1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt luận án tiến sĩ kinh tế: Phát triển tín dụng đối với người nghèo thông qua các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam

30 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 899,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những vấn đề nói trên, tôi chọn thực hiện đề tài “Phát triển tín dụng đối với người nghèo thông qua các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam” nhằm phân tích những khó khăn,

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đói nghèo là một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu Những năm gần đây, nhờ những chính sách đổi mới, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh, đời sống nhân dân đã được cải thiện một cách rõ rệt Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ dân cư, đặc biệt ở khu vực vùng cao, vùng sâu, vùng xa… vẫn có đời sống khó khăn, chưa đảm bảo được những điều kiện tối thiểu của cuộc sống Chính vì lẽ đó chương trình xóa đói giảm nghèo là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội nước ta Trong các nguyên nhân dẫn đến đói nghèo đó có một nguyên nhân quan trọng đó là thiếu vốn sản xuất kinh doanh Vì vậy, làm thế nào để người nghèo có thể tiếp cận và sử dụng

có hiệu quả vốn vay, chất lượng tín dụng được nâng cao nhằm bảo đảm cho sự phát triển bền vững của nguồn vốn tín dụng, đồng thời giúp người nghèo thoát khỏi cảnh nghèo đói

là một vấn đề được cả xã hội quan tâm Trên thực tế, phần lớn người nghèo khu vực nông thôn hiện nay tại Việt Nam vay vốn tại Ngân hàng CSXH Ngân hàng CSXH có ưu thế trong cho vay người nghèo nhờ một phần vào sự bao cấp của ngân sách nhà nước, một hệ thống mạng lưới rộng khắp trên cả nước đã và đang cung cấp tín dụng cho các khách hàng nghèo với mức lãi suất rất thấp Tuy nhiên, đứng trước nhu cầu của người nghèo thì ngân hàng này cũng không đủ nguồn vốn đáp ứng và trong nhiều trường hợp bản thân người nghèo chưa thật sự hấp thụ hiệu quả vốn vay Kết quả là một bộ phận không nhỏ người nghèo chưa tiếp cận được các nguồn tín dụng chính thức mà phải vay từ nguồn phi thức thức với lãi suất cao

Trước thực tế đó, trong thời gian qua Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách

ưu đãi trong cho vay người nghèo, mà một trong số đó là cho vay thông qua các Tổ chức Tài chính vi mô Tài chính vi mô (TCVM) được hiểu là tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính cho những người có thu nhập thấp Tại Việt Nam, năm 1986, Chính phủ Việt Nam quyết định thực hiện chính sách quốc gia về xóa đói giảm nghèo thông qua việc thúc đẩy các hoạt động sản xuất của người nghèo Bên cạnh đó, với sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO) quốc tế; các chương trình hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) song phương và đa

Trang 2

phương; các cơ quan đoàn thể và chính quyền địa phương, các chương trình TCVM đã được hình thành với mục đích giảm nghèo cho phụ nữ, trẻ em… Tại kỳ họp thứ 7 (khóa XII) ngày 16/6/2010, Quốc hội đã thông qua Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) Đây là lần đầu tiên loại hình TCVM được khẳng định là một loại hình TCTD trong hệ thống các TCTD của Việt Nam Việc các tổ chức TCVM được hoạt động dưới sự điều chỉnh của Luật Các TCTD là một bước tiến mới, góp phần cùng với các loại TCTD khác phát triển hoạt động trong lĩnh vực TCVM với mục tiêu thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công cuộc xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam Đến nay, ở Việt Nam có hàng trăm

tổ chức cung cấp dịch vụ TCVM thuộc ba khu vực: Khu vực chính thức, khu vực bán chính thức và khu vực phi chính thức Những tổ chức này ngày càng khẳng định rõ vai trò quan trọng của mình trong phát triển kinh tế - xã hội và công cuộc xóa đói, giảm nghèo nói riêng

Xuất phát từ những vấn đề nói trên, tôi chọn thực hiện đề tài “Phát triển tín dụng đối với người nghèo thông qua các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam” nhằm phân tích

những khó khăn, vướng mắt trong phát triển tín dụng đối với người nghèo tại Việt Nam trong thời gian qua, nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, cùng với phân tích những đặc điểm riêng như về vấn đề văn hóa, xã hội, địa lý của người nghèo tại Việt Nam để đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả phát triển cho vay người nghèo thông qua các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam trong thời gian tới

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

2.1 Đối với tình hình nghiên cứu nước ngoài

- Nhiều nghiên cứu nước ngoài đã chỉ ra những hạn chế khi các ngân hàng thương mại cung ứng tín dụng cho người nghèo: Tác giả (Dedhich 2002) nhận định rằng, ở nhiều

nước đang phát triển, thị trường vốn vẫn còn ở giai đoạn sơ khai và các ngân hàng thương mại không muốn cho vay đối với người nghèo chủ chủ yếu là do họ thiếu tài sản thế chấp

và chi phí giao dịch cao Một nghiên cứu của Quỹ Quốc tế về phát triển nông nghiệp (IFAD)

đã xác nhận rằng quy trình vay vốn và thủ tục giấy tờ phức tạp kết hợp với sự thiếu kinh nghiệm kế toán đã hạn chế người nghèo tiếp cận với các nguồn tín dụng chính thức (Yaron

và Benjamin, 2002) cho rằng để cung cấp tín dụng rẻ hơn, nhiều ngân hàng thương mại đã

cố gắng để cung cấp các dịch vụ tài chính cho người nghèo ở khu vực nông thôn bằng cách

Trang 3

thực hiện các chương trình tín dụng quy mô lớn bao cấp, lãi suất thấp hơn thị trường cho người sản xuất nông nghiệp nhỏ, cho phép họ thúc đẩy đầu tư vào nông nghiệp, do đó làm tăng sản lượng lương thực và, sau đó, kích thích tăng trưởng kinh tế chung Tuy nhiên, thường là những nỗ lực đã thất bại, dẫn đến lạm dụng và tham nhũng, và tất yếu dẫn đến

sự sụp đổ Giné et al (2010) đã đề cập rằng rủi ro đạo đức và lựa chọn bất lợi, cùng với kích thước giao dịch nhỏ, cùng nhau hạn chế các khả năng cho ngân hàng cho vay đối với nghèo

- Các nghiên cứu đều thống nhất, tín dụng vi mô là công cụ hiệu quả giúp người nghèo tiếp cận nguồn vốn để xóa đói giảm nghèo: Buckley (2007) khẳng định rằng sự xuất

hiện của tín dụng vi mô như một thay thế cho các ngân hàng thông thường trong việc hoàn thành mục tiêu xóa đói giảm nghèo đã được công nhận trên toàn thế giới Nó đã trở thành một công cụ quan trọng của sự phát triển và là các giải pháp thiết thực và thích hợp nhất trước những thách thức sâu xa của nghèo đói Các lý thuyết hiện nay, chỉ ra một mối tương quan giữa cho vay vi mô và xóa đói giảm nghèo thông qua tăng cường vốn tài chính Tác giả Akpabio (2005) cho rằng tín dụng vi mô hoạt động ở khu vực nông thôn đã dẫn đến sự nảy mầm của các doanh nghiệp quy mô nhỏ nhờ khả năng tiếp cận nguồn tài chính Điều này tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tư nhân bị hạn chế về tiềm lực tài chính tham gia tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế nông thôn Sự phát triển của các doanh nghiệp vừa

và nhỏ thông qua tín dụng vi mô đã giúp xóa đói giảm nghèo ở nông thôn (Schwetman 2009) Theo Ndubi (2008) chương trình tín dụng vi mô khuyến khích tự tạo việc làm thông qua sự phát triển của các doanh nghiệp quy mô nhỏ tại các cộng đồng nông thôn Hơn nữa, theo Makombe et al (2001), các doanh nghiệp quy mô nhỏ ở nông thôn có thể dễ dàng thích ứng với thị trường địa phương và các nguồn lực địa phương như nguyên liệu, lao động Schwettmann (2007) lập luận rằng tình trạng nghèo ở nông thôn không thể được giải quyết một cách có ý nghĩa trừ khi có các cơ chế được thực hiện để thúc đẩy việc tự tạo việc làm

- Nhiều nghiên cứu đã giải thích cho sự thành công của tài chính vi mô trong việc cung cấp tín dụng cho người nghèo, đặc biệt là mô hình cho vay theo nhóm: Tác giả Zeller

(1998) sử dụng thông tin trên 168 nhóm tín dụng ở Madagascar và cho thấy rằng nhóm hiệu quả sẽ tạo ra cơ chế bảo hiểm, sàng lọc và chi phí giám sát từ các ngân hàng cho khách

Trang 4

hàng vay, cung cấp một cách hiệu quả cho các tổ chức TCVM để vượt qua lựa chọn bất lợi, rủi ro đạo đức, và các vấn đề thực thi, dẫn đến một hiệu năng trả nợ tốt hơn Ngoài ra, nghiên cứu của Stiglitz (1990) và Varian (1990) đã chỉ ra trách nhiệm liên đới trong việc cho vay nhóm có thể làm giảm các vấn đề rủi ro đạo đức bằng cách tăng ưu đãi với khách hàng vay để giám sát lẫn nhau và sau đó để trả nợ Tuy nhiên, Kono và Takahashi (2010) trước đó cho rằng cho vay nhóm làm chỉ giảm bớt các vấn đề rủi ro đạo đức chỉ khi nhóm

có thể phối hợp các quyết định của các thành viên và đạt được tỉ lệ hoàn trả cao hơn chỉ khi lợi nhuận của thành viên là đủ cao

- Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế nhất định trong mô hình cho vay theo nhóm đối với người nghèo: cho vay theo nhóm trong thực tế gặp phải một số nhược điểm

như hiệu ứng domino, hoặc nguy cơ lây lan nếu một trong các thành viên là không thể đáp ứng hoàn trả (Armendáriz và Morduch, 2000; Churchill, 1999) Theo các tác giả Babu và Singh (2007), các tổ chức TCVM đang trở nên lớn tuổi, đã có một nhu cầu gia tăng đối với thiết kế vay cá nhân cho khách hàng trưởng thành của họ ở các nước đang phát triển, nơi nhu cầu tài chính cá nhân của doanh nhân vi mô được mở rộng hơn, nhiều lợi nhuận làm cho một số tổ chức TCVM chọn để quảng bá tín dụng vi mô cho cá nhân hơn là cho vay theo nhóm (McIntosh và Wydick, 2005) Điều này làm phát sinh một câu hỏi rất quan trọng: khi tổ chức TCVM không gắn với cơ chế cho vay dựa vào trách nhiệm liên đới của nhóm

và chỉ cung cấp các khoản vay cá nhân, thì cách tổ chức TCVM quản lý rủi ro tín dụng của

họ như thế nào?

- Các nghiên cứu đã cơ bản thống nhất rằng, để tạo ra thành công trong việc cấp tín dụng đối với người nghèo thì tổ chức TCVM phải cung cấp đồng bộ các dịch vụ tài chính và phi tài chính: Theo các tác giả Edgcomb và Barton (1998), tổ chức TCVM thường

sử dụng các dịch vụ phi tài chính với tên gọi là Dịch vụ Phát triển kinh doanh Mục tiêu chính của các dịch vụ này là để phát triển kỹ năng quản lý và kỹ thuật của khách hàng, cải thiện và cập nhật kiến thức của họ trong công nghệ sản xuất Việc cung cấp các dịch vụ phi tài chính như là một bổ sung cho các dịch vụ tín dụng và tiết kiệm Nó không chỉ phát triển khả năng kinh tế của người đi vay để trả nợ, mà còn làm cho các mối quan hệ với các

tổ chức TCVM có giá trị hơn đối với người nghèo Nhiều tác giả như Godquin (2000);

Trang 5

Mckernan (2002) cũng nhận thấy rằng việc cung cấp các dịch vụ phi tài chính có tương quan dương với hiệu suất trả nợ và có thể là một thành phần quan trọng của sự thành công của các chương trình tín dụng vi mô cho người nghèo

2.2 Đối với tình hình nghiên cứu trong nước

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, TCVM là một kênh cung ứng vốn phù hợp với đặc điểm người nghèo tại Việt Nam: Nguyễn Kim Anh và các cộng sự (2014) đã nhận định rằng đòi

hỏi thực tiễn về phát triển ngành TCVM để đáp ứng các nhu cầu đa dạng của các khách hàng khác nhau, đặc biệt là các khách hàng thu nhập thấp, trình độ văn hóa thấp, ở khu vực nông thôn hoặc các vùng sâu vùng xa khó tiếp cận trở nên hết sức cấp thiết Thực tế cho thấy, dịch vụ và sản phẩm TCVM được đánh giá là phù hợp với khả năng và nhu cầu của người nghèo/người có thu nhập thấp Trong nghiên cứu “Nhu cầu của Phụ nữ Nghèo Khu vực Nông thôn Việt nam với các Dịch vụ Tài chính Quản lý rủi ro”, các tác giả đã chỉ ra rằng: Vay mượn là một trong những biện pháp phổ biến để đối phó với rủi ro và các áp lực kinh tế

Các nghiên cứu đã nhận định rằng, hầu hết các tổ chức TCVM mới chỉ tập trung cho vay người nghèo để phục vụ sản xuất kinh doanh, trong khi đó còn rất nhiều nhu cầu vay vốn của người nghèo cần phải được đáp ứng: hầu hết vốn vay của tổ chức TCVM là

dành cho kinh doanh và theo định nghĩa không được sử dụng cho mục đích tiêu dùng Vì vậy, đây không thể xem là một biện pháp đối phó với rủi ro tốt, trong khi đó vay từ ngân hàng chính thức không được xem là biện pháp thông dụng để đối phó với trường hợp khẩn cấp Trong nghiên cứu “Đánh giá tác động các chính sách giảm nghèo của thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2013”, Tác giả Phan Đức Tùng và các cộng sự đã chỉ ra rằng,

hộ nghèo/cận nghèo có thể dễ dàng tiếp cận vốn tín dụng từ các nguồn chính thức để phục

vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh Tuy nhiên khả năng tiếp cận tín dụng cho các mục đích như tiêu dùng và chữa bệnh của hộ nghèo/cận nghèo còn hạn chế Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã xem xét tác động của chính sách tín dụng ưu đãi của thành phố Hồ Chí Minh bằng hồi quy biến thu nhập bình quân và các biến phúc lợi của hộ lên biến vay tín dụng ưu đãi của hộ Mặc dù nghiên cứu định lượng không cho thấy tác động rõ rệt của chính sách tín dụng ưu đãi, nhưng thảo luận nhóm với các nhóm hộ nghèo/cận nghèo thành

Trang 6

phố cũng đã một phần cho thấy tác động của các chính sách hỗ trợ tín dụng trong việc giúp

hộ đa dạng hóa sinh kế và cải thiện thu nhập Nhiều hộ đã được vay vốn từ các chương trình tín dụng để tham gia buôn bán hoặc sản xuất nhỏ Tuy nhiên, các hộ cũng cho biết sinh kế buôn bán sản xuất nhỏ dù có giúp hộ cải thiện thu nhập nhưng không bền vững, thu nhập từ buôn bán sản xuất nhỏ không đều Theo nghiên cứu của ActionAid và Oxfam (2012), các hộ thoát nghèo bền vững chủ yếu là nhờ có nhà cho thuê hoặc con cái ăn học thành tài đã hỗ trợ cha mẹ trả nợ và cải thiện kinh tế thoát nghèo

Các nghiên cứu định lượng đã chỉ ra rằng, hiệu quả cho vay người nghèo trong thực tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau: Bùi Văn Trịnh và cộng sự (2014) cho rằng:

hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ nghèo phụ thuộc vào các yếu tố sau: lượng vốn vay, kỳ hạn, lãi suất, rủi ro, hướng dẫn sau khi vay, diện tích đất, tỷ trọng vốn sử dụng cho sản xuất

và số lao động trong đó có 5 yếu tố có mối tương quan thuận là: lượng vốn vay, hướng dẫn sau khi vay, diện tích đất, tỷ trọng vốn sử dụng cho sản xuất và số lao động Ngược lại thì các yếu tố: kỳ hạn, lãi suất và rủi ro có mối tương quan nghịch (-) với hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ nghèo Trong khi đó, Trần thị Xuyến (2015) đã kết luận rằng: Hộ vay vốn

mà chủ hộ có việc làm thì xác xuất tái nghèo và nghèo đều giảm; Trình độ học vấn của chủ

hộ tác động tới xác suất nghèo; Với các yếu tố khác không đổi, khi hộ có thêm một thành viên là nữ thì xác suất hộ nghèo giảm; Tín dụng ưu đãi có tác dụng tích cực tới giảm tỷ lệ tái nghèo và tăng tỷ lệ thoát nghèo

Nghiên cứu liên quan cho rằng Thị trường TCVM tại Việt Nam còn mang nặng tính bao cấp nên đã xảy ra vấn đề vốn ngân sách lấn át hoạt động của các Tổ chức TCVM: Lê

Văn Luyện (2015) kết luận là thị trường TCVM Việt Nam hiện do Ngân hàng CSXH chiếm

ưu thế nhờ một phần vào sự bao cấp của ngân sách nhà nước, tổ chức này có một hệ thống mạng lưới rộng khắp trên cả nước và đang cung cấp tín dụng cho các khách hàng nghèo tương tự như khách hàng mà các tổ chức TCVM đang hướng tới, nhưng với mức lãi suất rất thấp Điều này cản trở sự phát triển, mở rộng của các tổ chức TCVM bán chính thức Trong thời gian qua, tổ chức TCVM bán chính thức chủ yếu nhắm tới đối tượng khách hàng mà Ngân hàng CSXH không có khả năng đáp ứng về vốn, đồng thời thu hút khách hàng bằng cách cung cấp sản phẩm dịch vụ đa dạng Ngoài cho vay, TCVM bán chính thức

Trang 7

còn cung cấp các dịch vụ tiết kiệm, dịch vụ phi tài chính cho khách hàng Nhưng điều này lại càng làm tăng chi phí vốn vay cho khách hàng nghèo cao hơn nhiều so với Ngân hàng CSXH

2.3 Khoảng trống nghiên cứu và tính kế thừa

Qua rà soát các nghiên cứu đi trước cho thấy bên cạnh những điểm mạnh trong

nghiên cứu về cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu, những nghiên

cứu trước còn có các giới hạn như:

Thời gian nghiên cứu thực tiễn của một số nghiên cứu trước chưa đủ dài và mới,

số lượng tổ chức lựa chọn nghiên cứu ít, không mang tính đại diện

Các nghiên cứu trước đây chỉ phân tích hoạt động về TCVM tại các tổ chức tài chính nông thôn, và của NHTM mà chưa tập trung phân tích hoạt động TCVM của chính

các TCTCVM chính thức và bán chính thức

Một số nghiên cứu phân tích hoạt động của TCTCVM nhưng số liệu không cập nhật đến năm 2018, số liệu rời rạc không theo chuỗi Các kết luận nghiên cứu của những công trình này không còn hoàn toàn phù hợp với thực tế hiện nay do bối cảnh hoạt động

của TCTVM (yếu tố bên trong và bên ngoài) đã thay đổi

Chưa có nghiên cứu nào đề cập đầy đủ các cơ sở lý luận về việc phát triển tín dụng cho đối tượng người nghèo của hệ thống các TCTCVM (chính thức và bán chính thức), tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển hoạt động tín dụng người

nghèo của các TCTCVM;

Như vậy, qua những phân tích trên đây chúng ta có thể thấy được những nghiên cứu trong nước đa phần tập trung nghiên cứu về tín dụng cho người nghèo của hệ thống Ngân hàng CSXH Việt Nam, và một số ít nghiên cứu về hệ thống các tổ chức TCVM Các nghiên cứu chủ yếu chú trọng vào các giải pháp cho vay người nghèo theo hướng ưu đãi, trợ cấp

Do đó việc phát triển tín dụng cho người nghèo về lâu dài sẽ thiếu tính bền vững Điều này đòi hỏi cần phải có những nghiên cứu mang tính hệ thống hóa cao, tập trung chuyên sâu vào các vấn đề cho vay người nghèo tại Việt Nam theo hướng thị trường, xem người nghèo

là một đối tượng khách hàng thật sự của Tài chính vi mô chứ không phải chỉ là đối tượng được trợ cấp Nghiên cứu vận dụng đa dạng các mô hình cho vay vi mô từ kinh nghiệm

Trang 8

quốc tế vào thực tế của người nghèo tại Việt Nam, phù hợp với văn hóa, phong tục, tập quán, điều kiện kinh tế, pháp lý của Việt Nam

Trên cơ sở khoảng trống nghiên cứu và các nội dung kế thừa, luận án hướng tới giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau: (i) Cơ sở của mối quan hệ giữa tín dụng vi mô và khả năng cải thiện thu nhập của người nghèo (ii) Thực trạng hoạt động tín dụng của các TCTCVM và tín dụng vi mô có ảnh hưởng như thế nào đến quá trình thoát nghèo của hộ gia đình Việt Nam (iii) Những giải pháp gì từ cả phía cung và cầu để cải thiện hiệu quả xóa đói giảm nghèo của tín dụng vi mô

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Về khía cạnh lý luận

- Làm rõ cơ sở lý luận về phát triển tín dụng đối với người nghèo tại các tổ chức TCVM Theo đó, nhấn mạnh vai trò của tín dụng vi mô đối với người nghèo, phân tích sự cần thiết của phát triển bền vững tín dụng cho người nghèo bằng các giải pháp theo cơ chế thị trường, cũng như những yếu tố ảnh hưởng và một số chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng tín dụng bền vững của các tổ chức TCVM đối với người nghèo

- Đúc kết những bài học phù hợp nhất cho việt phát triển tín dụng đối với người nghèo của các tổ chức TCVM tại Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia có đặc điểm tương đồng với Việt Nam như Ấn độ, Bangladesh, Thái Lan, và Indonesia

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu về tình hình phát triển tín dụng đối với người nghèo của các tổ chức TCVM tại Việt Nam Trong đó, đối tượng nghiên

Trang 9

cứu là phát triển tín dụng cho người nghèo từ nguồn vốn của chính các tổ chức TCVM chứ không bao gồm các nguồn vốn khác

5 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài phương pháp triết học biện chứng và duy vật lịch sử thường được áp dụng trong các công trình nghiên cứu nói chung, nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê để xử lý số liệu, kết hợp với đồ thị, bảng, biểu minh họa để làm tăng tính trực quan cho công trình Để làm tăng tính thuyết phục cho các nhận định, nghiên cứu sinh sẽ đưa vào nghiên cứu của mình một số mô hình kinh tế lượng Cụ thể, để minh chứng cho khả năng phát triển tín dụng đối với người nghèo, đề tài sử dụng mô hình kinh

tế lượng nghiên cứu về phát triển tín dụng cho người nghèo gắn với những đặc điểm của đối tượng người nghèo và khả năng thoát nghèo sau tham gia chương trình Nghiên cứu định lượng của luận án sử dụng số liệu khảo sát của 569 hộ gia đình tham gia chương trình TCVM từ tổ chức TCVM TYM Số liệu 569 mẫu về hộ gia đình nghèo được sàng lọc từ phiếu khảo sát thu thập của 750 thành viên trước khi tham gia chương trình TCVM là những hộ nghèo trên địa bàn 5 tỉnh (3 tỉnh khu vực phía Bắc và 2 tỉnh khu vực phía Nam)

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành ba chương:

Trang 10

Chương 1: Luận cứ khoa học về phát triển tín dụng đối với người nghèo thông

qua các tổ chức tài chính vi mô

Chương 2: Thực trạng phát triển tín dụng đối với người nghèo thông qua các tổ

chức tài chính vi mô tại Việt Nam

Chương 3: Giải pháp và kiến nghị để phát triển tín dụng đối với người nghèo

thông qua các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam

Trang 11

CHƯƠNG 1 LUẬN CỨ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI

NGƯỜI NGHÈO THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ

1.1 TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ

1.1.1 Khái niệm tổ chức tài chính vi mô

TCVM là các dịch vụ tài chính như tiết kiệm, cho vay, thanh toán, bảo hiểm cho người nghèo, có thu nhập thấp sống ở cả nông thôn và thành thị - những người không có khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính của khu vực tài chính chính thức

TCTCVM là tổ chức chuyên cung cấp các dịch vụ TCVM cho khách hàng

1.1.2 Các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính vi mô

1.1.3 Vai trò của tổ chức tài chính vi mô

1.1.3.1 Trung gian tài chính

1.1.3.2 Trung gian xã hội

1.1.3.3 Dịch vụ phát triển doanh nghiệp

1.1.3.4 Dịch vụ xã hội

1.2 TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO

1.2.1 Khái niệm người nghèo

1.2.1.1 Nghèo đói về thu nhập

1.2.1.2 Nghèo đa chiều

1.2.2 Tín dụng đối với người nghèo

Tín dụng cho người nghèo (và các đối tượng chính sách khác) được định nghĩa là việc sử dụng các nguồn lực tài chính để cho người nghèo (và các đối tượng chính sách khác) vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội

Trang 12

1.2.3 Vai trò của tín dụng đối với người nghèo

1.3 PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ

1.3.1 Khái niệm phát triển tín dụng đối với người nghèo thông qua tổ chức tài chính

vi mô

Sự phát triển hoạt động tín dụng cho người nghèo thông qua các TCTCVM được thể hiện qua khai khía cạnh (1) Sự phát triển về mức độ tiếp cận tín dụng vi mô của người nghèo và (2) Sự phát triển về mức độ bền vững của tổ chức tài chính vi mô Từ đó, tác giả luận án rút ra khái niệm: sự phát triển hoạt động tín dụng thông qua các TCTCVM bao gồm hai khía cạnh là mức độ tiếp cận tín dụng và sự bền vững của tổ chức

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá việc phát triển tín dụng đối với người nghèo thông qua các tổ chức tài chính vi mô

1.3.2.1 Độ rộng tiếp cận của tổ chức tài chính vi mô

1.3.2.2 Độ sâu tiếp cận của tổ chức tài chính vi mô

1.3.2.3 Độ dài tiếp cận của tổ chức tài chính vi mô

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển tín dụng đối với người nghèo thông qua các tổ chức TCVM

1.3.3.1 Nhóm nhân tố khách quan

a Tình hình phát triển kinh tế xã hội

b Tình trạng nghèo đói và bất bình đằng

c Các chính sách xóa đói giảm nghèo của Chính phủ

d Môi trường pháp lý cho hoạt động tài chính vi mô

e Nhà tài trợ

1.3.3.2 Nhóm nhân tố chủ quan

a Mục tiêu, tầm nhìn, sứ mệnh và chiến lược kinh doanh

b Danh mục sản phẩm, dịch vụ và phương thức cung ứng

c Marketing và kênh phân phối sản phẩm dịch vụ

d Năng lực quản lý tài chính

e Cấu trúc sở hữu và mô hình tổ chức

Trang 13

f Nguồn nhân lực

g Trình độ công nghệ và hệ thống thông tin của TCTCVM

1.4 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO THÔNG QUA CÁC TCVM VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

1.4.1 Kinh nghiệm của của một số quốc gia trên thế giới trong việc phát triển tín dụng đối với người nghèo thông qua các tổ chức tài chính vi mô

1.4.1.1 Kinh nghiệm của Bangladesh

1.4.1.2 Kinh nghiệm của Ấn Độ

1.4.1.3 Kinh nghiệm của Thái Lan

1.4.1.4 Kinh nghiệm của Indonesia

1.4.2 Bài học cho Việt Nam đối với việc sử dụng tài chính vi mô với mục tiêu xóa đói giảm nghèo

1.4.2.1 Bài học về vai trò quản lý đối với tài chính vi mô

1.4.2.2 Bài học về nâng cao khả năng tiếp cận và sử dụng tín dụng cho người nghèo tại nông thôn

Trang 14

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM

2.1 MÔI TRƯỜNG CHO PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM

2.1.1 Tình hình đói nghèo tại Việt Nam

Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong gần ba thập kỷ nhờ những cải cách về mặt kinh tế xã hội theo định hướng thị trường Những tiến bộ ban đầu mà Việt Nam đã đạt được là do những cải cách trong khu vực kinh tế nông thôn, với việc phân bổ đất nông nghiệp một cách đồng đều cho các hộ gia đình nông thôn và đa dạng hóa các hoạt động nông nghiệp, các cuộc cải cách đó đã tạo ra những động lực khuyến khích phù hợp giúp tăng cường sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu nông sản Những thay đổi chính sách khác ngoài lĩnh vực nông nghiệp cũng đã giúp tạo nền móng cho sự phát triển nhanh chóng của khu vực tư nhân Bên cạnh những chính sách phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm công tác an sinh xã hội qua việc triển khai nhiều chính sách với đối tượng người nghèo để thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo, hướng tới việc hoàn thành mục tiêu Thiên niên kỷ

Mức độ giảm nghèo mạnh của Việt Nam được thể hiện một cách rõ ràng kể cả khi

sử dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau để theo dõi sự tiến bộ Số lượng người nghèo ở Việt Nam có xu hướng giảm dần qua các năm nhưng vẫn chiếm một tỷ trọng nhất định trong tổng dân số Ngoài ra, tốc độ giảm cũng chậm dần qua từng năm khi những đối tượng còn lại là những đối tượng gặp quá nhiều khó khăn trong cuộc sống và các chính sách cần thời gian để phát huy hiệu quả Đặc điểm người nghèo cũng khác nhau nếu phân chia theo khu vực thành thị - nông thôn, phân chia theo vùng, miền, phân chia theo dân tộc và phân chia theo trình độ giáo dục của chủ hộ

2.1.1.1 Tỷ lệ người nghèo theo khu vực

2.1.1.2 Tỷ lệ người nghèo theo vùng miền

Trang 15

2.1.1.3 Tỷ lệ người nghèo theo dân tộc

2.1.1.4 Tỷ lệ người nghèo theo trình độ giáo dục của chủ hộ

2.1.2 Khái quát về các tổ chức cấp tín dụng cho người nghèo tại Việt Nam

Việt Nam là một thị trường tiềm năng cho dịch vụ tài chính cho người nghèo Việt Nam

có khoảng 60 triệu người (hơn 70% dân số) cư trú tại khu vực nông thôn và khoảng 24.8 triệu người (khoảng 67% lực lượng lao động ở tuổi thanh niên và trưởng thành) là lao động nông,

lâm và ngư nghiệp

2.1.2.1 Các tổ chức tài chính vi mô chính thức

2.1.2.2 Các tổ chức tài chính vi mô bán chính thức

2.1.2.3 Các tổ chức tín dụng tham gia hoạt động tài chính vi mô

2.1.3 Chính sách của Chính phủ về phát triển tín dụng đối với người nghèo thông qua các tổ chức tài chính vi mô

Nhận thức được tầm quan trọng của tín dụng vi mô trong hỗ trợ góp phần xóa đói giảm nghèo, Chính phủ Việt Nam đã và đang từng bước hoàn thiện, cải cách khung pháp

lý nhằm giúp cho các TCTCVM có thể mở rộng thị trường tín dụng và đáp ứng nhu cầu vay vốn của người nghèo Cụ thể, từ năm 2005 môi trường hoạt động của TCVM có nhiều chuyển biến Chính phủ đang từng bước xây dựng một khuôn khổ pháp lý tạo điều kiện cho các tổ chức, chương trình TCVM ở khu vực bán chính thức có cơ hội chuyển đổi thành

tổ chức tài chính quy mô nhỏ chính thức nằm dưới sự quản lý của NHNN chuyên cung cấp dịch vụ TCVM

TCVM cũng bước đầu được quy định nằm trong loại hình được Luật tổ chức Tín dụng sửa đổi năm 2010 điều chỉnh Theo Luật TCTD số 47/2010, các TCTCVM lần đầu tiên được coi như loại hình tổ chức tín dụng, chịu sự quản lý của NHNN Đây cũng được coi là một bước tiến dài đối với lĩnh vực TCVM Việt Nam, là nền tảng pháp lý vững chắc

để các tổ chức TCVM cùng với các loại hình TCTD khác phát triển ổn định, nhằm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội để qua đó đẩy mạnh công cuộc xóa đói giảm nghèo

tại Việt Nam

Đến cuối năm 2011, ngành TCVM Việt Nam đứng trước một cơ hội phát triển mới khi Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển ngành TCVM giai đoạn 2011 -2020 nhằm

Ngày đăng: 05/07/2020, 12:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Trên cơ sở đó mô hình hồi quy có dạng: Y= f (GIOI, TDHV, QUYMO_HO, CO_VIEC, T_VAY, TAP_HUAN, MUC_DICH) - Tóm tắt luận án tiến sĩ kinh tế: Phát triển tín dụng đối với người nghèo thông qua các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam
r ên cơ sở đó mô hình hồi quy có dạng: Y= f (GIOI, TDHV, QUYMO_HO, CO_VIEC, T_VAY, TAP_HUAN, MUC_DICH) (Trang 19)
mức ý nghĩa 5%) để kiểm định ý nghĩa các hệ số của mô hình. Mô hình được chọn là mô - Tóm tắt luận án tiến sĩ kinh tế: Phát triển tín dụng đối với người nghèo thông qua các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam
m ức ý nghĩa 5%) để kiểm định ý nghĩa các hệ số của mô hình. Mô hình được chọn là mô (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm