXB Tài chính

- Nguyễn Duệ (chủ biên), Nguyễn Văn Tiến, Tô Kim Ngọc (1999), Đồng tiền

chung Châu Âu và CSTT của NHTW Châu Âu, NXB Thống kê

- Lê Vinh Danh (2005), CSTT và sự điều tiết vĩ mô của NHTW, NXB Tài chính

* Một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ:

- Đặng Chí Chơn (1995), NHNN và việc thực thi có hiệu quả CSTT trong cơ chế

thị trường Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ kinh tế: 5.02.09 TP Hồ Chí Minh

- Nguyễn Võ Ngoạn (1995), Hoàn thiện các công cụ của NHNN Việt Nam để thực

hiện CSTT quốc gia, Luận án phó tiến sĩ kinh tế: 5.02.09

- Hoàng Xuân Quế (2003), Giải pháp hoàn thiện các công cụ chủ yếu của CSTT ở

Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế: 5.02.09

- Lê Thị Thanh Hằng (2007), Giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của

nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành CSTT của NHNN Việt Nam, Luận văn thạc sĩ

kinh tế: 60.31.12

* Một số bài viết đã được công bố trên các báo, tạp chí:

- Hoàng Ngọc Hòa (2003), “Những thách thức đối với tài chính - tiền tệ Việt Nam

trong hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Kinh tế và phát triển

- Hoàng Yến (2004), “Ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến CSTT và chính sách

thương mại của Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 8

- Đinh Xuân Hạ (2005), “Đổi mới điều hành CSTT của NHNN trong quá trình xây

dựng và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Tạp chí Tài chính, số 8

- MU (2005),“Ảnh hưởng của quá trình hội nhập đến CSTT quốc gia”, Tạp chí

Ngân hàng Ngoại Thương, số 5

Trang 4

- Nguyễn Thành Trung (2006), “Vai trò CSTT của Việt Nam và những khuyến

nghị”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 5

- Nguyễn Văn Hậu (2008), “Toàn cầu hóa tài chính với CSTT - tín dụng quốc

gia”, Thông tin những vấn đề kinh tế chính trị học, Số 18

Mặc dù số lượng các công trình nghiên cứu rất nhiều, rất đa dạng và phong phú, bên cạnh những đóng góp có giá trị cho việc nghiên cứu lý luận hay ứng dụng, thực thi… nhưng tiếp cận CSTT trên phương diện kinh tế chính trị thì còn rất hạn chế, thậm chí chưa có công

trình nào nghiên cứu vấn đề “Thực thi chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay” trên

phương diện kinh tế chính trị

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục đích

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc thực thi CSTT làm cơ sở

để phân tích thực trạng thực thi CSTT ở Việt Nam trong trong giai đoạn 2001 - 3/2009 Trên cơ sở những quan điểm và phương hướng đã được xác định, luận văn đề ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả thực thi CSTT ở Việt Nam giai đoạn đến 2015

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung làm rõ những vấn đề chính sau:

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về thực thi CSTT, kinh nghiệm thực thi CSTT của một số nền kinh tế và rút ra một số gợi ý cho Việt Nam

- Phân tích thực trạng thực thi CSTT của Việt Nam giai đoạn 2001 - 3/2009

- Đề xuất các giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả CSTT của Việt Nam giai đoạn đến năm 2015

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Trên phương diện kinh tế chính trị, luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu những quan hệ kinh tế chủ yếu trong quá trình thực thi CSTT của Việt Nam giai đoạn 2001 - 3/2009 Nếu xét theo quy trình thì quá trình thực thi chính sách tiền tệ bao gồm 5 hoạt động cơ bản sau: hoạt động soạn thảo và ban hành CSTT; hoạt động thẩm định, đánh giá CSTT; hoạt động tổ chức thực hiện CSTT; hoạt động chuyên môn của CSTT và hoạt

Trang 5

động kiểm soát, giám sát các hoạt động kinh tế Tuy nhiên, để phù hợp với yêu cầu luận

văn chỉ chú trọng tập trung nghiên cứu các hoạt động thực thi chính sách trực tiếp liên quan đến những mục tiêu chủ yếu của CSTT - đó là, đảm bảo cung ứng và điều tiết

tổng phương tiện thanh toán; kiểm soát hoạt động tín dụng trong nền kinh tế; kiểm soát ngoại hối và kiểm soát việc tạm ứng cho ngân sách nhà nước Và, những công cụ chủ yếu như: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở Trên cơ sở đó, luận văn tập trung đánh giá những tác động của thực thi CSTT đến nền kinh tế Việt Nam giai đoạn từ năm 2001 đến đầu năm 2009

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu

- Những cam kết khu vực và quốc tế có liên quan

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng Mácxit, luận văn chú trọng sử dụng các phương pháp đặc thù của kinh tế chính trị Mác-Lênin: phương pháp trừu tượng hóa khoa học, kết hợp phân tích với tổng hợp, so sánh,

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Trang 6

sở, tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, hoạch định và thực thi CSTT nước ta trong giai đoạn đến 2015

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương và 8 tiết

Trang 7

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

1.1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

1.1.1 Chính sách tiền tệ và thực thi chính sách tiền tệ

1.1.1.1 Khái niệm chính sách tiền tệ

Trong thực tế, có nhiều loại chính sách kinh tế và những chính sách này được phân loại dưới nhiều góc độ khác nhau, chẳng hạn như: vi mô, vĩ mô; ngắn hạn, trung hạn và dài hạn;…

Theo các quan điểm phổ biến hiện nay thì chính sách tiền tệ thuộc nhóm chính sách kinh tế vĩ mô ngắn hạn Nếu các chính sách kinh tế là công cụ của Nhà nước để điều tiết và hướng nền kinh tế tới mục tiêu mong muốn, chúng thường bị chi phối bởi 3 nhóm yếu tố: chủ thể ban hành và thực thi chính sách kinh tế là Nhà nước, nền kinh tế mà trực tiếp là những bộ phận, những chức năng của nền kinh tế trực tiếp là đối tượng điều chỉnh của chính sách …và, môi trường thực thi chính sách; thì, chính sách tiền tệ cũng không nằm ngoài những cái chung đó

Tuy nhiên, căn cứ vào trình độ phát triển của nền kinh tế và giác độ nghiên cứu

mà luận văn đề cập thì chính sách tiền tệ còn được tiếp cận theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp

- Theo nghĩa hẹp, CSTT là chính sách bảo đảm việc cung ứng mức cung tiền (tổng

phương tiện thanh toán) trong từng thời kỳ (thường là một năm) phù hợp với mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế hay các mục tiêu kinh tế vĩ mô khác

- Theo nghĩa rộng, CSTT là một bộ phận quan trọng trong hệ thống các chính sách

kinh tế vĩ mô của Nhà nước, là hệ thống các giải pháp và công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước đối với thị trường tiền tệ và tín dụng do NHTW khởi thảo và thực thi nhằm

ổn định giá trị đồng tiền, hướng nền kinh tế vào những mục tiêu mong muốn [18, tr.217]

Trong tác phẩm “Tiền tệ, Ngân hàng và thị trường tài chính” F.S Mishkin đã đưa

ra quan niệm CSTT theo nghĩa rộng: CSTT là một trong các chính sách vĩ mô, trong đó

Trang 8

NHTW thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng nhằm tác động tới các mục tiêu cơ bản của nền kinh tế trên cơ sở đó đạt được những mục tiêu cuối cùng của mình là công ăn việc làm cao, tăng trưởng kinh tế, ổn định giá

cả, ổn định lãi suất, ổn định thị trường tài chính và ổn định tỷ giá hối đoái [17, tr.211]

Ở Việt Nam, Điều 2 Luật NHNN Việt Nam ban hành năm 1997 đã nêu rõ: CSTT

là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, nâng cao đời sống của nhân dân [27]

Từ đó, có thể thấy CSTT có các đặc trưng chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, CSTT là một bộ phận hữu cơ cấu thành các chính sách kinh tế

Như chúng ta đã biết, trong tổng thể các chính sách kinh tế của một quốc gia, mỗi chính sách đề có vị trí và vai trò riêng của nó Trong đó, CSTT luôn được xem là một chính sách trung tâm, gắn kết nhiều chính sách lại với nhau Bởi lẽ, các nền kinh tế hiện đại đều là nền kinh tế tiền tệ, nói cách khác - những nền kinh tế này đã được tiền tệ hóa

cao độ (tính theo chỉ số hóa tiền tệ M 2 /GDP) Vì vậy, ở các nền kinh tế này các quan hệ

kinh tế chủ yếu phải dựa trên, xoay quanh và được phản ánh bởi các quan hệ tiền tệ, tiền

tệ đã xâm nhập và trở thành một yếu tố hết sức quan trọng trong nền kinh tế và do vậy

CSTT là chính sách kinh tế trung tâm và có vai trò ngày càng quan trọng

Thứ hai, CSTT thuộc nhóm chính sách kinh tế vĩ mô - do đó, nó không có mục đích

tự thân mà phải hướng tới phục vụ các mục tiêu của nền kinh tế

Muốn thực hiện mục tiêu kinh tế vĩ mô, Chính phủ cần phải thực thi nhiều chính sách kinh tế vĩ mô trong đó có CSTT Khác với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khoá, chính sách kinh tế đối ngoại… thì CSTT chủ yếu chỉ tác động ở thị trường tiền tệ, và qua đó tác động đến đến mặt cầu của nền kinh tế, ảnh hưởng đến giá cả, đầu tư, việc làm, sản lượng …

Thứ ba, mặc dù CSTT chỉ chủ yếu tác động và làm thay đổi những cân bằng ngắn hạn, vừa có tác dụng điều chỉnh ổn định kinh tế, vừa hướng sự cân bằng ngắn hạn của

nền kinh tế vận động xoay quanh giới hạn khả năng sản xuất - tức là, đạt được mức hiệu quả trên cơ sở khai thác một cách có hiệu quả tiềm năng kinh tế, do đó, góp phần làm giảm

Trang 9

tính chu kỳ của nền kinh tế, nhưng nó còn ảnh hưởng mặc dù gián tiếp nhưng rất quan trọng đến sự phát triển của nền kinh tế ở cả trung và dài hạn Chẳng hạn như, bằng việc thay đổi mức lãi suất, sử dụng định chế mức lãi suất ưu đãi mà CSTT góp phần khuyến khích đầu tư mới, huy động các nguồn vốn, tăng tiết kiệm, tích lũy và do đó tăng đầu tư đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Thứ tư, NHTW là cơ quan chức năng của Chính phủ, trực tiếp tham gia vào quá trình soạn thảo, ban hành và thực thi CSTT

Việc thực hiện chức năng này của NHNN ở mỗi quốc gia còn phụ thuộc vào mô hình tổ chức bộ máy của quốc gia đó Ở Việt nam, NHNN là thành viên của chính phủ, trực tiếp chịu sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ, tính độc lập rất thấp nên ít tính linh hoạt và điều đó ảnh hưởng không ít đến hiệu quả thực thi CSTT Và điều ngược lại có thể xảy ra đối với các nền kinh tế mà NHNN có tính độc lập rất cao

1.1.1.2 Quan niệm thực thi chính sách tiền tệ

Thứ nhất, thực thi CSTT phải mang tính hệ thống Vì CSTT là một bộ phận cấu

thành trong hệ thống các chính sách kinh tế - tài chính của quốc gia và trong hệ thống đó, các bộ phận cấu thành có mối quan hệ tác động với nhau Do vậy một CSTT hữu hiệu đòi hỏi phải được thiết lập và vận hành trong mối quan hệ với các chính sách khác, chứ không nên tự coi mình là một yếu tố độc lập tuyệt đối mặc dù bản thân CSTT có vai trò cực kỳ quan trọng Vì vậy, việc sử dụng và thực thi CSTT không thể độc lập, tách rời với những chính sách kinh tế vĩ mô khác mà nó phải được đặt trong một hệ thống, một chỉnh thể thống nhất - Đó là một tất yếu kinh tế và mang tính phổ biến

Thứ hai, thực thi CSTT phải đảm bảo tính đồng bộ và nhất quán Tính đồng bộ và nhất

quán luôn được đặt lên hàng đầu trong quá trình thực thi CSTT

Thứ ba, thực thi CSTT phải linh hoạt, chủ động, hiệu quả nhằm ổn định kinh tế vĩ

mô, điều hành cán cân thanh toán quốc tế không để bị thâm hụt Nhưng cũng phải có nhiều phương án dự phòng để tính toán trong trường hợp có diễn biến mới trên thị trường quốc tế

1.1.2 Nội dung cơ bản và hình thức thực thi chính sách tiền tệ

Trang 10

CSTT là một thành tố quan trọng của hệ thống các chính sách kinh tế vĩ mô, vì vậy việc xây dựng và thực thi CSTT phải gắn với những mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế vĩ

mô trọng yếu - cụ thể, phục vụ đắc lực quá trình đổi mới, ổn định, tăng trưởng và phát

triển kinh tế cả về ngắn hạn và dài hạn

Theo như giới hạn nghiên cứu đã nêu, nội hàm của vấn đề này được trình bày ở một số hoạt động thực thi cơ bản sau:

1.1.2.1 Cung ứng và điều tiết tổng phương tiện thanh toán trong lưu thông

* Lượng tiền cung ứng (Tổng phương tiện thanh toán - MS)

Theo lý thuyết về số nhân tiền ta có:

Trong đó: s là tỷ lệ tiền mặt/tiền gửi

MS = x H ra là tỷ lệ dự trữ thực tế tiền gửi

H là tiền cơ sở (cơ số tiền tệ)

H = U + Ra U là tiền mặt trong lưu thông

Ra là tiền mặt dự trữ trong các

ngân hàng

Từ đó, có thể thấy, những thay đổi trong 3 biến (H, ra và s) làm cho cung ứng tiền

tệ thay đổi như thế nào:

Thứ nhất, cung ứng tiền tệ tỷ lệ thuận với cơ số tiền Vì vậy, sự gia tăng cơ số tiền

làm tăng cung ứng tiền tệ theo cùng một tỷ lệ

Thứ hai, tỷ lệ dự trữ trên tiền gửi càng thấp, thì ngân hàng càng cho vay nhiều và

tạo thêm nhiều tiền từ mỗi VNĐ dự trữ, tức càng được nhiều tiền Bởi vậy, sự cắt giảm tỷ

lệ tiền mặt/tiền gửi làm số nhân tiền và cung ứng tiền tăng lên

Thứ ba, tỷ lệ tiền mặt trên tiền gửi (s) càng thấp, công chúng càng giữ ít VNĐ, các

NHTM càng giữ nhiều VNĐ thì càng tạo ra được nhiều tiền Vì vậy, sự cắt giảm tỷ lệ tiền mặt trên tiền gửi làm số nhân tiền và cung ứng tiền tệ tăng lên

Trên thực tế, tốc độ lưu thông tiền tệ còn bị chi phối bởi: tốc độ chu chuyển vật tư hàng hóa, lòng tin của dân cư vào giá trị đồng tiền, sự tiên liệu của dân cư vào thời cơ và vận hội làm ăn sinh lời, khuynh hướng chi tiêu của dân chúng, chính sách kinh tế tài

s + r a

s + 1

Trang 11

chính của Nhà nước, kỳ vọng của các doanh nhân, trình độ kỹ thuật và khả năng tổ chức thanh toán của Ngân hàng

NHTW thông qua các công cụ của mình (thị trường mở, quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu) để khống chế sao cho khối lượng cung ứng tiền tệ trong một giai đoạn nào đó phải cân bằng với mức tăng của GNPn và vòng quay tiền tệ trong cùng thời kỳ đó C.Mác cũng cho rằng: số lượng các phương tiện lưu thông là do tổng giá trị của hàng hóa lưu thông và tốc độ lưu thông trung bình của tiền tệ quy định Tức là khối lượng tiền tệ lưu thông thực tế (Kt) phải bằng khối lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông (Kc), tức Kt = Kc Trong đó, Kc là tổng giá cả hàng hóa (H) chia cho vòng quay của đồng tiền (V) [41, tr 348]

* Điều hòa lượng tiền cung cứng tăng, giảm theo tín hiệu thị trường

Lượng tiền cung ứng tăng thêm chỉ là chỉ tiêu định lượng Điều quan trọng là NHTW phải theo dõi diễn biến của hoạt động kinh tế, của giá cả, của tỷ giá hối đoái Từ

đó NHTW điều chỉnh kịp thời việc cung ứng tiền sao cho khối lượng tiền tệ tăng thêm hay giảm đi không làm tăng giá cả hoặc tắc nghẽn lưu thông vì thiếu phương tiện thanh toán

Hai yếu tố động nhất của tín hiệu tiền tệ là giá cả và tỷ giá hối đoái Còn tốc độ tăng trưởng và vòng quay đồng tiền đều biến động tiệm tiến, khó biết trước chính xác

1.1.2.2 Chính sách tín dụng cho nền kinh tế

Khối lượng tín dụng mà các NHTM cung cấp cho các doanh nghiệp xuất phát từ hai nguồn - đó là: huy động tiền vốn có sẵn trong lưu thông để cho vay và sử dụng lượng tiền của NHTW thông qua quá trình tái cấp vốn

Khi NHTM tiến hành nghiệp vụ cấp tín dụng sẽ diễn ra quá trình tạo tiền gửi mới nhờ số nhân tiền Trong các nước công nghiệp, nơi có hệ thống ngân hàng đã phát triển cao, thị trường tiền tệ nhạy cảm, cơ chế vay mượn hiện đại và tinh vi, thì việc sử dụng các công cụ gián tiếp như: nghiệp vụ thị trường mở, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu không chỉ điều tiết khối lượng tiền tệ trong lưu thông, mà còn điều tiết cả tín dụng Ngoài ra, người ta còn dùng giải pháp bổ trợ bằng khống chế hạn mức tín dụng, cụ thể là:

Trang 12

Từ khối lượng tiền tệ có thể cung ứng thêm, NHTW dành chủ yếu cho hoạt động tín dụng ngắn hạn phù hợp với mức tăng trưởng, có tính đến mức lạm phát (nếu có) đã được khống chế trong từng thời kỳ nhất định

Đồng thời, khối lượng tiền tệ tăng thêm qua tín dụng sẽ không được “rót” từ NHTW xuống, bất chấp thực trạng về vốn, chất lượng tín dụng của các NHTM, mà được hình thành trước hết từ nhu cầu thực sự của thị trường tiền tệ thông qua quan hệ vay vốn giữa các doanh nghiệp và các NHTM Khi các NHTM thiếu vốn thì họ đến NHTW xin tái cấp vốn (tái chiết khấu) tiền trung ương NHTW là người cho vay thường xuyên, là người cho vay cuối cùng và là chủ nợ đối với NHTM nhằm kiểm soát chất lượng và số lượng tín dụng, các nguồn tiền gửi của các NHTM và TCTD, theo các định hướng chính sách cụ thể sau:

* Đa dạng hóa các thành phần của khối tiền tệ

Để tăng tầm kiểm soát của NHTW, tích cực kiềm chế lạm phát, tăng nguồn tín dụng, người ta thực hiện chính sách đa dạng hóa các thành phần của khối tiền tệ trong lưu thông bằng cách NHTW thúc đẩy các NHTM thu hút tất cả các nguồn tiền gửi của mọi doanh nghiệp và dân cư bằng cách mở tài khoản và thanh toán qua ngân hàng Từ đó, phát triển các thành phần khác của khối tiền tệ như séc và các công cụ lưu thông tín dụng khác bên cạnh tiền mặt, nhằm tăng nguồn vốn tín dụng của các NHTM và tăng khả năng chi phối của NHTW đối với khối tiền tệ

* Thay lãi suất thực âm (thường lấy lý do hỗ trợ sản xuất, khuyến khích đầu tư)

bằng lãi suất thực dương (đã loại trừ tỷ lệ lạm phát) để thay CSTT làm xói mòn nguồn vốn bằng CSTT mở rộng nguồn vốn

Với một lãi suất thực dương vừa phải, sẽ làm cho dân cư chuyển từ dạng tiết kiệm phi tài chính (dự trữ vàng, ngoại tệ, bất động sản,…) qua dạng tiết kiệm tài chính, tăng lượng tiền gửi ngân hàng Bên cạnh đó, cần khuyến khích các ngân hàng trung gian thực hiện CSTT “mở rộng nguồn vốn” bằng việc áp dụng lãi suất thực dương, thực hiện triệt

để nguyên tắc “vay để cho vay” Trong khi đó, các NHTM chỉ tìm đến nguồn tiền trung ương bằng biện pháp tái cấp vốn

* Thay CSTT thụ động phục vụ bằng CSTT chủ động điều tiết

Trang 13

Tín dụng và lãi suất không phải là những công cụ “phục vụ” đơn giản và thụ động đối với các doanh nghiệp (nhất là các doanh nghiệp quốc doanh) với bất cứ giá nào, như một thứ cấp phát ngân sách Trên thị trường tiền tệ, khách hàng hoàn toàn tự do trong việc lựa chọn ngân hàng Và đến lượt mình, ngân hàng cũng có quyền chủ động lựa chọn khách hàng làm ăn có hiệu quả để đầu tư, không phân biệt thành phần kinh tế Điều này

có nghĩa là phải chuyển từ một CSTT thụ động sang một CSTT tích cực, trong đó ngân hàng được chủ động điều tiết Mặt khác, khách hàng muốn tồn tại, cần sửa đổi phương pháp kinh doanh sao cho có hiệu quả để được vay vốn…

1.1.2.3 Chính sách quản lý ngoại hối

Chính sách quản lý ngoại hối nhằm mục đích bảo vệ giá trị nội tệ, kích thích tăng trưởng kinh tế Để làm được điều đó, trong lĩnh vực ngoại hối NHTW thực hiện các nhiệm vụ giao dịch về tài chính và tiền tệ đối ngoại trên các phương diện sau: quản lý ngoại hối; lập và theo dõi diễn biến của cán cân thanh toán quốc tế; thực hiện các nghiệp

vụ hối đoái, tổ chức và điều tiết thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và tham gia vào trị trường hối đoái; xây dựng và thống nhất quản lý quỹ dự trữ ngoại hối của đất nước; phấn đấu ổn định tỷ giá hối đoái để kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả trong nước; quan hệ với NHTW khác, với các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế, nhằm tìm kiếm nguồn tài trợ (vay nợ) nước ngoài có điều kiện ưu đãi, khuyến khích đầu tư nước ngoài và thu hút kiều hối;

tổ chức quản lý nợ nước ngoài…

Trong số các vấn đề nêu trên thì chính sách hối đoái, quản lý dự trữ ngoại hối, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và tỷ giá hối đoái là những yếu tố tác động mạnh tới khối lượng tiền cung ứng và giá trị đồng tiền trong nước, cụ thể là:

* Chính sách hối đoái

Nhiều nước thực hiện chính sách độc quyền hối đoái, cấm lưu thông tiền nước ngoài trên đất nước mình, chính sách ngoại hối hướng vào việc ngăn chặn việc tích trữ ngoại hối rải rác trong các pháp nhân và thế nhân, quản lý việc mua bán ngoại tệ (có ngoại tệ phải bán cho ngân hàng và khi cần thì mua tại ngân hàng hay tại thị trường hối đoái), thu hút các nguồn ngoại tệ vào NHTW Đây là chính sách mua đứt bán đoạn chứ không phải cho phép các tổ chức dân cư và người cư trú được cất giữ ngoại tệ trên tài

Trang 14

khoản mở ở các ngân hàng Bởi vì điều này chỉ có lợi cho nước phát hành số ngoại tệ đó Nhờ phát hành tiền, họ đã thu về khối lượng hàng hóa và dịch vụ mà chưa bị đòi nợ, như một khoản tín dụng tự nguyện không phải trả lãi Về phía các ngân hàng trong nước, nếu huy động tiền gửi không kỳ hạn hoặc ngắn hạn thì cũng không thể sử dụng được nhiều số ngoại tệ đó Tất yếu họ phải đem gửi ngân hàng nước ngoài để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút ra của khách hàng và tìm kiếm chút lãi để bù đắp lãi suất tiền gửi đã huy động vào Việc vay hoặc huy động ngoại tệ dài hạn lại là vấn đề khác

* Dự trữ ngoại hối

Dự trữ ngoại hối là lượng ngoại hối được lưu giữ tại NHTW nhằm cân bằng cán cân thanh toán quốc tế và can thiệp vào cung, cầu ngoại hối trên thị trường để điều tiết tỷ giá hối đoái Do đó, mỗi quốc gia đều có dự trữ ngoại hối, tùy theo khả năng nền kinh tế nước đó Dự trữ ngoại hối phục vụ cho nhu cầu thanh toán quốc tế và điều chỉnh khối lượng tiền cung ứng trong nước NHTW mua và gia tăng dự trữ ngoại hối sẽ làm gia tăng khối lượng tiền tệ Ngược lại, khi NHTW bán ngoại tệ ra, giảm dự trữ ngoại hối thì cũng đồng thời làm giảm khối lượng tiền tệ Do đó, qua việc mua bán ngoại hối, NHTW thực hiện can thiệp thị trường, chủ động tác động tỷ giá hối đoái theo chiều mong muốn

* Thị trường hối đoái

Thị trường hối đoái (còn gọi thị trường ngoại hối) là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch, mua bán ngoại tệ và các phương tiện thanh toán có giá trị như ngoại tệ

NHTW với tư cách là người thực thi và điều hành CSTT, có thể tác động trực tiếp hay gián tiếp vào thị trường ngoại hối thông qua cung, cầu ngoại hối Trong đó, tác động trực tiếp bằng cách thiết lập quỹ bình ổn hối đoái và quỹ dự trữ ngoại hối Cụ thể, khi NHTW dùng những quỹ này để tác động đến cung, cầu ngoại hối như sau: Nếu cầu ngoại hối cao, tỷ giá hối đoái có xu hướng tăng quá mức, NHTW sẽ bán ngoại hối từ dự trữ ngoại hối làm tăng khả năng cung ngoại hối trên thị trường trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, tỷ giá hối đoái từ từ giảm xuống Ngược lại nếu tỷ giá hối đoái có xu hướng giảm quá giới hạn cho phép, NHTW sẽ mua ngoại hối bằng đồng nội tệ làm tăng cầu nội tệ trên thị trường, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, tỷ giá hối đoái sẽ tăng lên và dự trữ ngoại hối cũng tăng theo

Trang 15

Tác động gián tiếp là thông qua hệ thống NHTM để tác động vào việc mua bán ngoại tệ của các doanh nghiệp như việc quy định khung của tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng, quy định lãi suất tiền gửi ngoại tệ, lượng ngoại tệ được phép mua, các quy định về giao dịch ngoại hối của các doanh nghiệp và dân chúng qua ngân hàng,…Việc tác động của NHTW vào cung cầu ngoại hối nhằm mục đích điều tiết tỷ giá hối đoái để thực hiện các mục tiêu của CSTT

* Tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ phản ánh tương quan về mặt lượng giữa hai loại tiền có khả năng chuyển đổi cho nhau, trong giao dịch thực tế thì tương quan đó đồng thời phản ánh tương quan trao đổi sức mua giữa nội tệ với ngoại tệ Nó vừa phản ánh sức mua của nội

tệ, vừa là biểu hiện của quan hệ cung cầu ngoại tệ Nhưng đến lượt mình, tỷ giá hối đoái lại là đòn bẫy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh mẽ đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đối với sản xuất hàng xuất khẩu, hoạt động xuất nhập khẩu, tình trạng tài chính, tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn đầu tư, dự trữ ngoại tệ của đất nước…- chẳng hạn:

Nếu tỷ giá hối đoái quá thấp (đối với ngoại tệ) sẽ khuyến khích nhập khẩu, gây bất lợi cho xuất khẩu, vì hàng xuất khẩu tương đối đắt, khó bán ra nước ngoài, gây trở ngại cho ngành sản xuất hàng xuất khẩu, bất lợi cho việc chuyển dịch ngoại tệ từ nước ngoài vào trong nước, dự trữ ngoại tệ dễ bị xói mòn

Một tỷ giá hối đoái cao (đối với ngoại tệ) sẽ bất lợi cho nhập khẩu, nhưng khuyến khích xuất khẩu vì làm cho hàng nhập khẩu rẻ hơn, hàng xuất khẩu đắt hơn, dễ cạnh tranh trên thị trường quốc tế, dễ tìm thị trường tiêu thụ, kích thích chuyển dịch ngoại tệ vào trong nước,

dự trữ ngoại tệ có cơ hội gia tăng

Do đó, để quản lý và ổn định tỷ giá hối đoái cần phải:

Thứ nhất, thực hiện chính sách thặng dư hay tối thiểu là thăng bằng cán cân thanh

toán quốc tế bằng cách đẩy mạnh xuất khẩu, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn ngoại tệ

Thứ hai, kiểm soát và hạ thấp tỷ lệ lạm phát để ổn định giá cả và nâng cao sức

mua đối nội của đồng tiền, tạo sự tác động ngược lại đối với tỷ giá hối đoái

Trang 16

Thứ ba, có chính sách lãi suất tín dụng thích hợp để thu hút các khoản tiết kiệm và

đầu tư, kể cả bằng nguồn ngoại tệ từ ngoài vào, đồng thời hạn chế việc săn lùng ngoại tệ

và vàng bạc

Thứ tư, tạo quỹ dự trữ ngoại hối để can thiệp thị trường hối đoái khi cần thiết Tuy

nhiên, việc can thiệp chỉ có thể tiến hành khi sự biến động đó xuất phát thuần túy vào quan

hệ cung và cầu Nếu vì nguyên tắc khác, ví dụ như lạm phát hoặc thiểu phát, thì không thể dùng biện pháp can thiệp được mà phải tìm các biện pháp khác nhau hạn chế lạm phát hay khắc phục thiểu phát, mà không nên dùng dự trữ để can thiệp, vì như vậy chẳng khác nào là

tự sát

1.1.2.4 Chính sách tiền tệ trong quan hệ với ngân sách Nhà nước

CSTT của NHTW muốn có tác dụng mong muốn cần xử lý mối tương quan của

nó với ngân sách nhà nước Tùy theo tình trạng ngân sách có cân bằng hay không sẽ ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực với những mức độ khác nhau đối với lưu thông tiền tệ Do vậy, cách xử sự của CSTT trong quan hệ với ngân sách cũng khác nhau trong những trường hợp sau đây:

* Trường hợp ngân sách cân bằng

Khi chính phủ thu thuế tức là đã lấy ra khỏi lưu thông một lượng tiền nào đó và chi số tiền ấy vào guồng máy kinh tế Tổng khối lượng tiền tệ không thay đổi vì nó được tăng giảm một ngạch số như nhau Tuy nhiên, nó có thể làm thay đổi kết cấu giữa tiêu dùng và tiết kiệm, trong khi đó, chính phủ phải dùng số tiền thuế thu được cấp phát cho những người có thu nhập thấp, hay cho chi tiêu của chính phủ thì số tiêu thụ chung lại gia tăng, số đầu tư giảm và kết quả là có khả năng làm tăng dần giá cả Nếu Nhà nước dùng

số chi ngân sách để đầu tư, thì số đầu tư của tư nhân giảm, trong khi đầu tư của Nhà nước tăng lên Tuy nhiên, trong trường hợp ngân sách thăng bằng, cơ cấu thu và chi ngân sách không cùng chiều vẫn có khả năng gây mất cân đối cục bộ trong quan hệ tiền hàng

* Trường hợp ngân sách thiếu hụt

Thâm hụt ngân sách sẽ có ảnh hưởng khác nhau đến nền kinh tế, tùy theo cách tài trợ số chênh lệch ấy Trong thực tế, có 4 cách để tài trợ thiếu hụt ngân sách: vay dân cư, vay ở hệ thống tín dụng và thị trường tài chính trong nước, vay NHTW, vay ở nước

Trang 17

ngoài Trong đó, vay của NHTW và vay của nước ngoài (bằng ngoại tệ) sẽ làm tăng mạnh khối tiền tệ, gây áp lực lạm phát tiềm tàng về sau Vay của dân cư và của các NHTM trong nước, nguy cơ làm tăng khối tiền tệ nhẹ hơn Áp lực lạm phát ở các nước đang phát triển mạnh hơn các nước có thu nhập cao là do các nước này chủ yếu sử dụng biện pháp vay NHTW bằng cách phát hành tiền trực tiếp và nợ nước ngoài

Như vậy, không có sự lựa chọn nào tốt hơn là phải phấn đấu thực hiện một ngân sách Nhà nước cân bằng nguồn thu thuế và tiết kiệm chi tiêu Không nên bội chi ngân sách để bù đắp chi phí hành chính, mà tối thiểu, ngân sách phải phấn đấu thu để trang trải các nhu cầu chi thường xuyên Phần chi xây dựng hạ tầng cơ sở và chi phát triển nếu thiếu thì phải được tài trợ bằng cách phát hành tín phiếu kho bạc và trái phiếu chính phủ

để vay nhân dân, vay các NHTM trên thị trường tiền tệ (ngắn hạn) và thị trường chứng khoán (dài hạn) hoặc vay nước ngoài Theo chuẩn quốc tế, mức độ bội chi ngân sách phải vay nợ để bù đắp, nếu chiếm khoản 2 - 3% tổng sản phẩm quốc nội là chấp nhận được Tuy nhiên, không nên coi khoảng vay của Nhà nước là nguồn thu phụ thêm, mà đó chỉ là nguồn bù đắp bội chi ngân sách

* Trường hợp ngân sách thặng dư

Đây là trường hợp rất hiếm, vì nó rút bớt khối tiền tệ dư thừa, tác động có lợi cho mối tương quan giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ

1.1.3 Các công cụ thực thi chính sách tiền tệ

Công cụ thực thi CSTT là những công cụ được các chủ thể sử dụng (kể cả chủ thể phi Nhà nước) để thực thi chính sách Vì vậy, công cụ thực thi CSTT có phân thành 2 nhóm là nhóm các công cụ bên trong bao gồm: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu

và nghiệp vụ thị trường mở; nhóm các công cụ bên ngoài: môi trường kinh tế xã hội, vấn

đề dân chủ hóa cơ sở, bệnh quan liêu, những tác động bên ngoài, hệ thống thông tin, giáo dục, hành pháp,… Tuy nhiên trong giới hạn của luận văn này tác giả chỉ tập trung phân tích nhóm các công cụ bên trong

1.1.3.1 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi lại Ngân hàng NHNN Việt Nam thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia [28] Theo luật định, khi các NHTM huy động

Trang 18

được vốn tiền gửi trong xã hội, phải trích ra một phần của số tiền gửi này để gửi vào tài khoản dự trữ bắt buộc tại NHTW và để tại quỹ của mình Số tiền gửi được trích là theo tỷ lệ

dự trữ bắt buộc quy định của NHTW

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là hệ số giữa số lượng phương tiện thanh toán cần vô hiệu hóa trên tổng số tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toán của NHTM Đó là, tỷ lệ phần trăm giữa lượng dự trữ bắt buộc trên tổng số tiền gửi tại hệ thống NHTM Tỷ lệ này do NHNN quy định tùy theo từng thời kỳ, từng loại tiền gửi và mang tính pháp lý bắt buộc phải thi hành Thông qua điều chỉnh trực tiếp tỷ lệ dự trữ bắt buộc, NHTW tác động cả vào khối lượng và giá cả tín dụng của NHTM

Về lý thuyết, khi NHTW thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ gây tác động làm thay đổi

số nhân tiền tệ và tất nhiên sẽ gây ảnh hưởng thay đổi mức cung tiền Cụ thể, khi NHTW tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm giảm số nhân tiền và ngược lại, khi giảm dự trữ bắt buộc sẽ làm tăng số nhân tiền Bên cạnh đó, việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng đồng thời tác động đến nguồn vốn có thể sử dụng được

để cho vay nên tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến lãi suất cho vay của các ngân hàng Cũng giống như mối quan hệ giữa số nhân tiền tệ và dự trữ bắt buộc, mối quan hệ giữa lãi suất cho vay của các NHTM và dự trữ bắt buộc là mối quan hệ nghịch chiều

Mặc dù dự trữ bắt buộc có ưu điểm là công cụ mang tính chất đầy quyền lực vì nó mang nặng tính chất hành chính và nó gây tác động như nhau đối với các ngân hàng nhưng nhược điểm của nó là làm tăng chi phí đầu vào cho các ngân hàng do đó không thể tăng dự trữ bắt buộc lên quá cao vì nó sẽ làm gia tăng gánh nặng chi phí cho ngân hàng

và đẩy lãi suất cho vay lên cao hơn nhiều Bên cạnh đó, do việc tính toán và trích lập dự trữ bắt buộc là khá phức tạp khi thực thi, không thể thực hiện thường xuyên hàng ngày do vậy nếu liên tục thay đổi dự trữ bắt buộc sẽ rất có thể gây nên tình trạng bất ổn định cho các ngân hàng và làm khó khăn cho công tác quản trị thanh khoản của ngân hàng Hơn nữa, khi thay đổi một tỷ lệ nhỏ trong dự trữ bắt buộc có thể gây nên sự thay đổi đáng kể của số nhân tiền và kết quả, với sự khuyếch đại của cơ số tiền - do cơ số tiền là rất lớn về giá trị tuyệt đối - sẽ gây nên sự thay đổi rất lớn trong cung tiền Nói cách khác, không thể dùng dự trữ bắt buộc để thực hiện những điều chỉnh nhỏ trong mức cung tiền Vì những lý do đó, các

Trang 19

nước phát triển thường ít khi thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc để điều hành CSTT dù vẫn luôn

ấn định một tỷ lệ dự trữ bắt buộc Chẳng hạn, trong suốt thời gian xảy ra khủng hoảng tài chính năm 2008, NHTW của các nước như Hoa Kỳ, Anh Quốc, v.v đều đã không thực hiện việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Tuy nhiên, công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc được sử dụng ở hầu hết các quốc gia Nhìn chung, ở các nước phát triển tỷ lệ này thường được quy định ở mức 5% - 8% và ổn định trong một thời gian khá dài Còn ở các nước đang phát triển, do kinh tế thị trường có

có biến động, hệ thống tài chính - ngân hàng lạc hậu, tỷ lệ này thường được xác định ở mức cao hơn (8% - 12%) và thường xuyên phải thay đổi, tùy theo biến động thị trường tiền tệ và mục tiêu ngắn hạn đặt ra của chính sách [41]

1.1.3.2 Lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu

Lãi suất tái chiết khấu hay lãi suất chiết khấu (gọi chung là lãi suất chiết khấu) của NHTW là lãi suất mà NHTW áp dụng cho các món vay đối với các ngân hàng và một số các trung gian tài chính phi ngân hàng khác thông qua các công cụ cho vay của mình Nói cách khác, lãi suất chiết khấu là lãi suất được áp dụng nội bộ giữa NHNN với các NHTM khi các NHTM cần vay cấp cứu để trang trải nhu cầu tiền mặt ngắn hạn

Ở Việt Nam, Lãi suất tái chiết khấu là hình thức lãi suất tái cấp vốn được áp dụng khi NHNN tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác cho các TCTD [28] Như vậy, NHNN áp dụng lãi suất chiết khấu cho hoạt động chiết khấu của mình tức là cho các TCTD vay tiền bằng cách mua lại các giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán Theo quy định hiện hành, thông thường NHNN chỉ chiết khấu các giấy tờ có giá của khu vực nhà nước được phát hành bằng VNĐ bao gồm tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN và trái phiếu NHNN Thời gian chiết khấu tối đa là 91 ngày, do vậy nếu giấy tờ có giá có thời hạn còn lại không quá 91 ngày thì mới có thể được NHNN chiết khấu toàn bộ thời gian còn lại Trường hợp giấy tờ có giá có thời hạn còn lại dài hơn 91 ngày thì NHNN sẽ áp dụng phương thức chiết khấu có kỳ hạn Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các TCTD có thể chiết khấu “tự do” với NHNN mà việc chiết khấu được thực hiện trong phạm vi hạn mức chiết khấu do NHNN xác định Dựa trên mục tiêu CSTT và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, nhu cầu vốn khả dụng và dự báo biến động nhu cầu vốn khả dụng cùng với các chỉ tiêu có liên quan

Trang 20

Giá cả tài sản

Tổng cầu

Giá nhập khẩu

Áp lực lạm phát

Lạm phát

khác, NHNN sẽ xác định tổng hạn mức chiết khấu cho các TCTD, trên cơ sở đó sẽ xác định hạn mức tín dụng cho từng TCTD

Bên cạnh việc điều tiết cung tiền thông qua việc cấp tín dụng cho các TCTD - chủ yếu là các ngân hàng - thông qua phương thức chiết khấu, NHNN Việt nam còn thực hiện việc cấp tín dụng thông qua việc cho vay thấu chi qua đêm theo lãi suất cho vay thấu chi qua đêm - thường bằng với lãi suất chiết khấu- và cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy

tờ có giá, cho vay dựa trên hồ sơ tín dụng của các TCTD theo lãi suất tái cấp vốn - thường cao hơn lãi suất chiết khấu Như vậy có thể thấy NHNN đang sử dụng lãi suất chiết khấu như là lãi suất “sàn” và lãi suất tái cấp vốn như là lãi suất “trần” để điều hành lãi suất cùng với việc sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở để hướng lãi suất liên ngân hàng - lãi suất cho vay qua đêm giữa các NHTM - biến động trong mức “sàn” và

“trần” tương tự theo cách mà Cục dự trữ liên bang Hoa kỳ sử dụng lãi suất quỹ dự trữ liên bang - có vai trò là lãi suất “sàn” - và lãi suất chiết khấu - có vai trò là lãi suất “trần”

Về mặt lý thuyết, khi NHTW thay đổi lãi suất chiết khấu sẽ tác động gián tiếp làm thay đổi cơ số tiền tệ và qua đó tác động đến cung tiền nên sẽ gây ảnh hưởng để làm thay đổi lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay của các trung gian tài chính và đây cũng là cách thức thông dụng mà NHTW sử dụng để thực hiện chức năng người cho vay cuối cùng Tuy nhiên, nhược điểm của công cụ lãi suất chiết khấu là NHTW không thể đảo ngược khi có sai lầm trong việc điều hành của mình và quan trọng hơn nữa là hệ thống ngân hàng có thể không hành động theo ý đồ mà NHTW mong muốn (sơ đồ 1.1)

Sơ đồ 1.1: Dây chuyền tác động của lãi suất chiết khấu

Trang 21

1.1.3.3 Nghiệp vụ thị trường mở

Nghiệp vụ tái chiết khấu là một cửa rất quan trọng để NHTW phát hành tiền vào guồng máy vận động của nền kinh tế, song nó chỉ thực hiện được khi các NHTM nảy sinh nghiệp vụ vay mượn ở NHTW Trong thực tế, nhiều NHTM không chịu vay tiền của NHTW vì những thủ tục ngặt nghèo Do đó, ngoài nghiệp vụ tái chiết khấu, thì nghiệp vụ thị trường mở là một cửa quan trọng khác để NHTW điều chỉnh khối lượng tiền trong lưu thông

Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua, bán ngắn hạn các giấy tờ có giá do NHNN thực hiện trên thị trường tiền tệ nhằm thực hiện CSTT quốc gia [28]

Như vậy, nghiệp vụ thị trường mở là công cụ được NHTW thực hiện bằng cách mua hoặc bán ngắn hạn các giấy tờ có giá trên thị trường tài chính nhằm thay đổi cơ số tiền tệ, qua đó tác động đến mức cung tiền và lãi suất

Khác với các thị trường khác, chủ thể tham gia trên thị trường chỉ bao gồm hai đối tượng là NHTW và các trung gian tài chính, hai đối tượng này luôn ở hai vị thế ngược nhau trên thị trường - kẻ bán, người mua hoặc ngược lại Tất nhiên, NHTW luôn là chủ thể nắm vai trò chủ động quyết định khối lượng, chủng loại giấy tờ có giá và vị thế mua hay bán Do vậy, đây là công cụ mà NHTW các nước phát triển thường hay sử dụng nhất

vì nó cực kỳ linh hoạt, chính xác, thực hiện nhanh chóng và quan trọng hơn nữa là NHTW hầu như kiểm soát hoàn toàn nghiệp vụ này, có thể dễ dàng đảo ngược vị thế trên thị trường khi có sai lầm trong quá trình thực thi Điều cần lưu ý là NHTW hoạt động trên thị trường mở không nhằm mục tiêu lợi nhuận mà hướng đến mục tiêu tối thượng là điều tiết cung tiền Trong khi đó ở vị thế ngược lại, các trung gian tài chính tham gia vào thị trường này có thể vì mục tiêu lợi nhuận hoặc mục tiêu thanh khoản hoặc cả hai

Về lý thuyết cơ bản, khi NHTW thực hiện việc mua các giấy tờ có giá tức là làm gia tăng cơ số tiền qua đó tác động làm tăng cung tiền và ngược lại, khi NHTW bán các

Trang 22

Tăng tốc độ tăng GDP thực và

lạm phát Gia tăng tổng cầu

Gia tăng xuất khẩu

giấy tờ có giá thì sẽ kéo theo làm giảm cung tiền Tuy nhiên, tác động thực sự của nghiệp

vụ thị trường mở là rất lớn, có thể nhìn nhận chuỗi tác động qua sơ đồ 1.2

Tác động của nghiệp vụ thị trường mở đến cơ số tiền là tác động trực tiếp và đương nhiên nhưng nghiệp vụ thị trường mở sẽ đem lại những tác động khác nhau đến số nhân tiền tùy theo cách thức giao dịch của NHTW Nếu NHTW giao dịch với các NHTM thì khả năng gia tăng số nhân tiền sẽ cao hơn rất nhiều so với việc NHTW giao dịch với các trung gian tài chính phi ngân hàng do bởi các trung gian này có thể rút tiền mặt hoặc thậm chí dù họ để lượng tiền đó gửi tại hệ thống ngân hàng thì các NHTM cũng phải trích lập dự trữ bắt buộc, làm giảm

đi đáng kể mức tác động đến số nhân tiền từ nghiệp vụ thị trường mở

Sơ đồ 1.2: Chuỗi tác động của NHTW khi mua giấy tờ có giá trên

thị trường mở

Trang 23

dịch trên thị trường mở thông qua việc đấu thầu một cách tự do, không áp đặt và để cho quy luật cung cầu tự nhiên quyết định giá của các giấy tờ có giá - tức là số tiền mà NHTW nhận thanh toán hoặc thanh toán cho các trung gian tài chính tham gia - thông qua lãi suất được hình thành từ việc đấu thầu Trên thực tế, việc đấu thầu có thể được thực hiện thông qua hai phương thức là đấu thầu khối lượng hoặc đấu thầu lãi suất

Ở phương thức đấu thầu khối lượng, NHTW sẽ xác định khối lượng trúng thầu trên

cơ sở khối lượng dự thầu của các đối tượng tham gia và khối lượng thông báo của NHTW theo mức lãi suất ấn định được thông báo trước Do đó, đấu thầu theo phương thức này NHTW quyết định lãi suất trước nhưng tác động đến hoạt động kinh tế thông qua việc phân

bổ quy mô khối lượng cung tiền vào nền kinh tế và qua đó gián tiếp tác động đến lãi suất của các NHTM

Trong khi đó, ở phương thức đấu thầu lãi suất, NHTW sẽ xác định lãi suất trúng thầu trên cơ sở khối lượng dự thầu của các đối tượng tham gia và và khối lượng thông báo của NHTW Lãi suất trúng thầu là lãi suất dự thầu thấp nhất (nếu NHTW mua giấy tờ

có giá) hoặc lãi suất dự thầu cao nhất (nếu NHTW bán giấy tờ có giá) mà tại mức lãi suất

đó đạt được khối lượng giấy tờ có giá NHTW cần mua hoặc cần bán Tùy theo quy định của mỗi nước hoặc diễn biến tình hình thực tế, NHTW có thể quy định việc đấu thầu lãi suất theo nguyên tắc lãi suất thống nhất - đấu thầu một giá theo kiểu Hà lan - hoặc nguyên tắc lãi suất riêng lẽ - đấu thầu nhiều giá theo kiểu Hoa kỳ

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách tiền tệ

1.1.4.1 Các chủ thể thực thi

Đối với Việt Nam, việc tổ chức và thực thi CSTT được quy định ở Điều 3 của Luật NHNN như sau:

Quốc hội quyết định và giám sát việc thực thi CSTT của quốc gia, mức lạm phát

dự kiến hàng năm trong mối tương quan với mức tăng trưởng kinh tế, cân đối ngân sách nhà nước

Chủ tịch nước thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến Pháp và Pháp luật quy

định trong việc đàm phán, ký kết, tham gia, phê chuẩn điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc

Trang 24

tế nhân danh Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lĩnh vực tài chính, tiền tệ

và hoạt động ngân hàng

Chính phủ xây dựng dự án CSTT quốc gia, mức lạm phát dự kiến hàng năm trình

Quốc Hội quyết định, tổ chức thực thi CSTT quốc gia, quyết định lượng tiền cung ứng bổ sung cho lưu thông hàng năm, mục đích sử dụng số tiền này và định kỳ báo cáo Ủy Ban thường vụ quốc hội, quyết định các chính sách cụ thể khác và các giải pháp thực thi

NHTW là cơ quan của Chính Phủ thực hiện chức năng xây dựng và thực thi CSTT

quốc gia, quản lý Nhà nước về hoạt động tiền tệ, tín dụng và hoạt động Ngân hàng; là ngân hàng phát hàng, ngân hàng của các TCTD và Ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính Phủ Hoạt động của NHTW nhằm ổn định giá trị đồng tiền, góp phần bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và các TCTD, thúc đẩy hoạt động kinh tế

Để tư vấn cho Chính Phủ trong việc quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính Phủ về CSTT, theo điều 4 Luật NHNN, Chính Phủ cho thành lập Hội đồng tư vấn CSTT quốc gia, bao gồm: Chủ tịch là phó thủ tướng Chính phủ, Ủy viên thường trực là Thống đốc NHNN, các ủy viên khác là các đại diện của Bộ Tài Chính, Bộ Thương mại, Bộ Kế Hoạch và Đầu tư, các bộ, ngành hữu quan khác và các chuyên gia về lĩnh vực ngân hàng

Bên cạnh đó, còn có các chủ thể khác như các nhà môi giới và kinh doanh chuyên nghiệp

1.1.4.2 Các nhân tố khác

Một là, tình hình thực tiễn của nền kinh tế Trong một khoảng thời gian nhất

định, CSTT của một quốc gia thường được vận dụng theo hai hướng cơ bản, đó là CSTT

mở rộng và CSTT thắt chặt, tùy thuộc vào tình hình thực tiễn của nền kinh tế Cụ thể là:

Khi nền kinh tế tăng trưởng quá nóng, lạm phát cao phải sử dụng CSTT thắt chặt Bởi lẽ, để kiềm chế lạm phát kìm giữ tốc độ tăng trưởng quá ngưỡng, phải hạn chế mức cung ứng tiền tệ hoặc tăng lãi suất để hạn chế đầu tư và thu hẹp bớt tiêu dùng của toàn bộ nền kinh tế

Khi nền kinh tế rơi vào trạng thái giảm phát, để mở rộng sản xuất kinh doanh cần phải sử dụng CSTT mở rộng (nới lỏng) Bỡi lẽ trong trường hợp này doanh nghiệp tăng

Trang 25

cả về số lượng và quy mô để tạo việc làm, thúc đẩy đầu tư và khắc phục suy thoái Hướng tác động của CSTT là tăng mức cung tiền tệ tạo điều kiện để hạ lãi suất làm tốt hơn điều kiện đầu tư và tiêu dùng trên toàn bộ nền kinh tế

Do đó, để thực thi tốt CSTT phải theo dõi chặt chẽ cả thị trường tiền tệ và thị trường hàng hóa Khi thị trường hàng hóa biến động mạnh có thể chọn giải pháp ổn định mức cung tiền, để lãi suất biến động nhờ đó mà điều chỉnh thị trường hàng hóa dần về trạng thái cân bằng Khi thị trường hàng hóa ổn định, mức cầu tiền biến động ảnh hưởng xấu tới trạng thái cân bằng của sản lượng, thì chọn giải pháp giữ ổn định lãi suất và thay đổi mức cung tiền

Hai là, thể chế kinh tế Tùy các thể chế kinh tế khác nhau mà các quốc gia tiến

hành thực hiện thực thi CSTT khác nhau Cụ thể là:

Trong thể chế NHTW độc lập với Chính phủ, trực thuộc Quốc hội thì NHTW là do Quốc hội lập ra, chịu sự điều hành và chi phối của Quốc hội về nhân sự và các mục tiêu của CSTT Do đó, một mặt NHTW toàn quyền quyết định việc xây dựng và thực thi CSTT mà không bị ảnh hưởng bởi các áp lực chi tiêu của Ngân sách hoặc các áp lực chính trị khác, mặc khác phải chịu trách nhiệm trước Quốc Hội về những hoạt động của mình nói chung và việc điều hành CSTT nói riêng Lúc này, CSTT được coi là tác nhân điều tiết, hướng dẫn và kế hoạch của nền kinh tế NHTW có điều kiện quan tâm đến mục tiêu dài hạn, đảm bảo đồng tiền được vững mạnh và mức giá ổn định Hàng năm, căn cứ vào các mục tiêu vĩ mô và các tín hiệu thị trường, NHTW sẽ đưa ra các kế hoạch cung ứng tiền và các hoạt động điều tiết cung tiền kịp thời Trên cơ sở đó, việc thực thi CSTT được NHTW tiến hành một cách tương đối độc lập thông qua các công cụ điều tiết của mình

Trong thể chế NHTW trực thuộc Chính phủ, NHTW thuộc tổ chức của Chính phủ, chịu sự chi phối trực tiếp của Chính phủ về nhân sự, tài chính và đặc biệt về các quyết định liên quan đến việc xây dựng và thực thi CSTT Tuy nhiên, tùy đặc điểm của mỗi nước khác nhau mà NHTW có thể đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Thủ tướng Chính Phủ hoặc một cơ quan đại diện cho Chính Phủ Hàng năm, căn cứ vào những mục tiêu đề ra NHTW sử dụng công cụ của CSTT để tác động đến cung tiền nhằm đạt những mục tiêu

Trang 26

đó Mọi quyết định về cung ứng tiền tệ đều chịu sự chuẩn y tối hậu của Chính Phủ Do

đó, quá trình điều hành CSTT chịu sự ảnh hưởng của chính sách tài chính - ngân hàng và

chi tiêu của Chính phủ chứ không có tính độc lập như trường hợp trên

Ba là, môi trường chính trị - xã hội Đây là một nhân tố quan trọng và có quan hệ

với các nhân tố khác Môi trường chính trị - xã hội ổn định và tiến bộ cùng với sự quản lý

có hiệu quả của nhà nước là điều kiện không thể thiếu được trong việc đảm bảo việc thực thi CSTT có hiệu quả Bởi chính sự ổn định về chính trị - xã hội và sự quản lý có hiệu quả của nhà nước sẽ góp phần khắc phục những khuyết tật mà các cơ chế cũ đã mắc phải trong quá trình thực thi CSTT trong thời gian qua, bên cạnh đó có thể sử dụng có hiệu quả tất cả các nguồn lực xã hội phục vụ cho quá trình thực thi có hiệu quả chính sách này

Bốn là, trình độ phát triển của thị trường tài chính Thị trường tài chính là nơi

diễn ra các hoạt động mua bán giấy tờ có giá, thể hiện quyền của chủ thể mua đối với chủ thể phát hành, qua đó vốn được luân chuyển từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn Nó luôn gồm hai bộ phận cấu thành đó là: thị trường vốn là nơi mua bán vốn trung và dài hạn và thị trường tiền tệ là nơi mua bán vốn ngắn hạn Thị trường tài chính có ảnh hưởng đến việc thực thi CSTT ở chỗ nó là môi trường để NHTW thực thi Nghiệp vụ thị trường mở - một trong ba công cụ cơ bản của CSTT Ở các quốc gia hiện nay, công cụ phổ biến trên thị trường mở là tín phiếu Kho bạc do Chính phủ phát hành, thời hạn ngắn và dễ mua bán Ngoài tín phiếu NHTW còn có thương phiếu, chứng chỉ… Khi cần tác động vào cung tiền, NHTW sẽ thực hiện hoạt động mua hoặc bán chứng khoán trên thị trường mở Bản chất của thị trường tài chính luôn tạo ra một “phong vĩ biểu” cho nền kinh tế Thông qua những hoạt động mua bán trên thị trường tài chính mà hình thành nên giá cả của các loại vốn đầu tư Qua đó, NHTW sẽ tìm được thông tin cần thiết cho việc đề ra chính sách phù hợp trong quá trình thực thi CSTT, làm cho dòng vốn luôn được di chuyển có hiệu quả, nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững Vì vây, có thể nói một thị trường tài chính phát trier là một trong những điều kiện cần và đủ để thực thi có hiệu quả CSTT

Năm là, các tác động bên ngoàì như: xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế

quốc tế, thị trường tài chính tiền tệ thế giới,… cũng ảnh hưởng đến quá trình thực thi CSTT của các quốc gia

Trang 27

1.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

1.2.1 Những tất yếu thuộc về vai trò của thực thi chính sách tiền tệ

1.2.1.1 Thực thi chính sách tiền tệ với vai trò tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế

Về thực chất, nền kinh tế thị trường chính là nền kinh tế tiền tệ Trong nền kinh tế

đó, ổn định và tăng trưởng là hai mục tiêu bền chặt với nhau, tiền đề cho nhau Bởi lẽ, không thể có tăng trưởng kinh tế mà không có đầu tư; không thể có đầu tư mà không có tiết kiệm; không thể có tiết kiệm mà thiếu sự ổn định giá cả, ổn định tiền tệ và vốn được tạo ra để đầu tư là nguồn vốn có nguồn gốc từ tăng trưởng kinh tế Vì vậy, việc thực thi CSTT luôn có mối quan hệ biện chứng với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế mà trước tiên quá trình thực thi CSTT luôn có vai trò tạo đà tăng trưởng và phát triển kinh tế nhanh và bền vững

Tăng trưởng và phát triển kinh tế nhanh, bền vững luôn được xem là mục tiêu hàng đầu của các quốc gia, nhất là các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam

Do đó, mọi hoạt động và chính sách kinh tế, trong đó có CSTT luôn hướng vào mục tiêu này

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hoặc tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một thời gian nhất định (thường tính trong một năm) Còn phát triển kinh tế là sự tăng trưởng gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế

và nâng cao chất lượng cuộc sống Việc gia tăng khối lượng tiền có ảnh hưởng rất lớn đến thực trạng kinh tế Cụ thể là:

Xét về mặt định tính: Khi khối lượng tiền tăng lên, lãi suất tín dụng thường giảm

xuống, đồng tiền “rẻ” đi, sẽ kích thích đầu tư, tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Mặt

khác tăng khối tiền tệ làm tăng tổng cầu, mãi lực thị trường tăng, hàng tồn đọng giảm, khích lệ gia tăng sản xuất Ngược lại, khi khối lượng tiền cung ứng giảm, lãi suất sẽ tăng, làm cho đầu tư giảm, từ đó kéo theo sự giảm sút của tổng sản phẩm quốc dân (GDP)

Xét về mặt định lượng: Có nhiều nhà kinh tế nghiên cứu đến vấn đề này

Trang 28

Trước tiên, C.Mác đã nghiên cứu về sự ra đời, bản chất, chức năng và quy luật lưu thông tiền tệ Ông khẳng định rằng tiền tệ ra đời là kết quả tất yếu trong quá trình phát triển lâu dài của sản xuất và lưu thông hàng hóa [20] Trên cơ sở đó, khối lượng tiền trong lưu thông nhiều hay ít do tổng giá cả hàng hóa và tốc độ lưu thông trung bình của tiền quyết định Từ luận điểm đó, C.Mác đã rút ra quy luật lưu thông tiền tệ: “Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật quy định số lượng tiền cần thiết cho lưu thông hàng hóa ở mỗi thời kỳ nhất định, tức số lượng tiền tệ cần giao dịch mua bán trên thị trường” [20]

Thông thường, số lượng tiền cần thiết cho lưu thông được tính theo công thức: Khi tiền chỉ đóng vai trò là phương tiện lưu thông, nó được thực hiện theo công thức [1]:

M =

Trong đó:

M: Tổng số tiền tệ cần để thanh toán trong lưu thông

P: Giá cả của hàng hóa

Q: Tổng số hàng hóa và dịch vụ đem ra lưu thông

v: Số vòng chu chuyển trung bình của 1 đơn vị tiền tệ

PQ: Tổng giá cả của hàng hóa và dịch vụ đem ra lưu thông

A: Tổng giá cả của hàng hóa bán nợ với nhau

PQ - (A + B ) + C

V

PQ

v

Trang 29

B: Tổng giá cả hàng hóa khấu trừ với nhau

C: Tổng giá cả hàng hóa đến kì hạn thanh toán

v: số vòng lưu thông của đơn vị tiền tệ

Quy luật này cho phép ta xác định được khối lượng tiền cần thiết trong lưu thông

để đáp ứng yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ, C.Mác chỉ rõ: khối lượng tiền thực tế trong lưu thông phải cân đối với khối lượng tiền cần thiết, tức Kt = Kc Nếu vi phạm quy tắc này thì yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ không được tôn trọng làm ảnh hưởng tới quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa

Có thể nói, C.Mác đã khởi xướng một phương pháp để dự tính khối lượng tiền cần thiết trong lưu thông (cầu tiền), theo đó cầu tiền biến động tùy thuộc vào sự biến động của khối lượng, giá cả hàng hóa và tốc độ luân chuyển của tiền tệ Mặc khác, ông cũng xác định phương pháp quản lý lượng tiền trong nền kinh tế là khối lượng tiền thực tế trong lưu thông phải phù hợp với khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông trong thời kỳ

đó Nếu trong một khoảng thời gian, lượng tiền thực tế trong lưu thông lớn hơn lượng tiền cần thiết cho lưu thông thì nền kinh tế sẽ nằm trong tình trạng thừa tiền dẫn đến giá trị đồng tiền giảm xuống, giá cả hàng hóa tăng lên, dễ gây rối loạn giá cả Ngược lại, nếu lượng tiền thực tế trong lưu thông nhỏ hơn lượng tiền cần thiết cho lưu thông, sẽ dẫn đến tình trạng khan hiếm tiền tệ, lưu thông hàng hóa bị ách tắt dẫn đến kìm hãm sản xuất

Như vậy, học thuyết của C.Mác đã dẫn một đường đi cơ bản để điều tiết lượng tiền trong lưu thông Việc bơm tiền vào lưu thông hay rút bớt tiền ra khỏi lưu thông, sẽ

do thị trường quyết định Tức phải căn cứ vào lượng tiền cần thiết cho lưu thông Chính luận thuyết này của ông là cơ sở cho những luận thuyết về tiền tệ nói chung và CSTT nói riêng của các nhà kinh tế hiện đại sau này

Fisher cho rằng: tốc độ lưu thông tền tệ (V) có thể đo bằng tỷ số giữa GNP danh nghĩa và khối lượng tiền cung ứng (M)

V = GNP/M hoặc V = Tổng số giá cả (P.Q)/M

MV = GNP = PQ

Từ đó, các nhà kinh tế thuộc phái ‘‘trọng tiền’’ hiện đại (theo học thuyết số lượng tiền tệ) đi đến đẳng thức M.V = P.Q Điều này có nghĩa là, khi V và Q không đổi, nếu

Trang 30

khối lượng tiền (M) tăng lên thì giá cả (P) sẽ tăng theo và GNP danh nghĩa tăng tương ứng

Tóm lại, qua việc thực thi CSTT, phải khống chế sao cho: Khối lượng tiền tệ cung

ứng trong một thời kỳ nhất định phải cân đối với mức tăng tổng sản phẩm quốc dân danh nghĩa (mức tăng thực tế cộng với tỷ lệ trược giá đã được khống chế) và vòng quay tiền tệ trong từng thời kỳ

Cùng với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, CSTT cũng hướng vào mục tiêu phát triển kinh tế trên cơ sở tạo công ăn việc làm cho mỗi người, nhất là đối với các quốc gia chưa phát triển, nơi nào sức lao động là hàng hóa thì nơi đó thất nghiệp là một căn bệnh kinh niên CSTT chỉ có thể hướng vào việc tạo công ăn việc làm nhiều hơn, thông qua các tác động để mở rộng đầu tư, mở rộng hoạt động kinh tế Từ đó góp phần hạn chế được thất nghiệp và tăng mức sống dân cư Chống thất nghiệp, tạo công ăn việc làm chỉ có thể đạt tới mức nhân dụng cao nhất, khó có thể toàn dụng được Muốn đạt được mục tiêu về phát triển kinh tế thì phải chống suy thoái, nhất là suy thoái kinh tế chu kỳ, đạt được mức tăng trưởng ổn định

Nhìn tổng quát giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm có mâu thuẫn đối nghịch nhau Cụ thể là: Thường thường khi kiềm chế được lạm phát, có nguy cơ tăng trưởng kinh tế giảm, dễ dẫn đến suy thoái và thất nghiệp Ngược lại, khi mở rộng đầu

tư, khắc phục suy thoái, tạo tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm thì khó kiềm chế lạm phát Do đó, có nhiều ý kiến khác nhau về xử lý mâu thuẫn và tìm điểm dung hòa giữa các

xu hướng nói trên Có nhà kinh tế hiên đại chủ trương đưa mục tiêu chống lạm phát lên hàng đầu, tất cả phải phục tùng yêu cầu chống lạm phát, kể cả tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm, nhưng nếu ổn định mà để ổn định thì thực chất là tụt hậu, khó khăn sẽ phát sinh và có nguy cơ tái phát Một số nhà kinh tế khác chủ trương phải ‘‘mua’’ bằng một tỷ lệ lạm phát thấp để đạt được mức độ tăng trưởng kinh tế vừa phải và một tỷ lệ thất nghiệp có thể chấp nhận được Nó tạo được tình thế ổn định hơn, tránh được các cơn sốc lạm phát, khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp Có người còn cho rằng, chấp nhận một mức lạm phát nhẹ nhàng (một con số) đôi khi là liều thuốc bổ quan trọng để kích thích phát triển sản xuất

Trang 31

Tuy nhiên, cần phải chú ý rằng, nền kinh tế thị trường luôn có những thăng trầm, biến động mang tính chu kỳ vốn có của nó Từ tăng trưởng quá mức, nền kinh tế phát triển nóng quá dễ chuyển qua lạm phát Từ lạm phát dễ rơi vào trạng thái ngừng trệ, rồi suy thoái kinh tế

Một khối tiền tệ tăng thêm để cứu vãn tình thế có thể chuyển nền kinh tế qua giai đoạn phục hưng, rồi từ phục hưng lại có khả năng chuyển qua giai đoạn tăng trưởng và phát triển nhanh, bền vững

Tóm lại, việc thực thi CSTT góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế từ

đó góp phần tạo việc làm, kiềm chế thất nghiệp, tăng mức sống dân cư, góp phần chuyển dịch cơ cấu đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý

Tuy nhiên nếu theo đuổi chính sách này quá liều lượng thì mục tiêu tăng trưởng và việc làm sẽ khó đạt được Đơn giản là bởi vì CSTT thắt chặt sẽ hướng tới thu hẹp tín dụng trong nền kinh tế và làm cho giá trị đồng tiền trong nước cao hơn so với đồng tiền nước ngoài Một khi đồng tiền trong nước bị lên giá như vậy sẽ làm giảm trình độ cạnh tranh ngoại thương và làm cho cán cân ngoại thương bị thâm hụt Ngoài ra, khi thu hẹp tín dụng cũng sẽ làm cho lãi suất trong nước gia tăng và như vậy chi phí đầu tư tăng hơn trước do đó sẽ làm giảm nhiệt tình mở rộng chi tiêu đầu tư Hơn nữa, trong khi khống chế lạm phát thì đòi hỏi chính phủ phải thắt lưng buộc bụng trong chi tiêu bằng các giải pháp tăng thuế thu nhập, giảm chi tiêu Tăng thuế làm giảm nhiệt tình làm việc và giảm chi tiêu đầu tư khu vực doanh nghiệp Giảm chi tiêu chính phủ sẽ có khả năng giảm chi tiêu phát triển và điều này làm chậm tăng trưởng của những nước đang phát triển trong quá trình công nghiệp hóa

1.2.1.2 Thực thi chính sách tiền tệ với vai trò điều tiết kinh tế

Thứ nhất, điều tiết thị trường tiền tệ và tín dụng nhằm ổn định giá trị đối nội và đối ngoại của bản tệ

Trong điều kiện lưu thông các dấu hiệu giá trị thì lạm phát luôn là khả năng tiềm tàng, thậm chí khó tránh khỏi, khi mà hệ thống kim bản vị cũng như tiền tự động chuyển đổi ra vàng không còn nữa, thì NHTW luôn coi việc kiểm soát lạm phát, ổn định tiền tệ là

Trang 32

vai trò quan trọng hàng đầu của CSTT Kiểm soát lạm phát nhằm ổn định giá cả hàng hóa

là tiền đề cho nền kinh tế phát triển bình thường, đảm bảo đời sống người lao động

Giá trị đối nội của bản tệ là sức mua của nó đối với hàng hóa và dịch vụ trong nước Sức mua của đồng tiền biến đổi tỷ lệ nghịch với giá cả hàng hóa và dịch vụ Ổn định sức mua đồng tiền là một đại lượng tương đối Nó luôn biến động xung quanh một biên độ cho phép

Giá trị đối ngoại của đồng tiền được đo bằng tỷ giá hối đoái thả nổi Tỷ giá hối đoái là một đại lượng so sánh giá trị giữa nội tệ và ngoại tệ, vì vậy tỷ giá hối đoái có liên quan đến hàng loạt các yếu tố như: giá thành xuất khẩu và nhập khẩu, tỷ lệ lạm phát làm thay đổi sức mua đồng tiền trong nước, tình trạng cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế làm biến đổi quan hệ cung cầu ngoại tệ, yếu tố tâm lý, chính sách can thiệp

tỷ giá của Nhà nước

Tỷ giá hối đoái là một yếu tố, một tín hiệu kinh tế hết sức nhạy cảm Tỷ giá bị nâng lên quá sức mua thực tế của đồng tiền trong nước, đều kéo theo những hệ quả tích cực hoặc tiêu cực khó lường cho nền kinh tế Cho nên đường lối kinh tế xuyên suốt trong điều hành CSTT là ổn định tỷ giá hối đoái

Như vậy, giá trị đối nội và đối ngoại của đồng tiền có mối liên quan tác động qua lại với nhau Muốn ổn định bản tệ và kinh tế trong nước, phải có biện pháp ổn định giá cả hàng hóa, dịch vụ và tỷ giá hối đoái

Thứ hai, điều tiết nền kinh tế vĩ mô

Như chúng ta biết, khi mức cung ứng tiền thay đổi sẽ làm biến động tiêu dùng, đầu

tư, sản lượng quốc gia và giá cả, do đó, có thể khẳng định rằng, quá trình thực thi CSTT góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế Cụ thể là:

Nếu NHTW thực thi CSTT nới lỏng sẽ làm cho tiền tệ trở nên dồi dào với chi phí

hạ Người tiêu dùng và nhà sản xuất có nhiều tiền hoặc không mấy khó khăn và tốn kém

để có tiền Điều này kích thích họ tiêu dùng cho cuộc sống và tiêu dùng cho đầu tư nhiều hơn Chính sự gia tăng tiêu dùng và đầu tư làm sản xuất liên tục được mở rộng Lúc này

sẽ tạo ra được ngày càng nhiều việc làm, hạn chế thất nghiệp và gia tăng thu nhập quốc dân Nền kinh tế tăng trưởng nhanh với giá cả có phần cao hơn

Trang 33

Ngược lại, nếu NHTW thực thi CSTT thắt chặt sẽ làm cho chi phí để có tiền trở nên cao hơn và tiền trở nên khan hiếm Sản xuất thiếu vốn, người mua thiếu tiền buộc họ phải thu hẹp cả tiêu dùng lẫn đầu tư Lúc này, tiêu dùng giảm sẽ kéo theo tổng cầu giảm

và giá cả hạ Tuy nhiên, cái giá phải bỏ ra là sản suất bị thu hẹp, thất nghiệp tăng, thu nhập quốc dân giảm và nền kinh tế rơi vài tình trạng suy thoái

1.2.1.3 Thực thi chính sách tiền tệ với vai trò khắc phục khủng hoảng, suy thoái để ổn định kinh tế vĩ mô

Thứ nhất, khắc phục khủng hoảng, suy thoái

Một số nhà kinh tế cho rằng, nền kinh tế thị trường có bản chất chu kỳ tăng trưởng

- khủng hoảng - suy thoái Trong đó, suy thoái kinh tế luôn được xem là căn bệnh nguy hiểm hơn cả lạm phát Vì vậy, để chửa trị nó cần có bàn tay hữu hình của Nhà nước Trong đó, NHTW với các biện pháp tăng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông, kích thích đầu tư, tạo công ăn việc làm và khắc phục suy thoái kinh tế

Một số nhà kinh tế, đặc biệt là các nhà trọng tiền cho rằng bản chất của nền kinh tế thị trường không có khủng hoảng có tính chu kỳ Khủng hoảng là do NHTW phát hành tiền quá mức cần thiết Do đó, khủng hoảng có tính chu kỳ có thể bị loại bỏ nếu NHTW thực thi một cách hữu hiệu CSTT, chỉ phát hành lượng tiền phù hợp với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Trong khi đó, C.Mác lại cho rằng, khủng hoảng là căn bệnh kinh niên của nền kinh tế thị trường TBCN…

Như vậy, mặc dù các nhà kinh tế có cách nhìn khác nhau về bản chất khủng hoảng của nền kinh tế thị trường TBCN Nhưng họ đều thừa nhận tầm quan trọng của CSTT trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Bởi lẽ, CSTT có thể góp phần hạn chế

và khắc phục những tác động tiêu cực của khủng hoảng và suy thoái

Thứ hai, ổn định kinh tế vĩ mô

Trong nền kinh tế thị trường, đằng sau các hoạt động thường nhật, nhộn nhịp là vô vàn quyết định của hàng triệu người tiêu dùng, hãng sản xuất kinh doanh và các tổ chức công cộng Những quyết định này mang tính chất phi tập trung, rất linh hoạt và cũng rất sáng tạo Song mặt trái của chúng là sự phát triển không ổn định, lúc thái quá, lúc đình trệ gây ra sự mất ổn định nền kinh tế

Trang 34

Trong thực tế, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến ổn định kinh tế Song người ta thường phân chia các nguyên nhân thành hai nhóm cơ bản:

Thứ nhất, những nguyên nhân từ phía cầu: chẳng hạn, vì một lý do nào đó, dân chúng

quyết định giữ nhiều tiền mặt hơn, lúc này sẽ làm cho nhu cầu về hàng hóa sẽ giảm sút đột ngột, tổng cầu sẽ giảm Lúc đầu giá cả chưa thay đổi, sản lượng sẽ giảm mạnh, song các hãng cảm thấy hàng hóa ứ đọng nhiều, họ sẽ giảm giá từ từ làm lãi suất giảm, đầu tư lại tăng lên, cuối cùng tổng cầu sẽ lại tăng lên đến mức ban đầu, nhưng trong quá trình tự điều chỉnh

đó, nền kinh tế đã trải qua suy thoái và thất nghiệp Để phản ứng lại những cơn sốc về phía cầu, Nhà nước cần sử dụng các chính sách để đưa nền kinh tế trở lại trạng thái cân bằng, tránh suy thoái và thất nghiệp - gọi là chính sách ổn định kinh tế

Thứ hai, nguyên nhân về giá cả Giá cả trong nền kinh tế thị trường cũng có thể

biến động không hợp lý, thậm chí ngay cả khi không có sự can thiệp của Nhà nước Các nguyên nhân thường thấy là: những biến động giá cả thị trường quốc tế, các doanh nghiệp dự đoán sai và đặt giá sai, độc quyền, sức ép của công đoàn đòi tăng lương,… khi giá cả hàng hóa tăng sẽ làm tổng cầu giảm đi Nếu chính phủ dùng chính sách để thúc đẩy tổng cầu, thì điều thường thấy là sản lượng có thể đạt được mức ban đầu nhưng với giá cao hơn

Như vậy, dù là nền kinh tế ở bất cứ trình độ nào, ổn định nền kinh tế luôn luôn là mục tiêu của các chính sách kinh tế vĩ mô trong đó có CSTT

1.2.1.4 Thực thi chính sách tiền t với việc thực hiện các cam kết của quá trình

mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế

CSTT là công cụ chủ yếu và trực tiếp tác động đến những vấn đề kinh tế trong nước, nó gián tiếp tác động đến quan hệ kinh tế quốc tế Đồng thời, CSTT và chính sách kinh tế đối ngoại như: chính sách thuế quan, chính sách tỷ giá hối đoái,… có nhiều điểm giao thoa

Có thể khẳng định rằng, CSTT là tấm gương phản ánh các hoạt động kinh tế trong nước, và do đó là tiền đề quan trọng, là cơ sở để tăng cường và phát triển kinh tế ngoài nước nhằm thực hiện các cam kết của quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 35

1.2.2 Những tất yếu xuất phát từ quan hệ của các chính sách kinh tế, của hệ thống kinh tế vĩ mô

Để đạt được mục tiêu kinh tế vĩ mô thì bất kỳ quốc gia nào cũng đều phải sử dụng một hệ thống công cụ kinh tế trong đó có 4 chính sách kinh tế vĩ mô đó là: chính sách tài khóa, CSTT, chính sách thu nhập và chính sách kinh tế đối ngoại Đồng thời người ta cho rằng, mức độ tiền tệ hóa cao hay thấp của một nền kinh tế phản ánh trình độ phát triển kinh tế của nước đó Dó đó, tiền tệ đã thâm nhập và trở thành một yếu tố có vai trò hết quan trọng trong mọi nền kinh tế Vì vậy, CSTT luôn được xem là chính sách có vị trí trung tâm, gắn kết các chính sách kinh tế vĩ mô lại với nhau Tuy nhiên, trong giới hạn nghiên cứu của luận văn này, chúng ta chỉ đề cập đến mối quan hệ giữa CSTT với chính sách tài khóa Bỡi lẽ chính sách tài khóa ảnh hưởng trực tiếp đến lượng tiền trong lưu thông - là đối tượng tác động của CSTT

Chính sách tài khóa là hệ thống các giải pháp được thể chế hóa nhằm điều chỉnh thu nhập và chi tiêu của chính phủ để hướng nền kinh tế vào sản lượng và việc làm mong muốn [18, tr.207]

Như đã biết, tiền tệ đi vào lưu thông qua nhiều kênh, trong đó có hai kênh chính là ngân sách và tín dụng Do đó, việc ổn định tiền tệ luôn gắn chặt với thu chi ngân sách và tín dụng NHTW chỉ thực hiện được sự ổn định tiền tệ thực sự khi chính sách tài khóa của Chính phủ theo đuổi mục tiêu cân bằng ngân sách Một chính sách tài khóa bành trướng dựa trên thâm hụt ngân sách xét về trung và dài hạn đều ảnh hưởng xấu đến mục tiêu ổn định tiền

tệ của CSTT

Khi ngân sách bị thâm hụt, Chính phủ có thể vay NHTW, NHTM bằng cách phát hành trái phiếu và được NHTW, NHTM mua Đây là hình thức tài trợ tiền tệ Tuy nhiên, khi Chính phủ vay như vậy sẽ làm tăng tổng lượng tiền tệ được đưa vào lưu thông Chính điều này gây bất lợi cho mục tiêu ổn định tiền tệ Cách tốt hơn là Chính phủ vay của các

tổ chức phi Ngân hàng hoặc dân cư bằng cách phát hành trái phiếu Tất nhiên, trong trường hợp này lại tăng cầu tín dụng, tác động đến lãi suất trên thị trường tín dụng, ảnh hưởng đến đầu tư; việc bù đắp thâm hụt ngân sách bằng vay nợ nước ngoài kể cả viện trợ bằng ngoại tệ không hoàn lại cũng không đảm bảo ổn định tiền tệ vì Nhà nước vẫn trang

Trang 36

trải những khoản chi ngân sách trong nước bằng nội tệ, do đó, vẫn làm tăng tổng phương tiện thanh toán; chỉ khi thâm hụt ngân sách bằng ngoại tệ Chính phủ dùng để nhập khẩu đúng bằng mức thâm hụt ngân sách bán hàng nhập khẩu thu nội tệ đảm bảo chi ngân sách

là phù hợp với mục tiêu ổn định tiền tệ Tuy nhiên, để trả được khoản nợ nước ngoài này, chỉnh phủ buộc phải tăng xuất khẩu ảnh hưởng đến cân đối tiền - hàng trong nước Hơn nữa, mức lãi suất nợ nước ngoài hay biến động làm giá trị thực của nợ nước ngoài cũng biến động theo gây mất ổn định tiền tệ

J.Keynes cho rằng Nhà nước cần mạnh dạn chi tiêu dù có thâm hụt ngân sách, sẽ

có tác dụng tạo công ăn việc làm, tạo thu nhập và đẩy mạnh tiêu dùng xã hội, để từ đó lại kích thích sản xuất phát triển Học thuyết Keynes nhấn mạnh vai trò của tiền tệ tác động đến nền kinh tế hiện vật và thực sự là một cuộc cách mạng trong tư tưởng kinh tế học, trong bối cảnh các nước tư bản sau chiến tranh thế giới lần thứ II lâm vào khủng hoảng trì trệ Nhưng từ giữa thập kỷ 70 đến nay, khi nền kinh tế thế giới bị suy thoái, thất nghiệp, lạm phát, hệ thống tiền tệ thế giới bị rối loạn thì học thuyết của Keynes trở nên kém hiệu quả và bị phê phán Friedman cho rằng chính sách phục hồi kinh tế bằng ngân sách thực chất cũng là CSTT Sự kết hợp giữa chính sách ngân sách với CSTT tăng thêm khối lượng tiền tệ là một yếu tố đảm bảo cho sự phục hồi phát triển kinh tế

Tuy nhiên, khi chính sách ngân sách và CSTT theo đuổi những mục tiêu khác nhau dẫn tới những xung đột nhất định Trường hợp dễ thấy là bên cạnh CSTT thắt chặt lại có những chính sách bành tướng ngân sách CSTT thắt chặt nhằm giảm lạm phát có thể làm cho nền kinh tế phát triển chậm, thậm chí suy thoái làm cho nguồn thu thuế bị giảm và ngân sách có nguy cơ bị thâm hụt Với một chính sách ngân sách bành trướng, thâm hụt ngân sách lớn, Chính phủ buộc phải đi vay làm tăng cầu tiền tệ, dẫn đến biến động lãi suất, làm mất ổn định trên thị trường tài chính

Vì vậy, sự kết hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa với CSTT trên cơ sở đảm bảo tính độc lập tương đối trong vận hành hai chính sách này là một yêu cầu đảm bảo cho nền kinh tế không rơi vào trạng thái trì trệ, suy thoái hay phát triển quá nóng gây ra những bất ổn…Điều này cần phải đặc biệt lưu ý trong một nền kinh tế đang chuyển đổi từ cơ chế

Trang 37

tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường mà thâm hụt ngân sách lớn, kéo dài là một đặc trưng

1.3 KINH NGHIỆM THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA MỘT SỐ

NỀN KINH TẾ

1.3.1 Kinh nghiệm

1.3.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Mục tiêu hàng đầu của việc thực thi CSTT của Trung Quốc hiện nay là ổn định lạm phát, cân bằng cán cân ngoại thương Do đó, Trung Quốc phải theo đuổi chính sách tăng trưởng kinh tế vừa phải, thắt chặt cung tiền vừa phải và ổn định tỷ giá hối đoái thực Đồng thời nổ lực hoàn thiện hệ thống truyền dẫn của CSTT, bao gồm phát triển thị trường tiền tệ, thị trường trái phiếu và thị trường chứng khoán [43, tr.63]

Như đã biết, Trung Quốc là nước láng giềng của Việt Nam, có quá trình xây dựng CNXH và cải cách kinh tế tương tự như Việt Nam, do đó, cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý có nhiều điểm phù hợp Vì vậy, nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc trong hoạch định và thực thi chính sách kinh tế nói chung và CSTT nói riêng là một nội dung không thể thiếu trên con đường xây dựng CNXH

1.3.1.2 Kinh nghiệm của một số nước trong khối ASEAN

Khối ASEAN gồm 11 quốc gia ttrong đó có Việt Nam, tuy nhiên, trong giới hạn của luận văn này chỉ xét đến 2 quốc gia điển hình là Thái Lan và Sigapore

* Kinh nghiệm của Thái Lan: Mục tiêu của Thái lan là theo đuổi chính sách thu

hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, để thực hiện mục tiêu đó Thái Lan thực hiện tự do hóa tài chính, tỷ giá hối đoái cố định, lãi suất trong nước phụ thuộc vào lãi suất thế giới [43, tr.62] Tuy nhiên, quá trình thực thi CSTT của Thái Lan cũng như các nước đang phát triển khác vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập Khủng hoảng tiền tệ xảy ra là một cái giá phải trả cho những yếu kém đó Sau khủng hoảng tài chính tiền tệ 1998, Thái Lan thực hiện chấn chỉnh hệ thống ngân hàng, phát triển thị trường mở và thị trường chứng khoán Đây là bài học kinh nghiệm cho những nước đi sau như Việt Nam để tránh những

Trang 38

thiệt hại có thể xảy ra trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

* Kinh nghiệm của Sigapore: Mục tiêu của quá trình thực thi CSTT của Singapore

là vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với tỷ lệ lạm phát thấp, vừa đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế [43, tr.62] Trong đó, chính sách tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan trọng, phù hợp với nền kinh tế nhỏ nhưng ở mức độ mở cửa rất cao Hiện nay, Singapore

là nước phát triển nhất trong khu vực nhưng nền kinh tế Việt Nam và Singapore có nhiều điểm tương đồng, đó là xuất phát điểm của một nền kinh tế nhỏ nhưng có tiềm lực và xu hướng hội nhập rất cao Vì vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm thực thi CSTT của Sigapore là phù hợp với nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

1.2.2 Một số gợi ý cho Việt Nam trong thực thi chính sách tiền tệ trong giai đoạn hiện nay

Thứ nhất, mục tiêu thực thi CSTT của Việt Nam trong thời gian qua là thúc đẩy

tăng trưởng kinh tế với tỷ lệ lạm phát vừa phải (lạm phát 1 con số) nhưng diễn biến lạm phát vẫn ở giới hạn cao của mức này, nhất là trong những năm 2007 và 2008 vừa qua Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu của quá trình thực thi CSTT nên hướng vào việc kiềm chế lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền - bao gồm cả giá trị đối nội và đối ngoại - để đạt được mức tăng trưởng kinh tế bền vững, thực hiện ổn định các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô

để các chính sách kinh tế thực thi có hiệu quả

Thứ hai, về các công cụ thực thi CSTT Qua kinh nghiệm thực thi CSTT của một số

nền kinh tế tương đồng, chúng ta có thể nhận thấy một điểm chung là khi các quốc gia đã đạt được mức ổn định nhất định, để tác động đến cung ứng tiền, NHTW các nước dần dần sử dụng các công cụ gián tiếp thay cho các công cụ trưc tiếp Trong đó, NHTW nên tăng cường

sử dụng nghiệp vụ thị trường mở để điều chỉnh dự trữ của các NHTM và lãi suất trên thị trường liên ngân hàng để phù hợp với xu hướng quốc tế Bên cạnh đó, Việt Nam cần chú trọng chính sách tỷ giá hối đoái, dần dần mở rộng biên độ dao động để tỷ giá sát với thị trường…

Thứ ba, về hệ thống truyền dẫn CSTT Quá trình thực thi CSTT tác động đến nền

kinh tế ở mức độ nào phụ thuộc vào việc hoàn thiện hệ thống truyền dẫn CSTT, bao gồm phát triển thị trường tiền tệ, thị trường trái phiếu…để lãi suất chiếc khấu có tác dụng điều

Trang 39

tiết lãi suất thị trường và tác động đến cung tiền Do đó, trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam cần phải hoàn thiện hệ thống này để nâng cao hiệu lực thực thi CSTT

Thứ tư, về hoạt động của hệ thống ngân hàng Qua việc thực thi CSTT của Thái

Lan nói riêng và các nước ASEAN nói chung, chúng ta nhận thấy các cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính thường bắt đầu từ khủng hoảng hệ thống ngân hàng, do đó, trong giai đoạn hiện nay, nhất là trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta nên xem việc hoàn thiện hệ thống ngân hàng là quan trọng nhất, làm cơ sở để thực thi có hiệu quả CSTT Để làm được điều đó, cần thực hiện các bước hoàn thiện sau:

Một là, Chính phủ cần có khung pháp lý lành mạnh cho hệ thống tài chính, một cơ

chế giám sát hữu hiệu, minh bạch hệ thống ngân hàng nhằm điều tiết tín dụng hợp lý, kiềm chế sự bùng nổ cho vay, nếu không thì quá trình tự do hóa tài chính dễ dẫn đến sự

đổ vỡ hàng loạt hệ thống ngân hàng

Hai là, xây dựng hệ thống ngân hàng có tiềm lực vững mạnh bằng cách gia tăng vốn

điều lệ của NHTM, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn và các dịch vụ ngân hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh của hệ thống ngân hàng trong nước cùng với việc phát triển thị trường tài chính nhằm khai thông nguồn vốn trong nước, động viên nhiều nguồn vốn nhàn rỗi nằm ngoài hệ thống ngân hàng và đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, huy động nhiều nguồn lực đáp ứng cho tăng trưởng kinh tế và đáp ứng nguồn vốn cho công nghiệp hóa Cần xem nguồn lực trong nước là chủ yếu để tránh trường hợp phát triển kinh tế theo kiểu “bong bóng” như Thái Lan để đưa đất nước rơi vào khủng hoảng và gây tổn thương hệ thống ngân hàng Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực quản trị ngân hàng, đào tạo và sử dụng có hiệu quả nhân sự, kiểm soát chặt chẽ các khoản vay, hạn chế các khoản cho vay với nguy cơ tiềm

ẩn rủi ro cao

Ba là, đa dạng hóa các hình thức xử lý nợ, nhanh chóng xử lý tài sản thế chấp, tồn

đọng để thu hồi, xử lý các khoản nợ khó đòi, tích cực thu hồi nợ

Bốn là, cơ cấu lại hệ thống NHTM, kiên quyết giải thể những ngân hàng yếu kém,

chấn chỉnh, sáp nhập, hợp nhất, tạo nên hệ thống ngân hàng lớn mạnh đủ sức tiếp nhận có hiệu quả luồng vốn quốc tế đổ vào trong nước khi thực hiện tự do hóa tài chính và ngăn chặn những mầm mống gây nguy cơ khủng hoảng tài chính - tiền tệ

Trang 40

Chương 2 TÌNH HÌNH THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001 - 3/2009

2.1 TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ MỤC TIÊU THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 2001-3/2009

Trong giai đoạn 2001 - 2003: Năm 2001 là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết của Đại Hội Đại biểu toàn quốc lần IX, là năm bắt đầu chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2001 - 2010 trong bối cảnh kinh tế trong nước năm 2000 đạt tốc độ tăng trưởng khá 6,79%, nền kinh tế có dấu hiệu giảm phát đạt -1,6%, nền kinh tế nước ta cũng gặp không ít khó khăn, thách thức do những yếu kém vốn có của nền kinh tế trình độ thấp, thiên tai, dịch bệnh xảy ra nhiều nơi; trong khi đó, tình hình kinh tế thế giới và khu vực diễn biến khá phức tạp, nhất là sau sự kiện ngày 11/9/2001 ở Mỹ, kinh tế thế giới và khu vực đan xen biểu hiện suy thoái, phục hồi và phát triển… Do đó, Đảng và Chính phủ

đã đặt ra mục tiêu phát triển kinh tế xã hội năm 2001 là huy động nội lực, ngăn chặn đà giảm sút nhịp độ tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế với tốc độ cao hơn năm 2000, đạt được sự chuyển biến mạnh mẽ trong cải cách cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, chủ động tham gia tiến trình hội nhập kinh tế … Trước bối cảnh và nhiệm vụ

phát triển kinh tế đặt ra như vậy, NHNN đã đề ra mục tiêu thực thi CSTT năm 2001 -

2003, là thực hiện một CSTT nới lỏng thận trọng để vừa đảm bảo mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời thực hiện chủ trương kích cầu của Chính Phủ, tiếp tục ổn định hệ thống ngân hàng [25] Các

tiêu chí tiền tệ định hướng cũng được đề ra cụ thể từng năm sát với diễn biến kinh tế, tiền

tệ Mức tăng trưởng tín dụng luôn định hướng ở mức từ 21 - 22%, và huy động vốn tăng

ở mức từ 24 - 25% Bên cạnh đó, năm 2003 là năm quan trọng đối với quá trình thực thi CSTT bởi lẽ đó là năm NHNN quyết định sửa đổi Luật NHNN theo hướng phù hợp với thực tiễn nền kinh tế trong nước và thế giới

Năm 2004, 2005 là 2 năm cuối thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế vĩ mô, Chính phủ đặt ra mục tiêu tăng tưởng kinh tế cao nhằm hoàn thành mục tiêu phát triển

Ngày đăng: 27/06/2014, 21:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và đào tạo (2002), Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
2. Phạm Đỗ Chí, Phạm Quang Diệu (2005), Kinh tế Việt Nam từ đổi mới đến hội nhâp, website www.dangcongsan.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam từ đổi mới đến hội nhâp
Tác giả: Phạm Đỗ Chí, Phạm Quang Diệu
Năm: 2005
3. Đặng Chí Chơn (1995), NHNN và việc thực thi có hiệu quả CSTT trong cơ chế thị trường Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ kinh tế,TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: NHNN và việc thực thi có hiệu quả CSTT trong cơ chế thị trường Việt Nam
Tác giả: Đặng Chí Chơn
Năm: 1995
4. Nguyễn Văn Công (2004), Chính sách tỷ giá hối đoái trong tiến trình hội nhập kinh tế ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách tỷ giá hối đoái trong tiến trình hội nhập kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Công
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
5. Phan Thị Cúc, Đoàn Văn Huy (2007), Giáo trình lý thuyết tài chính tiền tệ, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý thuyết tài chính tiền tệ
Tác giả: Phan Thị Cúc, Đoàn Văn Huy
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2007
7. Lê Vinh Danh (1997), CSTT và sự điều tiết vĩ mô của NHTW ở các nước tư bản phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: CSTT và sự điều tiết vĩ mô của NHTW ở các nước tư bản phát triển
Tác giả: Lê Vinh Danh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
8. Lê Vinh Danh (2005), CSTT và sự điều tiết vĩ mô của NHTW, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: CSTT và sự điều tiết vĩ mô của NHTW
Tác giả: Lê Vinh Danh
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2005
9. Lê Vinh Danh (2006), Tiền và hoạt động Ngân hàng, Nxb Tài Chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền và hoạt động Ngân hàng
Tác giả: Lê Vinh Danh
Nhà XB: Nxb Tài Chính
Năm: 2006
11. N. Gregory Mankiw (2002), Kinh tế vĩ mô, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế vĩ mô
Tác giả: N. Gregory Mankiw
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2002
12. Đinh Xuân Hạ (2005), “Đổi mới điều hành CSTT của NHNN trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Tạp chí Tài chính, (số 8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới điều hành CSTT của NHNN trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, "Tạp chí Tài chính
Tác giả: Đinh Xuân Hạ
Năm: 2005
13. Nguyễn Văn Hậu (2008), “Toàn cầu hóa tài chính với CSTT - tín dụng quốc gia”, Thông tin những vấn đề kinh tế chính trị học, (Số 18) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa tài chính với CSTT - tín dụng quốc gia”", Thông tin những vấn đề kinh tế chính trị học
Tác giả: Nguyễn Văn Hậu
Năm: 2008
14. Hoàng Ngọc Hòa (2003), “Những thách thức đối với tài chính - tiền tệ Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí kinh tế và phát triển, (Số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thách thức đối với tài chính - tiền tệ Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế”, "Tạp chí kinh tế và phát triển, (
Tác giả: Hoàng Ngọc Hòa
Năm: 2003
15. Hoàng Ngọc Hòa (2007), Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Hoàng Ngọc Hòa
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
16. Lê Thị Thanh Hằng (2007), Giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành CSTT của NHNN Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại Học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành CSTT của NHNN Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Thanh Hằng
Năm: 2007
17. Vũ Văn Hóa, Đinh Xuân Hạng (2007), Giáo trình lý thuyết tiền tệ, Nxb Tài Chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý thuyết tiền tệ
Tác giả: Vũ Văn Hóa, Đinh Xuân Hạng
Nhà XB: Nxb Tài Chính
Năm: 2007
18. Trần Quang Lâm (2003), Tập bài giảng kinh tế vĩ mô, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng kinh tế vĩ mô
Tác giả: Trần Quang Lâm
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
19. Lê Quốc Lý (2004), Tỷ giá hối đoái - Những vấn đề lý luận và thực tiễn điều hành ở Việt Nam, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ giá hối đoái - Những vấn đề lý luận và thực tiễn điều hành ở Việt Nam
Tác giả: Lê Quốc Lý
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2004
20. C.Mác - Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác - Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
21. C.Mác - Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 24, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác - Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
22. C.Mác - Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 25, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: oàn tập
Tác giả: C.Mác - Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Dây chuyền tác động của lãi suất chiết khấu - LUẬN VĂN: Thực Thi chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay potx
Sơ đồ 1.1 Dây chuyền tác động của lãi suất chiết khấu (Trang 20)
Sơ đồ 1.2: Chuỗi tác động của NHTW khi mua giấy tờ có giá trên - LUẬN VĂN: Thực Thi chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay potx
Sơ đồ 1.2 Chuỗi tác động của NHTW khi mua giấy tờ có giá trên (Trang 22)
Bảng 2.1: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc không kỳ hạn và dưới 12 tháng - LUẬN VĂN: Thực Thi chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay potx
Bảng 2.1 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc không kỳ hạn và dưới 12 tháng (Trang 48)
Bảng 2.2: Diễn biến Dự trữ bắt buộc năm 2007 - 3/2009 - LUẬN VĂN: Thực Thi chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay potx
Bảng 2.2 Diễn biến Dự trữ bắt buộc năm 2007 - 3/2009 (Trang 50)
Bảng 2.3: Lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu của NHNN - LUẬN VĂN: Thực Thi chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay potx
Bảng 2.3 Lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu của NHNN (Trang 51)
Bảng 2.4: Diễn biến các mức lãi suất điều hành của NHNN 2007 - 2008 - LUẬN VĂN: Thực Thi chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay potx
Bảng 2.4 Diễn biến các mức lãi suất điều hành của NHNN 2007 - 2008 (Trang 52)
Bảng 2.5: Diễn biến các mức lãi suất điều hành của NHNN năm 2009 - LUẬN VĂN: Thực Thi chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay potx
Bảng 2.5 Diễn biến các mức lãi suất điều hành của NHNN năm 2009 (Trang 53)
Bảng 2.6: Một số hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở Việt Nam - LUẬN VĂN: Thực Thi chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay potx
Bảng 2.6 Một số hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở Việt Nam (Trang 54)
Đồ thị 2.1: Diễn biến tăng trưởng tín dụng và Tổng phương tiện - LUẬN VĂN: Thực Thi chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay potx
th ị 2.1: Diễn biến tăng trưởng tín dụng và Tổng phương tiện (Trang 58)
Đồ thị 2.2: Diễn biến lãi suất huy động và cho vay VNĐ năm 2008 - 3/2009 - LUẬN VĂN: Thực Thi chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay potx
th ị 2.2: Diễn biến lãi suất huy động và cho vay VNĐ năm 2008 - 3/2009 (Trang 59)
Bảng 2.9: Cơ cấu kinh tế phân theo ngành kinh tế theo giá thực tế - LUẬN VĂN: Thực Thi chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay potx
Bảng 2.9 Cơ cấu kinh tế phân theo ngành kinh tế theo giá thực tế (Trang 71)
Bảng 2.10: Cơ cấu kinh tế phân theo thành phần kinh tế theo giá thực tế giai đoạn - LUẬN VĂN: Thực Thi chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay potx
Bảng 2.10 Cơ cấu kinh tế phân theo thành phần kinh tế theo giá thực tế giai đoạn (Trang 72)
Đồ thị 2.3: Diễn biến CPI qua 11 tháng 2008 - LUẬN VĂN: Thực Thi chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay potx
th ị 2.3: Diễn biến CPI qua 11 tháng 2008 (Trang 73)
Bảng 2.11: Việc làm và số lượng lao động trong các doanh nghiệp - LUẬN VĂN: Thực Thi chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay potx
Bảng 2.11 Việc làm và số lượng lao động trong các doanh nghiệp (Trang 74)
Bảng 2.12: Thu nhập bình quân đầu người và tỷ lệ hộ nghèo - LUẬN VĂN: Thực Thi chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay potx
Bảng 2.12 Thu nhập bình quân đầu người và tỷ lệ hộ nghèo (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w