Toàn cầu hóa và các xu thế tài chính quốc tế hiện nay
Trang 1MỤC LỤC
Lời mở đầu 3
CHƯƠNG1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ 7
1.1 Khái niệm tài chính quốc tế 7
1.2 Sự phát triển của tài chính quốc tế 7
1.2.1 Cở sở hình thành tài chính quốc tế 8
1.2.2.Quá trình phát triển của tài chính quốc tế 8
1.3 Đặc điểm tài chính quốc tế 9
1.4 Vai trò của tài chính quốc tế 10
1.4.3 Tạo cơ hội nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính 11
1.4.2 Thúc đẩy các nền kinh tế quốc gia nhanh chóng hội nhập vào nên kinh tế thế giới 11
1.4.1 Là công cụ quan trọng khai thác các nguồn lực ngoài nước phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong nước 11
1.5 Những thành phần cấu thành tài chính quốc tế 11
1.5.1.Tỷ giá hối đoái 12
1.5.2 Đầu tư quốc tế 12
1.5.3 Các thiết chế tài chính 12
CHƯƠNG 2: XU HƯỚNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ 12
2.1 Sự gia tăng mạnh mẽ về tốc độ và quy mô giao dịch tài chính trên phạm vi toàn cầu 13
2.2 Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi sẽ trở thành phổ biến 15
Trang 22.3 Đôla Mỹ vẫn tiếp tục giữ vai trò đồng tiền chủ đạo trong hệ thống tài chính tiền tệ quốc tế, tuy nhiên vai trò đồng tiền chủ đao sẽ ngày càng được đa dạng hóa
17
2.4 Các khu vực tiền tệ với một đồng tiền chung thống nhất hoặc với một cơ chế tiền tệ chung sẽ xuất hiện 21
2.5 Các thị trường chứng khoán thế giới sẽ ngày càng được hiện đại hóa và liên kết giữa các thị trường ngày càng chặt chẽ hơn 22
2.6 Xu hướng tập trung nguồn tài chính ngày một lớn 23
2.7 Các thiết chế tài chính như World Bank, IMF cũng đang tăng cường hoạt động trên phạm vi toàn cầu 25
CHƯƠNG 3: NHỮNG XU HƯỚNG TRONG HỆ THỐNG TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM GẦN ĐÂY 28
3.1 Tổng quan về nền kinh tế và hệ thống tài chính ở Việt Nam 28
3.2 Những xu hướng chủ yếu trong hệ thống tài chính ở Việt Nam 29
3.2.1 Xu hướng chính trong tỷ giá hối đoái 29
3.2.2 Xu hướng trong đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 32
3.2.3 Xu hướng cơ cấu lại hệ thống tài chính, trọng tâm là hệ thống ngân hàng .34
KẾT LUẬN 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
Trang 3Lời mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế trên toàn cầu, những hoạt động kinh tế quốc tế đã luôn khẳng định được tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi nền kinh tế Tài chính quốc tế là hệ thống những quan hệ kinh tế nảy sinh giữa nhà nước hoặc các tổ chức của nhà nước với các nhà nước khác, các tổ chức của các nhà nước khác, các công dân nước ngoài và với các
tổ chức quốc tế, gắn liền với các dòng lưu chuyển hàng hóa và tiền vốn trên thế giới theo những nguyên tắc nhất định Nó góp phần tạo điều kiện hội nhập vào nền kinh
tế thế giới; mở ra cơ hội phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính Tài chính quốc tế đã ra đời và trải qua quá trình phát triển lâu dài, vận động theo nhiều xu hướng khác nhau cùng với những biến động trong nền kinh tế thế giới Nghiên cứu về các xu hướng của tài chính quốc tế là việc hết sức cấp thiết trong bối cảnh toàn cầu hóa, các nước cả phát triển lẫn đang phát triển đang ra sức hội nhập với nền kinh tế thế giới, nhằm giúp các nền kinh tế, các quốc gia có thể nhìn nhận được các hướng đi đúng đắn cho mình, phát huy được các lợi thế của quốc, xây dựng nền kinh tế phát triển lành mạnh, toàn diện và vững chắc
Từ những lý do trên, nhóm chúng mình đã chọn đề tài nghiên cứu: “ Xu hướng tài chính quốc tế” cho chuyên đề nghiên cứu khoa học
2 Mục đích nghiên cứu
Chuyên đề tập trung làm rõ những vấn đề như sau:
Làm rõ những kiến thức cơ sở lý luận về tài chính quốc tế, đặc điểm của các thành phần cấu thành, sự hình thành và quá trình phát triển của tài chính quốc tế
Phân tích những xu hướng chủ yếu của hệ thống tài chính quốc tế hiện nay Đồng thời liên hệ liên hệ với Việt Nam trong xu hướng tài chính quốc tế của thế giới và những chính sách của chính phủ nhằm phát triển hệ thống tài chính
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chuyên đề tập trung nghiên cứu quá trình vận động của các xu hướng tài chính quốc tế trên thế giới trong những năm gần đây, phân tích đặc điểm,nguyên nhân hình thành và vai trò của chúng đối với sự phát triển kinh tế
Trang 44 Đóng góp của chuyên đề
Chuyên đề đề sẽ giúp người đọc có cái nhìn tổng quan về những kiến thức cơ sở lý luận về tài chính quốc tế, đặc điểm của các thành phần cấu thành, sự hình thành và quá trình phát triển của tài chính quốc tế Những xu hướng chủ yếu của hệ thống tài chính quốc tế hiện nay Chúng mình hy vọng chuyên đề sẽ đem lại những nội dung cần thiết cho những bạn đọc nào có quan tâm đến lĩnh vực tài chính quốc tế, một lĩnh vực còn khá là mới mẻ ở Việt Nam
5 Kết cấu của chuyên đề
Lời mở đầu
CHƯƠNG1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
1.1 Khái niệm tài chính quốc tế
1.2 Sự phát triển của tài chính quốc tế
1.2.1 Cở sở hình thành tài chính quốc tế
1.2.2.Quá trình phát triển của tài chính quốc tế
1.3 Đặc điểm tài chính quốc tế
1.4 Vai trò của tài chính quốc tế
1.4.3 Tạo cơ hội nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính
1.4.2 Thúc đẩy các nền kinh tế quốc gia nhanh chóng hội nhập vào nên kinh tế thế giới
1.4.1 Là công cụ quan trọng khai thác các nguồn lực ngoài nước phục vụ cho
sự phát triển kinh tế - xã hội trong nước
1.5 Những thành phần cấu thành tài chính quốc tế
1.5.1.Tỷ giá hối đoái
1.5.2 Đầu tư quốc tế
Trang 51.5.3 Các thiết chế tài chính
CHƯƠNG 2: XU HƯỚNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
2.1 Sự gia tăng mạnh mẽ về tốc độ và quy mô giao dịch tài chính trên phạm vi toàn cầu
2.2 Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi sẽ trở thành phổ biến
2.3 Đôla Mỹ vẫn tiếp tục giữ vai trò đồng tiền chủ đạo trong hệ thống tài chính tiền tệ quốc tế, tuy nhiên vai trò đồng tiền chủ đao sẽ ngày càng được đa dạng hóa2.4 Các khu vực tiền tệ với một đồng tiền chung thống nhất hoặc với một cơ chế tiền tệ chung sẽ xuất hiện
2.5 Các thị trường chứng khoán thế giới sẽ ngày càng được hiện đại hóa và liên kết giữa các thị trường ngày càng chặt chẽ hơn
2.6 Xu hướng tập trung nguồn tài chính ngày một lớn
2.7 Các thiết chế tài chính như World Bank, IMF cũng đang tăng cường hoạt động trên phạm vi toàn cầu
CHƯƠNG 3: NHỮNG XU HƯỚNG TRONG HỆ THỐNG TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM GẦN ĐÂY
3.1 Tổng quan về nền kinh tế và hệ thống tài chính ở Việt Nam
3.2 Những xu hướng trong hệ thống tài chính ở Việt Nam
3.2.1 Xu hướng chính trong tỷ giá hối đoái
3.2.2 Xu hướng trong đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
3.2.3 Xu hướng cơ cấu lại hệ thống tài chính, trọng tâm là hệ thống ngân hàngKẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FPI Đầu tư gián tiếp nước ngoài
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
IDA Hiệp hội Phát triển Quốc tế
IMF Quỹ Tiền tệ Thế giới
M&A Sáp nhập và mua lại
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng Thương mại
NHTW Ngân hàng Trung ương
TCQT Tài chính quốc tế
TMCP Thương mại cổ phần
UNCTAD Hội nghị Liên hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển
WTO Tổ chức thương mại thế giới
WB Ngân hàng Thế giới
Trang 7CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
1.1.Khái niệm về tài chính quốc tế
- Đứng trên góc độ một quốc gia, tài chính quốc tế được hiểu là sự vận động của các luồng tiền giữa các quốc gia Có nghĩa là các hoạt động tài chính diễn ra giữa một bên là các chủ thể của các quốc gia đó với một bên là chủ thể của các quốc gia khác hoặc các tổ chức tài chính quốc tế Trong mỗi quốc gia, hoạt động tài chính quốc tế là một bộ phận cấu thành của toàn bộ hoạt động tài chính của quốc gia nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế và các chính sách của quốc gia đó trong quan
hệ với cộng đồng quốc tế
- Đứng trên góc độ toàn cầu, tài chính quốc tế (TCQT) là thuật ngữ dùng để chỉ các hoạt động tài chính phát sinh trên bình diện quốc tế Chủ thể thực hiện các hoạt động TCQT có thể là cá nhân công dân của các quốc gia, các tổ chức kinh tế - xã hội, Chính phủ của các quốc gia, cũng có thể là các tổ chức quốc tế và sự hoạt động của các thị trường TCQT và chúng hợp thành một lĩnh vực mới, lĩnh vực TCQT
Có thể nói, trên bình diện quốc tế, đó chính là sự di chuyển các luồng tiền vốn giữa các quốc gia; còn trên bề mặt đời sống xã hội của mỗi quốc gia thì những hình thức bất kỳ của quan hệ TCQT đều biểu hiện thành các hoạt động thu – chi bằng tiền, các hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia
Tóm lại, TCQT được hiểu đầy đủ là hoạt động tài chính diễn ra trên bình diện quốc
tế Đó là sự di chuyển các luồng tiền vốn, hàng hóa giữa các quốc gia gắn liền với các quan hệ quốc tế về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quân sự, ngoại giao…giữa các chủ thể của các quốc gia và các tổ chức quốc tế thông qua việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ ở mỗi chủ thể nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể
đó trong các quan hệ quốc tế
1.2 Sự phát triển của tài chính quốc tế
1.2.1 Cơ sở hình thành tài chính quốc tế
- Các quan hệ quốc tế giữa các quốc gia về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, quân sự, ngoại giao, đòi hỏi phải có và làm xuất hiện quan hệ tài chính quốc tế
Trang 8- Cùng với sự xuất hiện của tiền tệ như một vật trao đổi trung gian, tiền tệ dần có đầy đủ các chức năng trong trao đổi, thanh toán, trong dự trữ và chức năng tiền
tệ thế giới Chính chức năng trao đổi, thanh toán quốc tế của tiền đã là cơ sở cho việc hình thành và thực hiện các quan hệ TCQT:
+ Thương mại quốc tế ra đời càng phát triển thì càng xuất hiện ngày càng nhiều những người mua, bán chịu, những người thiếu hụt vốn tạm thời…làm xuất hiện những tổ chức tài chính trung gian thực hiện cho vay quốc tế Hơn nữa, các quan
hệ về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, ngoại giao…của các quốc gia cũng ngày càng phát triển làm xuất hiện các khoản thanh toán và tín dụng giữa các quốc gia, trong lĩnh vực đầu tư và trong nhiều lĩnh vực khác
+ Sự phát triển của khoa học công nghệ và xu thế hội nhập kinh tế với mục đích nâng cao lợi nhuận, tần dụng các điều kiện thuận lợi của các quốc gia, tránh hàng rào thuế quan và phi thuế quan, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và kéo dài chu kì sống của sản phẩm, các nhà đầu tư rất tích cực tìm kiếm và thực hiện đầu tư ra bên ngoài Chính sự phát triển của đầu tư quốc tế đã làm cho hoạt động TCQT thêm nhộn nhịp
+ Trong điều kiện hợp tác lao động quốc tế ngày càng mở rộng, điều kiện sống ngày càng nâng cao và phương tiện giao thông ngày càng phát triển thì hoạt động hợp tác lao động, hoạt động du lịch quốc tế cũng ngày càng phát triển làm cho các hoạt động TCQT trong các lĩnh vực này trở nên sôi động
Trong các tiền đề đã kể trên, yếu tố các quan hệ quốc tế giữa các quốc gia về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội có vị trí như là điều kiện cần tạo cơ sở cho sự hình thành và phát triển của TCQT; yếu tố tiền tệ có chức năng tiền tệ thế giới
có vị trí như điều kiện đủ để các quan hệ TCQT vận hành thông suốt
1.2.2 Quá trình phát triển của tài chính quốc tế
- Thời kì chiếm hữu nô lệ gắn liền với Nhà nước chủ nô: Những hình thức sơ khai của quan hệ TCQT như việc trao đổi, buôn bán hàng hóa giữa các quốc gia, cống nộp vàng bạc, châu báu giữa nước này với nước khác đã xuất hiện Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế, thuế xuất nhập khẩu ra đời để điều chỉnh các quan hệ buôn bán giữa các quốc gia và tín dụng quốc tế đã xuất hiện do có các quan hệ vay nợ giữa các nước
Trang 9- Với sự xuất hiện của Chủ nghĩa tư bản: những hình thức cổ truyền của quan hệ TCQT như thuế xuất nhập khẩu, tín dụng quốc tế vẫn tiếp tục tồn tại và ngày càng phát triển đa dạng thích ứng với những bước phát triển mới của các quan
hệ kinh tế quốc tế và thái độ chính trị của các nhà nước Với sự phát triển mạnh
mẽ của kinh tế hàng hóa - tiền tệ, kinh tế thị trường, những diễn biến phức tạp của cục diện chính trị thế giới, cũng như cách tiếp cận của chính phủ các nước trong quan hệ quốc tế, bên cạnh các hình thức cổ truyền, đã xuất hiện những hình thức mới của quan hệ TCQT như đầu tư quốc tế trực tiếp, đầu tư quốc tế gián tiếp với các loại hình đa dạng, viện trợ quốc tế không hoàn lại, hợp tác quốc
tế tài chính – tiền tệ thông qua việc thiết lập các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế
1.3 Đặc điểm của tài chính quốc tế
Các quan hệ tài chính quốc tế là một bộ phận trong tổng thể các quan hệ tài chính,
vì vậy nó cũng mang các đặc điểm chung của các quan hệ tài chính là :
+ Các quan hệ nảy sinh trong phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị - phân phối các nguồn tài chính
+ Gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
+ Các quan hệ nảy sinh trong phân phối lần đầu và phân phối lại
Ngoài ra, TCQT còn có những đặc điểm riêng có sau:
1.3.1 Đặc điểm về phạm vi, môi trường hoạt động của các nguồn tài chính trong lĩnh vực TCQT.
Diễn ra trên phạm vi rộng lớn, giữa các quốc gia, có rất nhiều chủ thể tham gia, nhiều đồng tiền của các quốc gia khác nhau bị chi phối trực tiếp bởi nhiều nhân tố:
a Rủi ro tỷ giá hối đoái
Do tác động của nhiều nhân tố khác nhau mà tỷ giá hối đoái luôn có sự biến động
và có ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ TCQT trong các lĩnh vực ngoại thương, đầu tư, tín dụng, thanh toán, cán cân thanh toán…
Ví dụ: Đối với một quốc gia, tỷ giá hối đoái tăng cao ( đồng bản tệ giảm giá) có tác dụng khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu Ngược lại, một tỷ giá hối đoái
Trang 10thấp ( đồng bản tệ tăng giá ) lại có tác dụng khuyến khích nhập khẩu, nhưng lại hạn chế xuất khẩu.
Trong lĩnh vực TCQT, các vấn đề về cơ chế xác lập tỷ giá giữa các đồng tiền, những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá và sự tác động trở lại của tỷ giá đến cán cân xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán quốc tế, đến tình hình tài chính của các tổ chức ngoại thương, các nhà đầu tư, các ngân hàng…là vấn đề rất được quan tâm nghiên cứu
b.Rủi ro chính trị
Rủi ro này rất đa dạng, bao gồm những sự thay đổi ngoài dự kiến các qui định về thuế nhập khẩu, hạn ngạch, về chế độ quản lý ngoại hối hoặc là một chính sách trưng thu hay tịch biên các tài sản trong nước do người nước ngoài nắm giữ… Loại rủi ro này bắt nguồn từ những biến động về chính trị - xã hội của các quốc gia như
sự thay đổi thể chế, những cuộc cải cách,… từ đó Chính phủ các nước có thể thay đổi các chính sách quản lý kinh tế của quốc gia mình; hoặc chiến tranh, xung đột sắc tộc…và các chủ thể nước ngoài phải gánh chịu rủi ro bất khả kháng
1.3.2 Đặc điểm về sự chi phối của các yếu tố chính trị trong lĩnh vực TCQT
Trong phạm vi quốc gia, TCQT là một bộ phận trong tổng thể các hoạt động tài chính của quốc gia Do đó, các hoạt động TCQT phải gắn liền và nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - chính trị - xã hội của Nhà nước
Trên bình diện quốc tế, hoạt động TCQT của các chủ thể của một quốc gia được tiến hành trong quan hệ với các chủ thể của quốc gia khác hoặc các tổ chức quốc tế;
do đó, nó cũng chịu sự ràng buộc bởi chính sách của các quốc gia khác, bởi các thông lệ mang tính quốc tế hoặc các quy định của các tổ chức quốc tế mà chủ thể đó
có quan hệ
Do vậy, trong hoạt động TCQT các chủ thể của một quốc gia không những cần nắm vững các chính sách kinh tế, pháp luật của quốc gia mình mà còn phải thông hiểu chính sách, pháp luật của các quốc gia và các tổ chức quốc tế mà mình có quan hệ
1.4 Vai trò của tài chính quốc tế
1.4.1 Là công cụ quan trọng khai thác các nguồn lực ngoài nước phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong nước.
Trang 11Thông qua các hoạt động TCQT, các nguồn tài chính, công nghệ, kỹ thuật, lao động,… được phân phối lại trên phạm vi thế giới Mỗi quốc gia phải cân nhắc để có thể khai thác sử dụng nguồn lực của các quốc gia khác và sử dụng nguồn lực của mình để tham gia hợp tác quốc tế một cách hiệu quả.Đặc biệt, đối với các quốc gia nghèo và chậm phát triển thì vấn đề tranh thủ nguồn vốn nước ngoài càng cần phải coi trọng
Bằng việc mở rộng quan hệ tài chính quốc tế thông qua các hình thức: vay nợ quốc
tế, viện trợ quốc tế, đầu tư quốc tế, tham gia vào thị trường vốn quốc tế… các quốc gia cáo thể tận dụng tốt nguồn lực tài chính nước ngoài và các tổ chức quốc tế; cùng với nó là công nghệ, kỹ thuật hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến
1.4.2 Thúc đẩy các nền kinh tế quốc gia nhanh chóng hội nhập vào nên kinh tế thế giới.
Việc mở rộng các hình thức tín dụng quốc tế, đầu tư quốc tế, tham gia các thị trường vốn, thị trường tiền tệ, mở rộng thương mại và dịch vụ quốc tế…vừa góp phần phát triển kinh tế trong nước vừa thúc đẩy hoàn thiện chính sách và thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế theo các yêu cầu của tổ chức quốc tế và khu vực Tài chính quốc tế vừa là yếu tố tiền đề, vừa là yếu tố có tác động thúc đẩy các quốc gia nhanh chóng hội nhập nền kinh tế thế giới
1.4.3 Tạo cơ hội nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính.
Sự mở rộng và phát triển cảu TCQT cho phép các nguồn tài chính có khả năng lưu chuyển dễ dàng, thuận lợi và mạnh mẽ giữa các quốc gia đã tạo điều kiện cho các chủ thể ở mỗi quốc gia có cơ hội giải quyết những khó khăn tạm thời về nguồn tài chính và nâng cao hiệu quả các nguồn lực tài chính được đưa vào sử dụng cả trên vị trí nhà đầu tư hay người cần vốn
1.5 Những thành phần cấu thành nên tài chính quốc tế
1.5.1 Tỷ giá hối đoái
- Khái niệm: Tỷ giá hối đoái là giá của đồng tiền này được tính theo một đồng tiền khác Tỷ giá hối đoái cũng được hiểu là tỉ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền của hai quốc gia khác nhau Tỷ giá hối đoái xuất hiện và phát triển cùng với sự ra đời, phát triển của thương mại quốc tế, nó được giải thích bởi một hiện tượng
Trang 12đơn giản, hàng hoá không có biên giới quốc gia trong khi tiền chỉ được chấp nhận trên lãnh thổ quốc gia phát hành ra nó.
Ví dụ: Hiện nay, tỷ giá hối đoái giữa Đồng Việt Nam và Đô-la Mỹ là 20.833 VND/USD (tại ngày 15/3/2012), giữa Yên Nhật và Đô-la Mỹ là 83,3680701 JPY/USD (tại ngày 15/3/2012)
- Các chế độ tỷ giá hối đoái:
+ Tỷ giá hối đoái cố định (tỷ giá hối đoái neo): là một kiểu chế độ tỷ giá hối đoái trong đó giá trị của một đồng tiền được gắn với giá trị của một đồng tiền khác hay với một rổ các đồng tiền khác, hay với một thước đo giá trị khác, như vàng chẳng hạn Khi giá trị tham khảo tăng hoặc giảm, thì giá trị của đồng tiền neo vào cũng tăng hoặc giảm
+ Tỷ giá hối đoái thả nổi, tự do (tỷ giá linh hoạt): là một chế độ trong đó giá trị của một đồng tiền được phép dao động trên thị trường ngoại hối Chế độ tỷ giá thả nổi được quyết định dựa trên cung cầu của thị trường ngoại hối
+ Tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết: là một chế độ tỷ giá hối đoái nằm giữa hai chế độ thả nổi và cố định Hầu hết các đồng tiền trên thế giới sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi, nhưng chính phủ sẽ can thiệp để tỷ giá không hoàn toàn phản ứng theo thị trường
1.5.2 Đầu tư quốc tế
- Khái niệm: Đầu tư quốc tế là một quá trình trong đó có sự di chuyển vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác để thực hiện các dự án đầu tư nhằm đưa lại lợi ích cho các bên tham gia
- Các loại hình đầu tư:
+ Hình thức đầu tư trực tiếp: là hoạt động đầu tư dài hạn trong đó chủ đầu tư trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn Đây dòng vốn có tính ổn định cao, thời gian đầu tư thường dài, do chủ đầu tư trực tiếp quản lý
+ Hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài: là loại hình di chuyển vốn giữa các quốc gia, trong đó người chủ sở hữu vốn không trực tiếp quản lý và điều hành
Trang 13các hoạt động sử dụng vốn Nó phụ thuộc vào trình độ quản lý và tổ chức kinh doanh của bên nhận đầu tư, hiệu quả đầu tư thường không cao.
+ Hình thức tín dụng thương mại quốc tế: là hình thức đầu tư quốc tế thông qua hình thức đi vay và cho vay với lãi suất thị trường giữa hai chủ thể khác quốc gia
+ Hình thức hỗ trợ phát triển chính thức ODA: là hoạt động hợp tác phát triển giữa nhà nước hoặc chính phủ một nước với các chính phủ nước ngoài, các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia
1.5.3 Các thiết chế tài chính quốc tế
- Khái niệm: Một nhóm các tổ chức thương mại và công cộng tham gia vào việc trao đổi, cho vay, đi mượn và đầu tư tiền tệ Thuật ngữ này thường được sử dụng
để thay thế cho thuật ngữ “trung gian tài chính”
- Các loại hình tổ chức tài chính chủ yếu:
+ Các tổ chức tài chính chấp nhận tiền gửi và cho vay, bao gồm các ngân hàng, quỹ thế chấp, các công ty quản lý các tài sản ủy thác hay vốn đầu tư (trust company), quỹ nhà ở (building society)
+ Các công ty bảo hiểm và các quỹ hưu trí
+ Các công ty môi giới chứng khoán, quỹ đầu tư ủy thác
Ví dụ: Các thiết chế tài chính thế giới lớn như là Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF),…Các thiết chế tài chính vùng: Inter-American Development Bank (Ngân hàng Phát triển liên Mỹ), Asian Development Bank (Ngân hàng Phát triển Châu Á), African Development Bank (Ngân hàng Phát triền Châu Phi), European Bank for Reconstruction and Development (Ngân hàng Phát triển và Tái thiết Châu Âu),…
CHƯƠNG 2: XU HƯỚNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
2.1 Sự gia tăng mạnh mẽ về tốc độ và quy mô giao dịch tài chính trên phạm vi toàn cầu.
Trang 14Bước vào nửa cuối thập kỷ 80, tốc độ và quy mô giao dịch tài chính toàn cầu đạt mức độ cao chưa từng thấy Trong thị trường ngoại hối, các thương vụ ngoại tệ lớn gấp hơn 100 lần giá trị những trao đổi thế giới về của cải và dịch vụ Tính trung bình mỗi ngày doanh số trao đổi ngoại hối đạt hơn 20 tỷ USD vào năm 1973, trong năm 1983 đã lên tới 60 tỷ USD/ ngày, năm 1989 tăng vọt lên 590 tỷ USD/ ngày, năm 2006 đạt mức 1.900 tỷ USD/ ngày và đến 2010 là 4.000 tỷ USD/ngày, nghĩa là gấp 200 lần mức tăng năm 1973 Tổng tài sản tài chính được trao đổi trên thị trường toàn cầu năm 1980 là 5.000 tỷ USD đến năm 1996 tăng vọt lên 35.000 tỷ USD và đạt 83.000 tỷ USD trong năm 2000, tức gần gấp 3 lần GDP của các nước thành viên OECD.
Bên cạnh việc gia tăng quy mô giao dịch trên thị trường ngoại tệ là sự bùng nổ của dòng vốn đầu tư trên phạm vi toàn cầu Theo số liệu thống kê của UNCTAD, tổng mức đầu tư nước ngoài trên thế giới năm 1967 là 112 tỷ 400 triệu USD, năm 1983 tăng tới 600 tỷ USD, năm 1990 là 1700 tỷ USD và năm 1999 tăng tới mức hơn
4000 tỷ USD Trong đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài từ mức bình quân hàng năm
156 tỷ USD thời kỳ 1985 – 1990 tăng lên 347 tỷ USD năm 1996 và hơn 800 tỷ USD năm 1999 thì đến năm 2000 đã đạt hơn 1.000 tỷ USD và đạt kỷ lục hơn 1.500
tỷ USD vào năm 2011
Xu hướng này cho thấy rõ mối quan hệ về kinh tế giữa các nước trên thế giới tăng lên Theo IMF, sự lệ thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng tăng lên giữa các nước trên thế giới do tăng nhanh khối lượng và sự đa dạng của những dịch chuyển có tính xuyên biên giới quốc gia về hàng hóa, dịch vụ và các luồng vốn quốc tế cũng như nhờ sự phổ biến công nghệ ngày càng rộng rãi và nhanh chóng
Trang 15Hình 2.1 Doanh số giao dịch ngoại hối toàn cầu trung bình ngày
Đơn vị tính: Tỷ USD
Nguồn: Bank for International Settlements
2.2 Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi sẽ trở thành phổ biến
Trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi sẽ trở nên phổ biến ở các nước trên thế giới Xu thế này đã được hình thành rõ nét kể từ khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ (1973), đặc biệt là trong những năm cuối của thập niên 1990
Theo một nghiên cứu của Stanley Fischer trong thời kỳ 1991- 1999, chế độ tỷ giá hối đoái của các nước trên thế giới có xu thế giảm dần chế độ tỷ giá hối đoái trung gian (cố định với biên độ giao động , cố định trượt, cố định trượt có biên độ…) và tiến tới hai cực: cố định cứng và thả nổi (bao gồm thả nổi tự do và thả nổi có điều tiết) Trong đó, xu thế tiến tới chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi đã và đang ngày càng chiếm ưu thế
Xét trên giác độ tất cả các nước là thành viên của IMF, nếu như vào năm 1991 có
25 nước lựa chọn chế độ tỷ giá cố định cứng ( chiếm 16%) thì năm 1999 số nước lựa chọn chế độ tỷ giá này đã lên đến 45 nước ( chiếm 24%) và đến năm 2001 là 48 nước ( chiếm 26%) Tương tự như vậy, nếu năm 1991 có 36 nước lựa chọn tỷ giá hối đoái thả nổi (chiếm 23%) thì năm 1999 số nước lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái này đã tăng lên tới 77 nước (42%) và đến năm 2008 là 84 nước ( chiếm 45%)
Trang 16Ngược lại, nếu năm 1991 có tới 98 nước lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái trung gian (chiếm tới 61%) thì năm 2001 số nước lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái này đã giảm xuống còn 56 nước ( chiếm 30%).
Xu thế tiến tới hai cực của chế độ tỷ giá ( đặc biệt là tiến tới chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi) ở các nước cũng không hề thay đổi nếu chỉ xét riêng chế độ tỷ giá của các nước công nghiệp phát triền và các nước có thị trường mới nổi hay của riêng các nước có thị trường mới nổi hoặc riêng của các nước còn lại cũng như riêng của các nước đang phát triển
Thật vậy, nếu như vào đầu những năm 1970 phần lớn các nước đang phát triển vẫn duy trì chế độ tỷ giá hối đoái cố định thì từ đầu những năm 1980 xu hướng chuyển sang chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi đã bắt đầu được hình thành và thể hiện rõ nét nhất vào giữa những năm đó cũng như vào giữa những năm 1990 Nếu như năm
1975 có tới 87% trong tổng số các nước đang phát triển áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định (dưới các hình thức khác nhau) và chỉ có 10% lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi thì tới năm 1985 con số này là 71% và 25%, theo thứ tự Đến 1996
tỷ trọng đã nghiêng về chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi 52% so với 48%
Bảng 2.1 Xu thế thay đổi chế độ tỷ giá hối đoái ở các nước trong thời kỳ
1991-2008 Năm Cố định cứng Cố định mềm Thả nổi
Trang 17Hình 2.2 Xu thế thay đổi tỷ giá hối đoái ở các nước trong thời kỳ 1991-2008
Đơn vị tính: %
Nguồn : Exchange rate Arrangements and Exchange Rate Restrictions, IMF
2.3 Đôla Mỹ vẫn tiếp tục giữ vai trò đồng tiền chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc tế, tuy nhiên vai trò đồng tiền chủ đạo sẽ ngày càng được đa dạng hóa
Xét trên khía cạnh lý thuyết, đồng tiền đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính – tiền tệ quốc tế là đồng tiền đóng vai trò thước đo giá trị quốc tế, phương tiện thanh toán quốc tế và công cụ dự trữ quốc tế Để có thể thực hiện được những chức năng đó, đồng tiền đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc tế phải là đồng tiền có giá trị ổn định; có đầy đủ các công cụ ngắn hạn, trung hạn cũng như dài hạn và được cung cấp dồi dào trên thị trường quốc tế Nói cách khác, đó phải là đồng tiền của nước có tỷ trọng kinh tế và thương mại lớn nhất thế giới
Trên thực tế, kể từ khi hệ thống Bretton Woods (1944-1973) được thành lập cho đến nay, mặc dù trải qua rất nhiều thăng trầm trong giá trị nhưng so với các đồng tiền mạnh khác ( các đồng tiền Châu Âu, kể từ năm 1999 là Euro; Yên Nhật Bản,
…) Đôla Mỹ là đồng tiền thỏa mãn được nhiều hơn cả những điều kiện kể trên
Thứ nhất, Đôla Mỹ là đồng tiền được buôn bán nhiều nhất trên các thị trường ngoại
hối quốc tế Trong khoảng thời gian từ 1989-2001 tỷ trọng Đôla Mỹ trong các giao
Trang 18dịch ngoại hối quốc tế luôn chiếm tỷ trọng tới 82-90,4% Và theo số liệu của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) tại Basel (Thuỵ Sĩ), hiện nay đồng USD vẫn chiếm tới 85% trong tổng giao dịch tiền tệ trị giá 4.000 tỷ USD hàng ngày trên các thị trường ngoại tệ toàn cầu.
Thứ hai, Đôla Mỹ luôn là đồng tiền định giá cho các sản phẩm năng lượng (dầu mỏ)
và nguyên liệu thô khác,…Ngoài ra tỷ trọng Đôla Mỹ được sử dụng trong các giao dịch xuất nhập khẩu ở các nước, đặc biệt là ở các nước Châu Á, Mỹ, Nhật Bản…là khá lớn
Thứ ba,xét trên khía cạnh đồng tiền dự trữ quốc tế, Đôla Mỹ luôn chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng dự trữ ngoại tệ của thế giới, thậm chí ngay cả ở trong những nước có lượng dự trữ ngoại tệ lớn nhất nhì trên thế giới như Nhật Bản, Trung Quốc Trong thời kỳ 1999- 2000, Đôla Mỹ luôn chiếm từ 50,6 – 68,2% trong tổng dự trữ ngoại tệ thế giới
Hình 2.3 Tỷ trọng dự trữ ngoại hối của các quốc gia trên thế giới
Đơn vị tính: %
Nguồn: International Montery Fund 6/2010
Trang 19Hình 2.4 Tỷ trọng dự trữ ngoại hối của các quốc gia trên thế giới 1994 -2012
Đơn vị tính: %
Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/File:Reserve_currencies.svg
Thứ tư, xét trên khái cạnh đồng tiền tín dụng quốc tế và phát hành trái phiếu quốc tế
Đôla Mỹ cũng luông là đồng tiền có tỷ trọng lớn Chẳng hạn, tỷ trọng trung bình của đổng tiền này trong tổng phát hành các giấy nợ quốc tế ròng luôn đạt mức trên 50% trong thời kỳ 1998 -2001 Tỷ trọng của Đôla Mỹ trong tổng số nợ nước ngoài
ở các nước đang phát triển cũng luôn luôn đang mức cao: 49,7%; 41,2%; 46,1%; và 60% trong các năm 1980; 1990; 1995 và 2000 (theo thứ tự)
Thứ năm, xét trên khía cạnh thực lực kinh tế, Mỹ luôn là nước có nền kinh tế đứng
đầu thế giới với 20,4 % GDP thế giới, 16,6% buôn bán quốc tế; 42% thị trường cổ phiếu thế giới Ngoài ra, thị trường tài chính Mỹ là thị trường có tính thanh khoản cao nhất, có đầy đủ các công cụ từ ngắn hạn đến trung hạn và dài hạn; Đôla Mỹ lại
là đồng tiền luôn được cung cấp dồi dào trên thị trường quốc tế
Mặc dù Đôla Mỹ vẫn tiếp tục là đồng tiền đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống tài
chính quốc tế trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI nhưng xu thế đa dạng hóa
Trang 20đồng tiền chủ đạo, vốn xuất hiện từ cuối thể kỷ XX cùng với sự ra đời của đồng tiền chung Châu Âu (đồng EUR) sẽ ngày càng được tăng cường.
Mặc dù sau khi ra đời (1/1/1999) giá trị của EUR đã không ổn định , nhưng các nhà kinh tế vẫn cho rằng trong trung và dài hạn đồng tiền này sẽ cạnh tranh và song hành cùng với Đôla Mỹ giữ vai trò là đồng tiền chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc tế
Thứ nhất, xét trên khía cạnh tỷ trọng trong tổng GDP thế giới, tỷ trọng của Liên
minh Châu Âu (EU) và của Mỹ là gần như tương đương nhau : 19,4 % và 19,6% theo thứ tự (năm 1997) và năm 2011 thì tỉ lệ này lần lượt là : 24,76% và 21,56%
Thứ hai, xét trên khía cạnh tỷ trọng trong tổng kim ngạch thương mại thế giới, EU
phần nào trội hơn Mỹ : 16,23% (không kể giao dịch nội bộ cộng đồng ) và 13,87% theo thứ tự ( số liệu năm 2010)
Thứ ba, mặc dù luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng dự trữ ngoại tệ thế giới nhưng tỷ
trọng của Đôla Mỹ đã giảm từ mức 70,7% năm 2001 xuống còn 62% năm 2010
Xu hướng sụt giảm đó sẽ tiếp tục (tiệm tiến chứ không đột biến) khi Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) bán số lượng Đôla Mỹ dư thừa của mình khi ngân hàng Trung ương của các nước khác đa dạng hóa quý dự trữ ngoại tệ của họ bằng cách bán USD và mua đồng Euro
Thứ tư, sự ra đời của một đồng tiền chung sẽ khiến cho các thị trường tài chính
Châu Âu trở nên thống nhất và có tính thanh khoản cao hơn Chi phí liên quan đến rủi ro tỷ giá hối đoái không còn cũng như các chi phí dịch vụ tài chính thấp sẽ khuyến khích các nhà đầu tư nắm giữ các trái phiếu quốc tế phát hành bằng đồng tiền này Tín dụng quốc té bằng đồng EUR cũng vì thế mà được mở rộng
Thứ năm,ngoài việc được sử dụng để phục vụ cho 60% tổng ngoại thương của các
nước trong khu vực, đồng EUR sẽ được sử dụng rộng rãi ở các nước châu Phi; Trung và Đông Âu cũng như các nước ở Địa Trung Hải Đồng tiền này cũng sẽ được sử dụng rộng rãi ở Châu Á cùng với sự phát triển trong quan hệ hợp tác Á- Âu
Ngoài hai đồng tiền chủ đạo kể trên, Yên Nhật Bản, ở một cấp độ thấp hơn, cũng sẽ
là đồng tiền đạt được nhiều tiêu chuẩn của một đồng tiền chủ đạo trong hệ thống tài