tư tưởng hội nhập KTQT của Đảng qua các kì đại hội
Trang 1
MỤC LỤC Trang Danh mu ̣c các từ viết tắt……… ……… ………… 3
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1 Một số khái niệm 5
1.2 Hội nhập kinh tế quốc tế và quá trình hình thành các tổ chức kinh tế quốc tế 6
CHƯƠNG 2 TƯ TƯỞNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA ĐẢNG QUA CÁC KỲ ĐẠI HỘI 2.1 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986- 1990) 9
2.1.1 Mục tiêu và nhiệm vụ kinh tế tổng quát 11
2.2 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991- 1995) 13
2.2.1 Mục tiêu và nhiệm vụ kinh tế tổng quát 13
2.2.2 Tư tưởng của Đảng trong hội nhập kinh tế quốc tế 14
2.3 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996-2000) 15
2.3.1 Mục tiêu và nhiệm vụ kinh tế tổng quát 15
2.3.2 Tư tưởng của Đảng trong hội nhập kinh tế quốc tế 16
2.4 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001-2005) 17
2.4.1 Mục tiêu và nhiệm vụ kinh tế tổng quát 17
2.4.2 Tư tưởng của Đảng trong hội nhập kinh tế quốc tế 18
2.5 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006-2010) 18
2.5.1 Mu ̣c tiêu và nhiê ̣m vu ̣ tổng quát 18
2.5.2 Tư tưởng của Đảng trong hô ̣i nhâ ̣p kinh tế quốc tế 19
2.6 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011-20150 22
2.6.1 Mục tiêu và nhiệm vụ kinh tế tổng quát 22
2.6.2 Tư tưởng của Đảng trong hội nhập kinh tế quốc tế 23
2.7 Kết quả đạt được trong hội nhập kinh tế quốc tế trong hơn 25 năm đổi mới 24
2.7.1 Thành tựu 24
2.7.2 Hạn chế và thách thức 27
CHƯƠNG 3
CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ- MỘT NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
Trang 2
3.1 Nhìn lại chặng đường đã qua 30
3.2 Một số kiến nghị về chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam đến năm 2020 31
KẾT LUẬN 33
Danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo……… …….…34
Trang 3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AFTA : Khu vực thương mại tự do các nước Đông Nam Á
APEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á- Thái Bình Dương
ASEAN : Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ASEM : Diễn đàn hợp tác Á- ÂU
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
EC : Cộng đồng kinh tế châu Âu
EPA : Hiệp định đối tác kinh tế
EU : Liên minh châu Âu
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FPI : Đầu tư gián tiếp nước ngoài
FTA : Hiệp định thương mại tự do
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
ODA : Viện trợ phát triển chính thức
PCA : Hợp tác toàn diện
USD : Đô la Mỹ
WB : Ngân hàng thế giới
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 4Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt là sau những năm 1970, có bốn yếu tố cơ bản quyết định xuhướng phát triển của nền kinh tế thế giới bao gồm: sự suy yếu hoặc ít nhất là sự thay đổi trong vai trò báquyền của nước Mỹ, quá trình toàn cầu hóa tài chính và sản xuất, sự phát triển của mạng lưới các địnhchế hợp tác quốc tế, và sự gia tăng cạnh tranh giữa các quốc gia và các công ty.
Hội nhập kinh tế quốc tế (international economic intergration) được sử dụng để chỉ quá trình gắn kết nềnkinh tế và thị trường của một quốc gia với nền kinh tế và thị trường và khu vực thông qua các biện pháp
tự do hóa và mở cửa thị trường trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương.Để hiểu rõ hơn
về hội nhập kinh tế quốc tế cần phân biệt nó với hợp tác kinh tế quốc tế hội nhập kinh tế quốc tế là giaiđoạn phát triển cao của hợp tác kinh tế quốc tế và phân công lao động quốc tế
Hội nhập quốc tế, trước hết và chủ yếu trên bình diện kinh tế, là một nội dung quan trọng trong đườnglối đối ngoại vủa Đảng và Nhà nước ta hướng tới việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại,đáp ứng yêu cầu của sựu nghiệp cách mạng nước nhà.Từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới đến nay, hộinhập quốc tế ngày càng trở nên cấp bách đối với nước ta nhằm vượt ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh
tế, đẩy lùi cuộc bao vây , cấm vận thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trong bài tiểu luận này, chúng ta sẽ nghiên cứu tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề hộinhập kinh tế quốc tế được thể hiện thông qua các văn kiện Đại hội VI,VII,VIII, IX, X, XI nhằm phát triểnkinh tế Việt Nam, thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh
Trang 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 Một số khái niệm
Hội nhập quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa
con người Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường cũng là động lực hàng đầu thúc đẩy quá trình hộinhập Hội nhập diễn ra dưới nhiều hình thức, cấp độ và trên nhiều lĩnh vực khác nhau, theo tiến trình từthấp đến cao Hội nhập đã trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động mạnh mẽ đến quan hệquốc tế và đời sống của từng quốc gia Ngày nay, hội nhập quốc tế là lựa chọn chính sách của hầu hết cácquốc gia để phát triển
Thuật ngữ “hội nhập quốc tế” trong tiếng Việt có nguồn gốc dịch từ tiếng nước ngoài (tiếng Anh là
“international integration”, tiếng Pháp là “intégration internationale”) Đây là một khái niệm được sửdụng chủ yếu trong các lĩnh vực chính trị học quốc tế và kinh tế quốc tế, ra đời từ khoảng giữa thế kỷtrước ở châu Âu, trong bối cảnh những người theo trường phái thể chế chủ trương thúc đẩy sự hợp tác vàliên kết giữa các cựu thù (Đức-Pháp) nhằm tránh nguy cơ tái diễn chiến tranh thế giới thông qua việc xâydựng Cộng đồng châu Âu
Hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu lớn của thế giới cũng đồng thời chỉ ra con đường phát triển không thể nào khác đối với các nước trong thời đại toàn cầu hóa là tham gia hội nhập quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế nước ta với nền kinh tế khu vực và nền kinh tế thế
giới theo luật chơi chung Phá vỡ sự biệt lập giữa các quốc gia, các vùng đất trên thế giới và sự tùy thuộclẫn nhau giữa các nước và các nền kinh tế do sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dưới tác độngcủa cách mạng khoa học- công nghệ
Ở Việt Nam, thuật ngữ ‘hội nhập kinh tế quốc tế” bắt đầu được sử dụng từ khoảng giữa thập niên 1990cùng với quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN, tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) vàcác thể chế kinh tế quốc tế khác
Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi phải mở rộng các thị trường quốc gia, hình thành thịtrường khu vực và quốc tế thống nhất Đây là động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung
Hội nhập kinh tế là nền tảng hết sức quan trọng cho sự tồn tại bền vững của hội nhập trong các lĩnh vựckhác, đặc biệt là hội nhập về chính trị và nhìn chung, được các nước ưu tiên thúc đẩy giống như một đònbẩy cho hợp tác và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa
Cơ chế thị trường định hướng theo xã hội chủ nghĩa là một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước pháp quyền chủ nghĩa xã hội hướng tới mục tiêu dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, phápluật, và bằng cả sức mạnh vật chất của lực lượng kinh tế nhà nước; đồng thời sử dụng cơ chế thị trường,
áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giảiphóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo
vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân.Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện tư duy, quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về sự phùhợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ đi lên chủnghĩa xã hội ở Việt Nam
Trang 6
1.2 Hội nhập kinh tế quốc tế và quá trình hình thành các tổ chức kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nước với kinh tế khu vực và thế giớithông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế theo những hình thức khác nhau, từ đơn phươngđến song phương , tiểu khu vực/vùng , khu vực, liên khu vực và toàn cầu Hội nhập kinh tế có thể diễn ratheo nhiều mức độ Theo một số nhà kinh tế, tiến trình hội nhập kinh tế được chia thành năm mô hình cơbản từ thấp đến cao như sau:
• Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA): Các nước thành viên dành cho nhau các ưu đãithương mại trên cơ sở cắt giảm thuế quan, nhưng còn hạn chế về phạm vi (số lượng các mặthàng đưa vào diện cắt giảm thuế quan) và mức độ cắt giảm Hiệp định PTA của ASEAN(1977), Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ (2001), Hiệp định GATT (1947 và 1994) là các ví
dụ cụ thể của mô hình liên kết kinh tế ở giai đoạn thấp nhất
• Khu vực mậu dịch tự do (FTA): Các thành viên phải thực hiện việc cắt giảm và loại bỏ cáchàng rào thuế quan và các hạn chế về định lượng (có thể bao gồm cả việc giảm và bỏ một sốhàng rào phi thuế quan) trong thương mại hàng hóa nội khối, nhưng vẫn duy trì chính sáchthuế quan độc lập đối với các nước ngoài khối Ví dụ: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Âu(EFTA), Khu vực mậu dịch tự do bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN(AFTA) Những năm gần đây, phần lớn các hiệp định FTA mới có phạm vi lĩnh vực điềutiết rộng hơn nhiều Ngoài lĩnh vực hàng hóa, các hiệp định này còn có những quy định tự
do hóa đối với nhiều lĩnh vực khác như dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ…
Ví dụ: Hiệp định FTA giữa ASEAN với Úc-Niudilân (2009), Hiệp định Đối tác xuyên TháiBình dương (TPP- đang đàm phán)
• Liên minh thuế quan (CU): Các thành viên ngoài việc cắt giảm và loại bỏ thuế quan trongthương mại nội khối còn thống nhất thực hiện chính sách thuế quan chung đối với các nướcbên ngoài khối Ví dụ: Nhóm ANDEAN và Liên minh thuế quan Nga-Bêlarút-Cadăcxtan
• Thị trường chung (hay thị trường duy nhất): Ngoài việc loại bỏ thuế quan và hàng rào phiquan thuế trong thương mại nội khối và có chính sách thuế quan chung đối với ngoài khối,các thành viên còn phải xóa bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển của các yếu tố sản xuấtkhác (vốn, lao động…) để tạo thành một nền sản xuất chung của cả khối Ví dụ: Liên minhchâu Âu đã trải qua giai đoạn xây dựng thị trường duy nhất (Thị trường chung châu Âu)trước khi trở thành một liên minh kinh tế
• Liên minh kinh tế-tiền tệ: Là mô hình hội nhập kinh tế ở giai đoạn cao nhất dựa trên cơ sởmột thị trường chung/duy nhất cộng thêm với việc thực hiện chính sách kinh tế và tiền tệchung (một đồng tiền chung, ngân hàng trung ương thống nhất của khối) Ví dụ: EU hiệnnay
Hội nhập kinh tế là nền tảng hết sức quan trọng cho sự tồn tại bền vững của hội nhập trong các lĩnh vựckhác, đặc biệt là hội nhập về chính trị và nhìn chung, được các nước ưu tiên thúc đẩy giống như một đònbẩy cho hợp tác và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa
Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người.Các cá nhân muốn tồn tại và phát triển phải có quan hệ và liên kết với nhau tạo thành cộng đồng Nhiềucộng đồng liên kết với nhau tạo thành xã hội và các quốc gia-dân tộc Các quốc gia lại liên kết với nhautạo thành những thực thể quốc tế lớn hơn và hình thành hệ thống thế giới
Trang 7
Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi phải mở rộng các thị trường quốc gia, hình thành thịtrường khu vực và quốc tế thống nhất Đây là động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung
Từ sau Chiến tranh thế giới II, đặc biệt là từ khi chấm dứt Chiến tranh lạnh, cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của lực lượng sản xuất thế giới nhờ hàng loạt tiến bộ nhanh chóng về khoa học-công nghệ, xu thế hòabình-hợp tác, nỗ lực tự do hóa-mở cửa của các nước đã thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế trên nhiều lĩnhvực, đặc biệt là trong kinh tế, phát triển rất nhanh và trở thành một xu thế lớn của quan hệ quốc tế hiệnđại Quá trình này diễn ra trên nhiều cấp độ: song phương, đa phương, tiểu vùng, khu vực, liên khu vực vàtoàn cầu Mức độ hội nhập cũng ngày một sâu sắc hơn, bao quát toàn diện hơn Hầu hết mọi nước trên thếgiới đã và đang tích cực tham gia vào quá trình này
Trên cấp độ toàn cầu, ngay sau Chiến tranh thế giới II, Liên hiệp quốc và hàng loạt các tổ chức chuyênmôn của Liên hiệp quốc, trong đó gồm nhiều thiết chế thuộc hệ thống Bretton Woods (đặc biệt là QuỹTiền tệ quốc tế và Ngân hàng Thế giới), ra đời với số lượng thành viên gia nhập ngày một nhiều hơn, baoquát hầu hết các nước trên thế giới Đây là một tổ chức hợp tác toàn diện, bao quát hầu hết mọi lĩnh vực
và có quy mô toàn cầu Trong một số lĩnh vực, Liên hiệp quốc đã có sự phát triển vượt lên trên sự hợp tácthông thường và có thể nói đã đạt đến trình độ ban đầu của hội nhập (lĩnh vực chính trị-an ninh, lĩnh vựcnhân quyền, lĩnh vực tài chính) Trong lĩnh vực thương mại, tiến trình hội nhập toàn cầu được thúc đẩyvới việc ra đời của một định chế đa phương đặc biệt quan trọng, đó Hiệp định chung về Thương mại vàThuế quan (GATT), sau đó được nối tiếp bằng Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) kể từ năm 1995.Hiện nay, 153 quốc gia và vùng lãnh thổ đã tham gia với tư cách thành viên chính thức của Tổ chức này,khoảng 30 quốc gia khác đang trong quá trình đàm phán gia nhập Trong hơn một thập kỷ qua, WTO đãphát triển mạnh mẽ hệ thống “luật chơi” về thương mại quốc tế, bao quát hầu hết các lĩnh vực của quan hệkinh tế giữa các thành viên như hàng hóa, dich vụ, nông nghiệp, kiểm dịch động thực vật, dệt may, hàngrào kỹ thuật, đầu tư, sở hữu trí tuệ, chống bán phá giá, trợ cấp và các biện pháp đối kháng, các biện pháp
tự vệ, xác định giá trị tính thuế hải quan, giám định hàng hóa, quy tắc xuất xứ, quy tắc và thủ tục giảiquyết tranh chấp… Các quy định cơ bản của WTO trở thành nền tảng của tất cả các thỏa thuận kinh tếkhu vực hay song phương trên thế giới hiện nay Vòng đàm phán Đô-ha, bắt đầu từ hơn mười năm trước,đang tiếp tục mở rộng và củng cố các quy định của WTO theo hướng tự do hóa hơn nữa
Ở cấp độ khu vực, quá trình hội nhập phát triển rất nhanh trong những thập niên 1960 và 1970, đặc biệt
“nở rộ” từ thập niên 1990 trở lại đây Hàng loạt tổ chức/thể chế khu vực đã ra đời ở khắp các châu lục.Hầu như không một khu vực nào trên thế giới hiện nay không có các tổ chức/thể chế khu vực của riêngmình Các tổ chức/thể chế khu vực về chính trị-an ninh và đặc biệt là kinh tế, chiếm nhiều nhất Chỉ riêngtrong lĩnh vực kinh tế, tính đến giữa tháng 5/2011 có 489 hiệp định về mậu dịch khu vực (RTAs) giữa cácthành viên của WTO đã được thông báo cho Ban Thư ký WTO, trong đó 90% là các thỏa thuận mậu dịch
tự do (FTAs) và 10% là các liên minh thuế quan (CU)[17] Bên cạnh đó, có tới hàng trăm RTAs đangtrong quá trình đàm phán hoặc chuẩn bị đàm phán Nhiều tổ chức/thể chế liên kết kinh tế liên khu vựcđược hình thành, ví dụ như APEC, ASEM, ASEAN với các đối tác ngoài khu vực chẳng hạn như Mỹ và
EU (dưới dạng các PCA và FTA), EU với một số tổ chức/thể chế hoặc quốc gia ở các khu vực khác,v.v…
Bên cạnh các cấp độ toàn cầu và khu vực, quá trình hội nhập giữa các nước còn được điều tiết bởi cáchiệp định liên kết song phương, dưới dạng hiệp ước liên minh (chính trị, an ninh, quốc phòng), hiệp địnhđối tác toàn diện, hiệp định đối tác chiến lược, hiệp định kinh tế-thương mại (BFTA, BCU…) Từ cuối
Trang 8
thập niên 1990 trở lại đây, xu hướng ký kết các hiệp định đối tác chiến lược và hiệp định mậu dịch tự do(BFTA) phát triển đặc biệt mạnh mẽ Hầu hết các nước đều đã ký hoặc đang trong quá trình đàm phán cácBFTA Thậm chí, có nước hiện đã ký hoặc đàm phán tới hàng chục hiệp định BFTA (Singapore, TháiLan, Nhật, Úc…) Điều này được lý giải chủ yếu bởi bế tắc của vòng đàm phán Đôha và những ưu thếcủa BFTA so với các hiệp định đa phương (dễ đàm phán và nhanh đạt được hơn; việc thực hiện cũngthuận lợi hơn)
Về phạm vi lĩnh vực và mức độ hội nhập, xem xét các thỏa thuận liên kết khu vực và song phươngtrong thời gian gần đây, có thể thấy rất rõ rằng các lĩnh vực hội nhập ngày càng được mở rộng hơn Bêncạnh xu hướng đẩy mạnh hội nhập kinh tế, các nước cũng quan tâm thúc đẩy hội nhập trong các lĩnh vựckhác, đặc biệt là chính trị-an ninh và văn hóa-xã hội Tiến trình hội nhập toàn diện trong EU đã đạt đếnmức cao, biến tổ chức này trở thành một thực thể gần giống như một nhà nước liên bang ASEAN cũngđang tiến hành mở rộng và làm sâu sắc tiến trình hội nhập khu vực một cách toàn diện hơn thông quaxây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột Cộng đồng Chính trị-An ninh, Cộng đồng Kinh tế vàCộng đồng Văn hóa-Xã hội Hàng loạt các hiệp định đối tác toàn diện hay đối tác chiến lược songphương được ký kết gần đây bao quát khá toàn diện các lĩnh vực hợp tác và liên kết giữa các bên Nếuchỉ xét riêng về mặt kinh tế, thì các thỏa thuận gần đây, chẳng hạn như Hiệp định Mậu dịch tự doASEAN-Úc-Niudilân, Hiệp định Mậu dịch tự do Mỹ-Singapore, Hiệp định Mậu dịch tự do Hàn Quốc-Singapore, Hiệp định Mậu dịch tự do Nhật-Singapore, chứa đựng hầu hết các lĩnh vực và do vậy vượt xa
so với các hiệp định FTA truyền thống Nhìn chung, các hiệp định FTA mới toàn diện hơn và bao hàm
cả những lĩnh vực “nhạy cảm” (ví dụ như mua sắm chính phủ, cạnh tranh, lao động, môi trường, hàngrào kỹ thuật) thường không được đề cập trong hầu hết các hiệp định FTA ký trước đây
Bên cạnh đó, các hiệp định FTA mới đưa ra các quy định về tự do hóa triệt để hơn, thể hiện mức độhội nhập cao hơn Ví dụ, trong lĩnh vực hàng hóa, cắt giảm thuế quan mạnh hơn và sớm đưa về 0%, hạnchế tối đa số lượng các sản phẩm loại trừ
Rõ ràng, hội nhập quốc tế đã trở thành một xu thế lớn và một đặc trưng quan trọng của thế giới hiệnnay
Khẳng định hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu lớn của thế giới cũng đồng thời chỉ ra con đườngphát triển không thể nào khác đối với các nước trong thời đại toàn cầu hóa là tham gia hội nhập quốc tế
Trang 9
CHƯƠNG 2:TƯ TƯỞNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA ĐẢNG QUA CÁC KỲ ĐẠI HỘI
Mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường,tranh thủ thêm vốn, công nghệ,kiến thứcquản lý để đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa theo định hướng chủ nghĩa xã hội,thực hiện dân giàunước mạnh,xã hội công bằng,dân chủ,văn minh
Những quan điểm chỉ đạo trong quá trình hội nhập
Quán triệt chủ trương được xác định tại Đại hội IX:”chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theotinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế,bảo đảm độc lập,tự chủ và định hướng
xã hội chủ nghĩa,bảo vệ lợi ích dân tộc; an ninh quốc gia,giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc,bảo vệ môitrường”
Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân;trong quá trình hội nhập cần phát huy mọi tiềm năng
và nguồn lực của các thành phần kinh tế,của toàn xã hội trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác,vừa đấu tranh và cạnh tranh,vừa có nhiều cơ hội,vừakhông ít những thách thức.do đó cần tỉnh táo,khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hộinhập tùy theo đối tượng,vấn đề, trường hợp,thời điểm cụ thể;vừa phải đề phòng tư tưởng trì trệ, thụđộng,vừa phải chống tư tưởng giản đơn,nôn nóng
Nhận thức đầy đủ đặc điểm kinh tế nước ta,từ đó đề ra kế hoạch,lộ trình hợp lý,vừa phù hợp với trình
độ phát triển của đất nước,vừa đáp ứng các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước ta tham gia
và các nước có nền kinh tế chuyển đổi từ kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường
Kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tếquốc tế với yêu cầu giữ vững an ninh,quốc phòng,thông quahội nhập để tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia,nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đấtnước,cảnh giác với những mưu toan thông qua hội nhập để thực hiện ý đồ”diến biến hòa bình” với nướcta
Một số nhiệm vụ cụ thể trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế:
Tiến hành rộng rãi công tác tư tưởng, tuyên truyền, giải thích trong các tổ chức đảng,chính quyền, toànthể, trong các doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân để đạt được nhận thức và hành động thống nhất,nhất quán về hội nhập kinh tế quốc tế, coi đó là nhu cầu vừa bức xúc ,vừa cơ bản và lâu dài của nền kinh
tế nước ta,nâng cao niềm tin vào khả năng và quyết tâm của nhân dân ta chủ động hội nhập kinh tế quốctế
Căn cứ vào nghị quyết của Đại hội IX ,Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010 cũng như cácquy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nhà nước ta tham gia,xây dựng chiến lược tổng thể về hộinhập với một lộ trình cụ thể để các ngành,các địa phương,các doanh nghiệp khẩn trương sắp xếp lại vànâng cao hiệu quả sản xuất,nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh,bảo đảm cho hội nhập có hiệuquả.Trong khi hình thành chiến lược hội nhập, cần đặc biệt quan tâm bảo đảm sự phát triển của các ngànhdịch vụ như tài chính,ngân hàng,viễn thông…những lĩnh vực quan trọng mà ta còn yếu kém
Trang 10
Chủ động và khẩn trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ và trình độ quản lý để nângcao khả năng cạnh tranh,phát huy tối đa lợi thế so sánh của nước ta,ra sức phấn đấu không ngừng nângcao chất lượng,hạ giá thành sản phẩm và dịch vụ,bắt kịp sự thay đổi nhanh chóng trên thị trường thếgiới,tạo ra những ngành,những sản phẩm mũi nhọn để hàng hóa,dịch vụ của ta chiếm lĩnh thị phần ngàycàng lớn trong nước cũng như trên thế giới,đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóađất nước
Tiến hành điều tra,phân loại,đánh giá khả năng cạnh tranh của từng sản phẩm,từng dịch vụ,từng doanhnghiệp,từng địa phương để có biện pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả và tăng cường khả năng cạnhtranh.Gắn quá trình thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa IX về tiếp tục sắp xếp,đổimới,phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trong quá trình hội nhập cần quan tâm tranh thủ những tiến bộ mới của khoa học,công nghệ;khôngnhập khẩu những công nghệ lạc hậu,gây ô nhiễm môi trường
Đi đôi với việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm ,dịch vụ của các doanh nghiệp,cần rasức cải thiện môi trường kinh doanh,khả năng cạnh tranh quốc gia thông qua việc khẩn trương đổi mới vàxây dựng đồng bộ hệ thống pháp luật phù hợp với đường lối của Đảng,với thông lệ quốc tế,phát triểnmạnh cơ cấu hạ tầng;đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính nhằm xây dựng bộ máy nhà nước trongsạch về phẩm chất,vững mạnh về chuyên môn
Tích cực tạo lập đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;thúc đẩy sựhình thành ,phát triển và từng bước hoàn thiện các loại hình thị trường hàng hóa,dịch vụ,lao động, khoahọc-công nghệ,vốn,bất động sản…;tạo môi trường kinh doanh thông thoáng,bình đẳng cho mọi thànhphần kinh tế,đặc biệt chú trọng đổi mới và củng cố hệ thống tài chính, ngân hàng
Có kế hoạch cụ thể đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực vững vàng về chính trị,kiên định mụctiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,có đạo đức trong sang,tinh thông nghiệp vụ và ngoại ngữ,có tácphong công nghiệp và tinh thần kỷ luật cao.Trong phát triển nguồn nhân lực theo những tiêu chuẩn trungnói trên,cần chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và kinh doanh hiểu biết sâu về luật pháp quốc tế vànghiệp vụ chuyên môn,nắm bắt nhanh những chuyển biến trên thương trường quốc tế để ứng xử kịpthời,nắm bắt được kỹ năng thương thuyết và có trình độ ngoại ngữ tốt.Bên cạnh đó cần hêt sức coi trọngviệc đào tạo đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề cao
Cùng với việc đào tạo nhân lực cần có chính sách thu hút,bảo vệ và sử dụng nhân tài;bố trí ,sử dụng cán
bộ đúng với ngành nghề được đào tạo và với sở trường,năng lực từng người
Kết hợp chặt chẽ hoạt động chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại
Cũng như trong lĩnh vực chính trị đối ngoại,trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tếcần giữ vững đường lối độc lập tự chủ,thực hiện đa phương hóa,đa dạng hóa thị trường và đối tác,tham rarộng rãi các tổ chức quốc tế.Các hoạt động đối ngoại song phương và đa phương cần hướng mạnh vàoviệc phục vụ đắc lực nhiệm vụ mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại,chủ động hội nhập kinh tế.Tích cựctham gia đấu tranh vì một hệ thống quan hệ kinh tế quốc tế bình đẳng,công bằng,cùng có lợi,bảo đảm lợiích của các nước đang phát triển và chậm phát triển
Trang 11và an ninh cần có kế hoạch chủ động hỗ trợ tạo môi trường thuận lợi cho quá trình hội nhập.
Tích cực tiến hành đàm phán để gia nhập WTO theo các phương án và lộ trình hợp lý,phù hợp với hoàncảnh của nước ta là một nước đang phát triển ở trình độ thấp và đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấukinh tế Gắn kết quá trình đàm phán với quá trình đổi mới mọi mặt hoạt động kinh tế ở trong nước Kiện toàn Ủy ban quố gia về hợp tác kinh tế quốc tế đủ năng lực và thẩm quyền giúp Thủ tướng Chínhphủ tổ chức, chỉ đạo các hoạt động về hội nhập kinh tế quốc tế
2.1 đại hội toàn quốc lần VI (1986- 1990)
2.1.1 Mục tiêu và nhiệm vụ kinh tế tổng quát
Với quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật.Đại hội VI đă thẳng thắn và khách quanchỉ ra những sai lầm thiếu sót trong chính sách kinh tế, sự lạc hậu về nhận thức lập luận và vận dụng cácquy luật đang hoạt động trong thời kỳ quá độ Sau khi nghiêm khắc kiểm điểm Đại hội cho rằng để khắcphục những sai lầm, khuyết điểm và những bất cập dẫn đến khủng hoảng Kinh tế - Xă hội đ ̣i hỏi phải đổimới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế
Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy; bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sảnxuất; xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lựclượng sản xuất
Trong những năm tới nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước ta trên lĩnh vực đối ngoại là: “Ra sức kết hợpsức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, phấn đấu giữ vững hoà bình ở Đông Dương, góp phầntích cực giữ vững hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới, tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diệnvới Liên Xô và các nước trong cộng đồng xă hội chủ nghĩa”
Xuất khẩu được coi là mũi nhọn có ý nghĩa quyết định với nhiều mục tiêu kinh tế, đồng thời cũng làkhâu chủ yếu của toàn bộ các quan hệ kinh tế đối ngoại Nhiệm vụ là tăng nhanh khối lượng xuất khẩu,đáp ứng được nhu cầu nhập khẩu, khắc phục cung cách làm ăn ít hiệu quả Mức xuất khẩu phải tăng 70%dựa vào các mặt hàng chính là nông sản và nông sản chế biến
2.1.2 Tư tưởng của Đảng trong hội nhập kinh tế quốc tế
Nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế trong chặng đường đầu tiên cũng như sự nghiệp phát triển khoahọc – kĩ thuật và công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa của nước ta tiến hành nhanh hay chậm, điều đó phụthuộc một phần quan trọng vào việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
Muốn kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, nước ta phải tham gia sự phân công laođộng quốc tế; trước hết và chủ yếu mở rộng quan hệ phân công, hợp tác toàn diện với Liên Xô, Lào,Campuchia, với các nước khác trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa; đồng thời tranh thủ mở mang quan hệ
Trang 12Trong toàn bộ công tác kinh tế đối ngoại, khâu quan trọng nhất là đẩy mạnh xuất khẩu để đáp ứng nhucầu nhập khẩu.
Chương trình xuất khẩu cho những năm tới phải tính toán hiệu quả và chính xác hiệu quả kinh tế củatừng mặt hàng để lựa chọn các sản phẩm xuất khẩu có lợi nhất, xác định các sản phẩm xuất khẩu chủ lực,vừa có kim ngạch cao, vừa có điều kiện ổn định và phát triển cả về sản xuất và thị trường tiêu thụ Trên
cơ sở đó, có kế hoạch đầu tư đồng bộ từ nguyên liệu đến chế biến, bảo quản, vận chuyển, đi đôi với tổchức sản xuất và lưu thông hợp lý, đổi mới cơ chế quản lý, sử dụng các chính sách đòn bẩy để thực hiệnđược chương trình xuất khẩu
Trong cơ cấu xuất khẩu của những năm trước mắt, các sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp chiếm vị tríquan trọng nhất Tăng nhanh khối lượng sản phẩm, nâng cao trình độ chế biến, phấn đấu hạ giá thành,tăng hiệu suất thu ngoại tệ Kiên quyết tổ chức tốt việc xuất khẩu nông sản sang vùng Viễn Đông củaLiên Xô, giành vị trí ổn định và ngày càng tăng trên thị trường này
Tận dụng nguồn lực dồi dào và khéo tay để gia công cho nước ngoài, làm những sản phẩm thủ công, mỹnghệ và một số hàng xuất khẩu khác
Đẩy mạnh xuất khẩu các loại khoáng sản có hiệu suất thu ngoại tệ hợp lý
Việc hoàn thành đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết với nước ngoài, thực hiện đúng các hợp đồng xuấtkhẩu cả về số lượng, chất lượng, thời gian giao hàng phải được đặt vào vị trí ưu tiên Tăng cường kỉ luậtgiao hàng xuất khẩu theo kế hoạch, đồng thời gắn việc phân phối hàng nhập khẩu với việc thực hiện kếhoạch giao hàng xuất khẩu, không phân phối theo lối bao cấp, bình quân như trươc
Để khắc phục tình trạng kích giá, tranh mua hàng xuất khẩu, đi đôi với biện pháp hành chính và tổ chức,cần có chính sách thuế xuất khẩu, đặc biệt là đối với một số mặt hàng có hiệu suất thu ngoại tệ cao
Cơ cấu nhập khẩu phải phù hợp và phục vụ tốt cho việc bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh cơ cấu đầu
tư Để khắc phục tình trạng nhập khẩu không hợp lý, ngăn chặn việc nhập khẩu hàng xa xỉ, cần ban hànhchính sách thuế nhập khẩu.Xử lý đúng và kịp thời giá bán hàng nhập khẩu để chống sử dụng lãng phí,chống chất thoát hàng và khuyến khích sản xuất, sử dụng hàng trong nước thay thế hàng nhập khẩu Hoạt động xuất, nhập khẩu phải chuyển mạnh sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa trên nguyêntắc nhà nước độc quyền ngoại thương, trung ương thống nhất quản lý xuất, nhập khẩu theo kế hoạch,pháp luật và chính sách Vấn đề quan trọng hàng đầu là đổi mới cơ chế quản lý đối với các đơn vị sảnxuất, kinh doanh hàng xuất khẩu
Sắp xếp hợp lý các tổ chức kinh doanh xuất, nhập khẩu, loại bỏnhững khâu trung gian và những thủ tụcphiền hà; thống nhất đầu mối xuất khẩu, nhập khẩu đối với một số mặt hàng quan trọng, khắc phục tìnhtrạng tranh mua trên thị trường trong nước và tranh mua, tranh bán trên thị trường ngoài nước Các tổ
Trang 13
chức kinh doanh được giao nhiệm vụ thống nhất đầu mối xuất, nhập khẩu phải hoạt động theo phươngthức kinh doanh, không làm theo lối quan liêu, cửa quyền, gây phiền hà cho người làm xuất khẩu hayngười cần nhập khẩu
Ngân hàng ngoại thương thống nhất việc quản lý ngoại hối, song phải đảm bảo quyền sử dụng ngoại tệcủa các chủ tài khoản ngoại tệ theo đúng chính sách của Nhà nước Nghiên cứu chế độ mau, bán ngoại tệqua ngân hàng ngoại thương để tạo điều kiện áp dụng khi ổn định được đồng tiền trong nước.Có cơ chếđiều chỉnh kịp thời tỷ giá kết toán nội bộ và ngoại tệ, tỷ giá hối đoại phi mậu dịch, kiều hối, không để lạchậu so với tình hình thực tế.Có chính sách khuyến khích Việt kiều gửi tiền và vật tư về nước, thay choviệc gửi hàng tiêu dùng
Cùng với việc mở rộng xuất, nhập khẩu, tranh thủ vốn viện trợ và vay dài hạn, cần vận dụng nhiều hìnhthức đa dạng để phát triển kinh tế đối ngoại
Mở rộng hơn nữa quan hệ hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác, từ các hìnhthức bạn đưa gia công, liên doanh đến đầu tư trực tiếp; tăng cường quan hệ hợp tác, liên kết trực tiếptrong lĩnh vực sản xuất và khoa học giữa các tổ chức kinh tế, khoa học – kĩ thuật của nước ta với các tổchức tương ứng của các nước anh em
Công bố chính sách khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức, nhất là đối vớicác ngành các cơ sở đòi hỏi kĩ thuật cao, làm hàng xuất khẩu.Đi đôi với việc công bố luật đầu tư, cần cócác chính sách và biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài và Việt kiều vào nước ta để hợptác kinh doanh
Coi trọng việc tổ chức, động viên Việt kiều góp phần xây dựng bằng nhiều cách, bao gồm cả đầu tư kĩthuật và vốn; phát huy khả năng của kiều bào trong việc giúp đỡ mở rộng quan hệ hợp tác với các nước,các công ty, các tổ chức kinh tế ở nước ngoài
Đẩy mạnh hợp tác khoa học, kĩ thuật và đào tạo cán bộ, công nhân Tổ chức tốt việc đưa lao động vàchuyên gia đi làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài dưới nhiều hình thức; chú ý tới hình thức nhận thầuđồng bộ công trình xây dựng và các loại dịch vụ Nhanh chóng khai thác các điều kiện thuận lợi của đấtnước để mở rộng du lịch bằng vốn đầu tư trong nước và hợp tác với nước ngoài Phát triển vận tải quốc
tế, dịch vụ cung ứng tàu biển và máy bay
Trong quan hệ liên minh đặc biệt với Lào, Campuchia về kinh tế, khoa học – kĩ thuật, cần coi trọng hiệuquả thiết thực, bảo đảm cho nền kinh tế cả ba nước đều có lợi và cùng phát triển Nhanh chóng đi ngayvào phân công, hợp tác sản xuất, phối hợp đầu tư trong những lĩnh vực có điều kiện; tăng nhanh khốilượng trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa ba nước
Việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại sẽ làm nảy sinh những vấn đề phức tạp, cần có biện pháp hạnchế và ngăn ngừa những hiện tượng tiêu cực, song không vì thế mà đóng cửa lại Có kế hoạch đào tạo, bồidưỡng về phẩm chất và năng lực kinh doanh cho cán bộ làm kinh tế đối ngoại
2.2 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991- 1995)
2.2.1 Mục tiêu và nhiệm vụ kinh tế tổng quát
Trang 14
Nhiệm vụ kế hoạch 5 năm 1991-1995: chúng ta phải đẩy mạnh công cuộc đổi mới nhằm phát huy cao
độ các tiềm năng về lao động và trí tuệ, ruộng đất và tài nguyên, vốn và tài sản trong mỗi gia đình, mỗitập thể và trong toàn xã hội, động viên mọi người ra sức cần kiệm với ý chí tự lực tự cường rất cao để xâydựng đất nước, đồng thời tích cực mở rộng kinh tế đối ngoại, thu hút vốn và công nghệ từ nước ngoài,tạo chỗ đứng trên thị trường quốc tế, không chủ quan mất cảnh giác hoặc bi quan dao động
Mục tiêu chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2000 và nhiệm vụ kế hoạch 5 năm1991-1995 đặt ra cho kinh tế đối ngoại những yêu cầu quan trọng và cấp bách: phải tranh thủ từ nhiềunguồn bên ngoài khoảng 20 tỷ USD vốn đầu tư trong 10 năm (khoảng 6-7 tỷ trong 5 năm 1991-1995) để
bổ sung và phát huy các nguồn lực trong nước nhằm phát triển và từng bước cơ cấu lại nền kinh tế, đổimới công nghệ; phải tăng xuất khẩu trong 5 năm 1991-1995 gấp 2,5 lần so với 5 năm trước và phát triểnnhanh các dịch vụ thu ngoại tệ, đáp ứng được nhu cầu nhập khẩu, tích cực giải quyết vấn đề nợ nướcngoài, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại tệ
2.2.2.Tư tưởng của Đảng trong hội nhập kinh tế quốc tế:
Đường lối đối ngoại đổi mới tiếp tục được khẳng định ở Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII.
Nhiệm vụ đối ngoại bao trùm trong thời gian tới là giữ vững hoà bình, mở rộng quan hệ hữu nghị vàhợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng xă hội chủ nghĩa và bảo vệ tổ quốc Đồngthời góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà b́ình, độc lập dân tọc,dân chủ và tiến bộ xă hội
Cần nhạy bén nhận thức và dự báo được những diễn biến phức tạp và thay đổi sâu sắc trong quan hệquốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và xu hướng quốc tế hoá của nền kinh tế thế giới
để có những chủ trương đối ngoại phù hợp Trong điều kiện mới phải coi vận dụng bài học kết hợp sứcmạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, yếu tố truyền thống vớiyếu tố hiện đại để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xă hội chủ nghĩa
Chúng ta chủ trương hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chínhtrị xă hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoàn bình Trước sau như một tăng cườngđoàn kết và hợp tác với Liên Xô, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hợp tác Việt - Xô nhằm đápứng lợi ích của mỗi nước
Không ngừng củng cố, phát triển quan hệ đoàn kết và hữu nghị đặc biệt giữa Đảng và nhân dân ta vớiĐảng và nhân dân Lào, Đảng và nhân dân Campuchia anh em Đổi mới phương thức hợp tác, chú trọnghiệu quả theo nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau Phấnđấu góp phần sớm đạt được một giải pháp chính trị toàn bộ về vấn đề Campuchia trên cơ sở tôn trọng chủquyền của Campuchia và Hiến chương LHQ
Thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, từng bước mở rộng sự hợp tác Việt Trung, giải quyết những vấn đề tồn tại giữa hai nước thông qua thương lượng
Củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị, đoàn kết, hợp tác với Cu - Ba và các nước xă hội chủ nghĩakhác
Trang 15
Đảng cộng sản Việt Nam chủ trương tăng cường quan hệ với các Đảng cộng sản và công nhân, gópphần tích cực vào sự đoàn kết và hợp tác giữa các Đảng anh em trên cơ sở chủ nghĩa Mac - Lênin, đấutranh vì những mục tiêu cao cả của thời đại
Đoàn kết với lực lượng đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xă hội, sẵn sàng thiếtlập và mở rộng quan hệ với các đảng xă hội - dân chủ, các phong trào dân chủ và tiến bộ trên thế giới Phát triển quan hệ đoàn kết, tin cậy và nâng cao hiệu quả hợp tác nhiều mặt với Ấn Độ Tiếp tục mởrộng hợp tác với các nước đang phát triển khác Tiếp tục củng cố và tăng cường phong trào không liênkết Phát triển quan hệ hữu nghị với các nước ở Đông Nam Á và Châu Á - Thái B́ình Dương, phấn đấucho một Đông Nam Á hoà b́ình, hữu nghị và hợp tác
Mở rộng sự hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nước Bắc Âu, Tây Âu, Nhật Bản và các nước pháttriển khác.Thúc đẩy quá trình bình thường quan hệ với Hoa Kỳ
Góp phần làm cho Liên Hợp Quốc phục vụ đắc lực hơn những mục tiêu của nhân loại là hoà bình, hữunghị, hợp tác và phát triển.Hợp tác với các tổ chức chuyên môn của LHQ và các tổ chức phi chính phủ Với chính sách đối ngoại rộng mở, chúng ta tuyên bố rằng: Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nướctrong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập, phát triển
Việc Liên Xô sụp đổ vào 22-12-1991 đă làm chấn động thế giới với tốc độ nhanh chóng của các sự kiện
và ảnh hưởng mạnh mẽ tới các Đảng cộng sản trên thế giới Đứng trước tình hình đó, Hội nghị Ban chấphành Trung ương lần thứ III khoá VII đă họp và đưa ra 4 phương châm xử lư trong hoạt động đối ngoạicủa ta là:
Một là: Biết kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhânđảm bảo lợi ích chân chính của dân tộc
Hai là: Giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa dạng hoá, đa phương hoá nhưng hai vế
đó không hề mâu thuẫn nhau mà thực ra là thống nhất, phục vụ hỗ trợ cho nhau
Ba là: Nắm vững hai mặt đối lập của hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế
Bốn là: Nhìn rõ vai trò của các tổ chức khu vực, hợp tác tốt với tất cả các nước trên thế giới, nhất là cácnước lớn có vai trò kinh tế, chính trị cường quốc trên thế giới”
Bốn phương châm chỉ đạo trên đưa ra vào đúng thời điểm hợp lý, kịp thời phát huy và đạt được nhữngthành tựu tốt đẹp
Trước những thành tựu của đường lối đối ngoại đổi mới Đại hội VI và VII, Đại hội VIII tiếp tục đườnglối đối ngoại đổi mới chỉ ra đường lối chính sách đối ngoại tới mọi chủ thể trên thế giới
2.3 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996- 2000)
2.3.1.Mục tiêu và nhiệm vụ kinh tế tổng quát
Mục tiêu tổng quát:
Trang 16
Giai đoạn này là bước rất quan trọng của thời kì phát triển mới- đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước Tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao, cải thiện đời sống của nhân dân, nâng cao tích lũy từnội bộ nền kinh tế, tạo tiền đề cho bước phát triển cao hơn vào đầu thế kỉ sau
Nhiệm vụ và các chỉ tiêu kinh tế:
Tập trung sức cho mục tiêu phát triển,đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm bình quân 9-10%; đếnnăm 2000, GDP bình quân đầu người gấp đôi năm 1990
Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản và đổi mới
cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông,lâm, ngư nghiệp bình quân hàng năm 4,5 – 5%
Phát triển các ngành công nghiệp, chú trọng trước hết công nghiệp chế biến, công nghiệp hàng tiêu dùng
và hàng xuất khẩu; xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng về dầu khí, than, xi măng,… tốc
độ tăng trưởng công nghiệp bình quân hàng năm 14-15%
Cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới có trọng điểm kết cấu hạ tầng, trước hết ở những khâu ách tắc vàyếu kém nhất đang cản trở phát triển
Phát triển các ngành dịch vụ, tập trung vào các lĩnh vực vận tải, thông tin liêm lạc, thương mại, du lịch,các dịch vụ tài chính, ngân hàng,… Tốc độ tăng giá trị dịch vụ bình quân hàng năm 12- 13%
Tăng nhanh khả năng và tiềm lực tài chính của đất nước, lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia Huyđộng 20-21% GDP vào ngân sách nhà nước thông qua thuế và phí; kiền chế bội chi ngân sách, thực hiệncam kết trả nợ
Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, tăng khả năngxuất khẩu các mặt hàng đã qua chế biến sâu; tăng sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ
Kim ngạch xuất khẩu bình quân hàng năm khoảng 28%; phát triển mạnh du lịch và các dịch vụ thungoại tệ Kim ngạch nhập khẩu tăng bình quân hàng năm khoảng 24%
Tăng khả năng tiếp cận vốn đầu tư và công nghệ từ bên ngoài
2.3.2.Tư tưởng của Đảng trong hội nhập kinh tế quốc tế: Tiếp tục đổi mới cơ chế kinh tế đối ngoại, đẩy
nhanh quá trình hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới
Trên cơ sở xác định những mặt hàng luật pháp cấm kinh doanh, một số mặt hàng chỉ nhà nước đượckinh doanh và một số mặt hàng phải quy định hạn ngạch, cho phép các đơn vị, chủ yếu là các đơn vị sảnxuất có đăng kí kinh doanh được tham gia hoạt động xuất, nhập khẩu với sự qaunr lý và hướng dẫn củanhà nước Cải tiến phương thức và cơ chế phân bổ hạn ngạch xuất, nhập khẩu
Xây dựng đồng bộ chính sách khuyến khích xuất khẩu, bao gồm sự giúp đỡ về điều kiện sản xuất kinhdoanh, chuyển giao công nghệ, tiếp thị và ưu đãi về thuế; hoàn thiện quy chế hoạt động của quỹ hỗ trợxuất khẩu Tách thuế nhập khẩu, thông nhập làm một với thuế doanh thu và thuế tiêu thụ đặc biệt; thu hẹpbiểu thuế suất và giảm dần mức thuế nhập khẩu Áp dụng danh mục và sự phân loại hàng hóa, quy chế hảiquan phù hợp với thông lệ quốc tế và quy định chung của các nước ASEAN, chuẩn bị cho tiến trình gia
Trang 17Xây dựng quy chế và xác định rõ trách nhiệm của cơ quan hành chính các cấp trong việc kiểm tra thựchiện các dự án đã được cấp giấy phép, giải quyết các trở ngại đối với việc thực hiện dự án, kiểm soát cácdoanh nghiệp đã đi vào hoạt động Bổ sung quy chế thành lập và hoạt động của các văn phòng đại diệncông ty nước ngoại tại Việt Nam, tạo thuận lợi cho công ty nước ngoài xúc tiến đầu tư, kinh doanh, đồngthời đảm bảo sự quản lý nhà nước, ngăn chặn và xử lý kịp thời những hoạt động trái pháp luật Việt Nam
2.4 Đại hội đại biểu lần thứ IX (2001- 2005)
2.4.1 Mục tiêu và nhiệm vụ kinh tế tổng quát
Đường lối kinh tế của Đảng: đẩy mạnh CNH-HĐH,xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ,đưa nước ta trởthành một nước công nghiệp;ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất,đồng thời xây dựng quan hệ sản xuấtphù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa;phát huy cao độ nội lực,đồng thời tranh thủ nguồn lực bênngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh,có hiệu quả và bền vững;tăng trưởng kinh
tế đi liền với phát triển văn hóa
Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010 nhằm:đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém pháttriển,nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân,tạo nền tảng để đến năm 2010 nước ta cơbản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.Nguồn lực con người,năng lực khoa học và côngnghệ,kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế quốc phòng,an ninh được tăng cường;thể chế kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản;vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nângcao
Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2001-2005 là bước rất quan trọng trong việc thực hiện chiếnlược 10 năm nhằm:Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững,ổn định và cải thiện đời sống nhândân.Chuyểndịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động thao hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa.Nâng cao
rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.Mở rộng kinh tế đối ngoại.Tạo chuyển biến mạnh vềgiáo dục,đào tạo,khoa học và công nghệ,phát huy nhân tố con người.Tạo nhiều việc làm,cơ bản xóađói,giảm số hộ nghèo,đẩy lùi các tệ nạn xã hội.Tiếp tục tăng cường cơ cấu hạ tầng kinh tế,xã hội;hìnhthành một bước quan trọng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Giữ vững ổn địnhchính trị và trật tự an toàn xã hội,bảo vệ vững chắc độc lập,chủ quyền,toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốcgia
Các chỉ tiêu kinh tế: Đưa GDP năm 2005 gấp 2 lần so với năm 1995 Nhịp độ tăng trưởng GDP bìnhquân hàng năm thời kì 5 năm 2001 – 2005 là 7.5%, trong đó nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4.3%, côngnghiệp và xây dựng tăng 10.8%, dịch vụ tăng 6.2%